
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC
I- Khái niệm và đặc trưng
II- Nguồn gốc
III- Bản chất
IV- Chức năng
V- Hình thức
CHƯƠNG II: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
I- Khái niệm
II- Nguồn gốc
1. Quan niệm chung về nguồn gốc của pháp luật
2. Nguồn gốc của pháp luật theo chủ nghĩa mác-lênin
III. Bản chất
IV. Các thuộc tính của pháp luật
1. Tính quy phạm phổ biến
2. Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
3. Tính được đảm bảo bởi nhà nước (tính cưỡng chế)
V. Vai trò
VI. Chức năng
VII. Hình thức (cách thức thể hiện ý chí và phương thức tồn tại, dạng tồn tại của pháp luật)
CHƯƠNG III. QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT
I- Quy phạm pháp luật
1. Khái niệm
2. Đặc điểm
3. Cấu trúc
II- Quan hệ pháp luật
1. Khái niệm
2. Đặc điểm
3. Phân loại
4. Chủ thể quan hệ pháp luật
5. Sự kiện pháp lý
CHƯƠNG IV. THỰC HIỆN PHÁP LUẬT, ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ Ý THỨC PHÁP
LUẬT
I- Thực hiện pháp luật
II- Áp dụng pháp luật
III- Ý thức pháp luật
CHƯƠNG V. HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT, VI PHẠM PHÁP LUẬT, TRÁCH NHIỆM
PHÁP LÝ
I- Hành vi vi phạm pháp luật
II- Cấu thành vi phạm pháp luật
III- Các loại vi phạm pháp luật
IV- Trách nhiệm pháp lí
CHƯƠNG VI. ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VÀ HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT
I- Điều chỉnh pháp luật
II- Cơ chế điều chỉnh pháp luật

III- Hiệu quả pháp luật
CHƯƠNG VII. KIỂU NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT CỦA CÁC NHÀ NƯỚC
I- Chủ nô
II- Phong kiến
III- Tư sản
IV- Xã hội chủ nghĩa
CHƯƠNG VIII. NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
I- Khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
II- Đặc trưng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
III- Chức năng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
IV- Hình thức của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
CHƯƠNG IX. PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
I- Bản chất
II- Đặc điểm
III- Hệ thống pháp luật
CHƯƠNG X. NHÀ NƯỚC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ XHCN VIỆT NAM
I- Hệ thống chính trị
II- Vị trí và vai trò của Nhà nước trong hệ thống chính trị
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP
LUẬT
CHƯƠNG I- NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC
I- Khái niệm và đặc trưng
Nhà nước là tổ chức công đặc biệt có đủ bộ máy chuyên chế để cưỡng chế và thực hiệ các chức
năng quản lí xã hội và thực hiện mục đích của giai cấp thống trị và toàn xã hội.
- Đặc trưng:
+ CÓ chủ quyền quốc gia
+ QUẢN LÍ DÂN CƯ theo đơn vị hành chính lãnh thổ
+ Thiết lập QUYỀN LỰC CÔNG ĐẶC BIỆT
+ BAN hành pháp luật
+ ĐẶT ra thuế và THU thuế
II- Nguồn gốc
- Các quan điểm phi Mác-xít:
+ Thuyết thần quyền: thượng đế tạo ra nhà nước.
+ Thuyết gia trưởng: kết quả của sự phát triển gia đình và quyền gia trưởng.
+ Thuyết khế ước xã hội: nhà nước là sản phẩm của sự kí kết trước hết giữa những con
người.
+ Thuyết bạo lực: xuất hiện trực tiếp từ các cuộc chiến xâm lược đất, các thị tộc sử dụng
bạo lực và thị tộc thắng đặt ra 1 hệ thống cơ quan đặc biệt để nô dịch thị tộc thua.
+ Thuyết tâm lý: xuất hiện do nhu cầu tâm lý của con người nguyên thủy muốn phụ thuộc
vào thủ lĩnh lãnh đạo, dẫn dắt trong các cuộc chiến và chinh phục thiên nhiên.

Chính thể
quân chủ
Quân chủ
tuyệt đối
Quân chủ
hạn chế
Chính thể
cộng hòa
Cộng hòa
quý tộc
Cộng hòa
dân chủ
Dân chủ
nhân dân
Dân chủ tư
sản
Tổng thống
Đại nghị
Hỗn hợp
- Quan điểm Mác-Lênin: nhà nước không là 1 hiện tượng xã hội bất biến, vĩnh cửu mà nó
có quá trình hình thành, phát triển, vận động và tiêu vong khi những điều kiện khách
quan để nó tồn tại biến mất.
III- Bản chất
- Xã hội: nhà nước được tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu quản lý xã hội.
- Giai cấp: nhà nước được tạo ra nhằm bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị.
IV- Chức năng
- Căn cứ vào vị trí, vai trò của từng hoạt động nhà nước: chức năng cơ bản - không cơ bản
- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động: chức năng kinh tế, chính trị, bảo vệ trật tự pháp
luật, bảo vệ đất nước, xã hội của nhà nước
- Căn cứ phạm vi hoạt động: chức năng đối nội – đối ngoại
V- Hình thức
Hình thức là cách thức tổ chức và những phương pháp để thực hiện quyền lực
nhà nước
- Hình thức chính thể: cách thức và trình tự thành lập cơ quan cao nhất của quyền lực nhà
nước, xác lập mối quan hệ giữa cơ quan đó với cơ quan cấp cao khác và với nhân dân.
