Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
LỊCH SỬ ĐẢNG
Câu 1: Vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong quá trình chuẩn bị điểm chính trị tư
tưởng và tổ chức để thành lập ĐCS VN.
- Tư tưởng chính trị: Tố cáo tội ác thực dân Pháp với người dân thuộc địa thông qua
các tác phẩm ( người cùng khổ, tạp chí đưa tin quốc tế, báo nhân đạo), truyền bá chủ
nghĩa mác lenin vào VN, phát thảo định luật cứu nước cơ bản ( con đường cách mạng vô sản)
- Tổ chức: Việc thành lập các tổ chức tiền thân của ĐCS VN là hội VN cách mạng
thanh niên là sự ra đời của các tác phẩm ( đường cách mệnh,....)
Về tư tưởng: Nguyễn Ái Quốc đã dùng ngòi bút của mình tích cực tố cáo, lên án bản
chất bóc lột của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa và kêu gọi,
thức tỉnh nhân dân bị áp bức đấu tranh giải phóng. Người đã góp phần quan trọng
vào việc tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp ở các thuộc địa. Chỉ rõ bản chất
của chủ nghĩa thực dân, xác định chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của các dân tộc
thuộc địa, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới. Đồng thời tiến
hành tuyên truyền tư tưởng Mác - Lênin, xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa những
người cộng sản và nhân dân lao động Pháp với các nước thuộc địa và phục thuộc.
Về chính trị: Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã hình thành một hệ thống luận điểm chính
trị: Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cách mạng của các dân tộc bị áp
bức; xác định cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng vô sản
thế giới; xác định lực lượng cách mạng; xác định vai trò lãnh đạo của Đảng; cách
mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Những luận điểm ấy sau này phát triển
thành những nội dung cơ bản trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Về
tổ chức : Sau khi từ Liên Xô về Quảng Châu, Người lựa chọn một số thanh niên
tích cực trong tổ chức Tâm tâm xã lập ra nhóm Cộng sản đoàn (02/1925). Trên cơ sở
nhóm Cộng sản đoàn Người sáng lập nên Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên
(6/1925) tại Quảng Châu - Trung Quốc, sau đó Người liên kết với những cộng sản ở
thuộc địa đang hoạt động cách mạng ở Pháp lập ra Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp
bức Á Đông (7/1925). Các tổ chức là nơi để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về
nước và cũng là sự chuẩn bị quan trọng về tổ chức để tiến tới thành lập chính đảng
của giai cấp vô sản ở Việt Nam. Nhờ đó, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến của
phong trào công nhân, phong trào yêu nước Việt Nam những năm 1928 - 1929 theo
khuynh hướng cách mạng vô sản. Có thể nói, trong những năm tháng đầy cam go,
hiểm nguy, thử thách, với khát vọng cháy bỏng giải phóng dân tộc, lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc đã hoạt động khẩn trương, tích cực và đầy sáng tạo chuẩn bị những tiền đề
tư tưởng, chính trị, tổ chức để dẫn đến sự ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam
phù hợp với xu thế tiến bộ của lịch sử.
Câu 2: Phân tích nội dung về chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng ĐCS Đông
Dương khi chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, sự chuyển hướng cách mạng ĐCS Đông
Dương khi chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ
a) Chiến tranh thế giới t2 bùng nổ năm 1939-1945, giai đoạn này là sự chuyển chỉ đạo của ĐCS Đông Dương:
- Hoàn cảnh lịch sử trong nước và các phong trào đấu tranh chống lại trước đó (1936-
1939): Tại Đông Dương, phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp đã diễn ra sôi nổi
trong giai đoạn 1936-1939 với các sự kiện lớn như: Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931),
Khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), Đông Xuân (1939)...Tuy nhiên, các phong trào này chưa
giành được thắng lợi quyết định. Thực dân Pháp vẫn thực hiện chính sách kềm kẹp,
đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân ta một cách quyết liệt.
