1. Khái niệm phục hưng? Khái quát vai trò của triết học phục hưng đối với sự
phát triển của p. Tây
- KN phục hưng:
+ Do 1 sử gia người Pháp, chỉ cuộc vận động cách tân văn hóa
+ Thực chất của phong trào văn hóa phục hưng là cuộc đấu tranh trên bình
diện tư tưởng nhằm xác lập hệ thống tư tưởng mới, văn hóa mới.
+ Mục đích là khôi phục, phát huy giá trị của nền văn hóa cổ đại dùng chúng
làm vũ khí tinh thần cho cuộc đấu tranh
-
2. Tư tưởng của phương pháp luận Bacon ?Hãy bình luận câu nói của Bacon
"Tri thức là sức mạnh" (4đ)
* Tư tưởng của phương pháp luận Bacon:
- Phê phán phương pháp truyền thống – phê phán tam đoạn luận của Aristotle.
- Hệ thống hóa các phương pháp trong lịch sử: phương pháp con nhện và phương
pháp con kiến.
+ Phân tích phương pháp con nhện và hạn chế:
+ Phân tích phương pháp con kiến và hạn chế:
- Phân tích phương pháp con ong của F.Bacon:
+ Thu thập (
+ Phân loại (lập bảng phân loại những hiện tượng quan sát được):
+ Loại trừ (so sánh các trường hợp với nhau, loại trừ, rút ra các nguyên nhân)
+ Quy nạp:
- Bình luận giá trị và hạn chế của phương pháp con ong:
* Bình luận câu nói của Bacon:
- Giải thích
- Đồng ý hay không? Liên hệ với thời đại ngày nay
3. Khai sáng là gì ? Khái quát vai trò của triết học khai sáng đối với sự phát
triển của XH p. Tây? Phân tích tư tưởng triết học xã hội của Thomas Hobbes
* KN khai sáng:
- Khai sáng là sự thoát ly
- Tự do và khoan dung là mục tiêu chính trị cao nhất.
* Vai trò:
* Tư tưởng TH XH của Thomas Hobbes:
- Sự phát triển của XH loài người trải qua 2 trạng thái (2 thời kỳ):
+ Trạng thái tự nhiên: con người sống theo bản năng, sợ hãi, nguy cơ về cái
chết.
con người là một động vật độc ác và ranh ma hơn cả chó sói, gấu và rắn”
+ Trạng thái xã hội – công dân:
- nguồn gốc của bất công, bất bình đẳng XH do bản tính tự nhiên của con người là
ích kỷ, tham lam. -> diệt vong -> ký kết hợp đồng XH -> Nhà nước -> Trạng thái
XH bắt đầu.
Hạn chế: Thomas Hobbes ví nhà nước như 1 người khổng lồ, điều hành công dân
theo luật pháp, ông yêu cầu người dân phải thực hành tuyệt đối quyền lực của nhà
nước ngay cả khi đó là luật xấu. Tuyệt đối hóa yếu tố bản tính con người -> cách
giải quyết phiến diện.
4. So sánh quan điểm của Thomas Hobbes với quan điểm của Mác trong việc
luận giải nguồn gốc của sự vận động và phát triển của XH loài người ?
Tái hiện vắn tắt sự vận động và phát triển của XH loài người:
SX VC là nguồn gốc của sự vận động và phát triển của XH loài người -> Tuân
theo những quy luật khách quan (MQH biện chứng giữa LLSX – QHSX và CSHT
– KTTT).
=> So sánh: ở Hobbes nguồn gốc của sự vận động và phát triển của XH loài người
là do bản tính tự nhiên, ích kỷ của con người. Còn ở Mác là do các quy luật khách
quan.
5. Hãy gthich luận điểm sau : "Hiện sinh có trước bản chất"
- Đặt vấn đề: Chúng ta sống rồi mới làm nên bản chất, cuộc đời, sinh mệnh hay
cuộc đời, bản chất, sinh mệnh của ta đã được quyết định?
- Plato: con người được quy định từ trước, tất cả mọi SV ở trong thế giới chỉ là sự
mô phỏng lại cái thế giới ý niệm cho nên bản chất của nó đã được quyết định từ
trước rồi.
- Kito giáo: số mệnh của chúng ta đã được quy định từ trước
- Quan niệm của CNHS: chúng ta phải sống rồi mới làm nên bản chất. Bản chất là
thứ con người tự tạo nên từ hoạt động tự do của mình, con người quyết định số
mệnh của mình nhờ ước mơ, hoài bão, đặt biệt hoạt động thực hiện qua bản dự án
làm cho con người vượt lên trên vạn vật
6. Phân tích tư tưởng về pp luận của Descartes? Em hiểu thế nào về trực giác
lý tính của Descartes? So sánh quan niệm về trực giác lý tính của Đê các với
quan niệm trực giác tâm linh thời trung cổ (1 đường bằng lý tính, 1 đường bằng
linh cảm của đời sống tâm linh).
* Phương pháp luận của Descartes:
- Phê bình phương pháp truyền thống
- Hoài nghi là nguyên tắc xuất phát của TH Descartes: Hoài nghi của Descartes là
tận cùng của sự hoài nghi, đem tất cả sự tồn tại của Thượng đế, con người, vạn vật
để hoài nghi -> 4 nguyên tắc PPL của Descartes:
+ NT1:
+ NT2:
+ NT3: Đi từ điều cơ bản đến điều phức tạp
+ NT4: Xem xét tất cả các dữ kiện
* Trực giác lý tính:
7. Giải thích khái niệm niềm tin thực dụng là gì ? Phân tích tư tưởng triết học
của G.Ru
* KN niềm tin thực dụng: Piecxo
- Niềm tin là vấn đề trung tâm căn bản của TH Piecxo, mục đích của quá trình
nhận thức là đạt tới niềm tin vững chắc= niềm tin thực dụng=niềm tin khoa học,
Hành trình nhận thức là hành trình đi từ hoài nghi đến niềm tin khoa học bằng lý
thuyết thăm dò. Đặt tính của niềm tin:
Tri thức được chúng ta nhận biết một cách rõ ràng, mạch lạc.