+ Quân chủ: toàn bộ (tuyệt đối) hoặc một phần (hạn chế) quyền lực tối cao của nhà nước được
trao cho một cá nhân (vua, quốc vương…) theo phương thức chủ yếu là cha truyền con nối (thế
tập).
+ Cộng hòa: những người không dựa vào bất kỳ một quy luật nào được trao cho quyền lực cao
nhất của nhà nước theo phương thức chủ yếu là bầu cử.

- Hình thức cấu trúc - Chế độ chính trị
CHƯƠNG II- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ PHÁP LUẬT
I- Khái niệm
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung dùng để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phù
hợp với ý chí của giai cấp thống trị.
II- Nguồn gốc:
1. Quan niệm chung về nguồn gốc của pháp luật
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, do nhu cầu của cuộc sống cộng đồng, các quan hệ xã
hội giữa người và người được điều chỉnh bằng các quy tắc đạo đức, phong tục, tập quán và các
quy tắc tôn giáo. Khi trong xã hội xuất hiện sở hữu tư nhân, sự phân chia giai cấp, người giàu,
người nghèo, người bóc lột và bị bóc lột, đồng thời, cũng nảy sinh những mâu thuẫn giai cấp
đối kháng, đòi hỏi phải có những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung được bả đảm thực
hiện bằng sức mạnh cưỡng chế đối với các thành viên trong xã hội và một tổ chức quyền lực
chính trị đặc biệt có bộ máy cưỡng chế đảm bảo cho các quy tắc xử sự đó được thực hiện.
Như vậy, những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Nhà nước cũng là những nguyên nhân
dẫn đến sự ra đời của pháp luật. Pháp luật hình thành bằng ba con đường chủ yếu sau nhà nước
thừa nhận những tập quán đã có từ trước phù hợp với lợi ích của mình và nâng lên thành pháp
luật. Bằng con đường này, nhà nước tạo ra hình thức pháp luật đầu tiên là tập quán pháp; nhà
nước thừa nhận các quyết định có trước về từng vụ việc cụ thể của cơ quan xét xử hoặc cơ quan
hành chính cấp trên để trở thành khuôn mẫu cho các cơ quan cấp dưới tương ứng giải quyết
những vụ việc tương tự xảy ra sau này. Con đường này tạo ra hình thức pháp luật thứ hai trong
lịch sử là án lệ pháp; nhà nước ban hành những quy phạm pháp luật mới để điều chỉnh các quan
hệ xã hội mới nảy sinh do nhu cầu quản lí và duy trì trật tự xã hội. Bằng con đường này hình
thức pháp luật thứ ba ra đời, đó là các văn bản quy phạm pháp luật. Đó cũng chính là nguồn gốc
của pháp luật.
2. Nguồn gốc của pháp luật theo quan điểm chủ nghĩa Mác - LêNin
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, pháp luật ra đời cùng với sự ra đời của nhà
nước. Những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước cũng chính là những nguyên nhân
dẫn đến sự ra đời của pháp luật.
Cấu trúc Nhà
nước
Nhà nước đơn
nhất
Nhà nước liên
bang
Chế độ chính trị
Dân chủ
Phản dân chủ

Trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có nhà nước nên cũng chưa có pháp luật. Để hướng
dẫn cách xử sự cho con người, xã hội nguyên thủy sử dụng phong tục tập quán, đạo đức, tín
điều tôn giáo... Các quy tắc ứng xử này hình thành một cách tự phát trong cộng đồng trên cơ sở
điều kiện hoàn cảnh kinh tế xã hội cụ thể lúc bấy giờ.
Khi điều kiện kinh tế, xã hội thay đổi, trong xã hội xuất hiện các quan hệ xã hội mới, tương
đối đa dạng, phức tạp mà các quy tắc đạo đức, phong tục tập quán... không điều chỉnh hết hoặc
điều chỉnh không có hiệu quả hoặc không thể điều chỉnh được. Trong điều kiện đó, nhà nước
xuất hiện, để tổ chức, quản lí đời sống xã hội phức tạp đó, nhà nước từng bước làm xuất hiện
một loại quy tắc ứng xử mới, đó chính là pháp luật. Thông qua nhà nước, pháp luật hình thành
bằng các con đường, một là, nhà nước thừa nhận các quy tắc xử sự có sẵn trong xã hội nhưng
phù họp với ý chí của nhà nước, nâng chúng lên thành pháp luật; hai là, nhà nước thừa nhận
cách giải quyết các vụ việc cụ thể trong thực tế, sử dụng làm khuôn mẫu để giải quyết các vụ
việc khác có tính tương tự; ba là, nhà nước đặt ra các quy tắc xử sự mới.
Pháp luật xuất hiện một cách khách quan, là sản phẩm của sự phát triển tự nhiên của đời
sống xã hội. Nhà nước không sinh ra pháp luật, trong sự hình thành pháp luật, nhà nước chỉ có
vai trò như người “bà đỡ”, nhà nước chỉ làm cho pháp luật “hiện diện” trong đời sống với
những hình thức xác định.