- Chiến tranh Thế giới thứ 2 là cuộc chiến tranh quy mô lớn nhất trong lịch sử loài
người, diễn ra từ năm 1939 đến 1945 giữa hai khối lực lượng là Đồng minh và Trục
Băng-tin-Đức quốc xã. Sự bùng nổ của Chiến tranh Thế giới thứ 2 đã tác động mạnh
mẽ đến tình hình thế giới và khu vực Đông Dương, buộc Đảng Cộng sản Đông
Dương phải có sự điều chỉnh chiến lược phù hợp trong giai đoạn này. Giai đoạn
1939-1945 đánh dấu sự chuyển hướng mới về chỉ đạo của Đảng Cộng sản Đông
Dương trong công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
b) Nêu được hoàn cảnh lịch sử: chiến tranh thế giới là gì, chiến tranh thế t2 bùng nổ ntn,
hoàn cảnh lịch sử trong nước, các phong trào đấu tranh chống lại trước đó 1936-1939 ntn
- Hoàn cảnh lịch sử trong nước và các phong trào đấu tranh chống lại trước đó (1936-
1939): (phong trào dân chủ, phong trào cách mạng) trg22
+ Tại Đông Dương, phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp đã diễn ra sôi nổi
trong giai đoạn 1936-1939 với các sự kiện lớn như: Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931),
Khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), Đông Xuân (1939)...Tuy nhiên, các phong trào này chưa
giành được thắng lợi quyết định.
+ Thực dân Pháp vẫn thực hiện chính sách kềm kẹp, đàn áp phong trào cách mạng
của nhân dân ta một cách quyết liệt.
- Chiến tranh thế giới, Chiến tranh Thế giới thứ 2 là gì và bùng nổ như thế nào?
+ Chiến tranh thế giới là cuộc chiến có quy mô rộng lớn với nhiều quốc gia tham gia
và phần nhiều ảnh hưởng lớn tới hầu như toàn bộ thế giới.
+ Chiến tranh Thế giới thứ 2 (1939-1945) là cuộc chiến tranh quy mô toàn cầu lớn
nhất lịch sử nhân loại, đối đầu nhau là hai khối lực lượng: Đồng minh (Anh, Pháp,
Liên Xô...) và Trục (Đức, Ý, Nhật...). Cuộc chiến bắt đầu bùng nổ khi Đức Quốc xã
xâm lược Ba Lan vào năm 1939. Sau đó, ngày càng lan rộng ra nhiều quốc gia trên thế giới.
+ Sự bùng nổ của Chiến tranh Thế giới thứ 2 đã tác động mạnh đến tình hình khu vực
Đông Dương, tạo ra cơ hội và thách thức mới cho phong trào cách mạng Việt Nam.
+ Với hoàn cảnh lịch sử trong nước và quốc tế đầy biến động như vậy, buộc Đảng
Cộng sản Đông Dương phải có sự điều chỉnh chiến lược phù hợp, chuyển hướng
cách mạng sang giai đoạn mới.
c) Chuyển hướng chỉ đạo:
Căn cứ vào tình hình quốc tế, Đảng tổ chức các hội nghị chống đế quốc, chống
phong kiến, đề cao nhiệm vụ chống đế quốc lên hàng đầu:
+ Trước tình hình chiến tranh lan rộng, Đảng nhận định rằng mâu thuẫn chính cần
giải quyết trước tiên là đấu tranh chống đế quốc thực dân và phong kiến.
+ Đảng đã tổ chức các hội nghị quan trọng như Hội nghị lần thứ 8 (1941), triệu tập
Đại hội lần thứ VIII (1938) với phương châm "Đoàn kết toàn quốc đánh đuổi Pháp- Nhật". (trg 23)
+ Mặt trận Việt Minh ra đời năm 1941 với khẩu hiệu chính là đoàn kết đấu tranh
chống đế quốc thực dân và phong kiến.