Tri thức ấy không còn gây nên sự hoài nghi trong chúng ta.
Niềm tin là cơ sở thiết lập hành động, là động lực thúc đẩy con người hành động.
Niềm tin đến thực tiễn
* Tư tưởng TH của
- Trải qua 3 trạng thái:
8. So sánh quan niệm Gờ rút xô và Mac trong vấn đề sở hữu tư nhân
- Tư hữu là quyền tự nhiên của con người
- Bình luận:
9. Các học giả đánh giá rằng pp nhận thức của Bacon là pp quy nạp loại trừ.
Ac hiểu ntn là quy nạp loại trừ ?
- Tái hiện pp con ong:
- Quy nạp
10. Phân tích ND cơ bản trong Đạo đức học của 1. Kant . Kant nói " Hãy
hành động sao cho để Anh luôn cư xử với nhân loại cả qua mình lần qua mọi
người như là mục đích chứ đừng bao giờ như với phương tiện ". Hãy giải
thích câu nói trên.
- 1 hành vi ntn là hành vi có giá trị đạo đức?
Hành vi có giá trị đạo đức phải:
+ Tuân theo nguyên tắc (phương diện lý trí), mệnh lệnh tuyệt đối (bình luận
mệnh lệnh tuyệt đối khác với mệnh lệnh giả thuyết) (Nếu muốn X hãy làm Y
– Mệnh lệnh giả thuyết; Mệnh lệnh tuyệt đối – Hãy làm Y, MLTĐ phải phản
ánh được quy luật đạo đức phổ quát, hành vi đạo đức lấy con người làm mục
đích, hướng tới con người và vì con người, vô vị lợi, không xuất phát từ lợi
ích cá nhân, thuần túy, phục vụ cho bổn phận đạo đức.
+ Động cơ của hành vi đạo đức (phương diện tình cảm, xuất phát từ lòng tôn
kính sâu xa đối với quy luật luân lý)
+ Đối tượng của HVDD hướng tới sự thiện (sự kết nối giữa đức hạnh và hạnh
phúc).
3 điều kiện để đời sống đạo đức diễn ra được: tự do, linh hồn bất tử và thượng đế.
Tự do là điều kiện tiên quyết để sống 1 đời đức hạnh.
Linh hồn bất tử
Thượng đế - đấng tối cao, sự hiện hữu của thượng đế trong đời sống đạo đức là
thật sự cần thiết, cán cân công lý
* Giải thích câu nói:
- Hành vi có giá trị đạo đức là hành vi hướng tới con người, cho con người, vì con
người, lấy con người làm mục đích tối cao trong đó có cả mình và người khác ->
thể hiện giá trị nhân đạo, nhân văn.
- Biến người khác thành công cụ, phương tiện để đạt được…
Đồng ý hoặc không
11. Hãy gthich khái niệm cái nó trong phân tâm học Freud
- Mô hình I: ý thức -> tiềm thức -> vô thức
- Mô hình tâm lý thứ II: cái tôi = ý thức, cái nó = bản năng tính dục, cái siêu tôi
- Cái nó là đại diện cho những bản năng tính dục, những ham muốn dục vọng có
trong con người
Bản năng sống, bản năng chết
12. Phân tích ND cơ bản trong phép biện chứng duy tâm của Hegel?
* Phân tích:
- Khác với quan niệm truyền thống coi phép biện chứng là nghệ thuật tranh luận,
Hegel coi phép biện chứng là khoa học về sự phát triển của các khái niệm được
ông đồng nhất với bản chất sự vật.
- Phép biện chứng nói chung là nguyên tắc của mọi vận động, mọi sự sống và mọi
hoạt động trong phạm vi hiện thực. Cái biện chứng còn là linh hồn của mọi nhận
thức khoa học chân chính.
- Hegel coi sự phát triển không chỉ là sự tăng, giảm đơn thuần về lượng, hay sự
dịch chuyển vị trí của vật về không gian. Mà sự phát triển là 1 quá trình phủ định
biện chứng, trong đó liên tiếp diễn ra sự thay thế cái cũ bằng cái mới, đồng thời kế
thừa những yếu tố tích cực của cái cũ mà vẫn có khả năng thúc đẩy phát triển. Mọi
sự vật trong thế giới chúng ta đều phát triển theo những quy luật biện chứng. Phát
triển là quy luật khách quan không gì có thể cưỡng lại nổi: “Mọi cái xung quanh
chúng ta có thể được xem như kiểu mẫu của phép biện chứng”.
- Hegel không chỉ trình bày các phạm trù như chất, lượng, độ, phủ định, mâu
thuẫn,… mà còn nói đến cả các quy luật như “quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổi
và ngược lại”, “phủ định của phủ định” và phần nào về quy luật mâu thuẫn:
+ Học thuyết tồn tại:
Sự phát hiện quy luật lượng – chất là 1 trong những cống hiến to lớn
của Hegel. Thể hiện rõ tinh thần cách mạng của phép biện chứng duy
tâm khi Hegel cho rằng quá trình tích lũy dần dần về lượng dẫn đến sự
thay đổi về chất, đồng thời cũng là quá trình phủ định của giai đoạn
sau đối với giai đoạn trước.
Chất và lượng quy định lẫn nhau, những chuyển hóa về lượng sẽ dẫn
đến những biến đổi về chất và ngược lại.
VD: Nụ hoa biến mất khi hoa nở, nó bị hoa phủ định. Tương tự như vậy có thể nói
khi quả xuất hiện thì sự tồn tại của hoa bị coi là vô lí, thay thế cho sự hợp lí trước
đây của hoa thì giờ đây là quả.
