


















Preview text:
CHƯƠNG 1: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI VÀ LÃNH ĐẠO
ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 - 1945)
I. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (tháng 2-1930)
1. Bối cảnh lịch sử
a)Tình hình thế giới tác động đến cách mạng Việt Nam
b)Bối cảnh trong nước và các phong trào yêu nước trước khi có Đảng
2. Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện thành lập Đảng
a)Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường cách mạng vô sản (1911-1920).
b) Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng.
3. Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
a)Các tổ chức cộng sản ra đời
b)Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
c) Nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam
4. Ý nghĩa của sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (trang 14)
II. Đảng lãnh đạo quá trình đấu tranh giành chính quyền (1930-1945)
1. Phong trào cách mạng 1930 – 1931 và khôi phục phong trào 1932-1935.
a)Phong trào cách mạng năm 1930 - 1931
b)Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 10 - 1930)
c)Cuộc đấu tranh khôi phục tổ chức và phong trào cách mạng, Đại hội Đảng lần thứ nhất (3-1935)
2. Phong trào dân chủ 1936-1939
a)Điều kiện lịch sử và chủ trương của Đảng
b)Phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hoà bình.
3. Phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945
a)Hoàn cảnh lịch sử, chủ trương chiến lược mới của Đảng
b)Phong trào chống Pháp - Nhật, đẩy mạnh chuẩn bị lực lượng cho cuộc khởi nghĩa vũ trang.
c)Cao trào kháng Nhật cứu nước và Tổng khởi nghĩa giành chính quyền (tháng 3- 1945 đến tháng 8-1945).
4. Tính chất, ý nghĩa và kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám năm 1945
CHƯƠNG 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN GIÀNH ĐỘC LẬP
HOÀN TOÀN, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1945 - 1975)
I. Đảng lãnh đạo xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng và kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
1. Xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ (1945-1946)
a)Tình hình Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám
b)Xây dựng chế độ mới và chính quyền cách mạng
c)Tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Nam bộ, đấu tranh bảo
vệ chính quyền cách mạng non trẻ
2. Đường lối kháng chiến toàn quốc và quá trình tổ chức thực hiện từ năm 1946 đến năm 1950
a)Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ và đường lối kháng chiến của Đảng
b) Tổ chức, chỉ đạo cuộc kháng chiến từ năm 1947 đến năm 1950
3. Đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi (1951-1954)
a)Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II và Chính cương của Đảng (2-1951)
b)Đẩy mạnh phát triển cuộc kháng chiến về mọi mặt
c)Kết hợp đấu tranh quân sự và ngoại giao kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến
4. Ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm của Đảng về lãnh đạo kháng chiến
a)Ý nghĩa thắng lợi của cuộc kháng chiến
b)Kinh nghiệm của Đảng về lãnh đạo kháng chiến
II. Lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống đế quốc
Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1954-1975)
1. Sự lãnh đạo của Đảng với cách mạng hai miền Nam – Bắc (1954-1965)
a) Khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chuyển cách mạng miền
Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công (1954-1960)
b)Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, phát triển thế tiến các của cách mạng miền Nam (1961-1965)
2. Lãnh đạo cách mạng cả nước giai đoạn 1965-1975
a) Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng
b)Xây dựng hậu phương, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc;
giữ vững thế chiến lược tiến công, đánh bại chiến lược Chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ 1965-1968
c)Khôi phục kinh tế, bảo vệ miền Bắc, đẩy mạnh cuộc chiến đấu giải phóng miền
Nam, thống nhất Tổ quốc (1969-1975)
3. Ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng thời kỳ 1954-1975 a)Ý nghĩa lịch sử. b)Nguyên nhân thắng lợi c) Kinh nghiệm
CHƯƠNG 3: ĐẢNG LÃNH ĐẠO CẢ NƯỚC QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
VÀ TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (1975 - 2018)
I. Lãnh đạo cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc (1975-1986)
1. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc 1975-1981
a)Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước
b)Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã
hội vả bảo vệ Tổ quốc 1976-1981
2.Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng và các bước đột phá tiếp tục đổi mới
kinh tế 1982-1986
a)Đại hội V của Đảng và quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội
b)Các bước đột phá tiếp tục đổi mới kinh tế
II. Lãnh đạo công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế (1986-2018)
1. Đổi mới toàn diện, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội 1986-1996
a)Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI và thực hiện đường lối đổi mới toàn diện.
b)Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
2.Tiếp tục công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế 1996-2018
a)Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và bước đầu thực hiện công cuộc đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1996-2001
b)Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, tiếp tục thực hiện công cuộc đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa 2001-2006
c)Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng và quá trình thực hiện (2006-2011)
d)Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991
e)Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công
cuộc đổi mới, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế.
