Kiểu nhà nước tổng thể các dấu hiệu bản, đặc thù của nhà nước thể hiện bản chất
những điều kiện để tồn tại phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế
hội nhất định.
Học thuyết Mác –Lênin đã phân chia hội giai cấp thành 4 hình thái kinh tế
hội nhà: . Tương ứng với : kiểu CHNL, PK, TBCN, XHCN 4 kiểu nhà nước
nước chủ nô, kiểu nhà nước phong kiến, kiểu nhà nước bản, kiểu nhà ớc
hội chủ nghĩa.
Kiểu nhà nước chủ
sở kinh tế: hình thức sở hữu trong kiểu nhà nước chủ hữu. Chủ sở hữu
người nào, thậm chí còn bị coi “đồ vật”, bị mua đi bán lại, phải lao động cật lực để
mang lại của cải vật chất cho chủ nô.
sở hội: trong hội chiếm hữu lệ tồn tại nhiều giai cấp như chủ nô, nông dân,
lệ ngoài ra còn tầng lớp thợ thủ công. Trong đó hai giai cấp đối kháng chính
chủ lệ. Chủ giai cấp thống trị hội còn lệ giai cấp bị trị.
sở tưởng: sở tưởng của nhà nước trong thời kỳ này đa thần giáo. Giai cấp
thống trị đã sử dụng tôn giáo làm sức mạnh tinh thần trấn áp giai cấp bị trị.
Kiểu nhà nước phong kiến
sở kinh tế: chế độ hữu tiếp tục tồn tại phát triển kiểu nhà nước phong kiến
nhưng khác nhau về đối tượng sỡ hữu. Giai cấp địa chủ sỡ hữu đất đai. Tính chất bóc lột
sang bóc lột của quý tộc phong kiến với nông dân thông qua địa phong kiến.
sở hội: phương Tây, Thiến chúa giáo phát triển mạnh mẽ, thậm chí thời Trung
cổ, Thiên chúa giáo thống trị cả thế giới. phương Đông, giai cấp thống trị sử dụng
Phật giáo, Nho giáo những học thuyết khác lợi cho giai cấp thống trị chúng trở
thành sở tưởng cho các nhà nước phong kiến.
Kiểu nhà nước sản
sở kinh tế: sở kinh tế trong kiểu nhà nước sản vẫn hữu nhưng sự hữu
(tiền). Chính sự thay đổi đối tượng này dẫn đến sự thay đổi về phương thưc bóc lột
bóc lột thông qua giá trị thặng dư. Người công nhân phải bán sức lao động của mình
trong các công xưởng để mang lại lợi nhuận cho giai cấp sản.
Trong thời kỳ đầu của nhà nước sản, hội tồn tại 3 giai cấp chính đó phong kiến,
nông dân, sản. Sau đó giai cấp phong kiến bị đánh đổ, hội tồn tại hai giai cấp chính
sản sản. Ngoài ra còn các tầng lớp khác như trí thức, tiểu thương, thợ thủ
công…Giai cấp sản trở thành giai cấp thống trị.
sở tưởng: nhà nước sản được tổ chức hoạt động dựa trên hệ
tưởng sản vốn được hình thành trong quá trình đấu tranh với quý tộc phong kiến.
Kiểu nhà nước hội chủ nghĩa
sở kinh tế: sở kinh tế trong nhà nước hội chủ nghĩa chế độ công hữu. Mục
của người dân.
các nhóm hội, các tầng lớp tồn tại trên sở quan hệ hợp tác dần dần đi đến xoa
bỏ giai cấp.
sở tưởng: sở tưởng trong nhà nước hội chủ nghĩa chủ nghĩa Mác
kiểu nhà nước này bằng kiểu nhà nước khác một quá trình lịch sử tự nhiên. Đó quy
luật khách quan của sự vận động phát triển thông qua các cuộc cách mạng hội.
Kiểu nhà nước sau bao giờ cũng tiến bộ hơn kiểu nhà nước trước nhưng vẫn sự kế
thừa nhất định.
Sự khác biệt của pháp luật với các quy tắc xử sự khác
Các quy tắc xử sự khác các tập quán pháp, tiền lệ pháp, hương ước,…là những quan
điểm, chuẩn mực đối với đời sống tinh thần, tinh thần, tình cảm của con người.
Về nguồn gốc hình thành
Pháp luật những quy tắc xử sự do nhà nước lập ra. Các quy tắc xử sự khác do các tổ
chức lập ra, hình thành từ thói quen, truyền thống.
