KTCT 3 - Summary Kinh tế chính trị Mác-Lênin - Tài liệu tham khảo | Đại học Hoa Sen

KTCT 3 - Summary Kinh tế chính trị Mác-Lênin - Tài liệu tham khảo | Đại học Hoa Sen 

Trường:

Đại học Hoa Sen 4.8 K tài liệu

Thông tin:
60 trang 4 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

KTCT 3 - Summary Kinh tế chính trị Mác-Lênin - Tài liệu tham khảo | Đại học Hoa Sen

KTCT 3 - Summary Kinh tế chính trị Mác-Lênin - Tài liệu tham khảo | Đại học Hoa Sen 

91 46 lượt tải Tải xuống
1
MỤC LỤC KTCT
ĐỀ 1. luận chung về sản xuất hàng hóa. Thử đặt mình vào vị trí nhà sản xuất để làm
trách nhiệm hội của mình đối với người tiêu dùng trong việc sản xuất hàng hóa...................2
ĐỀ 2. Quy luật giá trị: yêu cầu và các tác động của quy luật giá trị. Hãy thử đặt mình ở vị trí
nhà sản xuất, chỉ ra những công việc chủ doanh nghiệp cần phải làm để cho doanh nghiệp
của mình sản xuất kinh doanh có lãi trong điều kiện kinh tế thị trường.................................9
ĐỀ 3. Lý luận chung về lợi nhuận, lợi nhuận ngân hàng và địa tô. Giả sử mình là chủ doanh
nghiệp sản xuất, nhưng phải vay vốn của ngân hàng để kinh doanh, lại phải thuê mặt bằng
để làm nhà xưởng, vậy người chủ doanh nghiệp sản xuất phải có trách nhiệm gì với người lao
động của mình? Với ngân hàng với người cho thuê mặt bằng để làm nhà xưởng?..............15
ĐỀ 4. Lý luận chung về cạnh tranh và độc quyền. Vì sao phải bảo vệ cạnh tranh lành mạnh
và hạn chế độc quyền? Thử đề xuất biện pháp bảo vệ cạnh tranh lành mạnh và hạn chế độc
quyền..............................................................................................................................................23
ĐỀ 5. Lý luận chung về lợi ích kinh tế. Với tư cách là công dân, hãy đề xuất các phương thức
để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia các hoạt động kinh tế xã hội?......................29
ĐỀ 6. Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay. Hãy chỉ ra những cơ hội và thách thức
đối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Để nâng cao hiệu qutrong hội
nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cần phải m gì?.........................................................................36
ĐỀ 7. Phân tích lượng giá trị hàng hóa các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng
hóa?................................................................................................................................................43
ĐỀ 8. Phân tích mối quan hệ giữa nội dung kinh tế và nội dung pháp lý của sở hữu? Ở Việt
nam hiện nay, thành phần kinh tế nhà nước tồn tại dựa trên chế độ sở hữu liệu sản xuất
nào? Muốn cho thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo ta phải làm gì?....................47
ĐỀ 9. Trình bày thị trường chế thị trường? Phân tích các chức năng bản của thị
trường. Liên hệ cách xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường hội chủ nghĩa ở Việt
Nam................................................................................................................................................49
ĐỀ 10. luận về địa tô của C.Mác? Vận dụng lý luận địa tô trong việc quản lý đất đai ở Việt
Nam hiện nay?...............................................................................................................................51
ĐỀ 11. Nêu các khái niệm chỉ ra mối liên hệ giữa lợi nhuận lợi tức. Một chủ doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, nhưng phải vay vốn để sản xuất. Vậy người ch
doanh nghiệp đó phải có trách nhiệm gì đối với người lao động của mình? Với người cho vay
vốn?................................................................................................................................................54
ĐỀ 12. Phân biệt sức lao động lao động. Hãy chứng minh sức lao động là ng hoá đặc
biệt..................................................................................................................................................57
2
ĐỀ 1. luận chung về sản xuất hàng hóa. Thử đặt mình vào vị trí nhà sản xuất để
làm rõ trách nhiệm xã hội của mình đối với người tiêu dùng trong việc sản xuất hàng
hóa.
MỞ ĐẦU: Nền sản xuất xã hội Việt Nam đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế, đó
sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hoá. Trước những năm 1986, nền kinh tế tự cung tự cấp
được Việt Nam áp dụng. Tuy nhiên, sau đó nền kinh tế này không còn phù hợp với tình hình định
hướng chung của Việt Nam và thể hiện ra những mặt yếu kém, kìm hãm sự phát triển của nền kinh
tế. Nhận thấy những khuyết điểm đó, Đảng Nhà nước đã quyết định đổi mới nền kinh tế sang
nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Nhờ đó, sản xuất hàng hóa đã trở thành động lực thúc đẩy công
nghiệp hóa, hiện đại hóa; góp phần giúp đất nước ta hội nhập và phát triển như ngày hôm nay.
thể nói sự ra đời của sản xuất hàng hoá chính là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của lịch
sử loài người, xoá bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao
hiệu quả kinh tế của xã hội. Nhắc đến sản xuất hàng hóa thì không thể không kể đến mối quan hệ,
tác động giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Đó là mối quan hệ mật thiết và tất yếu đặc biệt là ở
khâu tiêu thụ sản phẩm. Nếu như trước đây, trong thời kỳ bao cấp, mối quan hệ này không quan
trọng bởi vì hàng hóa sản xuất ra chắc chắn sẽ có nơi tiêu thụ thì ngày nay luôn tồn tại cạnh tranh
trong thị trường và nếu doanh nghiệp hay các nhà sản xuất không có sự quan tâm và đánh giá đúng
đắn thì hàng hóa của họ sẽ không thể bán được. Vì vây, việc nghiên cứu lý luận chung về sản
xuất hàng hóa, vận dụng lý thuyết để thử đặt mình là nhà sản xuất và đánh giá trách nhiệm xã hội
của nhà sản xuất đối với người tiêu thụ trong việc sản xuất hàng hóa một việc quan trọng ý
nghĩa lý luận và thực tiễn đối với quá trình sản xuất hàng hóa và phát triển nền kinh tế quốc gia.
NỘI DUNG:
I. Lý luận chung về sản xuất hàng hóa:
1. Khái niệm sản xuất hàng hóa:
Theo C.Mác, sản xuất hàng hóa kiểu tổ chức kinh tế đó, những người sản xuất ra
sản phẩm không nhằm mục đích phục vụ nhu cầu tiêu dùng của chính mình để trao đổi, mua
bán.
Sản xuất hàng hóa là một phạm trù lịch sử. Không phải ngay từ khi sinh ra con người đã sản
xuất hàng hóa để trao đổi, buôn bán mà ban đầu họ lao động để đáp ứng một cách trực tiếp nhu cầu
của bản thân. Đây chính là nền sản xuất tự cấp tự túc. Chính vì con người tự lao động cho bản thân
3
không mở rộng quan hệ hay liên quan đến các đơn vị khác nên bị giới hạn nhu cầu hạn
hẹp của mỗi nhân. Loại hình tổ chức kinh tế này chỉ phù hợp khi lực lượng sản xuất còn chưa
phát triển và lao động thủ công chiếm đa phần như thời kỳ chiếm hữu nô lệ, thời kỳ phong kiến,..
Dần dần khi lực lượng sản xuất phát triển, phân công lao động cao thì xuất hiện sản xuất hàng hóa.
Phương thức sản xuất thủ công lạc hậu, quy mô nhỏ đã được thay thế bằng phương thức sản xuất
hiện đại với quy mô lớn.
2. Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa: Sản xuất hàng hóa không xuất hiện đồng thời với sự
xuất hiện của xã hội loài người. Để nền kinh tế hàng hóa thể hình thành phát triển, theo C.Mác
cần hội đủ hai điều kiện gồm:
- Điều kiện thứ nhất: phân công lao động xã hội.
o Phân công lao động hội là sự phân chia lao động trong hội thành các ngành,
các lĩnh vực sản xuất khác nhau, dựa vào ưu thế, lợi thế tự nhiên; khả năng kỹ thuật; sở
trường năng khiếu của từng người, từng đơn vị… tạo nên sự chuyên môn hóa của những
người sản xuất thành những ngành, nghề khác nhau. Khi đó, mỗi người chỉ sản xuất một
hoặc một số sản phẩm nhất định. Trong khi nhu cầu của nhà sản xuất lại đòi hỏi nhiều loại
sản phẩm. Điều này dẫn đến tình trạng vừa thừa vừa thiếu. Vì vậy, để thỏa mãn nhu cầu của
mình, tất yếu những người sản xuất phải trao đổi sản phẩm với nhau, lúc này sản phẩm đó
được gọi là hàng hóa Ví dụ như để sản xuất một chiếc ô tô, các chi tiết như ghế ngồi, lốp xe,
ắc quy, đèn, kính,...mỗi chi tiết phải qua từng công ty chuyên sản xuất chi tiết đó cung cấp,
sau đó mới lắp ráp thành chiếc ô tô.. Như vậy, do sự phân công lao động xã hội nên việc trao
đổi sản phẩm trở thành tất yếu.
o Theo C. Mác “Sự phân công lao động hội điều kiện tồn tại của nền sản xuất
hàng hóa, mặc dù ngược lại, sản xuất hàng hóa không phải là điều kiện tồn tại của sự phân
công lao động xã hội.” Phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất đồng thời làm
cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều nên càng thúc đẩy sự
trao đổi sản phẩm.
- Điều kiện thứ hai: Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất.
o Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất làm cho giữa những người sản
xuất độc lập với nhau, khác nhau về lợi ích. Trong điều kiện đó, người này muốn tiêu dùng
sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm, tức phải trao đổi
dưới hình thức hàng hóa. C.Mác viết: “chỉ có sản phẩm của những lao động tư nhân độc lập
4
không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng hóa”.Vì vậy, sự tách
biệt về mặt kinh tế giữa những người sản xuất là điều kiện đủ để nền sản xuất hàng hóa ra
đời và phát triển. Trong lịch sử, sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất xuất
hiện khách quan dựa trên sự tách biệt về quyền sở hữu. Khi sự tách biệt về kinh tế giữa
những chủ thể sản xuất tồn tại trong điều kiện có sự phân công lao động xã hội thì việc trao
đổi sản phẩm giữa những chủ thể khác nhau phải đảm bảo được lợi ích của họ. Điều đó chỉ
có thể có được khi trao đổi dựa trên nguyên tắc ngang giá, có đi có lại tức là trao đổi hàng
hóa, sản phẩm của lao động trở thành hàng hóa. Xã hội loài người càng phát triển, càng làm
cho sự tách biệt về quyền sở hữu càng sâu sắc, nền sản xuất hàng hóa vì thế càng ngày càng
phát triển phong phú.
o Từ hai điều kiện trên thể thấy rằng trong khi phân công lao động xã hội làm nảy
sinh các quan hệ kinh tế giữa những chủ thể sản xuất trong xã hội, làm cho họ có liên quan
đến nhau, phải dựa vào nhau, phụ thuộc lẫn nhau thì sự tách biệt về lợi ích kinh tế giữa các
chủ thể sản xuất trong hội lại khiến cho họ tách biệt với nhau. Đây một mâu thuẫn.
Mâu thuẫn này được giải quyết thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm của nhau.
o Trên đây là hai điều kiện cần có cho sự ra đời của sản xuất hàng hóa, nếu thiếu một
trong hai điều kiện thì không thể có sản xuất hàng hóa.
3. Ưu thế của sản xuất hàng hóa: So với nền sản xuất tự nhiên, tự túc thì sản xuất hàng hóa có
những ưu điểm nổi bật sau:
- Một là, tạo khả năng thỏa mãn tối đa các nhu cầu luôn phát triển của con người. Xã
hội ngày càng phát triển, nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng tăng, đòi hỏi sự nâng cao cả
về lượng chất. Sự đa dạng của hàng hóa nhờ vào sản xuất sẽ làm cho họ nhiều sự lựa
chọn phù hợp với nhu cầu điều kiện của bản thân hơn. Từ đó góp phần cải thiện hội,
nâng cao đời sống đồng thời làm tăng khả năng lao động của mỗi người.
- Hai là kích thích sự năng động, sáng tạo của con người bởi sự tác động của quy luật
vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hóa là quy luật giá trị, cung - cầu, cạnh tranh... Các quy
luật này buộc người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn năng động, sáng tạo và nhạy bén, đánh
giá đúng thị trường, biết tính toán, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và
hiệu quả kinh tế; cải tiến hình thức, quy cách và chủng loại để hàng hóa ngày càng đa dạng,
phong phú đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao hơn.,
5
- Ba là sản xuất hàng hóa thúc đẩy các quan hệ kinh tế luôn rộng mở, từ đó góp phần
thúc đẩy văn minh cho con người.Trong nền sản xuất hàng hóa, sự phát triển của sản xuất, sự
mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước... không chỉ làm
cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hóa, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú
hơn, đa dạng hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trên, sản xuất hàng hóa cũng có mặt trái và tác động
tiêu cực đối với đời sống kinh tế, xã hội như phân hóa giàu nghèo giữa những người sản xuất; chạy
theo lợi ích cá nhân làm tổn hại đến các giá trị đạo đức truyền thống, nạn hàng giả, hàng kém chất
lượng, thậm chí hàng hóa độc hại cũng thđem ra trao đổi gây tổn hại cho hội; sản xuất
không kiểm soát được tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối, khủng hoảng kinh tế, phá hoại môi trường sinh
thái… Những tác động tiêu cực đó có thể hạn chế được, nếu có sự quản lý, điều tiết từ một chủ thể
chung của toàn bộ nền kinh tế là nhà nước.
II. Trách nhiệm hội của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng trong việc sản xuất hàng
hóa:
Đi kèm với các hoạt động sản xuất, sự tham gia vào nền kinh tế những trách nhiệm của
nhà sản xuất đối với nhà nước, xã hội, người lao động,… và đặc biệt là người tiêu dùng. Mối quan
hệ giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng là mối quan hệ mật thiết và tất yếu đặc biệt là ở khâu tiêu
thụ sản phẩm. Trách nhiệm hội của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng trong sản xuất hàng
hóa nằm ở nhiều khía cạnh:
- Một là, các nhà sản xuất có trách nhiệm sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu
dùng cần muốn với một mức giá thể duy trì công ty đồng thời thỏa mãn túi tiền của
nhiều tầng lớp khách hàng. Hay nói cách khác người sản xuất có trách nhiệm đóng góp vào sự
phát triển bền vững, cải thiện chất lượng cuộc sống của người tiêu dùng ở một mức độ nào đó
mà vẫn đảm bảo lợi ích của mình. Điều này cũng được thể hiện một phần trong ưu thế của sản
xuất hàng hóa. Đó là khả năng thỏa mãn các nhu cầu luôn phát triển của con người. Hàng hóa
cần được sản xuất đa dạng cả về mẫu mã lẫn giá cả để có thể phù hợp với mức thu nhập khác
nhau của người tiêu dùng. Người sản xuất không ngừng sáng tạo, cải tiến kỹ thuật nhằm đáp
ứng nhu cầu và thị hiếu ngày càng cao của khách hàng. Ví dụ như các doanh nghiệp sản xuất
ô tô nên sản xuất ô với nhiều mức giá khác nhau, tạo điều kiện cho ngay cả những khách
hàng thu nhập không quá cao, hoặc có các chương trình hỗ trợ như trả góp, khuyến
mãi...Đồng thời thường xuyên cập nhật những mẫu mã mới, đáp ứng thị hiếu khách hàng. Khi
6
thực hiện những công việc này đồng thời nhà sản xuất cũng góp phần nâng cao lợi ích bản
thân và sự phát triển của doanh nghiệp.
- Hai là, ngoài việc cung cấp hàng hóa dịch vụ, trách nhiệm của các nhà sản xuất
còn liên quan đến các vấn đề về chất lượng, an toàn sản phẩm. Chất lượng của hàng hóa phải
xứng đáng với giá tiền. Các quy trình sản xuất phải đảm bảo vệ sinh được giám sát chặt
chẽ; sử dụng nguyên liệu sạch, có nguồn gốc rõ ràng…. Đối với trường hợp hàng hóa là thực
phẩm, lương thực, các hoạt động vận chuyển, lưu giữ, bảo quản cần được chú trọng.
- Ba là, tuân thủ các quy định, quyết định về thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền. Đây là trách nhiệm của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng nói riêng và nhà
nước nói chung.
- Bốn là, luôn đạo đức khi tham gia sản xuất hàng hóa. Mặc không được quy
định trong hệ thống pháp luật nhưng đạo đức nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc
xây dựng uy tín của nhà sản xuất và sự tin tưởng của người tiêu dùng.Trong kinh doanh, buôn
bán, niềm tin là một yếu tố quan trọng. Với thị trường có nhiều cạnh tranh như hiện nay, quyết
định chọn hàng hóa, sản phẩm hay dịch vụ nào là quyền của người tiêu dùng. Và đương nhiên
ai cũng muốn sản phẩm mình mua xứng đáng với số tiền bản thân bỏ ra. Nhưng người tiêu
dùng gần như không cách nào để biết được hàng hóa mình mua đạt chất lượng hay
không. Yếu tố duy nhất mà họ thể dựa vào là lòng tin đối với nhà sản xuất, với thông tin
được ghi trên bao bì. Chính vì vậy, các nhà sản xuất có trách nhiệm luôn trung thực trong hoạt
động sản xuất, làm đúng theo quy trình, không có thêm bất kỳ hành động gian dối, chạy theo
lợi nhuận nào, các thông tin trên bao bì phải được ghi một cách chính xác, đầy đủ... Ngoài ra
các khả năng mà sản phẩm có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng cũng
cần được cảnh bảo. Đặc biệt trường hợp sản xuất thuốc chữa bệnh, nguồn gốc nhập các
thành phần để điều chế phải được lựa chọn kỹ càng; cần phải có giấy hướng dẫn sử dụng, cảnh
báo tác dụng phụ; ngày sản xuất, ngày hết hạn được ghi chính xác. Trong trường hợp bất
kỳ tai nạn hay sai sót trong khâu sản xuất khiến hàng hóa bị ảnh hưởng, nhà sản xuất có trách
nhiệm kịp thời ngừng sản xuất, thông báo đến các bên liên quan; thu hồi, xử lý hàng hóa không
đảm bảo chất lượng. Hiện nay có một số hành động gian dối của một số nhà sản xuất như pha
thêm hóa chất melamine vào sữa, pha thêm cồn công nghiệp vào rượu,…. Các hành vi y tuy
đã bị xử lý theo pháp luật nhưng những tổn hại mà người tiêu dùng phải chịu là vô cùng lớn
không thểđắp được. vậy sự trung thực trong sản xuất là trách nhiệm hàng đầu của
7
các nhà sản xuất. Họ là những người chịu trách nhiệm trực tiếp cho sức khỏe của người tiêu
dùng.
Ngoài ra sự quan tâm, bảo vệ môi trường cũng một phần trong trách nhiệm xã hội của nhà
sản xuất đối với người tiêu dùng. Bởi vì khi gây ra tác động xấu đối với môi trường đồng thời sẽ
ảnh hưởng đến đời sống chung của xã hội, cộng đồng, trong đó người tiêu dùng chính nhà
sản xuất. Chẳng hạn nếu doanh nghiệp sản xuất xe hơi, phải tính toán được ngay cả năng lượng mà
sở tiêu thụ và tìm cách cải thiện nó. Nếu là công ty sản xuất giấy, phải xem chất thải ra bao nhiêu
và xử lý nó.
III. Liên hệ thực tiễn:
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp lớn Việt Nam đã nhận ra rằng trách nhiệm xã hội là một yêu
cầu không thể thiếu đối với sự tồn tại phát triển của doanh nghiệp. Bởi lẽ, trong bối cảnh toàn
cầu hóa như hiện nay nếu doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm xã hội thì sẽ không thể tiếp
cận được với thị trường thế giới. Nhiều doanh nghiệp khi thực hiện trách nhiệm xã hội đã mang lại
những hiệu quả nhất định trong kinh doanh. Bên cạnh những hiệu quả kinh tế, doanh nghiệp còn
củng cố uy tín đối với người tiêu dùng, thu hút nhiều lao động có chuyên môn cao,… nâng cao tên
tuổi cho doanh nghiệp. Trong đó Vinamilk là một doanh nghiệp điển nh trong việc thực hiện trách
nhiệm xã hội doanh nghiệp.
tập đoàn sản xuất ra những sản phẩm từ sữa Vinamilk thấy rằng việc thực hiện trách
nhiệm xã hội đối với người tiêu dùng là vô cùng quan trọng. Người tiêu dùng là yếu tố quyết định
thành bại của doanh nghiệp. Vì vậy, Vinamilk đặc biệt quan tâm tới đối tượng này. Công ty cung
cấp hàng hóa, dịch vụ phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng trong xã hội. Sản phẩm cung cấp đảm
bảo các yêu cầu về chất lượng, an toàn sản phẩm, định giá, thông tin về sản phẩm, phân phối
bán hàng, cạnh tranh. Người tiêu dùng có quyền tự do lựa chọn hàng hóa và dịch vụ phù hợp với
nhu cầu của mình với mức giá cả hợp lý. Toàn bộ các sản phẩm của công ty được sản xuất trên hệ
thống máy móc thiết bị hiện đại và được kiểm soát chặt chẽ theo hệ thống quản lý chất lượng theo
tiêu chuẩn quốc tế ISO, HACCP do các ng ty hàng đầu thế giới chứng nhận. Đồng thời, tất cả
các sản phẩm của công ty đều đảm bảo thực hiện công bố đầy đủ theo qui định của pháp luật
luôn luôn có sự giám sát trực tiếp cũng như gián tiếp của các cơ quan chức năng. Hàng ngày, mỗi
nhà máy của Vinamilk sản xuất hàng chục triệu hộp sữa các loại với sự kiểm soát chặt chẽ từ nguyên
liệu đầu vào; vệ sinh máy móc thiết bị phân ởng sản xuất; quá trình sản xuất đến khi xuất
hàng. Để đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng, nguyên liệu sữa tươi được Vinamilk thu mua từ các
8
hộ nông dân trên cả nước luôn được kiểm tra nghiêm ngặt theo đúng quy trình. Việc kiểm tra chất
lượng nguyên liệu sữa tươi là biện pháp góp phần mang đến cho người tiêu dùng những sản phẩm
sữa chất lượng tốt, đồng thời phát triển ngành chăn nuôi sữa một cách hiệu quả, bền vững
cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu. Để sữa đạt chất lượng, bò của hộ nông dân cần
phải được nuôi dưỡng đúng kỹ thuật (khẩu phần đầy đủ, cho ăn đúng phương pháp, sức khỏe tốt
(không bệnh), chuồng trại sạch sẽ thoáng mát và áp dụng đúng kỹ thuật khai thác sữa (vệ sinh vắt
sữa, vắt cạn sữa). Công ty đã áp dụng hệ thống thang điểm vệ sinh chuồng trại chăn nuôi tổ chức
kiểm tra đột xuất hoặc định kỳ giúp bà con nông dân nâng cao ý thức trong việc đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm trong chăn nuôi và khai thác sữa. Với sứ mệnh: Vinamilk cam kết mang đến cho
cộng đồng nguồn dinh dưỡng tốt nhất, chất lượng nhất bằng chính sự trân trọng, tình yêu và trách
nhiệm cao của mình đối với cuộc sống con người và xã hội, Vinamilk không những luôn nỗ lực
cung cấp cho người tiêu dùng những sản phẩm đảm bảo chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm
cao nhất mà còn luôn hướng đến phương châm hoạt động “Lợi ích của Người tiêu dùng là mục tiêu
phát triển của Vinamilk” bằng sự kết hợp của một dịch vụ sau bán hàng hoàn hảo với sự phục vụ
chu đáo, tận tâm luôn luôn lắng nghe ý kiến phản hồi từ khách hàng. Công ty phòng chăm
sóc khách hàng với các bác giàu kinh nghiệm sẵn sàng giải đáp tất cả các thắc mắc của khách
hàng như: cách sử dụng sữa, những loại sữa phù hợp cho từng độ tuổi, cách giảm cân, tăng cân,
những vấn đề sức khỏe khi sử dụng sữa….Bên cạnh đó Vinamilk tuân thủ Luật Bảo vệ môi trường,
cam kết mang đến cho cộng đồng một môi trường an toàn cho sức khỏe mọi người. Công ty luôn
nỗ lực trong việc đầu tư và sử dụng các trang thiết bị, máy móc cũng như sản xuất sản phẩm thân
thiện với môi trường. Tất cả chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh đều được kiểm
soát xử theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Công ty cam kết luôn chung tay xây dựng
một môi trường thân thiện, hòa bình, phát triển cho tương lai. Bảo vệ môi trường cũng có nghĩa là
công ty sẽ gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến bộ xã hội để phát triển bền vững
đất nước, bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực toàn cầu. Vinamilk
luôn hướng tới người tiêu dùng để đáp ứng thỏa mãn nhu cầu và thị hiếu khi tạo ra sản phẩm.
Nhu cầu của người tiêu dùng luôn thay đổi, cách tốt nhất để làm được điều đó là luôn tôn trọng ý
kiến người tiêu dùng, cũng như tạo một môi trường thoải mái, thân thiện, kịp thời để trao đổi thông
tin với người tiêu dùng. Công ty cam kết luôn đón nhận thông tin từ phía người tiêu dùng như
những đóng góp về sản phẩm, mối quan m, thắc mắc hay cả những khiếu nại với thái độ trân
trọng nhất, lịch sự nhất, kịp thời nhất cũng như cam kết sẽ điều tra và giải quyết thích đáng ngay
lập tức đối với những vấn đề liên quan đến an toàn về sản phẩm, dịch vụ.
9
Tuy nhiên, cũng không ít doanh nghiệp đã không thực hiện nghiêm túc trách nhiệm
hội của mình. Điều đó được thể hiện qua các hành vi gian lận, trong kinh doanh, báo cáo tài chính,
sản xuất kinh doanh hàng kém chất lượng, cố ý gây ô nhiễm môi trường. Điển hình các vụ x
nước thải không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cho các dòng sông và cộng đồng
dân cư của các công ty Miwon, công ty giấy Việt Trì, bột ngọt Vedan,…; các vụ sản xuất thực phẩm
chứa chất hại cho sức khỏe của con người: bánh phở chứa phormol, thực phẩm chứa n the,
sữa có chứa melamine;… Để khắc phục tình trạng này, nhà nước cần có các chính sách, biện pháp
cụ thể: bổ sung và hoàn thiện khung pháp luật Việt Nam; tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận
thức cho các doanh nghiệp; các chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc
thực hiện trách nhiệm xã hội,…Bên cạnh đó bản thân các doanh nghiệp cũng cần quan tâm đến tầm