3. Thành tựu, kinh nghiệm của công cuộc đổi mới
a)Thành tựu của sự nghiệp đổi mới b)Hạn chế KẾT LUẬN
Câu 1: Trình bày đối tượng và phương pháp nghiên cứu môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam? (trang 87)
Câu 2: Trình bày bối cảnh quốc tế và trong nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và vai
trò của Nguyễn Ái Quốc đối với sự ra đời của Đảng CSVN.
Câu 3: Trình bày Hội nghị thành lập Đảng, nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị
đầu tiên của Đảng (3-2-1930). Ý nghĩa của sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời?
Câu 4: Trình bày hoàn cảnh lịch sử, nội dung cơ bản của Luận cương Chính trị tháng
10 năm 1930 và những chủ trương của Đảng nhằm khôi phục phong trào cách mạng giai đoạn 1932-1935.
Câu 5: Trình bày hoàn cảnh lịch sử, chủ trương của Đảng và nội dung cuộc vận
động dân chủ giai đoạn 1936-1939. Ý nghĩa thực tiễn của chủ trương đó.
Câu 6: Trình bày hoàn cảnh lịch sử, chủ trương chiến lược mới của Đảng và quá trình
Đảng lãnh đạo Tổng khởi nghĩa giành chính quyền giai đoạn 1939-1945.
Câu 7: Trình bày ý nghĩa lịch sử và những kinh nghiệm trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Câu 8: Trình bày những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam sau Cách mạng Tháng
Tám năm 1945. Những chủ trương của Đảng nhằm xây dựng chế độ mới và kháng chiến
chống thực dân Pháp ở Nam Bộ.
Câu 9: Trình bày hoàn cảnh lịch sử, nội dung cơ bản và ý nghĩa của đường lối kháng
chiến chống Pháp giai đoạn 1946-1954.
Câu 10: Trình bày hoàn cảnh lịch sử, những nội dung cơ bản và ý nghĩa của Đại hội II (2/1951) của Đảng.
Câu 11: Trình bày quá trình Đảng lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc làm
hậu phương cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ ở miền Nam giai đoạn 1954-1975.
Câu 12: Trình bày nhiệm vụ, vị trí, mối quan hệ cách mạng hai miền Nam – Bắc
được xác định tại Đại hội lần thứ III (9/1960). Ý nghĩa của đường lối Đại hội III.
Câu 13: Trình bày quá trình Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu
nước, thống nhất đất nước ở miền Nam giai đoạn 1954-1975.
Câu 14: Trình ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm của
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Câu 15: Trình bày sự lãnh đạo của Đảng về xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc giai
đoạn 1975-1986. Nêu những bài học kinh nghiệm của Đảng về giai đoạn này.
Câu 16: Nội dung đường lối đổi mới toàn diện của Đại hội Đảng lần thứ VI (12-1986) và
lãnh đạo thực hiện đổi mới giai đoạn (1986 - 1996)
Câu 17. Đảng lãnh đạo đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn
1996- 2018. Kết quả và nguyên nhân.
Câu 18: Đảng lãnh đạo về đối ngoại và hội nhập quốc tế thời kỳ đổi mới (1986-2018). Kết quả và nguyên nhân.
Câu 19: Trình bày những thành tựu đạt được và những kinh nghiệm trong công tác
lãnh đạo của Đảng qua 30 năm đổi mới.
Câu 20: Trình bày những bài học lớn về sự lãnh đạo của Đảng từ khi ra đời cho đến nay
DẤU ẤN TỪNG ĐẠI HỘI
Đã tròn 91 mùa xuân, kể từ khi Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng đã trải qua
13 kỳ Đại hội. Mỗi kỳ Đại hội Đảng gắn với những nhiệm vụ chính trị khác nhau nhưng
đều là những dấu mốc quan trọng về sự phát triển của Đảng, của đất nước. Thực tiễn cách
mạng đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi
thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Mùa xuân 1930, tại Cửu Long, Hương Cảng (Trung Quốc), đồng chí Nguyễn Ái Quốc
với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, đã tổ chức Hội nghị hợp nhất các tổ chức
cộng sản thành một Đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng được tổ chức vào tháng 3/1935 có vai trò rất quan
trọng vì đã vạch ra con đường đấu tranh để nước ta giành độc lập, đề ra 3 nhiệm vụ
chủ yếu trước mắt của Đảng là củng cố và phát triển Đảng; đẩy mạnh cuộc vận
động quần chúng; chống chiến tranh đế quốc.