III- Bản chất:
Xã hội: bảo vệ các mối quan hệ xã hội, phòng chống hành vi vi phạm pháp luật.
Giai cấp: thể hiện ý chí và lợi ích giai cấp thống trị, điều chỉnh các mqh giữa các giai cấp.
IV- Các thuộc tính của pháp luật
1. Tính quy phạm phổ biến
Pháp luật chứa đựng những nguyên tắc, khuôn mẫu, mô hình xử sự chung, phù hợp với
đa số, đưa ra những giới hạn cần thiết mà nhà nước quy định để các chủ thể có thể xử sự một
cách tự do trong khuôn khổ cho phép.
+ Pháp luật có thể điều chỉnh một phạm vi quan hệ xã hội bất kỳ.
+ Được áp dụng nhiều lần trong không gian và thời gian.
2. Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
Nội dung của pháp luật được thể hiện trong những hình thức nhất định như tập quán
pháp, tiền lệ pháp, văn bản pháp luật. Văn bản QPPL được xác định chặt chẽ về thủ tục, thẩm
quyền ban hành.
Ngôn ngữ pháp lý rõ ràng, chính xác nhằm đảm bảo nguyên tắc: “Bất cứ ai khi ở vào điều
kiện hoàn cảnh đã được dự kiến trước cũng không thể làm khác được”.
3. Tính được đảm bảo bởi nhà nước (tính cưỡng chế)
+ Khả năng tổ chức thực hiện pháp luật của nhà nước.
+ Pháp luật do Nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận sự bảo đảm về nội dung của pháp luật).
+ Nhà nước đảm bảo cho pháp luật được thực hiện bằng các biện pháp: giáo dục, thuyết phục
và cưỡng chế.
V- Vai trò
Là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước.
Là phương tiện để nhà nước quản lý kinh tế, xã hội.
Góp phần tạo dựng những quan hệ mới.
Tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia
VI- Chức năng

Điều chỉnh các quan hệ xã hội
Bảo vệ các quan hệ xã hội
Giáo dục
VII- Hình thức (cách thức thể hiện ý chí và phương thức tồn tại , dạng tồn tại của pháp)
Tập quán pháp: là hình thức pháp luật có nguồn gốc từ các tập quán đã lưu truyền và phù
hợp với lợi ích của nhà nước,được nhà nước thừa nhận
Đặc điểm:
Nguồn gốc từ tập quán
Phù hợp với ý chí , lợi ích của giai cấp thống trị
Là tập quán nâng lên thành pháp luật
Tiền lệ pháp (án lệ ) : hình thức pháp luật thừa nhận quyết định của cơ quan xét xử đã có
hiệu lực trên thực tế để áp dụng cho những vụ việc, nội dung tương tự.
Ưu điểm: linh hoạt, đáp ứng và kịp thời điều chỉnh trước sự thay đổi của xã hội mà không
phải trải qua các thủ thuật phức tạp.
Nhược điểm: Thiếu tính hệ thống, khái quát,khó nhận định trong những điều kiện hoàn cảnh
khác nhau.
Văn bản quy phạm pháp luật: là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành
theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục luật định. (Là hình thức tiến bộ, được nhiều
quốc gia sử dụng là hình thức luật chủ yếu và phổ biến)
CHƯƠNG III- QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ QUAN HỆ
PHÁP LUẬT
I- Quy phạm pháp luật
1. Khái niệm:
Pháp luật thành văn.
2. Đặc điểm:
Quy tắc xử sự chung : khuôn mẫu,chuẩn mực cho hành vi của con người
Do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của nhà nước -> được nhà nước đảm
bảo thừa nhận
Thể hiện bằng hình thức xác định
3. Cấu trúc
Giả định (Nếu......): những hoàn cảnh , điều kiện có thể xảy ra
Quy định (thì/phải...): cách xử sự được phép hoặc buộc thực hiện
Chế tài (nếu không thì..): biện pháp nhà nước dự kiến áp dụng nếu không thực hiện
II- Quan hệ pháp luật
1. Khái niệm:
QHPL là những quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh .
2. Đặc điểm
+ Tính ý chí: Ý chí của nhà nước hoặc của các bên
+ Có cơ cấu chủ thể nhất định
+ Có nội dung là quyền và nghĩa vụ pháp lí của chủ thể
+ Được nhà nước đảm bảo thực hiện
3. Phân loại:

- Căn cứ vào tiêu chí phân chia các ngành luật: hình sự , dân sự , hành chính..
- Căn cứ vào nội dung: nội dung và hình thức
4. Chủ thể quan hệ pháp luật:
Là những cá nhân, tổ chức đáp ứng được những điều kiện mà pháp luật quy định cho mỗi
loại quan hệ pháp luật tham gia và QHPL đó.
Năng lực pháp luật:khả năng của chủ thể được hưởng quyền và nghĩa vụ pháp lí theo
quy định của pháp luật
Năng lực hành vi pháp luật: tuổi,khả năng nhận thức,tt sức khỏe,thể lực, trình độ chuyên
môn, tài sản...
