Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
Sau ngày 30/4/1975 – mốc son lịch sử đánh dấu sự toàn thắng của cách mạng Việt Nam, đất
nước bước vào giai đoạn mới: hòa bình, thống nhất và độc lập hoàn toàn. Tuy nhiên, chặng
đường đi lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước không hề bằng phẳng. Trong bối cảnh quốc
tế, khu vực đầy biến động, kinh tế - xã hội đất nước kiệt quệ sau chiến tranh, và tình hình chính
trị - an ninh khu vực phức tạp, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện vai trò lãnh đạo toàn diện,
vừa kiến thiết đất nước trong hòa bình, vừa bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng.
1. Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước và định hình bộ máy chính quyền chung
Sau chiến thắng 1975, tuy đất nước đã thống nhất về mặt lãnh thổ, nhưng vẫn tồn tại hai chính
quyền – miền Bắc và miền Nam với hai hệ thống chính trị khác nhau. Do đó, nhu cầu cấp thiết là
cần hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước để tạo một thể chế chính trị và bộ máy lãnh
đạo thống nhất, đưa cả nước cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Tháng 11/1975: Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất đất nước được tổ chức tại TP.
Hồ Chí Minh với sự tham gia của đại diện nhân dân hai miền, thể hiện tinh thần đoàn kết
dân tộc, thống nhất ý chí.
Ngày 25/4/1976: Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung được tổ chức trên toàn quốc. Kết
quả cho thấy tỷ lệ cử tri đi bầu rất cao, phản ánh ý chí thống nhất và khát vọng hòa hợp của nhân dân cả nước.
Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI (2/7/1976): Ra quyết định lịch sử:
Đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Quy định Hà Nội là thủ đô của cả nước.
Đổi tên TP. Sài Gòn – Gia Định thành TP. Hồ Chí Minh, nhằm ghi nhớ công lao to
lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thống nhất bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương theo nguyên tắc tập
trung dân chủ, chuyên chính vô sản, nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
=> Việc thống nhất đất nước về mặt nhà nước là thắng lợi to lớn cả về chính trị – pháp lý lẫn
tinh thần – tư tưởng, tạo điều kiện căn bản để cả nước đồng lòng trong công cuộc phát triển kinh
tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976) – Định hướng chiến lược và khởi đầu xây
dựng CNXH trên phạm vi cả nước
Diễn ra từ ngày 14–20/12/1976 tại thủ đô Hà Nội, là đại hội đầu tiên sau thống nhất đất nước.
Chủ đề đại hội: “Nâng cao hơn nữa tinh thần làm chủ tập thể, phát huy khí thế cách mạng
và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh toàn diện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội và kiên quyết bảo vệ Tổ quốc.” Nội dung quan trọng:
Thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với định
hướng: đưa cả nước tiến lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Đề ra Kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1976–1980) với 4 nhiệm vụ lớn:
1. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý.
2. Khôi phục và phát triển nông nghiệp, giao thông vận tải.
3. Cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
4. Tăng cường quốc phòng – an ninh, bảo vệ Tổ quốc.
Đại hội IV cũng quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt
Nam, khẳng định vai trò lãnh đạo thống nhất trên cả nước.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, đất nước gặp nhiều khó khăn: -
Hậu quả chiến tranh để lại nặng nề. -
Thiên tai liên tiếp, cơ sở hạ tầng yếu kém. -
Áp dụng cơ chế quản lý kinh tế bao cấp, tập trung quan liêu, không phù hợp với thực tế. -
Kinh tế rơi vào khủng hoảng, sản xuất đình trệ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
Dẫu vậy, một số thành quả đáng ghi nhận:
Khôi phục sản xuất nông nghiệp, công nghiệp nhẹ.
Khởi công một số công trình lớn như thủy điện Hòa Bình.
Củng cố quốc phòng – an ninh trong bối cảnh đất nước bị đe dọa từ bên ngoài.
3. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (1982) – Bước chuyển nhận thức ban đầu về đổi mới tư duy kinh tế
Đại hội V của Đảng diễn ra từ 27–31/3/1982 tại Hà Nội, với sự tham dự của hơn 1.000 đại biểu.
Tổng Bí thư tại thời điểm này là đồng chí Lê Duẩn, sau đó đến năm 1986, Trường Chinh được
bầu làm Tổng Bí thư thay thế khi đồng chí Lê Duẩn qua đời.
Đại hội V bổ sung và phát triển đường lối chung mà Đại hội IV đã đề ra:
Khẳng định rõ nước ta đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên CNXH,
nhiều khó khăn, phức tạp và lâu dài.
Xác định hai nhiệm vụ chiến lược:
1. Xây dựng thành công CNXH.
2. Bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN.
Về chiến lược phát triển:
Xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, nhằm đưa sản xuất nông nghiệp lên sản xuất lớn XHCN.
Phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và một số ngành công nghiệp nặng thiết yếu.
Nhấn mạnh cơ cấu công – nông nghiệp hợp lý, phù hợp với đặc điểm thời kỳ đầu của quá độ lên CNXH. Hạn chế:
Dù đường lối là đúng đắn, nhưng tổ chức thực hiện còn cứng nhắc, thiếu linh hoạt.
Tình trạng trì trệ vẫn kéo dài do chưa đổi mới tư duy quản lý kinh tế.
4. Các bước đột phá đổi mới tư duy kinh tế trong nhiệm kỳ khóa V (1982–1986)
Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa V, các Hội nghị Trung ương đã
từng bước thúc đẩy quá trình đổi mới kinh tế:
Hội nghị Trung ương 6 (1984):
Đề ra đổi mới cơ chế phân phối – lưu thông.
Thúc đẩy gắn phân phối với hiệu quả lao động thay vì phân phối bình quân.
Xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa cứng nhắc, bước đầu hình thành tư duy thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Hội nghị Trung ương 7 (1984):
Ưu tiên đầu tư nông nghiệp – nhất là lương thực, thực phẩm.
Mở rộng khoán sản phẩm, trao quyền chủ động cho hợp tác xã.
Cải thiện lưu thông nông sản, từng bước tạo chuyển biến tích cực trong sản xuất nông nghiệp.
Hội nghị Trung ương 8 (1985):
Đề ra đổi mới đồng bộ ba khâu: giá – lương – tiền.
Chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN.
Tuy cuộc cải cách chưa thành công do chuẩn bị chưa đồng bộ, gây lạm phát và rối
loạn kinh tế – xã hội, nhưng vẫn được đánh giá là bước đột phá táo bạo và dũng cảm.
Hội nghị Bộ Chính trị (8-1986): -
Đưa ra kết luận quan trọng về quan điểm phát triển kinh tế:
Tập trung vào ba chương trình mục tiêu: lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng
thiết yếu và hàng xuất khẩu.
Lựa chọn hình thức cải tạo XHCN phù hợp theo từng vùng và quy mô.
Kết hợp chặt chẽ bố trí lại cơ cấu sản xuất và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế,
nhằm tạo động lực mới thúc đẩy phát triển.
=> Các hội nghị này đã đặt nền móng cả về lý luận và thực tiễn, chuẩn bị toàn diện cho sự ra đời
của đường lối đổi mới tại Đại hội VI (1986).