+ Học thuyết bản chất:
Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập với tư cách là nguồn
gốc và động lực của sự phát triển. Khi nghiên cứu nguyên tắc này,
Hgel đã giải quyết 1 cách biện chứng mối liên hệ chuyển hóa giữa bản
chất và hiện tượng, khả năng và hiện thực, nguyên nhân và kết quả.
Hegel đã đề cập đến lí luận về mâu thuẫn. Ông coi mâu thuẫn là
nguồn gốc, là cơ sở của sự vận động và phát triển, nhấn mạnh đến các
mối liên hệ nội tại, những mâu thuẫn nội tại.
Mâu thuẫn là nguyên tắc của mọi sự tự thân vận động. Vấn đề này
được Hegel trình bày thông qua hệ thống các phạm trù khác nhau như
đồng nhất và mâu thuẫn, bản chất và hiện tượng, nội dung và hình
thức, khả năng và hiện thực, tất nhiên và ngẫu nhiên, nguyên nhân và
kết quả. Theo ông, mỗi vật là 1 sự đồng nhất cụ thể, hàm chứa trong
nó cái đối lập, cái phủ định của nó, hàm chứa trong nó cái sẽ có.
Ông cho rằng, nhận thức về quan hệ giữa đồng nhất và khác biệt sẽ
phát hiện ra mâu thuẫn chứa trong cơ sở của sự đồng nhất và khác biệt
ấy. Ông nhấn mạnh rằng, không nên coi mâu thuẫn là 1 cái gì xấu đối
với các sự vật, phải coi mâu thuẫn là mối liên hệ qua lại, là sự lệ thuộc
quy định lẫn nhau của các mặt đối lập, là nguyên tắc của mọi sự tự
thân vận động.
Theo Hegel, mâu thuẫn có trong mọi SV, HT chứ không phải chỉ
dừng lại ở 4 antinomi như Kant hiểu. Mâu thuẫn là bản chất của mọi
SV, mọi tư tưởng và khái niệm. Mâu thuẫn là 1 quá trình thống nhất
và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Mâu thuẫn làm cho thế giới vận
động và phát triển.
Bản thân sự giải quyết mâu thuẫn cũng chính là sự phủ định của cái
mới đối với cái cũ, là sự phá vỡ để dẫn đến sự hình thành chất mới.
+ Học thuyết khái niệm:
Phủ định của phủ định với tính cách là sự phát triển diễn ra theo hình
thức xoáy ốc. Hegel phân biệt phủ định trừu tượng (phủ định sạch
trơn) với phủ định cụ thể. Phủ định cụ thể không chỉ đơn giản là xóa
bỏ cái cũ mà còn giữ lại những yếu tố mầm mống, tạo khả năng sống
cho SV, tức là phủ định có kế thừa và chọn lọc. Sự phát triển tất yếu
đưa tới phủ định bởi phủ định không phải là sự gán ghép từ bên ngoài
mà là kết quả của quá trình phát triển tất yếu của SV. Nó là 1 nấc
thang trong quá trình phát triển nên bản thân nó cũng phải chịu sự phủ
định trong tiến trình tiếp theo của SV. Đó chính là phủ định của phủ
định mà KQ dường như quay về cái cũ nhưng trên cơ sở mới cao hơn.
Những KN không những khác nhau mà còn làm trung gian cho nhau,
tức chúng có liên hệ với nhau.
Mỗi KN đều phải qua 1 quá trình phát triển được thực hiện trên cơ sở
của 3 nguyên tắc (thuyết về tồn tại, thuyết về bản chất, thuyết về khái
niệm).
* Đánh giá:
- Giá trị:
+ Phép biện chứng của Hegel là 1 thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức. Ông
có công trong việc phê phán tư duy siêu hình, ông là người đầu tiên trình
bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng 1 quá trình, nghĩa là
trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng.
+ Đối với TH biện chứng của Hegel, không có gì là tối hậu, là tuyệt đối, là
thiêng liêng cả. Nó chỉ ra tính chất quá độ của mọi SV. Đối với nó, không có
gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sự hình thành và của sự tiêu
vong, của sự tiến triển vô cùng tận từ thấp đến cao.
- Hạn chế:
+ Marx viết: “Phép biện chứng của Hegel nếu đặt trên nền tảng của CNDV
giống như con người đi bằng 2 chân vậy, nhưng vì đặt trên nền tảng của
CNDT, bao bọc bởi những lời thông thái thông thường giống 1 người lộn
ngược đầu xuống đất, chân trỏng lên trời”. Có điều phép biện chứng của
Hegel bị ông đặt trên nền tảng của CNDT nên vai trò khám phá chân lý của
nó bị giảm đi.
+ Giới hạn không thể tránh được về sự hiểu biết của bản thân ông. Những kiến
thức và những quan niệm của thời đại ông cũng có tính chất hạn chế như thế
cả về khối lượng lẫn về chiều sâu.
+ Hegel là 1 nhà duy tâm nên đối với Hegel những tư tưởng trong đầu óc của
mình không phải là những phản ánh ít trừu tượng của những SV và quá trình
hiện thực, mà ngược lại, đối với ông, những SV và phát triển của chúng chỉ
là những phản ánh vốn là hiện thân của 1 “ý niệm” tồn tại ở 1 nơi nào đó
ngay trước khi có thế giới. Như vậy, tất cả đều bị đặt lộn ngược và mối liên
hệ thực hiện của thế giới đều hoàn toàn bị đảo ngược.
13. Hegel từng nói : " Cái gì hợp lý thì hiện thực và cái gì hiện thực thì hợp
lý". Hãy gthich câu nói trên? Ac có đồng ý hay không ?