quan trọng của việc thực hiện trách nhiệm xã hội, có các định hướng, chiến lược cụ thể, chính xác
để hoàn thiện hơn các vấn đề liên quan đến trách nhiệm xã hội.
KẾT LUẬN: Sự ra đời của sản xuất hàng hoá chính bước ngoặt căn bản trong lịch sử
phát triển của lịch sử loài người. Cùng với khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, sản xuất hàng
hóa đang ngày càng trở nên phát triển, góp phần nâng cao đời sống chung của xã hội. Vì vậy việc
nghiên cứu sản xuất hàng hóa đánh giá về trách nhiệm hội của nhà sản xuất đối với người
tiêu dùng trong hoạt động sản xuất là một việc quan trọng và cần thiết. Mục đích chính của bất kể
nền kinh tế nào cuối cùng cũng sản xuất ra hàng hóa đáp ứng nhu cầu con người. Chính thế
sản xuất hàng hóa ngày càng được chú trọng, đầu và phát triển. Vai trò của sản xuất hàng hóa
càng lớn thì trách nhiệm của nhà sản xuất càng cao. Lĩnh vực sản xuất hàng hóa sẽ chỉ phát triển
theo hướng tích cực và vững bền khi tất cả các nhà sản xuất đều thực hiện đầy đủ trách nhiệm của
mình, đặc biệt là trách nhiệm đối với người tiêu dùng.
ĐỀ 2. Quy luật giá trị: yêu cầu và các tác động của quy luật giá trị. Hãy thử đặt mình
vị trí nhà sản xuất, chỉ ra những công việc chủ doanh nghiệp cần phải làm để cho
doanh nghiệp của mình sản xuất kinh doanh lãi trong điều kiện kinh tế thị
trường.
MỞ ĐẦU:
Trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản nhất của sản xuất và
trao đổi hàng hóa. Đúng như Mác đã nói “Ở đâu có trao đổi, sản xuất hàng hóa thì ở đấy có sự hoạt
động của quy luật giá trị”.
10
Trước thời kỳ đổi mới, chúng ta phủ nhận sản xuất hàng hóa và quy luật giá trị, nên không
khai thác triệt để được các nguồn lực, dẫn đến nền kinh tế kém phát triển, rơi vào khủng hoảng.
Trong thời kỳ đổi mới, chúng ta phát triển sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị hoạt động, tạo
nên sự cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế,...
Những tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa ý nghĩa lý luận và thực
tiện hết sức to lớn: một mặt chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải các yếu kém, kích thích các
nhân tố tích cực phát triển; mặt khác, phân hóa xã hội thành kẻ giàu người nghèo, tạo ra sự bất bình
đẳng trong xã hội.
Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực một cách tự phát
khách quan. Thấy được điều đó, đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, Nhà nước
và các doanh nghiệp cần những biện pháp để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của
nó, đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
NỘI DUNG:
I. Yêu cầu của quy luật giá trị: Quy luật giá trị yêu cầu sản xuấttrao đổi hàng hóa phải dựa
trên cơ sở giá trị của nó, tức là hao phí lao động xã hội cần thiết.
1. Đối với sản xuất:
- Theo yêu cầu của quy luật giá trị, người sản xuất muốn bán được hàng hóa trên thị
trường, muốn được xã hội thừa nhận sản phẩm thì lượng giá trị của một hàng hoá cá biệt phải
phù hợp với thời gian lao động xã hội cần thiết.
- Trong sản xuất, người sản xuất phải mức hao phí lao động biệt của mình nhỏ
hơn hoặc bằng với mức hao phí lao động xã hội cần thiết thì mới đạt được lợi thế cạnh tranh.
Vì vậy họ phải luôn luôn tìm cách hạ thấp hao phí lao động cá biệt xuống mức chi phí mà xã
hội chấp nhận được để bù đắp được chi phí sản xuất và có lợi nhuận.
2. Đối với lưu thông:
- Trong trao đổi, cần thực hiện theo nguyên tắc ngang giá, lấy giá trị xã hội làm cơ sở, không
dựa trên giá trị cá biệt. Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao
động như nhau hoặc trao đổi, mua bán hàng hoá phải thực hiện khi giá cả bằng giá trị.
13
Vì vậy, có thể nói quy luật giá trị đã kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp hóa sản xuất, thúc
đẩy nền sản xuất hàng hóa và lực lượng lao động phát triển.
3. Phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành giàu – nghèo một cách tự nhiên, tạo ra sự
bất bình đẳng trong xã hội:
Những chủ thể sản xuất hàng hóa nhạy bén với thị trường, trình độ năng lực giỏi, có mức
hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết thì có thể thắng thế trong
cạnh tranh, họ sẽ giàu lên, có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh để
trở thành chủ thể giàu có hơn, và có thể sử dụng được nhiều hơn lao động làm thuê.
Ngược lại, những chủ thể sản xuất hàng hóa gặp hạn chế về vốn, công nghệ sản xuất lạc
hậu, tay nghề chuyên môn không cao và có mức hao phí lao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao
động xã hội cần thiết, sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, thậm chí là phá sản, trở thành người nghèo.
Chính do các tác động nhiều mặt của quy luật giá trị đã làm cho sản xuất hàng hóa thực sự
là khởi điểm ra đời của chủ nghĩa tư bản.
=> Tóm lại, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực: đào thải cái lạc hậu, lỗi thời, kích
thích sự tiến bộ, làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ; vừa có những tác động tiêu
cực: phân hóa người sản xuất hàng hóa thành giàu nghèo. Các tác động đó diễn ra trên thị
trường một cách tự phát, khách quan nên nhà nước và các doanh nghiệp cần có sự điều tiết
phù hợp để hạn chế tính tiêu cực và phát huy tính tích cực của quy luật giá trị.
IV. Những công việc chủ doanh nghiệp cần phải làm để cho doanh nghiệp của mình sản xuất
và kinh doanh có lãi trong điều kiện kinh tế thị trường.
Trước hết, chủ doanh nghiệp cần có duy kinh doanh tầm nhìn tốt, biết nhìn xa trông
rộng. Họ cần cố gắng dự đoán các nhu cầu thị hiếu của khách hàng trong tương lai, từ đó chủ
động chuẩn bị các nguồn lực để đáp ứng cho nhu cầu đó một cách kịp thời. Muốn vậy, chủ doanh
nghiệp phải dành thời gian nghiên cứu thị trường, dũng cảm đặt chân vào các thị trường mới để tìm
kiếm thêm nhiều hướng đi hội. Đa dạng hóa phân khúc trong kinh doanh thể còn nhiều
trở ngại với doanh nghiệp nhưng đây là việc cần phải nỗ lực làm ngay. Bởi nếu làm được điều này,
họ có thể dễ dàng mở rộng thị phần và cải thiện khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.
Do quy luật cạnh tranh, ngành nào có tỷ suất lợi nhuận cao thì ngành đó sẽ có nhiều doanh
nghiệp mới ra nhập vào để cạnh tranh phân chia thị trường. Các đối thủ sẽ tìm cách xâm nhập
14
vào thị trường với những sản phẩm mới và có lợi thế cạnh tranh cao. Nếu chủ doanh nghiệp không
có sự thay đổi, tự hài lòng với chính mình, chắc chắc họ sẽ bị đào thải khỏi thị trường bởi khách
hàng sẽ không bao giờ chấp nhận các sản phẩm cũ, lỗi thời không còn phù hợp. vậy, chủ
doanh nghiệp cần cải tiến sản phẩm về nhiều mặt như: giá cả, tính năng, công dụng của sản phẩm.
Ngoài ra, chủ doanh nghiệp cũng cần nỗ lực đưa ra thị trường các dòng sản phẩm mới mang tính
sáng tạo và đột phá cao.
Trong sản xuất, nếu chủ doanh nghiệp biết đầu điều tiết sản xuất hợp lý, họ thể
khẳng định và giữ vững giá trị thương hiệu của mình. Còn ngược lại, nếu chủ doanh nghiệp không
biết cách sử dụng tối đa các nguồn lực, doanh nghiệp của họ sẽ phải đối mặt với tình trạng thua lỗ,
thậm chí là phá sản.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần rút ngắn thời gian lao động biệt của mình xuống mức
tối thiểu. Muốn vậy chủ doanh nghiệp cần kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp hóa sản xuất, tăng
năng suất lao động, áp dụng công nghệ - khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất để nâng cao chất
lượng sản phẩm, giá cả ngày càng rẻ, mẫu mã ngày càng đẹp, phong phú, đa dạng về chủng loại,
đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng.
Trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0, là chủ doanh nghiệp, ta cần số hóa các quy trình
và chuyển mình sang bán hàng trực tuyến dựa trên các nền tảng sở về công nghệ đã được tiếp
cận từ trước để giúp khách hàng thể lựa chọn hàng hóa online phục vụ họ thông qua hình
thức giao hàng trực tuyến. Cthể, với các cửa hàng đồ gia dụng, thời trang,... chúng ta cần phát
triển triệt để các kênh online thông qua quảng cáo và mạng xã hội. Với quán ăn hay nhà hàng, cần
phát triển dịch vụ giao hàng tận nơi còn các cơ sở giáo dục có thể triển khai hình thức dạy học trực
tuyến. Việc áp dụng công nghệ - kỹ thuật hiện đại không chỉ giúp nâng cao năng suất lao động mà
còn tiết kiệm được chi phí vận hành và thời gian đi lại, từ đó giúp doanh nghiệp tăng lợi nhuận một
cách đáng kể.
Bên cạnh đó, chủ doanh nghiệp cũng cần chuyên tâm tìm hiểu, khắc phục những lỗ hổng
trong hệ thống và từ đó cải thiện quy trình quản trị. Chúng ta đang phải sống trong một giai đoạn
mà nền kinh tế thế giới đang chứa đựng rất nhiều bất định và rủi ro, cú sốc ấy có thể đến từ chính
trị, các biến cố, thiên tai dịch bệnh. Nếu nhà quản trị không sự chuẩn bị tốt để trở nên linh
hoạt, dễ thích ứng và nâng cao khả năng tự phục hồi của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ có nguy
cơ đối mặt với vô vàn khủng hoảng. Vì vậy bênh cạnh việc xây dựng, cải tiến chiến lược, chúng ta
cần đặt vấn đề quản trị rủi ro, giảm sự bất định lên hàng đầu: tìm hiểu thông tin về các đối tác thị
15
trường để có bước chuyển, mua bảo hiểm rủi ro, tìm cách biến sự bất định thành xác định bằng các
phương pháp nghiên cứu phù hợp.
Cuối cùng, chủ các doanh nghiệp cần tuân thu các quy định của pháp luật, không buôn bán
gian lận, cạnh tranh thiếu lành mạnh, dùng các thủ đoạn để “hạ bệ” đối thủ. Thay vào đó, chủ doanh
nghiệp cần đẩy mạnh hợp tác, xúc tiến đầu tư với các đối tác, cạnh tranh lành mạnh, cùng giúp
nhau phát triển.
KẾT LUẬN:
Như vậy quy luật giá trị một quy luật kinh tế quan trọng đối với sự hình thành phát
triển nền kinh tế của nước ta. Đây là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất trao đổi hàng hóa. Quy
luật giá trị vừa tác dụng đào thải cái lạc hậu, lỗi thời, kích thích sự tiến bộ, làm cho lực lượng
sản xuất phát triển mạnh mẽ; vừa có tác dụng lựa chọn, đánh giá người sản xuất, bảo đảm sự bình
đẳng đối với người sản xuất.
Tuy quy luật giá trị là quy luật kinh tế tự nhiên, khách quan, vừa có cả những tác động tích
cực lẫn tiêu cực, nhà sản xuất vẫn thể vận dụng quy luật giá trị để thúc đẩy sản xuất theo các
mục tiêu đã đề ra.
Chúng ta cần tìm hiểu rõ các tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường hiện
nay cũng như vận dụng nó một cách linh hoạt, hợp lý.
ĐỀ 3. Lý luận chung về lợi nhuận, lợi nhuận ngân hàng và địa tô. Giả sử mình là chủ
doanh nghiệp sản xuất, nhưng phải vay vốn của ngân hàng để kinh doanh, lại phải
thuê mặt bằng để làm nhà xưởng, vậy người chủ doanh nghiệp sản xuất phải có trách
nhiệm gì với người lao động của mình? Với ngân hàng và với người cho thuê mặt bằng
để làm nhà xưởng?
MỞ ĐẦU:
Những biến động phức tạp, khó lường trong phát triển kinh tế thế giới như toàn cầu hóa, các
công ty đa quốc gia, sự thay đổi các yếu tố địa chính trị, địa kinh tế và đặc biệt là cuộc CMCN 4.0
với sự phát triển của công nghệ số, công nghệ sinh học, thực tế ảo…; sự thay thế của máy móc tự
động và ttuệ nhân tạo cho lao động sống của con người; vai trò của các nhân tố chủ yếu trong
sản xuất của xã hội công nghiệp như đất đai, lao động, nguyên liệu, vốn,…đang có xu hướng dần
suy giảm, tri thức đã đang trở thành yếu tố quyết định nhất trong nền sản xuất hiện đại. Nhiều
16
yếu tố mới đã xuất hiện trong phân phối thu nhập biểu hiện thông qua sự hình thành và phát triển
của tầng lớp trung lưu bao gồm bộ phận công chức, người lao động có tay nghề cao có mức sống
khá, một bộ phận công nhân cổ phần, cổ đông trong các công ty trở thành những nhà đầu
thông qua mua cổ phiếu, trái phiếu và thu được lợi tức cổ phần, lợi tức trái phiếu lãi suất tiền
gửi… tại các nước tư bản phát triển. Nhiều nước tư bản phát triển đã đạt được trình độ cao và đang
đặt ra câu hỏi, phải chăng đó những biểu hiện mới của sản xuất và phân phối thặng dư. Giá trị
thặng dư với cách cơ sở tồn tại, phát triển của nền kinh tế thị trường bản chủ nghĩa được