- Đề cao hoạt động của đảng chuyển hướng sang hoạt động bí mật nhiều hơn để bảo
vệ hàng ngũ, bảo vệ nguồn lực cách mạng: Trong bối cảnh chiến tranh, chính quyền
thực dân Pháp càng ra sức đàn áp phong trào cách mạng. Vì vậy, Đảng buộc phải
chuyển hướng sang hoạt động bí mật nhiều hơn, tránh bị lực lượng địch phát hiện và
trấn áp. Đây là biện pháp để bảo toàn hàng ngũ cách mạng, giữ gìn nguồn lực, chuẩn
bị cho cao trào cách mạng vũ trang sắp tới
Câu 3: Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm của CMT8 năm 1945 Nguyên nhân thắng lợi:
Do sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, khéo léo của Đảng. Sự vận dụng và phát triển
của chủ nghĩa Mac-lenin trong điều kiện cụ thể của nước ta một cách đúng đắn, độc
lập, tự chủ và sáng tạo. Đảng có phương pháp, chiến lược, sách lược cách mạng phù
hợp, linh hoạt; nhận thức được thời cơ, chủ động đón thời cơ và kiên quyết chớp thời
cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Nhân dân có tinh thần yêu nước, đoàn kết, ý chí quật cường của các tầng lớp nhân
dân, không chịu sống mãi kiếp nô lệ. Một lòng đi theo Đảng và được Đảng lãnh đạo.
Ý nghĩa lịch sử: trang 29
Bài học kinh nghiệm: trang 29
Câu 4: Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm của kháng chiến
chống thực dân Pháp, can thiệp Mỹ 1946-1954 (trang 41) Nguyên nhân thắng lợi:
Khách quan: Nhờ vào tinh thần đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông
Dương. Có sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân
Chủ quan: Do sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Với đường lối chính trị, quân sự và đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo
Có hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân trong cả nước, có Mặt trận dân tộc thống
nhất được củng cố và mở rộng
Lực lượng vũ trang ba thứ quân sớm được xây dựng và không ngừng lớn mạnh, hậu
phương rộng lớn, vũng chắc về mọi mặt. Ý nghĩa lịch sử:
- Thắng lợi của cuộc kháng chiến đã chấm dứt ách thống trị gần một thế kỉ của thực dân Pháp.
- Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ
nghĩa, tạo cơ sở để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc.
- Giáng đòn nặng nề vào tham vọng xâm lược, âm mưu nô dịch của chủ nghĩa đế
quốc sau chiến tranh thế giới thứ 2, góp phần làm tan rã hệ thống thuộc địa của chúng.
- Cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Bài học kinh nghiệm: trang 42
Câu 5: Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm của kc chống Mỹ
cứu nước 1954-1975 (Câu 12 trang 118) Nguyên nhân thắng lợi:
- Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với đường lối chính trị, quân
sự độc lập, tự chủ đúng đắn, sáng tạo, phương pháp đấu tranh linh hoạt.
- Hậu phương miền Bắc không ngừng lớn mạnh, đáp ứng kịp thời các yêu cầu của cuộc chiến đấu ở hai miền.
- Có sự phối hợp chiến đấu, đoàn kết giúp đỡ nhau của ba dân tộc ở Đông Dương; sự đồng
tình ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa khác; nhân dân Mĩ và nhân dân
thế giới phản đối cuộc đấu tranh xâm lược Việt Nam của Mĩ. Ý nghĩa lịch sử: Đối với Việt Nam:
- Chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa thực dân - đế quốc trên đất nước ta.
- Hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất đất nước.
- Mở ra kỉ nguyên mới của lịch sử dân tộc - kỉ nguyên đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Đối với thế giới:
- Tác động mạnh đến tình hình nước Mĩ và thế giới, là nguồn cổ vũ to lớn đối với phong
trào cách mạng thế giới, nhất là đối với phong trào giải phóng dân tộc.
- Là một sự kiện có “tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.
Bài học kinh nghiệm: (Trang 118)
Câu 6: Nội dung về đường lối đổi mới ở đại hội 6,7,8
Đại hội VI: Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 đã mở ra một giai đoạn mới
trong lịch sử của Đảng và Việt Nam - giai đoạn Đổi mới. Dưới đây là một số nội dung chính của Đại hội:
- Chính sách Đổi mới: Đại hội đã quyết định chỉ rõ đường lối cơ bản, toàn diện về kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội, bảo vệ quốc phòng, an ninh và công tác xây dựng Đảng. Trọng
tâm của Đổi mới kinh tế là chuyển từ nền kinh tế tập trung quản lý, bao cấp sang nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Xây dựng nhà nước pháp quyền: Đảng đã nhất trí xây dựng nhà nước Việt Nam xã hội chủ
nghĩa là nhà nước của dân, do dân và vì dân, thực sự là nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa nhằm tăng cường quản lý nhà nước, đối phó với thách thức và nâng cao hiệu quả hoạt
động của các cơ quan công quyền.