* Phân tích:
- “Cái gì hợp lý thì hiện thực và cái gì hiện thực thì hợp lý” là luận điểm xuyên
suốt toàn bộ phép biện chứng của Hegel. Luận điểm này không chỉ thể hiện lập
trường muốn bảo vệ và duy trì nhà nước quý tộc Phổ cuối TK XVIII – đầu TK
XIX, cũng như mọi trật tự XH là bất công do nó sinh ra, mà còn:
+ Nó là sự khái quát nguyên lý xuất phát điểm và nền tảng của toàn bộ hệ
thống triết học, khẳng định tinh thần và vật chất, chủ thể và khách thể trên
cơ sở duy tâm. Vì vậy, mọi phạm trù logic không chỉ là những hình thức
duy chủ quan, mà thể hiện cả bản chất của SV khách quan. Xa rời tư tưởng
này, tức là khẳng định mọi “ý niệm, lý tưởng chỉ là những điều ảo tưởng và
triết học là 1 hệ thống những điều bịa đặt rỗng tuếch đó”.
+ Nó khẳng định sự thống nhất tư duy và tồn tại, tư tưởng và hiện thực là cả 1
quá trình phát triển biện chứng. Cái gì hợp với lý tính, hợp với quy luật tất
yếu thì chắc chắn sẽ hiện thực, sẽ xuất hiện. Và theo Hegel, hiện thực không
phải là sự tồn tại nói chung, mà là tồn tại trong quy luật tất yếu của nó. Chỉ
có những gì đã và đang tồn tại hợp với quy luật phát tiển tất yếu của chúng,
hợp với lý tính thì mới được coi là hiện thực.
+ Angghen nhận xét: “Trong quá trình phát triển, tất cả những gì trước kia là
hiện thực thì nay trở thành không hiện thực, mất tính tất yếu, mất quyền tồn
tại, mất tính hợp lí của chúng và hiện thực mới đầy sinh lực, thay thế cho
hiện thực đang tiêu vong. Theo tất cả các quy tắc của phương pháp tư duy
của Hegel thì mệnh đề về tính hợp lý của mọi cái gì là hiện thực, đã chuyển
thành 1 mệnh đề khác: mọi cái đang tồn tại đều đang tiêu vong”. Tư tưởng
này được thể hiện rõ trong nguyên lí phát triển của triết học Hegel.
* Bình luận: đồng ý hay không
14. Hãy gthich câu nói của Leonardo Da Vinci: "Sự thông thái là con gái của
kinh nghiệm "
- Chủ nghĩa duy lý cho rằng lý tính, chân lý là nguồn gốc của tri thức hay sự minh
giải. Nói cách khác, chủ nghĩa duy lý là học thuyết mà trong đó tiêu chuẩn về chân
lý không có tính giác quan mà có tính trí tuệ và suy diễn logic. Triết gia điển hình
gắn với chủ nghĩa duy lý là Descartes, ông được xem là 1 trong những trụ cột tiên
phong của trường phái duy lý, xem lý luận là lời giải cho hầu hết mọi vấn đề, kể cả
việc đi tìm sự thật, chân lý, là người tin tưởng sâu sắc vào sức mạnh trí tuệ con
người. Còn chủ nghĩa duy nghiệm cho rằng nguồn gốc của tri thức, của lý trí là
kinh nghiệm. Chủ nghĩa duy nghiệm nhấn mạnh đến các khía cạnh của tri thức
khoa học có quan hệ chặt chẽ với trải nghiệm, đặc biệt khi được tạo ra qua các sắp
đặt thử nghiệm có chủ ý. 1 yêu cầu căn bản của phương pháp khoa học là tất cả các
giả thuyết và lý thuyết đều phải được kiểm nghiệm bằng các quan sát về thế giới tự
nhiên thay vì chỉ dựa trên lập luận.
- Phê phán các quan niệm của thần học và giáo hội, Leonardo Da Vinci tìm cách
xây dựng một hệ thống thế giới quan khoa học thực sự dựa trên cơ sở của kinh
nghiệm và thực nghiệm. Với luận điểm "sự thông thái là con gái của kinh nghiệm",
Da Vinci đặc biệt đề cao vai trò của kinh nghiệm trong nhận thức. Ông khẳng định
khoa học nào mà không trải qua kinh nghiệm, tri thức nào mà không xuất phát từ
các giác quan của chúng ta thì đều sai lầm. Ông cũng không nhất trí với các quan
niệm duy cảm tầm thường, mà đề cao vai trò của lý luận trong nhận thức.
* Bình luận:
15. Phân tích quan niệm của Feuerbach về tôn giáo?
* Phân tích:
- Nguồn gốc của tôn giáo:
+ Tôn giáo thực chất là sự tha hóa của con người.
+ Tôn giáo bắt nguồn từ nhu cầu và giới hạn của con người. Con người bế tắc
trước thiên nhiên, bất lực trước bệnh tật và cái chết. Họ cảm thấy nhỏ bé và
yếu đuối.
+ Tôn giáo có nguồn gốc từ tâm lý, nhu cầu và hoàn cảnh XH.
- Bản chất của tôn giáo:
+ Feuerbach phê phán thần học và cho rằng tôn giáo có vai trò rất quan trọng
trong lịch sử TH. Ông coi tôn giáo là sản phẩm tất yếu cả tâm lý cá nhân và
bản chất con người. Con người ai cũng sợ chết vì thế cần có niềm tin và an
ủi. Bản chất của thần học do vậy mà chứa đựng trong nhân bản học, là sản
phẩm của sự tưởng tượng phong phú ở con người.
+ Ông coi tôn giáo là sự phản ánh của đời sống trần gian. Tôn giáo thể hiện sự
yếu mềm, bất lực của con người đối với những điều kiện XH. Tôn giáo thực
chất chỉ là sự thể hiện bản chất của con người dưới hình thức thần bí. “Tư
tưởng và dụng ý của con người ntn thì chúa của con như thế. Giá trị của
chúa không vượt quá giá trị con người. Ý thức của Chúa là tự ý thức của con
người, nhận thức của Chúa là tự nhận thức của con người”. Thực ra “bản
chất thần thánh không là cái gì khác, mà là bản chất của con người, nhưng
đã được tinh chế, khách quan hóa, tách rời với con người hiện thực bằng
xương bằng thịt”.