biểu hiện ra dưới nhiều hình thức có quan hệ mật thiết với nhau trong nền kinh tế thị trường như
lợi nhuận, lợi tức, địa tô. Sau đây sẽ phân tích về các hình thức này để thấy hơn mối quan hệ
giữa người mua hàng hóa sức lao động và người bán hàng hóa sức lao động, giữa người lao động
người sử dụng lao động. Nghiên cứu về sản xuất giá trị thặng dư tập trung vào phân tích mối
quan hệ lợi ích giữa người mua hàng hóa sức lao động với người bán sức lao động thì ở đây nghiên
cứu về hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư thực chất phân tích về các quan hệ lợi ích giữa
những nhàbản với nhau, giữa nhà bản với địa chủ trong việc phân chia giá trị thặng dư thu
được trên cơ sở hao phí sức lao động của người lao động làm thuê.
NỘI DUNG:
I. Lý luận chung về lợi nhuận, lợi nhuận ngân hàng và địa tô:
1. Lợi nhuận:
a. Khái niệm về lợi nhuận: Trong thực tế sản xuất kinh doanh, giữa giá trị hàng hóa và chi phí
sản xuất một khoảng chênh lệch, cho nên sau khi bán hàng hóa (bán ngang giá), nhà bản
không những bù đắp đủ số chi phí đã ứng ra mà còn thu được số tiền lời bằng giá trị thặng dư. Số
tiền này C.Mác gọi là lợi nhuận. C.Mác khái quát: giá trị thặng dư, được quan niệm là con đẻ của
toàn bộ bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa lợi nhuận. Điều đó nghĩa, lợi nhuận
chẳng qua chỉ là hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư trên bề mặt nền kinh tế thị trường. Nhà tư
bản chỉ cần bán hàng hóa với giá cả cao hơn chi phí sản xuất là đã có lợi nhuận. Trong trường hợp
bán đúng bằng chi phí sản xuất không lợi nhuận. Bán hàng hóa thấp hơn giá trị và cao hơn
chi phí sản xuất cũng có thể đã có lợi nhuận. Trong trường hợp này, lợi nhuận nhỏ hơn giá trị thặng
dư. Lợi nhuận chính là mục tiêu, động cơ, động lực của hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nền
kinh tế thị trường.
17
b. Nội dung của lợi nhuận: Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải hiệu quả. Tuy nhiên, do hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú, hiệu quả kinh doanh thể đạt được từ nhiều
hoạt động khác nhau. Bởi vậy lợi nhuận của doanh nghiệp cũng bao gồm nhiều loại, trong đó chủ
yếu là:
o Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
o Lợi nhuận thu được từ các hoạt động tài chính mang lại, đó là khoản chênh lệch giữa các
khoản thu chi tính chất nghiệp vụ tài chính trong quá trình doanh nghiệp thực hiện
việc kinh doanh.
o Lợi nhuận thu được từ các hoạt động khác (hoạt động bất thường) là khoản chênh lệch giữa
thu nhập và chi phí của các hoạt động khác ngoài các hoạt động nêu trên.
c. Vai trò của lợi nhuận:
- Đối với doanh nghiệp:
o Lợi nhuận givị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh độc lập theo cơ chế thị trường, doanh nghiệp có tồn
tại và phát triển hay không thì điều quyết định là doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận hay
không? Chuỗi lợi nhuận của doanh nghiệp trong tương lai sẽ phát sinh và diễn biến như thế
nào? Vì thế, lợi nhuận được coi là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng đồng thời là
một chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận tác động đến tất cả
các mặt hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh
nghiệp, việc thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài
chính của doanh nghiệp được ổn định, vững chắc.
o Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp nói lên kết quả của toàn bộ hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp phấn đấu cải tiến, nâng cao hiệu
quả của hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho giá thành sản phẩm hạ thì lợi nhuận sẽ tăng
lên một cách trực tiếp. Ngược lại, nếu giá thành sản phẩm tăng lên thì lợi nhuận sẽ giảm đi.
Bởi vậy là chỉ tiêu quan trọng nhất tác động đến mọi vấn đề của doanh nghiệp, quyết định
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, đồng thời lợi nhhuận ảnh hưởng trực tiếp đến tình
hình tài chính của doanh nghiệp, chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Đối với xã hội:
18
o Ngoài vai trò đối với doanh nghiệp lợi nhận còn là nguồn tích luỹ cơ bản, nguồn
để mở rộng tái sản xuất xã hội. Sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải
hạch toán lợi nhuận (hoặc lỗ) rồi từ đó nộp một khoản tiền vào ngân ch nhà nước. Sự tham
gia đóng góp này của các doanh nghiệp được phản ánh ở số thuế thu nhập mà doanh nghiệp
đã nộp. Thuế thu nhập doanh nghiệp là một sự điều tiết của nhà nước đối với lợi nhuận thu
được của các đơn vị sản xuất kinh doanh, để góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và động
viên một phần lợi nhuận của sở kinh doanh cho ngân sách nhà nước, bảo đảm sự đóng
góp công bằng, hợp giữa các thành phần kinh tế, kết hợp hài hoà giữa lợi ích của n
nước và lợi ích của người lao động.
o Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, để khuyến khích, nâng cao chất lượng sản xuất,
thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ miễn thu cho phần lợi nhuận dùng để tái đầu tư vào sản xuất
kinh doanh và miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh vùng sâu, vùng xa. Đối với các doanh nghiệp quốc doanh, hợp tác , các
doanh nghiệp sản xuất điện năng, khai thác mỏ, luyện kim, cơ khí, phân bón, thuốc trừ sâu,
vật liệu xây dựng, khai thácvà chế biến lâm sản, thuỷ hải sản, xây dựng, vận tải, nộp thuế
thu nhập doanh nghiệp theo thuế suất 28%, các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực
phẩm ngành sản xuất khác nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo thuế suất lớn hơn. Khoản
thuế thu nhập mà các doanh nghiệp nộp vào ngân sách nhà nước sẽ dùng để đầu xây dựng
cơ sở hạ tầng mở rộng tái sản xuất xã hội.
2. Lợi nhuận ngân hàng:
- Ngân hàng bản chủ nghĩa là tổ chức kinh doanh tư bản tiền tệ, làm môi giới giữa người
đi vay và người cho vay.
- Ngân hàng có hai nghiệp vụ: nhận gửi và cho vay.
- Trong nghiệp vụ nhận gửi, ngân hàng trả lợi tức cho người gửi tiền; còn trong nghiệp vụ cho
vay, ngân hàng thu lợi tức của người đi vay. Lợi tức nhận gửi nhỏ hơn lợi tức cho vay. Chênh
lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức nhận gửi trừ đi những khoản chi phí cần thiết về nghiệp vụ
ngân hàng, cộng với các khoản thu nhập khác về kinh doanh tư bản tiền tệ hình thành nên lợi
nhuận ngân hàng. Trong cạnh tranh, rốt cuộc lợi nhuận ngân hàng cũng ngang bằng với lợi
nhuận bình quân. Nếu không sẽ lại có sự tự do di chuyển tư bản vào các ngành khác nhau.
- Nhờ có ngân hàng các nhà tư bản điều kiện mở rộng sản xuất nhanh chóng hơn, có
điều kiện tự do di chuyển bản từ ngành này sang ngành khác dễ dàng hơn, giảm được chi
19
phí lưu thông, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, đẩy nhanh tốc độ quay vòng của đồng
tiền.
- Phân biệt tư bản ngân hàng với tư bản cho vay. Tư bản ngân hàng có điểm khác biệt về căn
bản so với tư bản cho vay, thể hiện ở điểm sau đây:
o Tư bản cho vay là tư bản tiềm thế, tư bản tài sản, là tư bản không hoạt động. Vì vậy
tư bản cho vay không tham gia vào quá trình bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận. Lợi tức – thu
nhập của tư bản cho vay chỉ là một phần của lợi nhuận bình quân.
o Tư bản ngân hàng là tư bản chức năng, tư bản hoạt động nên tư bản ngân hàng cũng
tham gia vào quá trình bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận. Trong tự do cạnh tranh, lợi nhuận
ngân hàng cũng ngang bằng lợi nhuận bình quân.
3. Địa tô: bản kinh doanh nông nghiệp là bộ phận bản xã hội đầu tư o lĩnh vực nông nghiệp.
Cũng như các nhà bản kinh doanh trên các lĩnh vực khác, nhà bản kinh doanh trên lĩnh vực
nông nghiệp cũng thu được lợi nhuận bình quân. Nhưng khác với các chủ thể kinh doanh khác, nhà
tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả một lượng tiền cho địa chủ vì đã thuê đất của
họ. Vậy là, ngoài số lợi nhuận bình quân, nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp thu thêm
được một phần giá trị thặng dôi ra nữa, tức lợi nhuận siêu ngạch, lợi nhuận siêu ngạch này
phải trả cho địa chủ. Vậy là, C.Mác khái quát, địa tô là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu
trừ đi phần lợi nhuận bình quân các nhà bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả
cho địa chủ. Vậy là, C.Mác khái quát, địa tô là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi
phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả cho địa
chủ. Giữa địa tô bản chủ nghĩa và địa tô phong kiến có điểm giống nhau và khác nhau: Sự giống
nhau trước hết quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế; cả hai loại địa đều là
kết quả của sự bóc lột đối với những người lao động. Song hai loại địa trên khác nhau cả về
lượng và chất. Về mặt lượng, địa phong kiến gồm toàn bộ sản phẩm thặng dư do nông dân tạo
ra, có khi còn lạm vào cả phần sản phẩm cần thiết. Còn địa tô tư bản chủ nghĩa chỉ là một phần giá
trị thặng ngoài lợi nhuận bình quân của nhà bản kinh doanh ruộng đất. Về mặt chất, địa
phong kiến phản ánh mối quan hệ giữa hai giai cấp: địa chủ nông dân, trong đó giai cấp địa chủ
trực tiếp bóc lột ng dân; còn địa tô tư bản chủ nghĩa phản ánh mối quan hệ giữa ba giai cấp: giai
cấp địa chủ, giai cấp các nhà tư bản kinh doanh ruộng đất và giai cấp công nhân nông nghiệp làm
thuê, trong đó địa chủ gián tiếp bóc lột công nhân thông qua tư bản hoạt động. Vấn đề đặt ra là: tại
sao nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp lại thể thu được phần giá trị thặng dôi ra ngoài lợi
20
nhuận bình quân để trả cho chủ ruộng đất? Việc nghiên cứu địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối sẽ
giải thích điều đó.
Các hình thức địa tô:
- Địa tô chênh lệch:
Trong các phần trên chúng ta đã nghiên cứu và thấy rằng lợi nhuận siêu ngạch trong công
nghiệp chỉ hiện tượng tạm thời, không ổn định, nó chỉ xuất hiện đối với nhà tư bản cá biệt nào
có những điều kiện sản xuất thuận lợi hơn điều kiện sản xuất trung bình của toàn xã hội. Trái lại,
trong nông nghiệp thì khác, do ruộng đất là tư liệu sản xuất bản, ruộng tốt xấu khác nhau, đại
bộ phận xấu. Do người ta không tạo thêm được ruộng đất những ruộng đất tốt lại bị độc
quyền kinh doanh kiểubản chủ nghĩa cho thuê hết nên buộc phải thuê ruộng đất xấu. Điều đó
làm cho những nhà bản kinh doanh trên những ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi luôn
luôn thu được lợi nhuận siêu ngạch. Lợi nhuận siêu ngạch này tương đối ổn định và lâu dài, vì
dựa trên tính chất cố định của ruộng đất độ màu mỡ của đất đai. Lợi nhuận siêu ngạch này sẽ
chuyển hoá thành địa tô chênh lệch.
Vậy, địa chênh lệch là phần lợi nhuận vượt ra ngoài lợi nhuận bình quân, thu được trên
những ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn; nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung
được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng
đất tốt và trung bình. Thực chất của địa tô chênh lệch là lợi nhuận siêu ngạch, nguồn gốc của nó là
một phần giá trị thặng do công nhân nông nghiệp tạo ra. Địa tô chênh lệch gắn liền với độc
quyền kinh doanh ruộng đất theo lối tư bản chnghĩa. Đó là nguyên nhân sinh ra địa tô chênh lệch.
Có 2 loại địa chênh lệch. Địa chênh lệch I địa địa chủ thu được do chỗ cho
thuê ruộng đất tốt và độ màu mỡ cao, điều kiện tự nhiên thuận lợi. Địa tô chênh lệch II là địa tô
địa chủ thu được do chỗ cho thuê mảnh đất đã được đầu tư, thâm canh và làm tăng độ màu mỡ của
đất.
- Địa tuyệt đối: địa địa chủ thu được trên mảnh đất cho thuê, không kể độ màu
mỡ tự nhiên thuận lợi hay do thâm canh. Đó phần lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi
nhuận bình quân được tính bằng số chênh lệch giữa giá trị nông sản và giá cả sản xuất chung
của nông sản.
Lý luận địa tô tư bản chủ nghĩa của C.Mác không chỉ vạch rõ bản chất quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa trong nông nghiệp mà còn là cơ sở khoa học dể y dựng các chính sách kinh tế liên
| 1/60