- Chăm lo quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng: Đảng nhấn mạnh sự quan trọng của việc đảm
bảo quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng lý tưởng, nhận định rằng đây là một phần quan
trọng của xã hội công bằng và dân chủ.
- Tăng cường đoàn kết: Đại hội ra kêu gọi việc thực hiện thể chế đại đoàn kết toàn dân tộc,
khắc phục mâu thuẫn trong nhân dân một cách hợp tình, hợp lý, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
=> Những quyết định ở Đại hội VI đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch sử
Đảng và quốc gia, mở ra một kỷ nguyên mới cho kinh tế và xã hội Việt Nam.
Đại hội VII: Đại hội VII (1991): Đại hội VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1991 tiếp
tục quá trình đổi mới mà Đại hội VI đã bắt đầu. Dưới đây là những nội dung quan trọng:
- Đại hội lần này đã khẳng định đường lối đổi mới tư tưởng, đổi mới kinh tế và đổi mới tổ
chức đảng luôn được Đảng ta triển khai theo đúng tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Trong lĩnh vực kinh tế, Đại hội VII đã nhấn mạnh vào việc cải cách hệ thống tài chính, đẩy
mạnh công nghệ và thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế.
- Đại hội này cũng bắt đầu đặt ra mục tiêu về một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, trong đó vai trò quản lý của nhà nước không chỉ đơn thuần là điều chình mà còn
phải khuyếch đại tính năng cá nhân hoạt động kinh tế.
Đại hội đề ra mục tiêu về việc xây dựng một cơ cấu đảng vững mạnh và thống nhất, đồng thời
khẳng định Đảng Cộng Sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo cốt lõi của hệ thống chính trị.
=> Cũng tại Đại hội VII, Đảng đã tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của việc đảm bảo quyền tự do
tôn giáo và tín ngưỡng lý tưởng cho mọi công dân. Đảng tin rằng quyền này là một phần không thể
thiếu của phát triển con người, và cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản của một xã hội công bằng và dân chủ.
Đại hội VIII: Đại hội VIII (1996): Đại hội VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1996 đã đánh
dấu bước tiến quan trọng trong quá trình hiện đại hóa quốc gia và xây dựng nền kinh tế thị trường
xã hội chủ nghĩa. Dưới đây là một số nội dung quan trọng được đề cập tại Đại hội:
- Tiếp tục thúc đẩy quá trình cải cách kinh tế và tiến bộ xã hội, bảo đảm quốc gia giữ vững độc lập,
suveran và phát triển bền vững.
- Đặt ra những mục tiêu toàn diện và cụ thể hơn về việc hiện đại hóa nước ta, đặc biệt là trong lĩnh
vực công nghệ và giáo dục.
- Tiếp tục tăng cường hội nhập quốc tế và thúc đẩy phát triển khu vực tư nhân, một lĩnh vực cần
thiết cho việc đa dạng hóa nền kinh tế và tạo động lực cho sự phát triển.
- Thúc đẩy sự cải cách hệ thống tài chính và ngân sách, điều này quan trọng để tạo ra sự minh bạch
và hiệu quả trong việc quản lý tài chính công.
- Đảng cũng nhấn mạnh việc giữ vững an sinh xã hội, đảm bảo chất lượng cuộc sống cho người dân
cũng như khắc phục những mâu thuẫn xã hội có khả năng phát sinh.
=> Đại hội VIII đã khẳng định lại lộ trình đổi mới, dựa trên việc tiếp thu, ứng dụng sáng tạo lý
thuyết Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm đưa nước ta phát triển mạnh mẽ hơn trong thế
kỷ 21. Điều này đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững và toàn diện của nước
ta trong thập kỷ tiếp theo.