Đến tháng 2/1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II - Đại hội duy nhất được tổ
chức trong 9 năm trường kỳ chống Pháp (1946 - 1954) của Đảng có ý nghĩa lịch sử khi
đưa ra những quyết sách đúng đắn để nước ta giành được thắng lợi to lớn trong cuộc
kháng chiến chống Pháp, với chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn
động địa cầu” năm 1954. Đại hội II quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai và
lấy tên là Đảng lao động Việt Nam. Đây là Đại hội của khối đoàn kết toàn dân mà
Đảng Lao động Việt Nam là hạt nhân, đã tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân,
hướng vào một mục tiêu cao nhất là giải phóng dân tộc.
Đại hội III của Đảng diễn ra vào tháng 9 năm 1960 – Kỳ đại hội duy nhất trong 21
năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam
(1954 - 1975). Đại hội đã đưa ra quyết định lớn là cùng lúc thực hiện hai chiến lược
cách mạng: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền
Nam, chỉ ra con đường duy nhất của cách mạng Việt Nam là cầm súng đứng lên để giải
phóng hoàn toàn miền Nam bằng bạo lực cách mạng.
Những quyết sách đúng đắn của 3 kỳ Đại hội trên đã giúp Đảng ta chèo lái con thuyền
cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng, đất nước hoàn toàn thống nhất.
Tháng 12/1976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội
- Đây là Đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà,
cả nước tiến lên xây dựng CNXH. Đại hội IV quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt
Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đại hội V của Đảng được tổ chức tháng 3/1982, nêu lên hai nhiệm vụ chiến lược
cách mạng của nước ta trong giai đoạn mới là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
và sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đồng thời
xác định rõ mối quan hệ mật thiết giữa hai nhiệm vụ chiến lược này trong tình hình mới.
Một trong những kỳ Đại hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI của Đảng, diễn ra vào tháng 12/1986. Đại hội đã quyết định đường lối
đổi mới của đất nước. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Đại hội VI của Đảng đã
thẳng thắn chỉ ra những tồn tại, hạn chế của nền kinh tế hiện vật, kế hoạch, phi
hàng hóa, phi thị trường, đồng thời nhấn mạnh phải đổi mới toàn diện, trong đó phải
đổi mới tư duy mà trước hết là tư duy kinh tế. Đây là bước đột phá quan trọng trong tư
duy lý luận của Đảng, tạo tiền đề cho việc triển khai đồng bộ các giải pháp đổi mới trên
mọi lĩnh vực, nhất là đổi mới về kinh tế để chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung
sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đại hội lần thứ VII (6/1991) của Đảng được diễn ra trong bối cảnh hệ thống các nước
XHCN lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện và sâu sắc, công cuộc cải tổ của Liên
Xô gặp nhiều khó khăn. Đại hội VII để lại dấu ấn lớn với việc lần đầu tiên thông qua
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Đại hội
chủ trương tiếp tục đổi mới toàn diện và đồng bộ, đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu
với bước đi vững chắc. Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội nghiêm trọng
và kéo dài hơn 15 năm, khẳng định sự nghiệp đổi mới đất nước được đề ra tại Đại hội VI là hoàn toàn đúng đắn.
Các kỳ Đại hội VIII đến Đại hội XI đã tiếp tục đường lối đổi mới mà Đại hội VI đ
ra, tổng kết những vấn đề lý luận - thực tiễn trong quá trình đổi mới, rút ra bài học kinh
nghiệm, định hướng về nhận thức, hành động trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Đại hội lần thứ XI của Đảng (1/2011) đã tổng kết Chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội 10 năm (2001 - 2010) và 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đó, Đại hội quyết định Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).