Preview text:

MỤC LỤC KTCT
ĐỀ 1. Lý luận chung về sản xuất hàng hóa. Thử đặt mình vào vị trí nhà sản xuất để làm rõ
trách nhiệm xã hội của mình đối với người tiêu dùng trong việc sản xuất hàng hóa...................2

ĐỀ 2. Quy luật giá trị: yêu cầu và các tác động của quy luật giá trị. Hãy thử đặt mình ở vị trí
nhà sản xuất, chỉ ra những công việc chủ doanh nghiệp cần phải làm để cho doanh nghiệp
của mình sản xuất và kinh doanh có lãi trong điều kiện kinh tế thị trường.................................9

ĐỀ 3. Lý luận chung về lợi nhuận, lợi nhuận ngân hàng và địa tô. Giả sử mình là chủ doanh
nghiệp sản xuất, nhưng phải vay vốn của ngân hàng để kinh doanh, lại phải thuê mặt bằng
để làm nhà xưởng, vậy người chủ doanh nghiệp sản xuất phải có trách nhiệm gì với người lao
động của mình? Với ngân hàng và với người cho thuê mặt bằng để làm nhà xưởng?..............15

ĐỀ 4. Lý luận chung về cạnh tranh và độc quyền. Vì sao phải bảo vệ cạnh tranh lành mạnh
và hạn chế độc quyền? Thử đề xuất biện pháp bảo vệ cạnh tranh lành mạnh và hạn chế độc
quyền..............................................................................................................................................23

ĐỀ 5. Lý luận chung về lợi ích kinh tế. Với tư cách là công dân, hãy đề xuất các phương thức
để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia các hoạt động kinh tế xã hội?......................29

ĐỀ 6. Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay. Hãy chỉ ra những cơ hội và thách thức
đối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Để nâng cao hiệu quả trong hội
nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cần phải làm gì?.........................................................................36

ĐỀ 7. Phân tích lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng
hóa?................................................................................................................................................43

ĐỀ 8. Phân tích mối quan hệ giữa nội dung kinh tế và nội dung pháp lý của sở hữu? Ở Việt
nam hiện nay, thành phần kinh tế nhà nước tồn tại dựa trên chế độ sở hữu tư liệu sản xuất
nào? Muốn cho thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo ta phải làm gì?....................47

ĐỀ 9. Trình bày thị trường và cơ chế thị trường? Phân tích các chức năng cơ bản của thị
trường. Liên hệ cách xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam................................................................................................................................................49

ĐỀ 10. Lý luận về địa tô của C.Mác? Vận dụng lý luận địa tô trong việc quản lý đất đai ở Việt
Nam hiện nay?...............................................................................................................................51

ĐỀ 11. Nêu các khái niệm và chỉ ra mối liên hệ giữa lợi nhuận và lợi tức. Một chủ doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, nhưng phải vay vốn để sản xuất. Vậy người chủ
doanh nghiệp đó phải có trách nhiệm gì đối với người lao động của mình? Với người cho vay
vốn?................................................................................................................................................54