Câu 7: Thực tiễn đường lối đối ngoại cây tre VN (trích lời của Nguyễn Phú Trọng)
Như chúng ta đều biết, trong gần 40 năm đổi mới vừa qua, Đảng ta đã kế thừa và phát huy bản sắc,
cội nguồn và truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa thế giới và tư tưởng tiến bộ của
thời đại, phát triển trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, hình
thành nên một trường phái đối ngoại, ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc "cây tre
Việt Nam". Đó là vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo
nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, vững vàng trước mọi
khó khăn, thách thức, vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân; đoàn kết, nhân ái
nhưng luôn luôn kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Đến nhiệm kỳ khóa XIII, cụ
thể là tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được
tổ chức vào ngày 14/12/2021, chúng ta đã thống nhất cao khẳng định về sự hình thành, phát triển
của Trường phái đối ngoại, ngoại giao "cây tre Việt Nam": Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển,
thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.
“Đường lối đối ngoại "cây tre Việt Nam" hay còn gọi là chiến lược "đứng giữa số 1 và số 2" là
chiến lược quốc phòng, an ninh và đối ngoại mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp nhận và triển
khai từ thập kỷ 80 nhằm đối phó với sức ép của cuộc chiến lạnh.
Chiến lược này xuất phát từ nguyên tắc độc lập tự chủ, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, không đứng
về một bên nào trong các xung đột và tranh chấp quốc tế. Trong chiến lược này, Việt Nam giống
như cây tre, có khả năng uốn lượn linh hoạt trước gió bão nhưng vẫn đứng vững và giữ vững lập
trường của mình. Việt Nam không đứng về phía nước nào cũng không kết đồng minh với nước nào
mà luôn giữ vững quyền tự quyết của mình trong quan hệ quốc tế.
Chiến lược này đã được chứng minh là hiệu quả thông qua sự phát triển của Việt Nam trong suốt
những thập kỷ vừa qua. Việt Nam đã tiếp tục mở rộng và sâu rộng quan hệ với nhiều quốc gia trên
thế giới, đồng thời hoàn thiện hơn nữa vị thế của mình trên bản đồ quốc tế. Việt Nam đã nắm bắt cơ
hội từ cả hai "trại" của cuộc chiến lạnh để phát triển kinh tế và xây dựng sức mạnh quốc gia, đồng
thời không phụ thuộc vào một nước nào khác.”
“Chiến lược đối ngoại "cây tre Việt Nam" có những đặc điểm đặc biệt sau:
1. Uyển chuyển và linh hoạt: Như cây tre, chiến lược này nhấn mạnh vào việc mềm dẻo và dựa vào
khả năng thích ứng với những thay đổi trong môi trường địa chính trị quốc tế. Điều này cho phép
Việt Nam tận dụng cơ hội và đối phó với thách thức một cách hiệu quả.
2. Độc lập tự chủ: Giống như cây tre, Việt Nam luôn tự lập và tự quyết các vấn đề trong chính sách
đối ngoại của mình, không phụ thuộc vào bất kỳ quốc gia hay liên minh nào.
3. Đa dạng hóa quan hệ: Việt Nam không đứng về phía bất kỳ phe phái nào mà thay vào đó, lựa
chọn mở rộng và đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của mình.
4. Cân nhắc và hợp tác: Như cây tre, Việt Nam không chỉ đứng vững mà còn biết cách "uốn lượn"
để hợp tác và duy trì quan hệ tốt với các quốc gia khác.
5. Khéo léo và sáng tạo: Cây tre tượng trưng cho khả năng khéo léo và sáng tạo của người Việt
trong việc xây dựng và duy trì mối quan hệ đối ngoại trong bối cảnh quốc tế phức tạp.
Tóm lại, chiến lược "cây tre Việt Nam" thể hiện quan điểm độc lập, tự chủ nhưng hòa bình, hợp tác
của Việt Nam trong quan hệ đối ngoại, góp phần quan trọng vào sự phát triển và hòa nhập thành
công của Việt Nam trên trường quốc tế.”