Đặc biệt, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nỗ lực phấn đấu
vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, các nhiệm vụ
trọng tâm được đề ra. Những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ Đại hội XII có ý nghĩa cực
kỳ quan trọng, không chỉ tạo ra dấu ấn nổi bật, là điểm tựa cho những năm tiếp theo mà
còn tạo ra niềm tin, khí thế mới để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta vững vàng vượt qua
khó khăn, thử thách, tận dụng thời cơ đưa đất nước bước vào một thời kỳ phát triển mới.
Trong nhiều lần phát biểu tại các Hội nghị nửa cuối năm 2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch
nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ,
tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.
Từ ngày 25/1 đến 02/02/2021, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng diễn
ra tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội đánh dấu chặng đường 35 năm đổi mới đất nước, đánh
dấu 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 và 10 năm Cương lĩnh (bổ sung phát triển
năm 2011). Đặc biệt, Đại hội lần này cũng đánh dấu một năm vượt khó thành công trong
việc thực hiện nhiệm vụ kép vừa chống dịch Covid-19, vừa phát triển kinh tế của
năm 2020. Đại hội lần thứ XIII của Đảng sẽ đặt ra mục tiêu không phải chỉ cho
nhiệm kỳ 2021 - 2025 mà còn tầm nhìn tới 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng và
năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước. Việt Nam sẽ phấn đấu đến năm 2025 trở
thành nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập
trung bình thấp. Năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, là nước đang phát triển có
công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập
nước, trở thành nước phát triển, thu nhập cao với GDP là 2.500 tỉ USD và thu nhập bình
quân đầu người là 18.000 USD, hiện thực hóa khát vọng phồn vinh dân tộc.
Những thành tựu mà Việt Nam đạt được sau 35 năm đổi mới đất nước, những dấu ấn đặc
biệt của nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng sẽ đặt nền móng, tiền đề để Đảng tiếp tục thực
hiện trong 5 năm tới. Đây cũng chính là kỳ vọng rất lớn của cán bộ, đảng viên và các tầng
lớp nhân dân luôn trăn trở với vận mệnh của đất nước, của Đảng, với hạnh phúc của nhân
dân. Với ý nghĩa ấy, Đại hội XIII của Đảng là Đại hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay.
Có thể khẳng định, trải qua 13 kỳ Đại hội, Đảng ta đã phát triển ngày càng mạnh mẽ,
giành được những thắng lợi hết sức to lớn, chứng minh vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân
tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó là cơ sở để nhân dân tin tưởng,
Đại hội XIII của Đảng sẽ tiếp tục đưa ra được những chủ trương đúng đắn, thể hiện sự
đổi mới về tư duy, đặc biệt sẽ chọn được những nhân tố đủ tài, có tâm và tầm để lãnh
đạo, đưa đất nước phát triển mạnh mẽ./.
Từ ngày 3-7/2/1930, tại Cửu Long (Trung Quốc), dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam đã tổ chức hội nghị hợp nhất để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hội nghị cũng đề ra Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt của
Đảng. Sự kiện lịch sử này cũng đánh dấu cột mốc lịch sử khi con đường giải phóng dân
tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam soi sáng.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ I (năm 1935)
Đại hội diễn ra từ ngày 27-31/3/1935 tại Ma Cao (Trung Quốc) do đồng chí Hà Huy
Tập chủ trì. Tại đại hội, đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư.
Sau đó, tháng 10/1936, Trung ương Đảng được tổ chức lại, đồng chí Hà Huy Tập làm
Tổng Bí thư. Tới tháng 3/1938, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị toàn thể,
bầu đồng chí Nguyễn Văn Cừ làm Tổng Bí thư. Tháng 11/1940, Hội Nghị Trung ương 7,
đồng chí Trường Chinh nắm quyền Tổng Bí thư.
Đại hội lần thứ nhất của Đảng đã đánh dấu sự khôi phục được hệ thống tổ chức của
Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước. Đồng thời, thống nhất
phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân dưới
sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II (năm 1951)
Đại hội diễn ra từ ngày 11-19/2/1951 tại xã Vinh Quang, Chiêm Hóa, Tuyên Quang.
Thay mặt cho hơn 766.000 đảng viên cộng sản trên toàn Đông Dương, 158 đại biểu chính
thức và 53 đại biểu dự khuyết đã tham dự đại hội.