ĐỀ 12. Phân biệt sức lao động và lao động. Hãy chứng minh sức lao động là hàng hoá đặc
biệt..................................................................................................................................................57
1
ĐỀ 1. Lý luận chung về sản xuất hàng hóa. Thử đặt mình vào vị trí nhà sản xuất để
làm rõ trách nhiệm xã hội của mình đối với người tiêu dùng trong việc sản xuất hàng hóa.
MỞ ĐẦU: Nền sản xuất xã hội Việt Nam đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế, đó là
sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hoá. Trước những năm 1986, nền kinh tế tự cung tự cấp
được Việt Nam áp dụng. Tuy nhiên, sau đó nền kinh tế này không còn phù hợp với tình hình định
hướng chung của Việt Nam và thể hiện ra những mặt yếu kém, kìm hãm sự phát triển của nền kinh
tế. Nhận thấy những khuyết điểm đó, Đảng và Nhà nước đã quyết định đổi mới nền kinh tế sang
nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Nhờ đó, sản xuất hàng hóa đã trở thành động lực thúc đẩy công
nghiệp hóa, hiện đại hóa; góp phần giúp đất nước ta hội nhập và phát triển như ngày hôm nay. Có
thể nói sự ra đời của sản xuất hàng hoá chính là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của lịch
sử loài người, xoá bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao
hiệu quả kinh tế của xã hội. Nhắc đến sản xuất hàng hóa thì không thể không kể đến mối quan hệ,
tác động giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Đó là mối quan hệ mật thiết và tất yếu đặc biệt là ở
khâu tiêu thụ sản phẩm. Nếu như trước đây, trong thời kỳ bao cấp, mối quan hệ này không quan
trọng bởi vì hàng hóa sản xuất ra chắc chắn sẽ có nơi tiêu thụ thì ngày nay luôn tồn tại cạnh tranh
trong thị trường và nếu doanh nghiệp hay các nhà sản xuất không có sự quan tâm và đánh giá đúng
đắn thì hàng hóa của họ sẽ không thể bán được. Vì vây, việc nghiên cứu và lý luận chung về sản
xuất hàng hóa, vận dụng lý thuyết để thử đặt mình là nhà sản xuất và đánh giá trách nhiệm xã hội
của nhà sản xuất đối với người tiêu thụ trong việc sản xuất hàng hóa là một việc quan trọng có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn đối với quá trình sản xuất hàng hóa và phát triển nền kinh tế quốc gia. NỘI DUNG:
I. Lý luận chung về sản xuất hàng hóa:
1. Khái niệm sản xuất hàng hóa:
Theo C.Mác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó, những người sản xuất ra
sản phẩm không nhằm mục đích phục vụ nhu cầu tiêu dùng của chính mình mà để trao đổi, mua bán.
Sản xuất hàng hóa là một phạm trù lịch sử. Không phải ngay từ khi sinh ra con người đã sản
xuất hàng hóa để trao đổi, buôn bán mà ban đầu họ lao động để đáp ứng một cách trực tiếp nhu cầu
của bản thân. Đây chính là nền sản xuất tự cấp tự túc. Chính vì con người tự lao động cho bản thân 2
mà không mở rộng quan hệ hay liên quan đến các đơn vị khác nên nó bị giới hạn ở nhu cầu hạn
hẹp của mỗi cá nhân. Loại hình tổ chức kinh tế này chỉ phù hợp khi lực lượng sản xuất còn chưa
phát triển và lao động thủ công chiếm đa phần như thời kỳ chiếm hữu nô lệ, thời kỳ phong kiến,..
Dần dần khi lực lượng sản xuất phát triển, phân công lao động cao thì xuất hiện sản xuất hàng hóa.
Phương thức sản xuất thủ công lạc hậu, quy mô nhỏ đã được thay thế bằng phương thức sản xuất
hiện đại với quy mô lớn.
2. Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa: Sản xuất hàng hóa không xuất hiện đồng thời với sự
xuất hiện của xã hội loài người. Để nền kinh tế hàng hóa có thể hình thành và phát triển, theo C.Mác
cần hội đủ hai điều kiện gồm:
- Điều kiện thứ nhất: phân công lao động xã hội. o
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động trong xã hội thành các ngành,
các lĩnh vực sản xuất khác nhau, dựa vào ưu thế, lợi thế tự nhiên; khả năng kỹ thuật; sở
trường năng khiếu của từng người, từng đơn vị… tạo nên sự chuyên môn hóa của những
người sản xuất thành những ngành, nghề khác nhau. Khi đó, mỗi người chỉ sản xuất một
hoặc một số sản phẩm nhất định. Trong khi nhu cầu của nhà sản xuất lại đòi hỏi nhiều loại
sản phẩm. Điều này dẫn đến tình trạng vừa thừa vừa thiếu. Vì vậy, để thỏa mãn nhu cầu của
mình, tất yếu những người sản xuất phải trao đổi sản phẩm với nhau, lúc này sản phẩm đó
được gọi là hàng hóa Ví dụ như để sản xuất một chiếc ô tô, các chi tiết như ghế ngồi, lốp xe,
ắc quy, đèn, kính,...mỗi chi tiết phải qua từng công ty chuyên sản xuất chi tiết đó cung cấp,
sau đó mới lắp ráp thành chiếc ô tô.. Như vậy, do sự phân công lao động xã hội nên việc trao
đổi sản phẩm trở thành tất yếu. o
Theo C. Mác “Sự phân công lao động xã hội là điều kiện tồn tại của nền sản xuất
hàng hóa, mặc dù ngược lại, sản xuất hàng hóa không phải là điều kiện tồn tại của sự phân
công lao động xã hội.” Phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất đồng thời làm
cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều nên càng thúc đẩy sự trao đổi sản phẩm.
- Điều kiện thứ hai: Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất. o
Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất làm cho giữa những người sản
xuất độc lập với nhau, khác nhau về lợi ích. Trong điều kiện đó, người này muốn tiêu dùng
sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm, tức là phải trao đổi
dưới hình thức hàng hóa. C.Mác viết: “chỉ có sản phẩm của những lao động tư nhân độc lập 3
và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng hóa”.Vì vậy, sự tách
biệt về mặt kinh tế giữa những người sản xuất là điều kiện đủ để nền sản xuất hàng hóa ra
đời và phát triển. Trong lịch sử, sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất xuất
hiện khách quan dựa trên sự tách biệt về quyền sở hữu. Khi sự tách biệt về kinh tế giữa
những chủ thể sản xuất tồn tại trong điều kiện có sự phân công lao động xã hội thì việc trao
đổi sản phẩm giữa những chủ thể khác nhau phải đảm bảo được lợi ích của họ. Điều đó chỉ
có thể có được khi trao đổi dựa trên nguyên tắc ngang giá, có đi có lại tức là trao đổi hàng
hóa, sản phẩm của lao động trở thành hàng hóa. Xã hội loài người càng phát triển, càng làm
cho sự tách biệt về quyền sở hữu càng sâu sắc, nền sản xuất hàng hóa vì thế càng ngày càng phát triển phong phú. o
Từ hai điều kiện trên có thể thấy rằng trong khi phân công lao động xã hội làm nảy
sinh các quan hệ kinh tế giữa những chủ thể sản xuất trong xã hội, làm cho họ có liên quan
đến nhau, phải dựa vào nhau, phụ thuộc lẫn nhau thì sự tách biệt về lợi ích kinh tế giữa các
chủ thể sản xuất trong xã hội lại khiến cho họ tách biệt với nhau. Đây là một mâu thuẫn.
Mâu thuẫn này được giải quyết thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm của nhau. o
Trên đây là hai điều kiện cần có cho sự ra đời của sản xuất hàng hóa, nếu thiếu một
trong hai điều kiện thì không thể có sản xuất hàng hóa.
3. Ưu thế của sản xuất hàng hóa: So với nền sản xuất tự nhiên, tự túc thì sản xuất hàng hóa có
những ưu điểm nổi bật sau: -
Một là, tạo khả năng thỏa mãn tối đa các nhu cầu luôn phát triển của con người. Xã
hội ngày càng phát triển, nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng tăng, đòi hỏi sự nâng cao cả
về lượng và chất. Sự đa dạng của hàng hóa nhờ vào sản xuất sẽ làm cho họ có nhiều sự lựa
chọn phù hợp với nhu cầu và điều kiện của bản thân hơn. Từ đó góp phần cải thiện xã hội,
nâng cao đời sống đồng thời làm tăng khả năng lao động của mỗi người. -
Hai là kích thích sự năng động, sáng tạo của con người bởi sự tác động của quy luật
vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hóa là quy luật giá trị, cung - cầu, cạnh tranh... Các quy
luật này buộc người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn năng động, sáng tạo và nhạy bén, đánh
giá đúng thị trường, biết tính toán, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và
hiệu quả kinh tế; cải tiến hình thức, quy cách và chủng loại để hàng hóa ngày càng đa dạng,
phong phú đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao hơn., 4 -
Ba là sản xuất hàng hóa thúc đẩy các quan hệ kinh tế luôn rộng mở, từ đó góp phần
thúc đẩy văn minh cho con người.Trong nền sản xuất hàng hóa, sự phát triển của sản xuất, sự
mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước... không chỉ làm
cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hóa, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trên, sản xuất hàng hóa cũng có mặt trái và tác động
tiêu cực đối với đời sống kinh tế, xã hội như phân hóa giàu nghèo giữa những người sản xuất; chạy
theo lợi ích cá nhân làm tổn hại đến các giá trị đạo đức truyền thống, nạn hàng giả, hàng kém chất
lượng, thậm chí hàng hóa độc hại cũng có thể đem ra trao đổi gây tổn hại cho xã hội; sản xuất
không kiểm soát được tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối, khủng hoảng kinh tế, phá hoại môi trường sinh
thái… Những tác động tiêu cực đó có thể hạn chế được, nếu có sự quản lý, điều tiết từ một chủ thể
chung của toàn bộ nền kinh tế là nhà nước.
II. Trách nhiệm xã hội của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng trong việc sản xuất hàng hóa:
Đi kèm với các hoạt động sản xuất, sự tham gia vào nền kinh tế là những trách nhiệm của
nhà sản xuất đối với nhà nước, xã hội, người lao động,… và đặc biệt là người tiêu dùng. Mối quan
hệ giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng là mối quan hệ mật thiết và tất yếu đặc biệt là ở khâu tiêu
thụ sản phẩm. Trách nhiệm xã hội của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng trong sản xuất hàng
hóa nằm ở nhiều khía cạnh: -
Một là, các nhà sản xuất có trách nhiệm sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu
dùng cần và muốn với một mức giá có thể duy trì công ty đồng thời thỏa mãn túi tiền của
nhiều tầng lớp khách hàng. Hay nói cách khác người sản xuất có trách nhiệm đóng góp vào sự
phát triển bền vững, cải thiện chất lượng cuộc sống của người tiêu dùng ở một mức độ nào đó
mà vẫn đảm bảo lợi ích của mình. Điều này cũng được thể hiện một phần trong ưu thế của sản
xuất hàng hóa. Đó là khả năng thỏa mãn các nhu cầu luôn phát triển của con người. Hàng hóa
cần được sản xuất đa dạng cả về mẫu mã lẫn giá cả để có thể phù hợp với mức thu nhập khác
nhau của người tiêu dùng. Người sản xuất không ngừng sáng tạo, cải tiến kỹ thuật nhằm đáp
ứng nhu cầu và thị hiếu ngày càng cao của khách hàng. Ví dụ như các doanh nghiệp sản xuất
ô tô nên sản xuất ô tô với nhiều mức giá khác nhau, tạo điều kiện cho ngay cả những khách
hàng có thu nhập không quá cao, hoặc có các chương trình hỗ trợ như trả góp, khuyến
mãi...Đồng thời thường xuyên cập nhật những mẫu mã mới, đáp ứng thị hiếu khách hàng. Khi 5
thực hiện những công việc này đồng thời nhà sản xuất cũng góp phần nâng cao lợi ích bản
thân và sự phát triển của doanh nghiệp. -
Hai là, ngoài việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ, trách nhiệm của các nhà sản xuất
còn liên quan đến các vấn đề về chất lượng, an toàn sản phẩm. Chất lượng của hàng hóa phải
xứng đáng với giá tiền. Các quy trình sản xuất phải đảm bảo vệ sinh và được giám sát chặt
chẽ; sử dụng nguyên liệu sạch, có nguồn gốc rõ ràng…. Đối với trường hợp hàng hóa là thực
phẩm, lương thực, các hoạt động vận chuyển, lưu giữ, bảo quản cần được chú trọng. -
Ba là, tuân thủ các quy định, quyết định về thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền. Đây là trách nhiệm của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng nói riêng và nhà nước nói chung. -
Bốn là, luôn có đạo đức khi tham gia sản xuất hàng hóa. Mặc dù không được quy
định trong hệ thống pháp luật nhưng đạo đức nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc
xây dựng uy tín của nhà sản xuất và sự tin tưởng của người tiêu dùng.Trong kinh doanh, buôn
bán, niềm tin là một yếu tố quan trọng. Với thị trường có nhiều cạnh tranh như hiện nay, quyết
định chọn hàng hóa, sản phẩm hay dịch vụ nào là quyền của người tiêu dùng. Và đương nhiên
ai cũng muốn sản phẩm mình mua xứng đáng với số tiền bản thân bỏ ra. Nhưng người tiêu
dùng gần như không có cách nào để biết được hàng hóa mình mua có đạt chất lượng hay
không. Yếu tố duy nhất mà họ có thể dựa vào là lòng tin đối với nhà sản xuất, với thông tin
được ghi trên bao bì. Chính vì vậy, các nhà sản xuất có trách nhiệm luôn trung thực trong hoạt
động sản xuất, làm đúng theo quy trình, không có thêm bất kỳ hành động gian dối, chạy theo
lợi nhuận nào, các thông tin trên bao bì phải được ghi một cách chính xác, đầy đủ... Ngoài ra
các khả năng mà sản phẩm có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng cũng
cần được cảnh bảo. Đặc biệt là trường hợp sản xuất thuốc chữa bệnh, nguồn gốc nhập các
thành phần để điều chế phải được lựa chọn kỹ càng; cần phải có giấy hướng dẫn sử dụng, cảnh
báo tác dụng phụ; ngày sản xuất, ngày hết hạn được ghi chính xác. Trong trường hợp có bất
kỳ tai nạn hay sai sót trong khâu sản xuất khiến hàng hóa bị ảnh hưởng, nhà sản xuất có trách
nhiệm kịp thời ngừng sản xuất, thông báo đến các bên liên quan; thu hồi, xử lý hàng hóa không
đảm bảo chất lượng. Hiện nay có một số hành động gian dối của một số nhà sản xuất như pha
thêm hóa chất melamine vào sữa, pha thêm cồn công nghiệp vào rượu,…. Các hành vi này tuy
đã bị xử lý theo pháp luật nhưng những tổn hại mà người tiêu dùng phải chịu là vô cùng lớn
và không thể bù đắp được. Vì vậy sự trung thực trong sản xuất là trách nhiệm hàng đầu của 6
các nhà sản xuất. Họ là những người chịu trách nhiệm trực tiếp cho sức khỏe của người tiêu dùng.
Ngoài ra sự quan tâm, bảo vệ môi trường cũng là một phần trong trách nhiệm xã hội của nhà
sản xuất đối với người tiêu dùng. Bởi vì khi gây ra tác động xấu đối với môi trường đồng thời sẽ
ảnh hưởng đến đời sống chung của xã hội, cộng đồng, trong đó có người tiêu dùng và chính nhà
sản xuất. Chẳng hạn nếu doanh nghiệp sản xuất xe hơi, phải tính toán được ngay cả năng lượng mà
cơ sở tiêu thụ và tìm cách cải thiện nó. Nếu là công ty sản xuất giấy, phải xem chất thải ra bao nhiêu và xử lý nó.
III. Liên hệ thực tiễn:
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp lớn ở Việt Nam đã nhận ra rằng trách nhiệm xã hội là một yêu
cầu không thể thiếu đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Bởi lẽ, trong bối cảnh toàn
cầu hóa như hiện nay nếu doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm xã hội thì sẽ không thể tiếp
cận được với thị trường thế giới. Nhiều doanh nghiệp khi thực hiện trách nhiệm xã hội đã mang lại
những hiệu quả nhất định trong kinh doanh. Bên cạnh những hiệu quả kinh tế, doanh nghiệp còn
củng cố uy tín đối với người tiêu dùng, thu hút nhiều lao động có chuyên môn cao,… nâng cao tên
tuổi cho doanh nghiệp. Trong đó Vinamilk là một doanh nghiệp điển hình trong việc thực hiện trách
nhiệm xã hội doanh nghiệp.
Là tập đoàn sản xuất ra những sản phẩm từ sữa Vinamilk thấy rằng việc thực hiện trách