Các loại chủ thể quan hệ pháp luật:
+ Cá nhân: công dân, người nước ngoài , người không quốc gia
+ Pháp nhân : tổ chức ( được thành lập,cơ cấu theo quy định của bộ luật, có tài sản độc lập với
các pháp nhân, cá nhân khác, nhân danh mình tham gia QHPL 1 cách độc lập)
+ Nhà nước: chỉ tham gia vào những quan hệ pháp luật hành chính, hình sự, công pháp quốc tế
5. Sự kiện pháp lí:
QHPL phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt dưới tác động của ba yếu tố: quy phạm pháp luật,
năng lực chủ thể, sự kiện pháp lí
Phân loại:
Căn cứ vào dấu hiệu ý chí :
Sự biến pháp lý: những hiện tượng xảy ra ngoài ý chí chủ quan của con người
Hành vi pháp lý: hành vi con người tham gia vào các QHXH được điều chỉnh bởi
pháp luật
Căn cứ vào biểu hiện khách quan, hành vi:
Hành vi hành động : cách xử sự chủ động của chủ thể
Hành vi không hành động:Cách xử sự thụ động của chủ thể
Căn cứ vào nội dung:
Hành vi hợp pháp
Hành vi bất hợp pháp
CHƯƠNG IV: THỰC HIỆN PHÁP LUẬT, ÁP DỤNG
PHÁP LUẬT VÀ Ý THỨC
I- Thực hiện pháp luật
- Tuân thủ (tuân theo): chủ thể kiềm chế không làm những gì pháp luật không cho phép
- Thi hành: nghĩa vụ phải thực hiện 1 số hành vi nhất định
- Sử dụng: cho phép chủ thể tự xử theo hướng nhất định
- Áp dụng: cơ quan nhà nước có thầm quyền sử dụng pháp luật
II- Áp dụng pháp luật
Áp dụng pháp luật là loạt động thực hiện pháp luật mang tính tổ chức quyền lực nhà
nước, được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc tổ chức xã hội
được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hoá quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể,
đối với cá nhân, tổ chức cụ thể.
Áp dụng pháp luật được tiến hành trong các trường hợp sau:

1) Khi xảy ra tranh chấp giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật về quyền và nghĩa vụ mà tự
họ không thể giải quyết được, phải nhờ cơ quan nhà nước (hoặc cơ quan của tổ chức xã hội) có
thẩm quyền giải quyết;
2) Khi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của
Nhà nước;
3) Khi cần áp dụng chế tài pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật;
4) Khi nhà nước thấy cần kiểm tra, giám sát hoạt động của các chủ thể quan hệ pháp luật hoặc
để xác định sự tồn tại hay không tồn tại của sự kiện thực tế có ý nghĩa pháp lí như xác nhận di
chúc, xác nhận văn bằng, chứng chỉ, hợp đồng viết tay, chữ kí của người có thẩm quyền...
III- Ý thức pháp luật
1. Khái niệm ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm, thái độ, tình
cảm của con người đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lí khác, thể hiện mối quan hệ giữa
con người đối với pháp luật (pháp luật đã qua, pháp luật hiện hành và pháp luật cần phải có)
và sự đánh giả về mức độ công bằng, bình đẳng; tính hợp pháp hay không hợp pháp... đổi với
các hành vi, lợi ích hoặc quan hệ từ thực tiễn đời sống pháp lí và xã hội.
2. Đặc điểm của ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật do tồn tại xã hội quy định. Mặc dù vậy, ý thức pháp luật có tính độc lập
tương đối với tồn tại xã hội. Nó phản ánh điều kiện tồn tại xã hội và là cơ sở nhận thức để cải
tạo, phục Vụ xã hội của con người. Gắn liền với sự vận động và phát triển của xã hội, ý thức
pháp luật tác động trở lại đối với tồn tại xã hội theo những chiều hướng khác nhau.
Ý thức pháp luật mang tính giai cấp.
Ý thức pháp luật được coi là tiền đề thiết yếu cho quá trình để tạo lập hay làm ra pháp
luật bằng những con đường, cách thức cụ thể khác nhau thông qua nhà nước.
Ý thức pháp luật có tính kế thừa trên cơ sở chọn lọc đối với một số nhân tố của ý thức
pháp luật trước đó, chẳng hạn như các nguyên lí, học thuyết của pháp luật hoặc các tư tưởng,
giá trị pháp lí ghi nhận về quyền con người...
Trong ý thức pháp luật có bộ phận tư tưởng khoa học về pháp luật có thể vượt lên trước
tồn tại xã hội. Đối với hệ tư tưởng pháp luật thì tri thức khoa học là yếu tố cơ bản bởi nó có thể
đem lại sự nhìn nhận khách quan đối với tồn tại xã hội.
Ý thức pháp luật có quan hệ và sự tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác
cũng như các hiện tượng khác của thượng tầng pháp lí. Nhìn chung, sự tác động của ý thức
pháp luật với ý thức chính trị, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo... luôn thể hiện ở sự đan xen,
tương hỗ lẫn nhau trong quá trình tồn tại và vận động. Sẽ là sự tác động tích cực nếu có sự phù
hợp giữa ý thức pháp luật với các loại hình ý thức đó và ngược lại, đó sẽ là nhân tố cản trở lẫn
nhau nếu giữa các phạm trù ý thức đó thiếu đi sự tương đồng cần thiết.