+ Tóm lại, tôn giáo là bản chất của con người đã bị tha hóa.
* Đánh giá:
- Giá trị:
+ Ông có công lao to lớn trong việc khôi phục và phát triển chủ nghĩa duy vật.
+ TH Feuerbach đóng vai trò là “chiếc cầu nối”, là “suối lửa” để từ TH Hegel
bước sang, chảy qua để đến với thế giới quan duy vật biện chứng triệt để của
TH Marx.
+ Feuerbach hoàn toàn không muốn xóa bỏ tôn giáo, ông muốn hoàn thiện tôn
giáo. Ngay cả TH cũng phải hòa vào tôn giáo. Thứ tôn giáo mà Feuerbach
đề cao hiểu theo nghĩa của ông là tôn giáo tình yêu, là quan hệ thân thiện
giữa người và người. Ông cho rằng nó phản ánh được cái gì đó vĩnh hằng
trong con người. Vì vậy, nó cần thiết phải tồn tại chừng nào XH loài người
còn tồn tại.
- Hạn chế:
+ Khi lí giải nguồn gốc và bản chất của tôn giáo, ông chưa đề cập đến những
cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa của nó. Marx nhận xét:
“Feuerbach hòa tan bản chất tôn giáo vào bản chất con người” và buộc phải
“không nói đến quá trình lịch sử và xem xét tình cảm tôn giáo một cách biệt
lập và giả định một cá nhân con người trừu tượng, cô lập”.
+ Ông thực tế chỉ phê phán Cơ Đốc giáo, còn tôn giáo nói chung theo ông vẫn
là điều cần thiết đối với đời sống con người.
16. Hãy làm rõ quan điểm tôn giáo tình yêu của Feuerbach. Ac có đồng ý
quan niệm trên hay không ?
* Quan điểm tôn giáo tình yêu của Feuerbach:
- Ông khẳng định rằng, những thời kì của lịch sử loài người sở dĩ khác nhau chỉ là
do những thay đổi các hình thức tôn giáo. Muốn XH tiến lên thì phải thay thế tôn
giáo cũ bằng tôn giáo mới – tôn giáo tôn thờ “tình thương yêu nhân loại”.
- Tôn giáo thực chất là sự phản ánh của con người. Feuerbach cho rằng tôn giáo
không phải là sản phẩm của thần linh mà là kết quả của quá trình tự nhận thức của
con người. Ông muốn nói rằng ông đã cố gắng hiểu tôn giáo từ bên trong, nghĩa là,
hiểu nó như người tin tưởng hiểu nó. Ông muốn để chính tôn giáo lên tiếng, tr
thành người lắng nghe khi người tin tưởng bình thường cầu nguyện, hát và đọc
thuộc lòng các tín điều.
- Feuerbach hoàn toàn không muốn xóa bỏ tôn giáo, ông muốn hoàn thiện tôn giáo.
Ngay cả TH cũng phải hòa vào tôn giáo. Thứ tôn giáo mà Feuerbach đề cao hiểu
theo nghĩa của ông là tôn giáo tình yêu, là quan hệ thân thiện giữa người và người.
Ông cho rằng nó phản ánh được cái gì đó vĩnh hằng trong con người. Vì vậy, nó
cần thiết phải tồn tại chừng nào XH loài người còn tồn tại.
* Bình luận:
17. Thể nào là hiện sinh vô thần và hiện sinh hữu thần ? Phân tích ND cơ bản
trong tư tưởng hiện sinh của Jaspers? “Tha nhân là địa ngục” của Sartre?
* HSVT và HSHT:
- Sơ lược về chủ nghĩa hiện sinh:
+ Ra đời ở Đức sau CTTG thứ 1, lan sang Pháp, nhanh chóng trở thành trào
lưu phát triển mạnh mẽ và có sức ảnh hưởng lớn ở châu Âu sau CTTG thứ 2.
+ Thuật ngữ “CNHS” có nghĩa là “sự tồn tại cá nhân cụ thể với 1 ý nghĩa nhất
định”.
+ CNHS là sản phẩm của cuộc khủng hoảng XH sâu sắc trên mọi khía cạnh.
+ CNHS là sự phản ứng của con người trước tình trạng bị tha hóa, bị bỏ rơi,
phải khoác trên mình đầy trách nhiệm với cộng đồng. Con người không thể
trông cậy vào bất cứ ai, bất cứ cái gì ngoài chính bản thân mình.
+ CNHS lấy việc nghiên cứu bản thân “hiện sinh” làm hạt nhân của bản thể
luận.
+ CNHS đề cao chủ thể tính, đề cao cái chủ quan, coi đây là hạt nhân cốt lõi
để phát triển tất cả những nội dung còn lại.
- Căn cứ vào cách giải quyết về sự tồn tại của Thượng đế, các nhà hiện sinh chia
CNHS thành nhánh vô thần và nhánh hữu thần:
+ Hiện sinh vô thần là không có sự hiện diện của bất kỳ khả năng siêu nhiên
nào trong một hiện tượng, sự kiện hoặc đối tượng. Đây là quan điểm không
tôn giáo, không tin vào sự tồn tại của các vị thần, thần linh hay các hình thái
siêu nhiên khác. Các nhà hiện sinh vô thần quan điệm đời là vô nghĩa, phi lí,
không có lực lượng nào có thể giải thoát cho con người.