Tại đại hội, các đại biểu đã thông qua báo cáo chính trị của Chủ Tịch Hồ Chí Minh,
báo cáo "Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới CNXH"
của đồng chí Trường Chinh.
Do đặc điểm tình hình và yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, kháng chiến, Đại hội
quyết định xây dựng ở mỗi nước Đông Dương một Đảng Cộng sản Riêng. Ở Việt Nam,
Đảng lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam và Đại hội đã thông qua Chính cương của
Đảng Lao Động Việt Nam.
Đúc rút từ kinh nghiệm, bài học và lý luận, Đại hội đã phát triển đường lối kháng
chiến và đề ra những chính sách cụ thể để đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng
lợi hoàn toàn và chuẩn bị những tiền đề đi lên chủ nghĩa xã hội sau khi kháng chiến thành công.
Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 19 đồng chí chính thức và 10 đồng chí
dự khuyết. Trong đó, Bộ chính trị có 7 đồng chí chính thức và 1 dự khuyết. Chủ tịch Hồ
Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng, đồng chí Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư.
Đại hội lần II đóng góp rất lớn vào các thắng lợi trên chiến trường với đỉnh cao là
chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, dẫn tới thắng lợi tại hội nghị Geneve,
giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Từ đó, tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III (năm 1960)
Đại hội lần III diễn ra từ ngày 5-10/9/1960 tại Hà Nội. Dự đại hội có 525 đại biểu
chính thức và 51 đại biểu dự khuyết, thay mặt cho hơn 50 vạn đảng viên trong cả nước.
Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà.
Tổng kết 30 năm lãnh đạo của Đảng, nêu lên nhiều bài học có ý nghĩa thực tiễn và lý
luận, Đại hội cũng phân tích kỹ những đặc điểm của cách mạng Việt Nam và quyết định
đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và
đường lối cách mạng miền Nam nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đồng thời, Đại hội cũng đề ra nhiệm vụ và phương hướng của kế hoạch 5 năm lần thứ
nhất. Đại hội thảo luận và quyết định nhiều vấn đề có quan hệ sống còn đối với cách
mạng xã hội chủ nghĩa và đấu tranh thống nhất nước nhà.
Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 47 đồng chí và 31 ủy viên dự
khuyết. Tiếp đó, Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 11 ủy viên chính thức.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục giữ cương vị Chủ tịch Đảng. Đại hội bầu đồng chí Lê
Duẩn làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV (năm 1976)
Đại hội diễn ra từ ngày 14-20/12/1976 tại Hà Nội. Tham dự đại hội có 1.008 đại biểu
chính thức thay mặt cho 1.550.000 đảng viên trên cả nước. Cùng với đó là sự có mặt của
nhiều Đảng Cộng sản và các tổ chức quốc tế khác.
Đại hội đã thảo luận, đánh giá quyết định chuyển cách mạng Việt Nam từ cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam sang thực hiện
cách mạng xã hội trên toàn đất nước. Từ nhận định đó, Đại hội đề ra đường lối xây
dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước, gồm:
- Đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa
- Đường lối xây dựng kinh tế trong thời kì quá độ
Đại hội thông qua Báo cáo Chính trị, Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu
chủ yếu của kế hoạch 5 năm (1976-1980), Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và
sửa đổi Điều lệ Đảng.
Đáng chú ý, tại Đại hội này, các đại biểu đã nhất trí đổi tên Đảng Lao Động Việt
Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đại hội còn bổ sung Điều lệ Đảng. Theo đó, chức danh Bí thư thứ nhất được thay bằng
Tổng Bí thư, bỏ chức danh Chủ tịch Đảng. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm
101 đồng chí chính thức, Bộ chính trị gồm 14 đồng chí. Đồng chí Lê Duẩn tiếp tục làm Tổng Bí thư.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V (năm 1982)
Đại hội diễn ra từ ngày 27-31/3/1982 tại Hà Nội. Dự đại hội, có 1.033 đại biểu thay
mặt 1.727.000 đảng viên hoạt động trong 35.146 đảng bộ cơ sở. Ngoài ra, có nhiều đại
biểu quốc tế tới dự và chúc mừng đại hội.
Đại hội khẳng định: "Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu,
bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa". Hai nhiệm vụ chiến lược đó quan hệ mật thiết với nhau.