Về nội dung
Pháp luật quy tắc xử sự quy định việc được làm, phải làm không được làm của các
chủ thể. Mang tính bắt buộc được áp dụng đối với tất cả mọi người, pháp luật công
cụ thể hiện ý chí bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị chính vậy nếu chủ thể nào
hiện tượng chống chế sẽ bị cưỡng chễ bởi nhà nước. Pháp luật mang tính quy phạm
chuẩn mực, giới hạn, các chủ thể buộc phải xử sự trong phạm vi pháp luật cho phép.
chức nào đó, những quy tắc do các tổ chức lập ra, phạm vi đối với tổ chức đó. Các
quy tắc xử sự khác không mang tính bắt buộc, được thực hiện bằng sự tự nguyện. Các
quy tắc xử sự khác không do nhà nước lập ra nên không được đảm bảo thực hiện bằng
quyền lực nhà nước, các nhân thực hiện bằng sự tự giác, các tổ chức chủ yếu quản
bằng biện pháp giáo dục, nêu gương,…
Về đặc điểm
Pháp luật tính quy phạm, quy phạm bắt buộc quy phạm phổ biến; Pháp luật tính
bắt buộc thể hiện ý chí nhà nước; Pháp luật phạm vi rộng, áp dụng đối với tất cả
mọi người.
người với người, phạm vi hẹp hơn pháp luật, áp dụng riêng biệt với từng tổ chức.
Hình thức thể hiện phương thức tác động
Được thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế của nhà nước.
Các quy tắc xử sự khác, dược thể hiện bằng lời nói, truyền miệng; Phương thức tác động
giáo dục thuyết phục, nêu gương.

Preview text:

Kiểu nhà nước là tổng thể các dấu hiệu cơ bản, đặc thù của nhà nước thể hiện bản chất
và những điều kiện để tồn tại và phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế – xã hội nhất định.
Học thuyết Mác –Lênin đã phân chia xã hội có giai cấp thành 4 hình thái kinh tế xã
hội
: CHNL, PK, TBCN, XHCN. Tương ứng với nó là 4 kiểu nhà nước: kiểu nhà
nước chủ nô, kiểu nhà nước phong kiến, kiểu nhà nước tư bản, và kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa
.
Kiểu nhà nước chủ nô
Cơ sở kinh tế: hình thức sở hữu trong kiểu nhà nước chủ nô là tư hữu. Chủ nô sở hữu tư
liệu sản xuất và cả người nô lệ. Trong xã hội chủ nô, nô lệ không có một quyền con
người nào, thậm chí còn bị coi là “đồ vật”, bị mua đi bán lại, phải lao động cật lực để
mang lại của cải vật chất cho chủ nô.
Cơ sở xã hội: trong xã hội chiếm hữu nô lệ tồn tại nhiều giai cấp như chủ nô, nông dân,
nô lệ và ngoài ra còn có tầng lớp thợ thủ công. Trong đó hai giai cấp đối kháng chính là
chủ nô và nô lệ. Chủ nô là giai cấp thống trị xã hội còn nô lệ là giai cấp bị trị.
Cơ sở tư tưởng: cơ sở tư tưởng của nhà nước trong thời kỳ này là đa thần giáo. Giai cấp
thống trị đã sử dụng tôn giáo làm sức mạnh tinh thần và trấn áp giai cấp bị trị.
Kiểu nhà nước phong kiến
Cơ sở kinh tế: chế độ tư hữu tiếp tục tồn tại và phát triển ở kiểu nhà nước phong kiến
nhưng khác nhau về đối tượng sỡ hữu. Giai cấp địa chủ sỡ hữu đất đai. Tính chất bóc lột
giờ đây đã có sự thay đổi, tức là từ bóc lột kinh tế trực tiếp của chủ nô với nô lệ chuyển
sang bóc lột của quý tộc phong kiến với nông dân thông qua địa tô phong kiến.
Cơ sở xã hội: ở phương Tây, Thiến chúa giáo phát triển mạnh mẽ, thậm chí ở thời Trung
cổ, Thiên chúa giáo thống trị cả thế giới. Ở phương Đông, giai cấp thống trị sử dụng
Phật giáo, Nho giáo và những học thuyết khác có lợi cho giai cấp thống trị và chúng trở
thành cơ sở tư tưởng cho các nhà nước phong kiến.
Kiểu nhà nước tư sản
Cơ sở kinh tế: cơ sở kinh tế trong kiểu nhà nước tư sản vẫn là tư hữu nhưng sự tư hữu ở
đây khác với tư hữu phong kiến. Đối tượng tư hữu không chỉ là đất đai mà là tư bản vốn
(tiền). Chính sự thay đổi đối tượng này dẫn đến sự thay đổi về phương thưc bóc lột –
bóc lột thông qua giá trị thặng dư. Người công nhân phải bán sức lao động của mình
trong các công xưởng để mang lại lợi nhuận cho giai cấp tư sản.