3. Cấu trúc của ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật, xét về cấu trúc, bao gồm hai bộ phận:
1) Tư tưởng pháp luật, đó là tổng thể những quan điểm, quan niệm, học thuyết,
sự hiểu biết về pháp luật;
2) Tâm lí pháp luật, đó là thái độ, tình cảm của con người đối với pháp luật.
Tình cảm đó có thể là sự đồng tình, sự vui mừng phấn khởi, sự tôn trọng pháp luật
hoặc là sự phản đối, sự thờ ơ, thiếu tôn trọng pháp luật.
Ý thức pháp luật có thể hiểu trên nhiều cấp độ khác nhau, vì vậy có thể phân

chia ý thức pháp luật thành các loại: ý thức pháp luật cá nhân, ý thức pháp luật giai
cấp, ý thức pháp luật xã hội.
4. Phân tích tác động của pháp luật đối với ý thức pháp luật
Pháp luật trong sự hình thành, tồn tại và phát huy giá trị của mình luôn chịu sự tác động
của ý thức pháp luật. Ngược lại, pháp luật cũng tác động đến sự vận động, phát triển của ý thức
pháp luật.
Xét từ góc độ chung, sự tồn tại của hệ thống pháp luật trở thành nhân tố, phương tiện
thúc đẩy sự phát triển của ý thức pháp luật trên thực tế. Điều này cũng có thể lí giải thêm bởi
chính pháp luật là “nguồn”, bộ phận cơ bản để tạo nên nội dung của hệ tư tưởng pháp luật cũng
như định hướng tâm lí pháp luật đối với các chủ thể.
Xét từ góc độ thực tế, cụ thể, pháp luật hoàn toàn không có khả năng tự tác động vào ý
thức của con người mà nó được chuyển hoá thông qua chính quá trình nhận thức của con
người. Như vậy, khi cá nhân con người có năng lực nhận thức, ý thức và sự hiểu biết pháp luật
tốt thì sự tác động của các quy định pháp luật lên ý thức của họ diễn ra theo chiều hướng thuận
lợi và khả năng đem lại hiệu quả cao. Ngược lại, đối với người năng lực nhận thức và ý thức
pháp luật thấp kém thì sự tác động của pháp luật lại diễn ra hạn chế, kém hiệu quả.
CHƯƠNG V: HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT, VI PHẠM PHÁP
LUẬT, TRÁCH NHIỆM PHÁP LÍ
I- Hành vi vi phạm pháp luật
Là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật do người có năng lực trách nhiệm pháp
lí thực hiện 1 cách cố ý hoặc vô ý
II- Cấu thành vi phạm pháp luật:
Tổng thể các dấu hiệu cơ bản ,đặc thù cho một loại vi phạm pháp luật cụ thể, được quy định
trong các vb QPPL
Mặt khách quan:
Hành vi trái pháp luật
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội: thiệt hại về vật chất, tinh thần,thể chất
MQH nhân quả
Các yếu tố khác:
Mặt chủ quan:
Lỗi: cố ý và vô ý
+ Cố ý trực tiếp: người vi phạm pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình , biết trước được
hậu quả và muốn hậu qủa xảy ra
+ Cố ý gián tiếp:người vi phạm pháp luật nhận thức rõ hành vi của mình,thấy trước hậu
quả tuy không mong muốn nhưg có ý thức để hậu quả xảy ra
+ Vô ý vì quá tự tin: người vi pháp pháp luật thấy trước hành vi của mình có thể gây ra
hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn
ngừa được nên đã thực hiện hành vi
+ Vô ý do cẩu thả : người vi phạm pháp luật gây ra hậu quả nhưng do cẩu thả nên không
thấy trước được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả đó, mặc dù phải thấy trước và có
thể thấy trước hậu quả đó

Động cơ vi phạm pháp luật
Mục đích vi phạm pháp luật
Chủ thể vi phạm pháp luật: cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lí đã
thực hiện hành vi trái pháp luật
Khách thể vi phạm pháp luật: những QHXH được nhà nước xác lập và bảo vệ bị chủ thể
vi phạm pháp luật xâm phạm hoặc đe dọa xâm hại
III- Các loại vi phạm pháp luật
- Hình sự (tội phạm): Là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự
- Hành chính: là hành vi xâm phạm trật tự nhà nước và xã hội
- Dân sự: là hành vi gây thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho các chủ thể khác, phải bồi
thường thiệt hại cho người thiệt hại
- Kỉ luật
IV. Trách nghiệm pháp lí
Nhà nước bằng ý chí đơn phương của mình buộc chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh
chịu những hậu quả bất lợi, được quy định ở bộ phận chế tài.
Phân loại:
+ Trách nhiệm hình sự
+ Trách nhiệm hành chính
+ Trách nhiệm dân sự
+ Trách nhiệm kỉ luật
CHƯƠNG VI: ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VÀ HIỆU QUẢ
PHÁP LUẬT
I- Điều chỉnh pháp luật
Là việc nhà nước dựa vào pháp luật, sử dụng những công cụ phương tiện nhằm mục đích
thiết lập một trật tự xã hội nhất định hoạt động theo khuôn khổ pháp luật..
Đặc điểm
+ Là một dạng của điều chỉnh xã hội.
+ Là điều chỉnh có tính định hướng, tính tổ chức và tính hiệu quả.