nhiệm xã hội đối với người tiêu dùng là vô cùng quan trọng. Người tiêu dùng là yếu tố quyết định
thành bại của doanh nghiệp. Vì vậy, Vinamilk đặc biệt quan tâm tới đối tượng này. Công ty cung
cấp hàng hóa, dịch vụ phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng trong xã hội. Sản phẩm cung cấp đảm
bảo các yêu cầu về chất lượng, an toàn sản phẩm, định giá, thông tin về sản phẩm, phân phối và
bán hàng, cạnh tranh. Người tiêu dùng có quyền tự do lựa chọn hàng hóa và dịch vụ phù hợp với
nhu cầu của mình với mức giá cả hợp lý. Toàn bộ các sản phẩm của công ty được sản xuất trên hệ
thống máy móc thiết bị hiện đại và được kiểm soát chặt chẽ theo hệ thống quản lý chất lượng theo
tiêu chuẩn quốc tế ISO, HACCP do các công ty hàng đầu thế giới chứng nhận. Đồng thời, tất cả
các sản phẩm của công ty đều đảm bảo thực hiện công bố đầy đủ theo qui định của pháp luật và
luôn luôn có sự giám sát trực tiếp cũng như gián tiếp của các cơ quan chức năng. Hàng ngày, mỗi
nhà máy của Vinamilk sản xuất hàng chục triệu hộp sữa các loại với sự kiểm soát chặt chẽ từ nguyên
liệu đầu vào; vệ sinh máy móc thiết bị và phân xưởng sản xuất; quá trình sản xuất đến khi xuất
hàng. Để đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng, nguyên liệu sữa tươi được Vinamilk thu mua từ các 7
hộ nông dân trên cả nước luôn được kiểm tra nghiêm ngặt theo đúng quy trình. Việc kiểm tra chất
lượng nguyên liệu sữa tươi là biện pháp góp phần mang đến cho người tiêu dùng những sản phẩm
sữa chất lượng tốt, đồng thời phát triển ngành chăn nuôi bò sữa một cách hiệu quả, bền vững và
cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu. Để sữa đạt chất lượng, bò của hộ nông dân cần
phải được nuôi dưỡng đúng kỹ thuật (khẩu phần đầy đủ, cho ăn đúng phương pháp, sức khỏe tốt
(không bệnh), chuồng trại sạch sẽ thoáng mát và áp dụng đúng kỹ thuật khai thác sữa (vệ sinh vắt
sữa, vắt cạn sữa). Công ty đã áp dụng hệ thống thang điểm vệ sinh chuồng trại chăn nuôi và tổ chức
kiểm tra đột xuất hoặc định kỳ giúp bà con nông dân nâng cao ý thức trong việc đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm trong chăn nuôi và khai thác sữa. Với sứ mệnh: Vinamilk cam kết mang đến cho
cộng đồng nguồn dinh dưỡng tốt nhất, chất lượng nhất bằng chính sự trân trọng, tình yêu và trách
nhiệm cao của mình đối với cuộc sống con người và xã hội, Vinamilk không những luôn nỗ lực
cung cấp cho người tiêu dùng những sản phẩm đảm bảo chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm
cao nhất mà còn luôn hướng đến phương châm hoạt động “Lợi ích của Người tiêu dùng là mục tiêu
phát triển của Vinamilk” bằng sự kết hợp của một dịch vụ sau bán hàng hoàn hảo với sự phục vụ
chu đáo, tận tâm và luôn luôn lắng nghe ý kiến phản hồi từ khách hàng. Công ty có phòng chăm
sóc khách hàng với các bác sĩ giàu kinh nghiệm sẵn sàng giải đáp tất cả các thắc mắc của khách
hàng như: cách sử dụng sữa, những loại sữa phù hợp cho từng độ tuổi, cách giảm cân, tăng cân,
những vấn đề sức khỏe khi sử dụng sữa….Bên cạnh đó Vinamilk tuân thủ Luật Bảo vệ môi trường,
cam kết mang đến cho cộng đồng một môi trường an toàn cho sức khỏe mọi người. Công ty luôn
nỗ lực trong việc đầu tư và sử dụng các trang thiết bị, máy móc cũng như sản xuất sản phẩm thân
thiện với môi trường. Tất cả chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh đều được kiểm
soát và xử lý theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Công ty cam kết luôn chung tay xây dựng
một môi trường thân thiện, hòa bình, phát triển cho tương lai. Bảo vệ môi trường cũng có nghĩa là
công ty sẽ gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến bộ xã hội để phát triển bền vững
đất nước, bảo vệ môi trường quốc gia gắn liền với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu. Vinamilk
luôn hướng tới người tiêu dùng để đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu và thị hiếu khi tạo ra sản phẩm.
Nhu cầu của người tiêu dùng luôn thay đổi, cách tốt nhất để làm được điều đó là luôn tôn trọng ý
kiến người tiêu dùng, cũng như tạo một môi trường thoải mái, thân thiện, kịp thời để trao đổi thông
tin với người tiêu dùng. Công ty cam kết luôn đón nhận thông tin từ phía người tiêu dùng như
những đóng góp về sản phẩm, mối quan tâm, thắc mắc hay cả những khiếu nại với thái độ trân
trọng nhất, lịch sự nhất, kịp thời nhất cũng như cam kết sẽ điều tra và giải quyết thích đáng ngay
lập tức đối với những vấn đề liên quan đến an toàn về sản phẩm, dịch vụ. 8
Tuy nhiên, cũng có không ít doanh nghiệp đã không thực hiện nghiêm túc trách nhiệm xã
hội của mình. Điều đó được thể hiện qua các hành vi gian lận, trong kinh doanh, báo cáo tài chính,
sản xuất kinh doanh hàng kém chất lượng, cố ý gây ô nhiễm môi trường. Điển hình là các vụ xả
nước thải không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cho các dòng sông và cộng đồng
dân cư của các công ty Miwon, công ty giấy Việt Trì, bột ngọt Vedan,…; các vụ sản xuất thực phẩm
chứa chất có hại cho sức khỏe của con người: bánh phở chứa phormol, thực phẩm chứa hàn the,
sữa có chứa melamine;… Để khắc phục tình trạng này, nhà nước cần có các chính sách, biện pháp
cụ thể: bổ sung và hoàn thiện khung pháp luật Việt Nam; tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận
thức cho các doanh nghiệp; có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc
thực hiện trách nhiệm xã hội,…Bên cạnh đó bản thân các doanh nghiệp cũng cần quan tâm đến tầm
quan trọng của việc thực hiện trách nhiệm xã hội, có các định hướng, chiến lược cụ thể, chính xác
để hoàn thiện hơn các vấn đề liên quan đến trách nhiệm xã hội.
KẾT LUẬN: Sự ra đời của sản xuất hàng hoá chính là bước ngoặt căn bản trong lịch sử
phát triển của lịch sử loài người. Cùng với khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, sản xuất hàng
hóa đang ngày càng trở nên phát triển, góp phần nâng cao đời sống chung của xã hội. Vì vậy việc
nghiên cứu sản xuất hàng hóa và đánh giá về trách nhiệm xã hội của nhà sản xuất đối với người
tiêu dùng trong hoạt động sản xuất là một việc quan trọng và cần thiết. Mục đích chính của bất kể
nền kinh tế nào cuối cùng cũng là sản xuất ra hàng hóa đáp ứng nhu cầu con người. Chính vì thế
sản xuất hàng hóa ngày càng được chú trọng, đầu tư và phát triển. Vai trò của sản xuất hàng hóa
càng lớn thì trách nhiệm của nhà sản xuất càng cao. Lĩnh vực sản xuất hàng hóa sẽ chỉ phát triển
theo hướng tích cực và vững bền khi tất cả các nhà sản xuất đều thực hiện đầy đủ trách nhiệm của
mình, đặc biệt là trách nhiệm đối với người tiêu dùng.
ĐỀ 2. Quy luật giá trị: yêu cầu và các tác động của quy luật giá trị. Hãy thử đặt mình
ở vị trí nhà sản xuất, chỉ ra những công việc chủ doanh nghiệp cần phải làm để cho
doanh nghiệp của mình sản xuất và kinh doanh có lãi trong điều kiện kinh tế thị trường. MỞ ĐẦU:
Trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản nhất của sản xuất và
trao đổi hàng hóa. Đúng như Mác đã nói “Ở đâu có trao đổi, sản xuất hàng hóa thì ở đấy có sự hoạt
động của quy luật giá trị”. 9
Trước thời kỳ đổi mới, chúng ta phủ nhận sản xuất hàng hóa và quy luật giá trị, nên không
khai thác triệt để được các nguồn lực, dẫn đến nền kinh tế kém phát triển, rơi vào khủng hoảng.
Trong thời kỳ đổi mới, chúng ta phát triển sản xuất hàng hóa, quy luật giá trị hoạt động, tạo
nên sự cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế,...
Những tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa có ý nghĩa lý luận và thực
tiện hết sức to lớn: một mặt chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải các yếu kém, kích thích các
nhân tố tích cực phát triển; mặt khác, phân hóa xã hội thành kẻ giàu người nghèo, tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội.
Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực một cách tự phát
khách quan. Thấy được điều đó, đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, Nhà nước
và các doanh nghiệp cần có những biện pháp để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của
nó, đặc biệt là trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. NỘI DUNG:
I. Yêu cầu của quy luật giá trị: Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa
trên cơ sở giá trị của nó, tức là hao phí lao động xã hội cần thiết.
1. Đối với sản xuất: -
Theo yêu cầu của quy luật giá trị, người sản xuất muốn bán được hàng hóa trên thị
trường, muốn được xã hội thừa nhận sản phẩm thì lượng giá trị của một hàng hoá cá biệt phải
phù hợp với thời gian lao động xã hội cần thiết. -
Trong sản xuất, người sản xuất phải có mức hao phí lao động cá biệt của mình nhỏ
hơn hoặc bằng với mức hao phí lao động xã hội cần thiết thì mới đạt được lợi thế cạnh tranh.
Vì vậy họ phải luôn luôn tìm cách hạ thấp hao phí lao động cá biệt xuống mức chi phí mà xã
hội chấp nhận được để bù đắp được chi phí sản xuất và có lợi nhuận. 2. Đối với lưu thông:
- Trong trao đổi, cần thực hiện theo nguyên tắc ngang giá, lấy giá trị xã hội làm cơ sở, không
dựa trên giá trị cá biệt. Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao
động như nhau hoặc trao đổi, mua bán hàng hoá phải thực hiện khi giá cả bằng giá trị. 10
Vì vậy, có thể nói quy luật giá trị đã kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, thúc
đẩy nền sản xuất hàng hóa và lực lượng lao động phát triển.
3. Phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành giàu – nghèo một cách tự nhiên, tạo ra sự
bất bình đẳng trong xã hội:
Những chủ thể sản xuất hàng hóa nhạy bén với thị trường, trình độ năng lực giỏi, có mức
hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết thì có thể thắng thế trong
cạnh tranh, họ sẽ giàu lên, có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh để
trở thành chủ thể giàu có hơn, và có thể sử dụng được nhiều hơn lao động làm thuê.
Ngược lại, những chủ thể sản xuất hàng hóa gặp hạn chế về vốn, công nghệ sản xuất lạc
hậu, tay nghề chuyên môn không cao và có mức hao phí lao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao
động xã hội cần thiết, sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, thậm chí là phá sản, trở thành người nghèo.
Chính do các tác động nhiều mặt của quy luật giá trị đã làm cho sản xuất hàng hóa thực sự
là khởi điểm ra đời của chủ nghĩa tư bản.
=> Tóm lại, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực: đào thải cái lạc hậu, lỗi thời, kích
thích sự tiến bộ, làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ; vừa có những tác động tiêu
cực: phân hóa người sản xuất hàng hóa thành giàu nghèo. Các tác động đó diễn ra trên thị
trường một cách tự phát, khách quan nên nhà nước và các doanh nghiệp cần có sự điều tiết
phù hợp để hạn chế tính tiêu cực và phát huy tính tích cực của quy luật giá trị.
IV. Những công việc chủ doanh nghiệp cần phải làm để cho doanh nghiệp của mình sản xuất
và kinh doanh có lãi trong điều kiện kinh tế thị trường.
Trước hết, chủ doanh nghiệp cần có tư duy kinh doanh và tầm nhìn tốt, biết nhìn xa trông
rộng. Họ cần cố gắng dự đoán các nhu cầu và thị hiếu của khách hàng trong tương lai, từ đó chủ
động chuẩn bị các nguồn lực để đáp ứng cho nhu cầu đó một cách kịp thời. Muốn vậy, chủ doanh
nghiệp phải dành thời gian nghiên cứu thị trường, dũng cảm đặt chân vào các thị trường mới để tìm
kiếm thêm nhiều hướng đi và cơ hội. Đa dạng hóa phân khúc trong kinh doanh có thể còn nhiều
trở ngại với doanh nghiệp nhưng đây là việc cần phải nỗ lực làm ngay. Bởi nếu làm được điều này,
họ có thể dễ dàng mở rộng thị phần và cải thiện khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.
Do quy luật cạnh tranh, ngành nào có tỷ suất lợi nhuận cao thì ngành đó sẽ có nhiều doanh
nghiệp mới ra nhập vào để cạnh tranh và phân chia thị trường. Các đối thủ sẽ tìm cách xâm nhập 13
vào thị trường với những sản phẩm mới và có lợi thế cạnh tranh cao. Nếu chủ doanh nghiệp không
có sự thay đổi, tự hài lòng với chính mình, chắc chắc họ sẽ bị đào thải khỏi thị trường bởi khách
hàng sẽ không bao giờ chấp nhận các sản phẩm cũ, lỗi thời và không còn phù hợp. Vì vậy, chủ
doanh nghiệp cần cải tiến sản phẩm về nhiều mặt như: giá cả, tính năng, công dụng của sản phẩm.
Ngoài ra, chủ doanh nghiệp cũng cần nỗ lực đưa ra thị trường các dòng sản phẩm mới mang tính
sáng tạo và đột phá cao.
Trong sản xuất, nếu chủ doanh nghiệp biết đầu tư và điều tiết sản xuất hợp lý, họ có thể
khẳng định và giữ vững giá trị thương hiệu của mình. Còn ngược lại, nếu chủ doanh nghiệp không
biết cách sử dụng tối đa các nguồn lực, doanh nghiệp của họ sẽ phải đối mặt với tình trạng thua lỗ, thậm chí là phá sản.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần rút ngắn thời gian lao động cá biệt của mình xuống mức
tối thiểu. Muốn vậy chủ doanh nghiệp cần kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng
năng suất lao động, áp dụng công nghệ - khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất để nâng cao chất
lượng sản phẩm, giá cả ngày càng rẻ, mẫu mã ngày càng đẹp, phong phú, đa dạng về chủng loại,
đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng.
Trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0, là chủ doanh nghiệp, ta cần số hóa các quy trình
và chuyển mình sang bán hàng trực tuyến dựa trên các nền tảng cơ sở về công nghệ đã được tiếp
cận từ trước để giúp khách hàng có thể lựa chọn hàng hóa online và phục vụ họ thông qua hình
thức giao hàng trực tuyến. Cụ thể, với các cửa hàng đồ gia dụng, thời trang,... chúng ta cần phát
triển triệt để các kênh online thông qua quảng cáo và mạng xã hội. Với quán ăn hay nhà hàng, cần
phát triển dịch vụ giao hàng tận nơi còn các cơ sở giáo dục có thể triển khai hình thức dạy học trực
tuyến. Việc áp dụng công nghệ - kỹ thuật hiện đại không chỉ giúp nâng cao năng suất lao động mà
còn tiết kiệm được chi phí vận hành và thời gian đi lại, từ đó giúp doanh nghiệp tăng lợi nhuận một cách đáng kể.
Bên cạnh đó, chủ doanh nghiệp cũng cần chuyên tâm tìm hiểu, khắc phục những lỗ hổng
trong hệ thống và từ đó cải thiện quy trình quản trị. Chúng ta đang phải sống trong một giai đoạn
mà nền kinh tế thế giới đang chứa đựng rất nhiều bất định và rủi ro, cú sốc ấy có thể đến từ chính
trị, các biến cố, thiên tai và dịch bệnh. Nếu nhà quản trị không có sự chuẩn bị tốt để trở nên linh
hoạt, dễ thích ứng và nâng cao khả năng tự phục hồi của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ có nguy
cơ đối mặt với vô vàn khủng hoảng. Vì vậy bênh cạnh việc xây dựng, cải tiến chiến lược, chúng ta
cần đặt vấn đề quản trị rủi ro, giảm sự bất định lên hàng đầu: tìm hiểu thông tin về các đối tác thị 14
trường để có bước chuyển, mua bảo hiểm rủi ro, tìm cách biến sự bất định thành xác định bằng các
phương pháp nghiên cứu phù hợp.
Cuối cùng, chủ các doanh nghiệp cần tuân thu các quy định của pháp luật, không buôn bán