Đại hội lần thứ V đã đề ra nhiệm vụ, phương hướng nhằm giải quyết những vấn
đề gay gắt nóng bỏng đang đặt ra của cách mạng Việt Nam. Đại hội đánh dấu một
bước chuyển biến mới về sự lãnh đạo của Đảng trên con đường đấu tranh "Tất cả vì
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân".
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 116 ủy viên chính thức và 36
uỷ viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên
chính thức và 2 ủy viên dự khuyết. Trong đó, đồng chí Lê Duẩn được bầu lại làm Tổng
Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986)
Đại hội diễn ra từ ngày 15-18/12/1986 tại thủ đô Hà Nội. Có 1.129 đại biểu thay mặt cho
gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng tới dự Đại hội, cùng 32 đoàn đại biểu quốc tế.
Đại hội đề xướng, lãnh đạo thành công sự nghiệp Đổi mới. Quan điểm mới về cải tạo
xã hội chủ nghĩa cũng được đưa ra tại Đại hội:
- Tuân theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của
lực lượng sản xuất để xác định bước đi và hình thức thích hợp.
- Vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một
đặc trưng của thời kỳ quá độ.
- Xây dựng quan hệ sản xuất mới trên cả 3 mặt xây dựng chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI gồm 124 ủy viên chính thức
và 49 uỷ viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp Hội nghị lần thứ nhất
bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư Ban
Chấp hành Trung ương Đảng.
Các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ được giao trách nhiệm là
Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991)
Đại hội lần VII diễn ra từ ngày 24-27/6/1991 tại Hà Nội. Dự đại hội có 1.176 đại biểu,
thay mặt cho hơn 2.155.022 đảng viên trong cả nước.
Đại hội VII là Đại hội của trí tuệ - đổi mới, dân chủ - kỷ cương - đoàn kết; là Đ
hội lần đầu tiên thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH ở nước ta. Đại hội cũng đã thông qua Chiến lược ổn định và phát triển kinh
tế - xã hội đến năm 2000; Báo cáo xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng (Điều Đảng sửa đổi).
Đại hội một lần nữa khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai
cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động và của cả dân tộc.
Theo đó, Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.
Đại hội VII quyết định con đường, bước đi của cách mạng nước ta trong nhiều thập
niên tiếp theo là quyết tâm đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, kiên định mục tiêu
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, con đường mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
ĐH đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 146 ủy viên, bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy
viên. Sau đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 khoá VII đã bầu bổ sung
thêm 4 Ủy viên Bộ Chính trị. Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996)
Đại hội diễn ra từ ngày 28/6-1/7/1996 tại Hà Nội. Đại diện cho gần 2 triệu 130 nghìn
đảng viên cả nước, 1.198 đảng viên tới dự đại hội.
Tổng kết chặng đường 10 năm đổi mới, Đại hội khẳng định nước ta đã ra khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc.
Đại hội xác định nhiệm vụ là thực hiện đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, quá độ lên CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN.
Đại hội đã đánh dấu cột mốc phát triển mới trong tiến trình phát triển của cách mạng
nước ta. Đây cũng là Đại hội tiếp tục đổi mới vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
vì hạnh phúc của nhân dân.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 170 ủy viên. Đồng chí Đỗ Mười tiếp
tục được tín nhiệm bầu làm Tổng Bí thư. Tháng 12/1997, đồng chí Lê Khả Phiêu được
bầu làm Tổng Bí thư tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 khóa VIII.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001)
Đại hội diễn ra trong các ngày 19-22/4/2001 tại Hà Nội. Tham dự ĐH có 1.168 đại
biểu là những đảng viên ưu tú, đại diện cho 2.479.719 đảng viên trong toàn quốc.
Đại hội đã đánh giá về chặng đường 71 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tổng
kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, 15 năm đổi mới, 10 năm thực hiện chiến
lược kinh tế - xã hội, rút ra những bài học kinh nghiệm của công cuộc đổi mới, từ đó phát
triển và hoàn thiện đường lối, định ra chiến lược phát triển đất nước trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ XXI.
Với đòi hỏi của dân tộc trong thời kỳ mới, Đại hội có nhiệm vụ kiểm điểm sự lãnh đạo
của Đảng, đề ra phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng. Đồng thời, sửa đổi, bổ sung
Điều lệ Đảng, bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới.