Cơ sở xã hội: trong nhà nước tư sản, kết cấu dân cư phức tạp vì tồn tại nhiều giai cấp.
Trong thời kỳ đầu của nhà nước tư sản, xã hội tồn tại 3 giai cấp chính đó là phong kiến,
nông dân, tư sản. Sau đó giai cấp phong kiến bị đánh đổ, xã hội tồn tại hai giai cấp chính
là vô sản và tư sản. Ngoài ra còn có các tầng lớp khác như trí thức, tiểu thương, thợ thủ
công…Giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị.
Cơ sở tư tưởng: nhà nước tư sản được tổ chức và hoạt động dựa trên hệ tư
tưởng tư sản vốn được hình thành trong quá trình đấu tranh với quý tộc phong kiến.
Kiểu nhà nước Xã hội chủ nghĩa
Cơ sở kinh tế: cơ sở kinh tế trong nhà nước Xã hội chủ nghĩa là chế độ công hữu. Mục
tiêu của nhà nước Xã hội chủ nghĩa là thoả mãn những điều kiện vật chất và tinh thần của người dân.
Cơ sở xã hội: trong nhà nước Xã hội chủ nghĩa, vì cơ sở kinh tế là chế độ công hữu nên
quan hệ bóc lột giai cấp sẽ không có điều kiện phát triển. Trong xã hội sẽ chỉ còn tồn tại
các nhóm xã hội, các tầng lớp tồn tại trên cơ sở quan hệ hợp tác và dần dần đi đến xoa bỏ giai cấp.
Cơ sở tư tưởng: cơ sở tư tưởng trong nhà nước Xã hội chủ nghĩa là chủ nghĩa Mác –
Lênin- Học thuyết tiến bộ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Sự thay đổi
kiểu nhà nước này bằng kiểu nhà nước khác là một quá trình lịch sử tự nhiên. Đó là quy
luật khách quan của sự vận động và phát triển thông qua các cuộc cách mạng xã hội.
Kiểu nhà nước sau bao giờ cũng tiến bộ hơn kiểu nhà nước trước nhưng vẫn có sự kế thừa nhất định.
Sự khác biệt của pháp luật với các quy tắc xử sự khác
Các quy tắc xử sự khác là các tập quán pháp, tiền lệ pháp, hương ước,…là những quan
điểm, chuẩn mực đối với đời sống tinh thần, tinh thần, tình cảm của con người.
Về nguồn gốc hình thành
Pháp luật là những quy tắc xử sự do nhà nước lập ra. Các quy tắc xử sự khác là do các tổ
chức lập ra, hình thành từ thói quen, truyền thống. Về nội dung
Pháp luật là quy tắc xử sự quy định việc được làm, phải làm và không được làm của các
chủ thể. Mang tính bắt buộc và được áp dụng đối với tất cả mọi người, pháp luật là công
cụ thể hiện ý chí và bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị chính vì vậy nếu chủ thể nào
có hiện tượng chống chế sẽ bị cưỡng chễ bởi nhà nước. Pháp luật mang tính quy phạm
chuẩn mực, có giới hạn, các chủ thể buộc phải xử sự trong phạm vi pháp luật cho phép.
Các quy tắc xử sự khác là các quan điểm được hình thành từ những thói quen của tổ
chức nào đó, là những quy tắc do các tổ chức lập ra, có phạm vi đối với tổ chức đó. Các
quy tắc xử sự khác không mang tính bắt buộc, được thực hiện bằng sự tự nguyện. Các
quy tắc xử sự khác không do nhà nước lập ra nên không được đảm bảo thực hiện bằng
quyền lực nhà nước, các cá nhân thực hiện bằng sự tự giác, các tổ chức chủ yếu quản lý
bằng biện pháp giáo dục, nêu gương,… Về đặc điểm
Pháp luật có tính quy phạm, quy phạm bắt buộc và quy phạm phổ biến; Pháp luật có tính
bắt buộc và thể hiện ý chí nhà nước; Pháp luật có phạm vi rộng, áp dụng đối với tất cả mọi người.
Các quy tắc xử sự khác không có tính bắt buộc, dùng để điều chỉnh mối quan hệ giữa
người với người, phạm vi hẹp hơn pháp luật, áp dụng riêng biệt với từng tổ chức.
Hình thức thể hiện và phương thức tác động
Pháp luật, được thể hiện bằng văn bản quy phạm pháp luật, hình thức rõ ràng, chặt chẽ;
Được thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế của nhà nước.
Các quy tắc xử sự khác, dược thể hiện bằng lời nói, truyền miệng; Phương thức tác động
là giáo dục thuyết phục, nêu gương.