gian lận, cạnh tranh thiếu lành mạnh, dùng các thủ đoạn để “hạ bệ” đối thủ. Thay vào đó, chủ doanh
nghiệp cần đẩy mạnh hợp tác, xúc tiến đầu tư với các đối tác, cạnh tranh lành mạnh, cùng giúp nhau phát triển. KẾT LUẬN:
Như vậy quy luật giá trị là một quy luật kinh tế quan trọng đối với sự hình thành và phát
triển nền kinh tế của nước ta. Đây là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa. Quy
luật giá trị vừa có tác dụng đào thải cái lạc hậu, lỗi thời, kích thích sự tiến bộ, làm cho lực lượng
sản xuất phát triển mạnh mẽ; vừa có tác dụng lựa chọn, đánh giá người sản xuất, bảo đảm sự bình
đẳng đối với người sản xuất.
Tuy quy luật giá trị là quy luật kinh tế tự nhiên, khách quan, vừa có cả những tác động tích
cực lẫn tiêu cực, nhà sản xuất vẫn có thể vận dụng quy luật giá trị để thúc đẩy sản xuất theo các mục tiêu đã đề ra.
Chúng ta cần tìm hiểu rõ các tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường hiện
nay cũng như vận dụng nó một cách linh hoạt, hợp lý.
ĐỀ 3. Lý luận chung về lợi nhuận, lợi nhuận ngân hàng và địa tô. Giả sử mình là chủ
doanh nghiệp sản xuất, nhưng phải vay vốn của ngân hàng để kinh doanh, lại phải
thuê mặt bằng để làm nhà xưởng, vậy người chủ doanh nghiệp sản xuất phải có trách
nhiệm gì với người lao động của mình? Với ngân hàng và với người cho thuê mặt bằng
để làm nhà xưởng? MỞ ĐẦU:
Những biến động phức tạp, khó lường trong phát triển kinh tế thế giới như toàn cầu hóa, các
công ty đa quốc gia, sự thay đổi các yếu tố địa chính trị, địa kinh tế và đặc biệt là cuộc CMCN 4.0
với sự phát triển của công nghệ số, công nghệ sinh học, thực tế ảo…; sự thay thế của máy móc tự
động và trí tuệ nhân tạo cho lao động sống của con người; vai trò của các nhân tố chủ yếu trong
sản xuất của xã hội công nghiệp như đất đai, lao động, nguyên liệu, vốn,…đang có xu hướng dần
suy giảm, tri thức đã và đang trở thành yếu tố quyết định nhất trong nền sản xuất hiện đại. Nhiều 15
yếu tố mới đã xuất hiện trong phân phối thu nhập biểu hiện thông qua sự hình thành và phát triển
của tầng lớp trung lưu bao gồm bộ phận công chức, người lao động có tay nghề cao có mức sống
khá, một bộ phận công nhân có cổ phần, cổ đông trong các công ty trở thành những nhà đầu tư
thông qua mua cổ phiếu, trái phiếu và thu được lợi tức cổ phần, lợi tức trái phiếu và lãi suất tiền
gửi… tại các nước tư bản phát triển. Nhiều nước tư bản phát triển đã đạt được trình độ cao và đang
đặt ra câu hỏi, phải chăng đó là những biểu hiện mới của sản xuất và phân phối thặng dư. Giá trị
thặng dư với tư cách là cơ sở tồn tại, phát triển của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa được
biểu hiện ra dưới nhiều hình thức có quan hệ mật thiết với nhau trong nền kinh tế thị trường như
lợi nhuận, lợi tức, địa tô. Sau đây sẽ phân tích về các hình thức này để thấy rõ hơn mối quan hệ
giữa người mua hàng hóa sức lao động và người bán hàng hóa sức lao động, giữa người lao động
và người sử dụng lao động. Nghiên cứu về sản xuất giá trị thặng dư tập trung vào phân tích mối
quan hệ lợi ích giữa người mua hàng hóa sức lao động với người bán sức lao động thì ở đây nghiên
cứu về hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư thực chất là phân tích về các quan hệ lợi ích giữa
những nhà tư bản với nhau, giữa nhà tư bản với địa chủ trong việc phân chia giá trị thặng dư thu
được trên cơ sở hao phí sức lao động của người lao động làm thuê. NỘI DUNG:
I. Lý luận chung về lợi nhuận, lợi nhuận ngân hàng và địa tô: 1. Lợi nhuận:
a. Khái niệm về lợi nhuận: Trong thực tế sản xuất kinh doanh, giữa giá trị hàng hóa và chi phí
sản xuất có một khoảng chênh lệch, cho nên sau khi bán hàng hóa (bán ngang giá), nhà tư bản
không những bù đắp đủ số chi phí đã ứng ra mà còn thu được số tiền lời bằng giá trị thặng dư. Số
tiền này C.Mác gọi là lợi nhuận. C.Mác khái quát: giá trị thặng dư, được quan niệm là con đẻ của
toàn bộ tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận. Điều đó có nghĩa, lợi nhuận
chẳng qua chỉ là hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư trên bề mặt nền kinh tế thị trường. Nhà tư
bản chỉ cần bán hàng hóa với giá cả cao hơn chi phí sản xuất là đã có lợi nhuận. Trong trường hợp
bán đúng bằng chi phí sản xuất là không có lợi nhuận. Bán hàng hóa thấp hơn giá trị và cao hơn
chi phí sản xuất cũng có thể đã có lợi nhuận. Trong trường hợp này, lợi nhuận nhỏ hơn giá trị thặng
dư. Lợi nhuận chính là mục tiêu, động cơ, động lực của hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nền
kinh tế thị trường. 16
b. Nội dung của lợi nhuận: Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải có hiệu quả. Tuy nhiên, do hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú, hiệu quả kinh doanh có thể đạt được từ nhiều
hoạt động khác nhau. Bởi vậy lợi nhuận của doanh nghiệp cũng bao gồm nhiều loại, trong đó chủ yếu là:
o Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
o Lợi nhuận thu được từ các hoạt động tài chính mang lại, đó là khoản chênh lệch giữa các
khoản thu và chi có tính chất nghiệp vụ tài chính trong quá trình doanh nghiệp thực hiện việc kinh doanh.
o Lợi nhuận thu được từ các hoạt động khác (hoạt động bất thường) là khoản chênh lệch giữa
thu nhập và chi phí của các hoạt động khác ngoài các hoạt động nêu trên.
c. Vai trò của lợi nhuận:
- Đối với doanh nghiệp: o
Lợi nhuận giữ vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh độc lập theo cơ chế thị trường, doanh nghiệp có tồn
tại và phát triển hay không thì điều quyết định là doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận hay
không? Chuỗi lợi nhuận của doanh nghiệp trong tương lai sẽ phát sinh và diễn biến như thế
nào? Vì thế, lợi nhuận được coi là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng đồng thời là
một chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận tác động đến tất cả
các mặt hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh
nghiệp, việc thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài
chính của doanh nghiệp được ổn định, vững chắc. o
Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp nói lên kết quả của toàn bộ hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp phấn đấu cải tiến, nâng cao hiệu
quả của hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho giá thành sản phẩm hạ thì lợi nhuận sẽ tăng
lên một cách trực tiếp. Ngược lại, nếu giá thành sản phẩm tăng lên thì lợi nhuận sẽ giảm đi.
Bởi vậy là chỉ tiêu quan trọng nhất tác động đến mọi vấn đề của doanh nghiệp, quyết định
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, đồng thời lợi nhhuận ảnh hưởng trực tiếp đến tình
hình tài chính của doanh nghiệp, là chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Đối với xã hội: 17 o
Ngoài vai trò đối với doanh nghiệp lợi nhận còn là nguồn tích luỹ cơ bản, là nguồn
để mở rộng tái sản xuất xã hội. Sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải
hạch toán lợi nhuận (hoặc lỗ) rồi từ đó nộp một khoản tiền vào ngân sách nhà nước. Sự tham
gia đóng góp này của các doanh nghiệp được phản ánh ở số thuế thu nhập mà doanh nghiệp
đã nộp. Thuế thu nhập doanh nghiệp là một sự điều tiết của nhà nước đối với lợi nhuận thu
được của các đơn vị sản xuất kinh doanh, để góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và động
viên một phần lợi nhuận của cơ sở kinh doanh cho ngân sách nhà nước, bảo đảm sự đóng
góp công bằng, hợp lý giữa các thành phần kinh tế, kết hợp hài hoà giữa lợi ích của nhà
nước và lợi ích của người lao động. o
Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, để khuyến khích, nâng cao chất lượng sản xuất,
thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ miễn thu cho phần lợi nhuận dùng để tái đầu tư vào sản xuất
kinh doanh và miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh ở vùng sâu, vùng xa. Đối với các doanh nghiệp quốc doanh, hợp tác xã, các
doanh nghiệp sản xuất điện năng, khai thác mỏ, luyện kim, cơ khí, phân bón, thuốc trừ sâu,
vật liệu xây dựng, khai thácvà chế biến lâm sản, thuỷ hải sản, xây dựng, vận tải, nộp thuế
thu nhập doanh nghiệp theo thuế suất 28%, các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực
phẩm và ngành sản xuất khác nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo thuế suất lớn hơn. Khoản
thuế thu nhập mà các doanh nghiệp nộp vào ngân sách nhà nước sẽ dùng để đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng mở rộng tái sản xuất xã hội.
2. Lợi nhuận ngân hàng:
- Ngân hàng tư bản chủ nghĩa là tổ chức kinh doanh tư bản tiền tệ, làm môi giới giữa người đi vay và người cho vay.
- Ngân hàng có hai nghiệp vụ: nhận gửi và cho vay.
- Trong nghiệp vụ nhận gửi, ngân hàng trả lợi tức cho người gửi tiền; còn trong nghiệp vụ cho
vay, ngân hàng thu lợi tức của người đi vay. Lợi tức nhận gửi nhỏ hơn lợi tức cho vay. Chênh
lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức nhận gửi trừ đi những khoản chi phí cần thiết về nghiệp vụ
ngân hàng, cộng với các khoản thu nhập khác về kinh doanh tư bản tiền tệ hình thành nên lợi
nhuận ngân hàng. Trong cạnh tranh, rốt cuộc lợi nhuận ngân hàng cũng ngang bằng với lợi
nhuận bình quân. Nếu không sẽ lại có sự tự do di chuyển tư bản vào các ngành khác nhau.
- Nhờ có ngân hàng mà các nhà tư bản có điều kiện mở rộng sản xuất nhanh chóng hơn, có
điều kiện tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác dễ dàng hơn, giảm được chi 18
phí lưu thông, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, đẩy nhanh tốc độ quay vòng của đồng tiền.
- Phân biệt tư bản ngân hàng với tư bản cho vay. Tư bản ngân hàng có điểm khác biệt về căn
bản so với tư bản cho vay, thể hiện ở điểm sau đây: o
Tư bản cho vay là tư bản tiềm thế, tư bản tài sản, là tư bản không hoạt động. Vì vậy
tư bản cho vay không tham gia vào quá trình bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận. Lợi tức – thu
nhập của tư bản cho vay chỉ là một phần của lợi nhuận bình quân. o
Tư bản ngân hàng là tư bản chức năng, tư bản hoạt động nên tư bản ngân hàng cũng
có tham gia vào quá trình bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận. Trong tự do cạnh tranh, lợi nhuận
ngân hàng cũng ngang bằng lợi nhuận bình quân.
3. Địa tô: Tư bản kinh doanh nông nghiệp là bộ phận tư bản xã hội đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp.
Cũng như các nhà tư bản kinh doanh trên các lĩnh vực khác, nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực
nông nghiệp cũng thu được lợi nhuận bình quân. Nhưng khác với các chủ thể kinh doanh khác, nhà
tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả một lượng tiền cho địa chủ vì đã thuê đất của
họ. Vậy là, ngoài số lợi nhuận bình quân, nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp thu thêm
được một phần giá trị thặng dư dôi ra nữa, tức là lợi nhuận siêu ngạch, lợi nhuận siêu ngạch này
phải trả cho địa chủ. Vậy là, C.Mác khái quát, địa tô là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu
trừ đi phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả
cho địa chủ. Vậy là, C.Mác khái quát, địa tô là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi
phần lợi nhuận bình quân mà các nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả cho địa
chủ. Giữa địa tô tư bản chủ nghĩa và địa tô phong kiến có điểm giống nhau và khác nhau: Sự giống
nhau trước hết là quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế; cả hai loại địa tô đều là
kết quả của sự bóc lột đối với những người lao động. Song hai loại địa tô trên khác nhau cả về
lượng và chất. Về mặt lượng, địa tô phong kiến gồm toàn bộ sản phẩm thặng dư do nông dân tạo
ra, có khi còn lạm vào cả phần sản phẩm cần thiết. Còn địa tô tư bản chủ nghĩa chỉ là một phần giá
trị thặng dư ngoài lợi nhuận bình quân của nhà tư bản kinh doanh ruộng đất. Về mặt chất, địa tô
phong kiến phản ánh mối quan hệ giữa hai giai cấp: địa chủ nông dân, trong đó giai cấp địa chủ
trực tiếp bóc lột nông dân; còn địa tô tư bản chủ nghĩa phản ánh mối quan hệ giữa ba giai cấp: giai
cấp địa chủ, giai cấp các nhà tư bản kinh doanh ruộng đất và giai cấp công nhân nông nghiệp làm
thuê, trong đó địa chủ gián tiếp bóc lột công nhân thông qua tư bản hoạt động. Vấn đề đặt ra là: tại
sao nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp lại có thể thu được phần giá trị thặng dư dôi ra ngoài lợi 19
nhuận bình quân để trả cho chủ ruộng đất? Việc nghiên cứu địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối sẽ
giải thích điều đó.
Các hình thức địa tô:
- Địa tô chênh lệch:
Trong các phần trên chúng ta đã nghiên cứu và thấy rằng lợi nhuận siêu ngạch trong công
nghiệp chỉ là hiện tượng tạm thời, không ổn định, nó chỉ xuất hiện đối với nhà tư bản cá biệt nào
có những điều kiện sản xuất thuận lợi hơn điều kiện sản xuất trung bình của toàn xã hội. Trái lại,
trong nông nghiệp thì khác, do ruộng đất là tư liệu sản xuất cơ bản, ruộng tốt xấu khác nhau, đại
bộ phận là xấu. Do người ta không tạo thêm được ruộng đất mà những ruộng đất tốt lại bị độc
quyền kinh doanh kiểu tư bản chủ nghĩa cho thuê hết nên buộc phải thuê ruộng đất xấu. Điều đó
làm cho những nhà tư bản kinh doanh trên những ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi luôn
luôn thu được lợi nhuận siêu ngạch. Lợi nhuận siêu ngạch này tương đối ổn định và lâu dài, vì nó
dựa trên tính chất cố định của ruộng đất và độ màu mỡ của đất đai. Lợi nhuận siêu ngạch này sẽ
chuyển hoá thành địa tô chênh lệch.
Vậy, địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận vượt ra ngoài lợi nhuận bình quân, thu được trên
những ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn; nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung
được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng
đất tốt và trung bình. Thực chất của địa tô chênh lệch là lợi nhuận siêu ngạch, nguồn gốc của nó là
một phần giá trị thặng dư do công nhân nông nghiệp tạo ra. Địa tô chênh lệch gắn liền với độc
quyền kinh doanh ruộng đất theo lối tư bản chủ nghĩa. Đó là nguyên nhân sinh ra địa tô chênh lệch.
Có 2 loại địa tô chênh lệch. Địa tô chênh lệch I là địa tô mà địa chủ thu được do chỗ cho
thuê ruộng đất tốt và độ màu mỡ cao, điều kiện tự nhiên thuận lợi. Địa tô chênh lệch II là địa tô mà
địa chủ thu được do chỗ cho thuê mảnh đất đã được đầu tư, thâm canh và làm tăng độ màu mỡ của đất.
- Địa tô tuyệt đối: là địa tô mà địa chủ thu được trên mảnh đất cho thuê, không kể độ màu
mỡ tự nhiên thuận lợi hay do thâm canh. Đó là phần lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi
nhuận bình quân được tính bằng số chênh lệch giữa giá trị nông sản và giá cả sản xuất chung của nông sản.
Lý luận địa tô tư bản chủ nghĩa của C.Mác không chỉ vạch rõ bản chất quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa trong nông nghiệp mà còn là cơ sở khoa học dể xây dựng các chính sách kinh tế liên 20