+ Hiện sinh hữu thần là một khái niệm trong tín ngưỡng tôn giáo, được hiểu là
sự xuất hiện hay hiện diện của các thần hay linh hồn trong thế giới thực. Nó
thường được liên kết với những hiện tượng không thể giải thích bằng các
quy luật của khoa học thông thường. Hiện sinh hữu thần có thể xảy ra thông
qua các hiện tượng kỳ lạ (sự hiện diện của một thần trong dạng người, sự
hiện ra của một vật thần linh, hoặc các sự kiện siêu nhiên khác) mà người ta
cho là có thể được gán do sự can thiệp của thần. Các nhà hiện sinh hữu thần
có cùng quan niệm với các nhà hiện sinh vô thần nhưng họ trông mong vào
sự giải thoát của Thượng đế, kêu gọi con người vươn lên 1 cuộc sống siêu
nghiệm, ưu việt hơn.
Nội dung cơ bản trong tư tưởng hiện sinh của Jaspers:
- Theo Jaspers, không phải bất cứ con người nào, bất cứ ai cũng có thể vươn tới
cấp hiện sinh nhân vị. Từ cấp sự vật đến cấp hiện sinh, con người luôn cần đến một
bước nhảy, một sự vượt bỏ. Theo ông, con người tuy được sinh ra làm người,
nhưng do chưa thực sự vươn tới mức hiện sinh, nên họ vẫn sống chỉ như cây cỏ,
cầm thú, sống vô ý thức, vô trách nhiệm, sống nô lệ cho dư luận… và do vậy, họ
chỉ như những đơn vị người chứ chưa phải là những đơn vị tự do, và luôn bị giới
hạn trong những ràng buộc của cuộc sống. Với Jaspers, con người luôn có giới hạn
và mong muốn hướng tới hiện sinh, siêu việt và do vậy, nó phải trải qua các bước
nhảy để đi từ lĩnh vực vật chất tới lĩnh vực tinh thần của hiện sinh.
- Tồn tại và hiện sinh: Dưới lăng kính của Jaspers, tồn tại của con người thể hiện
trên 2 khía cạnh. Tồn tại chỉ đơn giản là sự có mặt ở đó, còn hiện sinh là sự tồn tại
có ý thức, được ý thức. Tồn tại thấp hơn hiện sinh, con người hiện sinh là con
người vượt lên khỏi đời sống vật chất, vượt lên trên sinh tồn để tìm kiếm ý nghĩa
đích thực của đời sống, nó trả lời cho câu hỏi “sống để làm gì?”. Hiện sinh chân
thật là sống để thể hiện định mệnh cao quý, độc đáo của mình, con người luôn ý
thức mình là chủ thể tự do, chủ động, sáng tạo trong việc thiết kế, tạo dựng nhân
cách của chính mình.
- Jaspers lí giải “chỉ mình con người có lịch sử, nghĩa là không sống bằng di sản
sinh lí như loài vật mà còn sống bằng cả di sản tinh thần. Nên đời sống con người
không trôi dạt theo tự nhiên mà phải được hướng dẫn bằng tự do”. Khi vươn tới
hiện sinh, con người là 1 tồn tại tự do. Có thể nói, tự do là đặc tính của tồn tại
người. Để trở thành nhân vị tự do và đạt được tự do, theo ông, con người phải ý
thức sâu xa về trách nhiệm làm người của mình và phải nắm lấy ý nghĩa nhân sinh
của cuộc đời mình và phải tự quyết về cuộc đời mình. Với quan niệm này, ông
phản đối việc sử dụng phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu con người, đặc
biệt là hiện sinh người và đề nghị thay thế phương pháp này bằng phương pháp
“soi vào hiện sinh”. Jaspers bàn đến 2 loại tự do, tự do tự tiện và tự do hiện sinh.
Tự do tự tiện là chiều theo những ham muốn, dục vọng của chính mình. Tự do hiện
sinh là sự tự trị của ý chí, thể hiện sự tự quyết, tự lựa chọn. Trong đời sống nhân
sinh, con người luôn phải đối mặt với những tình huống bắt nó phải lựa chọn
trong những tình huống khó khăn ấy khiến nó phải liều để quyết định lựa chọn 1
trong nhiều phương án đặt ra. Khi đó, con người phải tự chịu trách nhiệm về sự lựa
chọn của chính mình (tự do – trách nhiệm).
è Tự do hiện sinh là tự cho mình cơ hội để lựa chọn, tự mình quyết định và tự
mình chịu trách nhiệm với sự lựa chọn của mình.
- Siêu việt là tồn tại vượt quá giới hạn nhận thức của con người, nơi mà ý chí con
người bất lực không thể vươn tới được, theo Jaspers đó là Thiên Chúa. Con người
nhận ra siêu việt khi con người chạm phải những hoàn cảnh giới hạn. Từ đó, con
người nhận ra tính hữu hạn của chính mình. Khi nhận ra giới hạn của bản thân, con
người cũng nhận ra rằng có 1 sự tồn tại siêu việt vượt lên trên chính nó – đó là
Thiên chúa. Ở đời sống đích thực, con người không khép lại như con vật mà nó ý
thức được giới hạn của mình để vượt qua.
è HS chân thật là không ngừng vươn lên, hướng tới siêu việt để ngày càng thể
hiện đầy đủ định mệnh của chính mình. HS chân thật không thể tồn tại ngoài
tương quan với Thiên chúa mà phải coi Chúa là đích đến, là lý tưởng trong
công cuộc HS của con người. Bởi vậy, con người cần có đức tin.
* Đánh giá:
- Giá trị:
+ Thể hiện sự phản ứng của con người thời đại với thực tại Xh lúc bấy giờ.
+ Đề cao chủ quan tính, khẳng định sự hiện hữu của con người, góp phần
khẳng định bản chất hay nhân cách của mỗi người là do con người tự ý thức,
tự lựa chọn và quyết định.
+ Đề cao tự do lựa chọn của cá nhân gắn liền với trách nhiệm của cá nhân và
cộng đồng.
- Hạn chế:
+ Còn mang xu hướng phủ nhận thực tại, phủ nhận quy luật khách quan, tuyệt
đối hóa cảm xúc chủ quan.