+ Là sự điều chỉnh được thực hiện thông qua 1 hệ thống các phương tiện pháp lý cơ bản, đặc
thù. Pháp luật nước ta đảm bảo mọi chủ thể đều thực hiện theo quy định của pháp
II- Cơ chế điều chỉnh pháp luật:
Một, giai đoạn định ra các quy phạm pháp luật
Cơ chế điều chỉnh pháp luật bắt đầu “hoạt động” bằng sự kiện đề ra các quy phạm pháp luật,
trong đó có quy định chi tiết, cụ thể từng nội dung. Mục đích của các văn bản này nhằm tạo ra
khuôn khổ pháp luật buộc các chủ thể phải hành động phù hợp với lợi ích của cộng đồng, của
sự phát triển xã hội xã hội.
Hai, giai đoạn áp dụng pháp luật
Là giai đoạn cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào các quy phạm pháp luật để ban hành các quyết
định áp dụng pháp luật.
Ba, giai đoạn xuất hiện các quan hệ pháp luật xuất hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý

của các chủ thể bao gồm các chủ thể như tổ chức kinh tế, chính trị của đơn vị sự nghiệp, công
lập nhà nước, các doanh nghiệp, công ty trong nước, công ty nước ngoài đang đầu tư tại nước
ta, các cá nhận mang quốc tịch Việt Nam…
Bốn, giai đoạn thực hiện quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý.
Đây là giai đoạn mà các chủ thể được phép thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong
khuôn khổ pháp luật quy định..
III- Hiệu quả pháp luật
Hiệu quả của pháp luật là kết quả cụ thể của sự tác động pháp luật đến các quan hệ xã
hội so với yêu cầu đặt ra khi ban hành pháp luật.
Hiệu quả của pháp luật có thể được đánh giá theo từng cấp độ khác nhau: hiệu quả của
quy phạm pháp luật, của chế định pháp luật, của ngành luật, của toàn bộ hệ thống pháp luật.
Những căn cứ để đánh giá mức độ hiệu quả của pháp luật là mục tiêu, yêu cầu đặt ra khi
ban hành pháp luật, chi phí cho việc thực hiện pháp luật và kết quả đạt được của việc thực hiện
pháp luật
CHƯƠNG VII: KIỂU NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT CỦA CÁC
NHÀ NƯỚC
I- Chủ nô
Nhà nước chiếm hữu nô lệ hay còn gọi là nhà nước chủ nô là kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch
sử, là tổ chức chính trị đặc biệt của giai cấp chủ nô. Nhà nước chủ nô là hình thái kinh tế – xã
hội có giai cấp dựa trên cơ sở chế độ người bóc lột người. Chế độ chiếm hữu nô lệ phát sinh
trong thời kỳ tan rã của công xã nguyên thủy. Hai giai cấp chính của chế độ chiếm hữu nô lệ là
chủ nô và nô lệ.
1. Bản chất của nhà nước chủ nô
– Tính giai cấp
Trong xã hội chủ nô có hai giai cấp cơ bản là chủ nô và nô lệ, bên cạnh đó còn có dân tự
nhiên.
Với nhà nước phương Tây, nô lệ là bộ phận dân cư đông đảo trong xã hội và có địa vị xã
hội vô cùng kém. Họ bị coi là tài sản thuộc sở hữu của chủ nô. Chủ nô có quyền tuyệt đối với
nô lệ như bóc lột sức lao động, đem bán, hoặc thậm chí là giết chết, đấu tranh giai cấp thường
xuyên xảy ra ở mức độ ngày càng gay gắt.
Ngược lại, trong nhà nước phương Đông, do nô lệ không phải là lực lượng sản xuất chủ
yếu mà là công xã nông thôn. Ngoài ra, Nô lệ chủ yếu làm công việc nhà trong gia đình chủ nô.
Họ vẫn có quyền lập gia đình, thậm chí còn được coi là một thành viên trong gia đình. Do vậy,
mâu thuẫn giữa giai cấp chủ nô và nô lệ vì thế không sâu sắc như phương Tây.
– Tính xã hội
Nhà nước chủ nô nảy sinh để quản lý xã hội, thay thế cho chế độ cộng sản nguyên thủy
không còn khả năng cai quản xã hội được nữa.
Nhà nước chủ nô tiến hành một số hoạt động vì sự tồn tại và phát triển chung của toàn xã
hội như tổ chức quản lý kinh tế ở quy mô lớn, quản lý đất đai, khai hoang,… làm cho đất nước
phát triển, nâng cao đời sống của nhân dân.
So với nhà nước phương Tây, nhà nước phương Đông thể hiện tính xã hội rõ nét hơn do

nhu cầu của cả cộng đồng xã hội mà việc tổ chức dân cư tiến hành công cuộc trị thủy, chống
ngoại xâm, quản lý đất đai và các hoạt động xã hội khác nhằm duy trì đời sống chung của cộng
đồng.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, yếu tố tư hữu dần dần hình thành, mâu
thuẫn giai cấp trong xã hội trở nên gay gắt và khi đó nhà nước dần mất đi ý nghĩa ban đầu của
nó.