Đại hội IX đã mở đường cho đất nước ta nắm lấy cơ hội, vượt qua thách thức tiến vào
thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới, thực hiện mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương khoá IX gồm 150 uỷ viên. Tại Hội nghị
lần thứ nhất, đã bầu ra Bộ Chính trị gồm 13 đồng chí, Ban Bí thư gồm 9 đồng chí. Đồng
chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X (năm 2006)
Đại hội diễn ra từ ngày 18-25/4/2006 tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 1.176 đại biểu
thay mặt cho hơn 3,1 triệu đảng viên trong toàn Đảng.
Với chủ đề "Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy
sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra
khỏi tình trạng kém phát triển", đây là Đại hội của trí tuệ, đổi mới, đoàn kết và
phát triển bền vững.
Đại hội có nhiệm vụ kiểm điểm, đánh giá khách quan, toàn diện thành tựu và những
yếu kém, khuyết điểm, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm qua việc thực hiện
Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm
(2001-2005), chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001-2010) và nhìn lại 20 năm đổi mới.
Từ đó, tiếp tục phát triển và hoàn thiện đường lối, quan điểm, định ra phương hướng,
mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm tới (2006-2010); phương hướng, nhiệm vụ
xây dựng Đảng; bổ sung sửa đổi một số điểm trong Điều lệ Đảng…
Đại hội cũng ra Nghị quyết cho phép Đảng viên của Đảng được làm kinh tế tư nhân,
kể cả kinh tế tư bản tư nhân. Đây là bước tiến quan trọng trong nhận thức của Đảng Cộng
sản Việt Nam sau 20 năm đổi mới, thể hiện bước đột phá trong thay đổi tư duy của Đảng.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 160 ủy viên chính thức và 21 ủy viên
dự khuyết, Bộ Chính trị gồm 14 thành viên và Ban Bí thư có 8 thành viên. Đồng chí
Nông Đức Mạnh được bầu lại làm Tổng Bí thư. Đồng chí Nguyễn Văn Chi, ủy viên Bộ
Chính trị được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI (năm 2011)
Đại hội diễn ra trong các ngày 12-19/1/2011 tại thủ đô Hà Nội. Dự đại hội có 1377 đại
biểu, thay mặt cho hơn 3,6 triệu đảng viên trong cả nước.
Đại hội Đảng lần thứ XI đã quyết định mục tiêu tổng quát của Chiến lược là: Phấn đấu
đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị -
xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ
vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững
chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau.
Đại hội đã nhất trí thông qua các văn kiện rất quan trọng, có ý nghĩa chiến lược,
lâu dài đối với sự phát triển của đất nước ta: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, phương hướng, nhiệm vụ năm 2011 - 2015 và Điều
lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi).
Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương khoá XI gồm 175 đồng chí Ủy viên
chính thức và 25 đồng chí Ủy viên dự khuyết, Bộ Chính trị gồm 14 đồng chí. Ban Bí thư
gồm 4 ủy viên, Ủy ban Kiểm tra Trung ương gồm 21 đồng chí.
Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được Đại hội bầu giữ chức Tổng Bí thư. Đồng chí Ngô
Văn Dụ được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (năm 2016)
Đại hội diễn ra trong các ngày 20-28/1/2016 tại thủ đô Hà Nội. Dự đại hội có 1.510
đại biểu thay mặt cho hơn 4,5 triệu đảng viên toàn Đảng. Đây là Đại hội có số lượng đại
biểu đông nhất trong 12 kỳ Đại hội Đảng toàn quốc.
Đại hội đã nhận được 248 điện, thư chúc mừng của các chính đảng, tổ chức, bạn bè
quốc tế từ khắp các châu lục trên thế giới và các đoàn ngoại giao tại Hà Nội. Đây là Đại
hội đại biểu toàn quốc của Đảng nhận được điện, thư chúc mừng nhiều nhất so với các kỳ Đại hội trước.
Đại hội đã xác định một số nhiệm vụ trọng tâm như tăng cường xây dựng, chỉnh đốn
Đảng; xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực,
hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.
Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động
và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc
lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của Nhân dân. Phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Phát huy nhân
tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về
đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh.
Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương khoá mới gồm 200 đồng chí, trong đó
180 đồng chí Ủy viên chính thức, 20 đồng chí Ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Phú
Trọng được tín nhiệm bầu tiếp tục giữ chức vụ Tổng Bí thư. Đồng chí Trần Quốc Vượng
được tín nhiệm bầu giữ chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.