+ Nhấn mạnh vai trò của nhận thức cảm tính dẫn đến phủ nhận khả năng nhận
thức lí tính.
+ Nhấn mạnh tự do đi cùng trách nhiệm nhưng lại xem xét tự do trong sự tách
rời với cái tất yếu, khẳng định tự do tuyệt đối, tự do quyết định và lựa chọn
hành động theo cảm xúc mà thực tế không có kiểu tự do tuyệt đối như vậy.
+ Tuyệt đối hóa khả năng lựa chọn cái tốt, cái thiện, cái đúng đắn cho mình và
cho cộng đồng của con người.
18. Trong tp Kinh Niệm về lý tính con người J.Locke viết : " Linh hồn chúng
ta khi mới sinh ra có thể nói như một tờ giấy trắng, không có một ý hiểu hay ý
niệm nào cả ". Hãy gthich luận điểm trên? Ac có đồng ý với luận điểm trên
hay không ?
Giải thích luận điểm: Nguyên lý khẳng định:
- Thứ nhất, mọi tri thức của con người không phải là bẩm sinh, mà là kết quả
của nhận thức con người.
- Thứ hai, mọi quá trình nhận thức đều phải xuất phát từ các cơ quan cảm
tính.
- Thứ ba, linh hồn con người không phải đơn thuần là “Tấm bảng sạch” hoàn
toàn thụ động đối với mọi hoàn cảnh xung quanh, mà có vai trò tích cực nhất
định.
- Ông phê phán học thuyết thừa nhận tồn tại các tư tưởng bẩm sinh của
Descartes và các môn phái theo học thuyết trên. Locke khẳng định, có nhiều
đứa trẻ, thậm chí nhiều người lớn tuổi nhưng vô học, đều không biết cả
những điều sơ đẳng. Hơn nữa, nếu khẳng định trong chungsta có tư tưởng
bẩm sinh thì như vậy toàn bộ quá trình nhận thức sẽ trở nên thừa, bởi vì điều
đó chẳng khác gì khẳng định rằng suy lý đã khám phá cho con người những
điều mà anh ta đã biết từ trước rồi. Cho nên, toàn bộ các tri thức, chân lý đều
là kết quả nhận thức của con người chứ không phải bẩm sinh.
- J.Locke nhận xét rằng: Trong số những người được giáo dục như nhau, tồn
tại 1 sự bất bình đẳng rất lớn về khả năng trí tuệ của họ.
è Trong việc phê phán học thuyết về các tư tưởng bẩm sinh, cũng như trong sự
khẳng định nguyên lý “Tấm bảng sạch”, J.Locke đứng trên lập trường duy
vật. Hạn chế của ông là chưa nhận thấy 1 cách đầy đủ cơ sở KT – XH của
học thuyết thừa nhận các tư tưởng bẩm sinh. Về mặt nhận thức, trên thực tế,
học thuyết duy tâm trên là kết quả của việc sùng bái, đề cao 1 cách phiến
diện vai trò của các khả năng cảm tính trong quá trình nhận thức. Thực chất
quan niệm trên đây xuất phát từ việc sùng bái vai trò của các ngành KHTN
lý thuyết đang phát triển mạnh thời kỳ này. Từ đó lý giải nguồn gốc của các
tri thức con người 1 cách duy vật.
* Bình luận:
19. Hãy gthich khái niệm Vật từ nó trong triết học của 1.Kant.
- Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, là chìa khóa để mở cánh cửa đi vào triết
học phê phán của ông. Theo I.Kant, “vật tự nó” có thể hiểu theo 3 nghĩa sau:
+ Thứ nhất, là những sự vật khách quan, tự nó tồn tại, không phụ thuộc vào
mọi hình thức nhận thức cảm tính và logic của con người, con người không
biết gì về nó.
+ Thứ hai, “vật tự nó” được I.Kant hiểu như những tồn tại tinh thần nhưng lại
là căn nguyên, là bản chất của thế giới, là cái tồn tại thực sự của thế giới mà
theo ông chúng thuộc về lĩnh vực siêu nghiệm và về nguyên tắc, con người
không thể nhận thức được nó.
+ Thứ ba, “vật tự nó” còn ám chỉ những chuẩn mực, lí tưởng đạo đức của sự
hoàn thiện tuyệt đối mà con người không thể đạt tới nhưng đó lại là những
điều mà nhân loại hằng mong ước: Chúa, tự do, sự bất tử của linh hồn.
Những đối tượng này thuộc thế giới bên kia, thế giới mà con người chỉ đạt
được bằng niềm tin tuyệt đối vô điều kiện chứ không phải bằng tri thức khoa
học – đối tượng của tín ngưỡng, niềm tin.
- Học thuyết “vật tự nó” nói riêng và TH Kant nói chung chứ đầy mâu thuẫn.
20. Phân tích quan niệm của Freud về cầu trúc tâm lý người . Nêu những ứng
dụng phân tâm học Freud trong một số lĩnh vực của đời sống XH. Vận dụng
quan điểm của Freud trong đời sống bản thân.
* Quan niệm của Freud về cấu trúc tâm lý người:
- Mô hình tâm lý thứ nhất: Freud xây dựng kết cấu quá trình tâm lí con người, gồm
ba cấp độ là ý thức, tiềm thức và vô thức.
+ Ý thức: là sự nhận thức thế giới bên ngoài, có liên quan trực tiếp đến kinh
nghiệm và bị điều kiện xã hội quy định. Hoạt động của ý thức luôn tuân theo
những quy luật, nguyên tắc nhất định, nguyên tắc thực tại. Ý thức bao giờ
cũng mang tính xã hội, song nó chỉ là một phần nhỏ và tạm thời trong đời
sống tinh thần của cá nhân.
+ Tiềm thức: là phần trung gian giữa ý thức và vô thức, bao gồm những gì
không thuộc về vô thức nhưng không còn trong ý thức nữa. Là những tri
thức, kỹ năng đã thuần thục và đi vào trong kho tàng ký ức, có thể nhớ lại,
gợi lại.