2. Chức năng của nhà nước chủ nô
Nhà nước chủ nô gồm chức năng đối nội và chức năng đối ngoại chính sau:
a. Chức năng đối nội
– Chức năng củng cố và bảo vệ chế độ sở hữu
Với giai cấp chủ nô có quyền sở hữu tuyệt đối về tư liệu sản xuất và sức sản xuất từ nô lệ.
Bên cạnh đó, nhà nước chiếm hữu chủ nô còn quy định những biện pháp khác nhau nhằm
trừng phạt nghiêm khắc đối với những hành vi xâm phạm tới sở hữu của chủ nô.
– Chức năng đàn áp bằng quân sự đối với sự phản kháng của nô lệ và các tầng lớp lao động
khác
Xuất phát từ mẫu thuẫn sâu sắc giữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ mà nhà nước chủ
nô đã thực hiện đàn áp dã man bằng quân sự đối với các cuộc nổi dậy, phản kháng của nô lệ và
những người lao động.
– Chức năng đàn áp về tư tưởng
Bên cạnh việc đàn áp nô lệ bằng biện pháp quân sự, giai cấp chủ nô còn sử dụng biện
pháp đàn áp về tư tưởng. Nghĩa là giai cấp chủ nô lợi dụng sự kém hiểu biết của giai cấp nô lệ
mà đã sử dụng tôn giáo nhằm đàn áp. Thông qua nhà nước, giai cấp chủ nô đã xây dựng hệ tư
tưởng tôn giáo cho mình nhằm duy trì sự thống trị về mặt tư tưởng và duy trì tình trạng bất bình
đẳng trong xã hội để đàn áp và bóc lột nô lệ.
b. Chức năng đối ngoại
– Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược
Sự tồn tại của nhà nước nô lệ gắn liền với chế độ nô lệ. Nhà nước chủ nô hầu như không hạn
chế số lượng nô lệ thuộc sở hữu của mỗi chủ nô. Vì vậy, nhằm tăng cường số nô lệ của quốc gia
mình, chiến tranh chính là một trong những phương tiện chủ yếu của nhà nước nô lệ sử dụng
nhằm thôn tính và cướp bóc mở rộng lãnh thổ của mình. Nhưng chiến tranh cũng dẫn tới hậu
quả là mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ thêm sâu sắc và quan hệ giữa các nhà nước luôn trong
tình trạng căng thẳng.
– Chức năng phòng thủ đất nước
Cùng với chức năng xâm lược thì nhà nước nô lệ cũng chú trọng tới phòng thủ đất nước nhằm
chống lại các cuộc xâm lược từ bên ngoài. Để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, nhà nước chủ nô thực
hiện chức năng này thông qua tổ chức lực lượng quân đội, xây dựng các thành lũy, pháo đài,…
3. Bộ máy nhà nước chủ nô
– Đối với nhà nước ở phương Tây, tổ chức nhà nước khá hoàn thiện, trong bộ máy nhà
nước đã phân thành các cơ quan nhà nước với cách thức tổ chức và hoạt động dân chủ. Điểm
nổi bật trong nhà nước phương Tây chính là phân định rõ ràng giữa các cơ quan trong việc lập
pháp, hành pháp và tư pháp. Điển hình là nhà nước Aten, nhà nước La Mã và nhà nước Spác.
– Đối với nhà nước ở phương Đông, tổ chức bộ máy đơn giản hơn so với nhà nước
phương Tây. Nhà Vua có toàn quyền thực thi quyền lực nhà nước. Các quan lại từ trung ương

tới địa phương là bề tôi của nhà vua và giúp việc cho nhà vua. Điển hình cho nhà nước phương
Đông là Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ.
– Quân đội được quan tâm xây dựng để thực hiện việc chinh phạt và bảo vệ chủ quyền.
Những người chỉ huy quân đội được phong những tước hiệu và có chế độ ưu đãi. Vai trò của
quân đội ngày càng quan trọng khi các cuộc đấu tranh của giai cấp nô lệ ngày càng phát triển và
chiến tranh giữa các nước diễn ra thường xuyên.
– Lực lượng cảnh sát được hình thành nhằm giữ gìn trật tự xã hội nô lệ trong nước.
– Tòa án ở mỗi quốc gia chiếm hữu nô lệ có những điểm đặc trưng. Nhà nước phương
Tây thiết lập hệ thống vừa có quyền xét xử và vừa có quyền quản lý hoặc hệ thống chuyên trách
xét xử bởi các thẩm phán được bầu theo định kỳ. Còn ở nhà nước phương Đông, quyền xét xử
tối cao nằm trong tay nhà vua và quyền này được ủy quyền lại cho một tổ chức phụ thuộc trực
tiếp vào nhà vua.
4. Hình thức nhà nước chủ nô
a. Hình thức chính thể
– Chính thể quân chủ: hình thức nhà nước phổ biến ở nhà nước phương Đông cổ đại.
Đặc trưng của nhà nước này là quyền lực nhà nước tập trung vào người đứng đầu nhà
nước, đó là vua và hình thành theo nguyên tắc cha truyền con nối.
Giúp việc cho nhà vua là có hệ thống cơ quan nhà nước từ trung ương xuống địa
phương nhưng chủ yếu là những người có quan hệ dòng họ hoặc thân cận với
Hình thức chính thể quân chủ còn thể hiện nhà vua là người có quyền lực vô hạn và
toàn quyền quyết định mọi việc của nhà nước, không có bất cứ thiết chế nào làm hạn chế
quyền lực của nhà nước.