+ Vô thức: Theo Freud, vô thức là thành phần chủ yếu trong cấu trúc tâm
người, là động lực cơ bản tạo nên hành vi. Bản chất của vô thức là “khối bản
năng tình dục”, tạo ra 1 nguồn năng lượng giữ vị trí điều khiển hành vi của
con người. Cơ chế của vô thức là những ham muốn, dục vọng, khát vọng khi
không được thỏa mãn sẽ bị ức chế, dồn nén và bị đẩy vào tầng sâu của tâm
hồn. Khi bị dồn nén sẽ tạo ra 1 nguồn năng lượng rất lớn trong đó. Nó đợi cơ
hội để thoát ra, tham gia vào đời sống của chúng ta. Bản năng tính dục ấy sẽ
là tìm kiếm đối tượng để thỏa mãn và thế giới bên ngoài chính là đối tượng
để thỏa mãn.
è Tư tưởng Freud đã chỉ ra rằng, vô thức (phi lý tính) mới là động lực căn bản
của hành vi. Lý luận về vô thức của Freud đã góp phần rất lớn cho sự phát
triển của những trào lưu, những khuynh hướng TH tư sản hiện đại, đặc biệt
là những trào lưu, những khuynh hướng TH chống chủ nghĩa duy lý.
- Mô hình tâm lý thứ hai (cơ cấu toàn diện nhân cách): Cơ cấu nhân cách con
người được chia làm 3 cấp, cái nó, cái tôi và cái siêu tôi.
+ Tầng 1 - Cái Nó (cái bản năng/cái ấy):
Cái Nó là phần bản năng, gồm những ham muốn, dục vọng có trong
con người và mọi loài SV, là hiện thân của khoái cảm, xúc cảm.
Cái Nó ở tầng đáy trong cấu trúc nhân cách con người. Tầng đáy là
tầng bản năng, tầng hoạt động vô thức: thể hiện qua những hành động
không được kiểm soát bởi ý thức.
Hoạt động theo nguyên tắc khoái cảm: tìm kiếm niềm vui, lảng tránh
đau khổ.
+ Tầng 2 – Cái Siêu Tôi (siêu ngã):
Cái Siêu Tôi tức là “lương tâm”. Gồm những quy tắc, chuẩn mực đạo
đức, điều răn hay cấm kỵ của tôn giáo, của XH mà con người tiếp
nhận được từ thời thơ ấu của cha mẹ, nhà trường, XH và dần dần được
tích lũy vào nội tâm.
+ Tầng 3 – Cái Tôi (cái ngã):
Cái Tôi là tầng hoạt động có ý thức trong cấu trúc nhân cách của con
người, hoạt động theo nguyên tắc thực tế, thể hiện trong những hoạt
động được kiểm soát bởi ý thức. Thể hiện tính chủ động trong suy
nghĩ, hành động và cảm xúc của con người.
Cái Tôi là trung tâm điều khiển của toàn cục, có nhiệm vụ hòa giải
mâu thuẫn giữa cái Nó, cái Siêu tôi và cả điều kiện thực tế.
Cái Tôi phải thỏa mãn những ham muốn dục vọng của cái Nó.
Cái Tôi phải đáp ứng những khuyên nhủ, giới hạn của cái Siêu tôi.
Cái Tôi phải hoạt động theo nguyên tắc thực tế, bị điều kiện bên ngoài
chi phối.
è Tại mỗi thời điểm trong cuộc sống của chúng ta, cái Tôi, cái Nó và cái Siêu
tôi cùng sôi nổi hoạt động chung với nhau và đấu tranh để hướng tới thái độ
đúng đắn trong thực tế.
è Với cấu trúc này, Freud chỉ ra nguồn gốc của bệnh tâm thần là do mất cân
bằng trong hoạt động của tâm lý. Bước chuyển từ tình trạng bình thường
sang tình trạng loạn trí (tâm thần) không có ranh giới rõ rệt.
* Ứng dụng phân tâm học Freud trong một số lĩnh vực của đời sống XH:
- Phân tâm học có vai trò quan trọng trong sự phát triển của tâm lý học. Nó ảnh
hưởng lên cách ta tiếp cận điều trị cho các vấn đề sức khỏe tâm thần và tiếp tục ảnh
hưởng lên tâm lý học trong thời điểm hiện tại.
- Ứng dụng trong tham vấn và trị liệu tâm lý: Nhiều nghiên cứu đã xác nhận tính
hiệu quả của phương pháp, tâm động học và thuyết phân tâm học của Sigmund
Freud đã được chứng minh có hiệu quả trong việc điều trị rối loạn hoảng sợ cũng
như cải thiện các vấn đề về rối loạn cảm xúc ở trẻ em.
- Ứng dụng trong CTXH: Phân tâm học giúp nhân viên công tác xã hội nói chuyện
với thân chủ, giúp thân chủ nhận ra lý do của mọi hành vi, tìm ra gốc rễ của suy
nghĩ, cảm xúc, từ đó đưa ra cách giải quyết các vấn đề. Thân chủ có cơ hội tìm
hiểu thêm về bản thân, nhận ra những kiểu cảm xúc hoặc mối quan hệ có hại và
thay đổi hành vi của mình.
- Ứng dụng trong văn học: Một số kỹ thuật trong Phân tâm học có thể áp dụng vào
việc giải thích các tác phẩm văn học. Văn bản văn học giống như những giấc mơ,
thể hiện những mong muốn và lo lắng thầm kín trong vô thức của tác giả. Thông
qua phân tích tâm lý nhân vật, chúng ta có thể hiểu biết được phần nào tâm lý của
chính tác giả.
* Vận dụng quan điểm của Freud trong đời sống bản thân:
- Hiểu rõ về chính mình, quản lý cảm xúc, cải thiện các mqh.