– Chính thể cộng hòa: thể hiện rõ nét tại nhà nước phương Tây nhưng chính thể cộng hòa ở
nhà nước phương Tây gồm cộng hòa dân chủ và cộng hòa quý tộc.
Chính thể cộng hòa dân chủ tồn tại ở nhà nước Aten vào thế kỷ thứ V – IV trước công
nguyên.
o Trong nhà nước này, cơ quan quyền lực nhà nước đều được hình thành bằng con
đường bầu cử và hoạt động theo nhiệm kỳ.
o Hội nghị công dân là cơ quan có quyền lực cao nhất, cứ khoảng 10 ngày họp một
lần. Hội nghị công dân có quyền thảo luận và biểu quyết tất cả các vấn đề liên quan tới nhà
nước, có quyền bầu ra các cơ quan và cá nhân thực thi quyền lực nhà nước theo kỳ hạn nhất
định.
o Nhưng bản chất chính thể cộng hòa dân chủ ở Aten là chính thể cộng hòa dân chủ
của chủ nô. Bởi nhà nước Aten được xây dựng trên cơ sở chế độ tư hữu và quan hệ bóc lột nô
lệ. Nó bảo vệ địa vị và quyền lợi của giai cấp chủ nô. Chỉ có chủ nô và rất ít người lao động tự
do mới được hưởng quyền chính trị, còn phụ nữ, kiều dân, nô lệ ở ngoài vòng sinh hoạt chính
trị.
Chính thể cộng hòa quý tộc tồn tại ở nhà nước Spác (thế kỷ VII – IV trước Công nguyên)
và La Mã (thế kỷ V – II trước công nguyên).
Đại hội nhân dân vẫn tồn tại nhưng không chiếm vị trí quan trọng, mà chỉ tiến hành bầu
những người tham gia vào các chức vụ trong bộ máy nhà nước, thông qua về mặt hình thức các
dự luật chứ không có quyền thảo luận và đóng góp ý kiến.
Cơ quan nắm quyền lực nhà nước trong nhà nước Spác là Hội nghị trưởng lão do giới
quý tộc bầu ra gồm hai vua có quyền lực ngang nhau và 28 thành viên đại diện cho 28 bộ lạc cũ

của người Spác hợp thành. Hội nghị trưởng lão có quyền lập pháp và giải quyết các vụ việc
quan trọng của đất nước.
Bên cạnh đó còn có hội đồng năm quan giám sát cũng do tầng lớp quý tộc bầu ra, là cơ
quan cao nhất được đại hội nhân dân bầu theo nhiệm kỳ một năm để giám sát hoạt động của hội
nghị trưởng lão, triệu tập và chủ trì đại hội nhân dân, có quyền giải quyết mọi công việc ngoại
giao, tài chính, tư pháp, kiểm tra tư cách công dân.
Còn ở nhà nước La Mã cũng có điểm tương đồng với nhà nước Spác.
Về mặt hình thức Đại hội nhân dân là cơ quan cao nhất nhưng quyền lực lại nằm trong tay
Viện nguyên lão.
Viện nguyên lão với các thành viên là những người thuộc tầng lớp quý tộc giàu sang, có
thế lực, đã từng nắm giữ các chức quan cao cấp. Viện nguyên lão có quyền quyết định hầu
hết các vấn đề quan trọng của nhà nước, có quyền thảo luận trước các dự luật, có quyền phê
chuẩn hoặc phủ quyết những nghị quyết của đại hội nhân dân. Nếu Viện nguyên lão không
đồng ý thì Đại hội nhân dân không thể thông qua các đạo luật.
Cơ quan hành pháp của nhà nước La Mã gồm hai hội đồng: Hội đồng chấp chính và Hội
đồng quan án do Đại hội nhân dân bầu ra theo nhiệm kỳ một năm, là cơ quan trực tiếp điều
hành công việc hàng ngày của đất nước.
b. Về hình thức cấu trúc
Hầu hết các nhà nước chủ nô đều có cấu trúc đơn nhất. Giai đoạn đầu, các nhà nước chưa có
sự cấu tạo nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ. Cùng với sự phát triển, các đơn vị
hành chính lãnh thổ mới từng bước được thiết lập.
c. Về chế độ chính trị
Các nhà nước chủ nô chủ yếu sử dụng phương pháp phản dân chủ để thực hiện quyền lực
của mình.
Các nhà nước phương Đông thực hiện quyền lực bằng phương pháp độc tài chuyên chế.
Các nhà nước phương Tây sử dụng các phương pháp ít nhiều có tính dân chủ hơn, song
vẫn thể hiện là một chế độ quân chủ tàn bạo, chuyên chế với đại bộ phận dân cư.
II- Phong kiến
1. Bản chất của nhà nước phong kiến
Tính giai cấp: Bộ máy chuyên chính của giai cấp địa chủ, phong kiến, là công cụ để thực
hiện và bảo vệ lợi ích, quyền, địa vị thống trị của giai cấp địa chủ, quý tộc phong kiến trong xã
hội trên cả 3 lĩnh vực: KT, CT, TT.
Tính xã hội: còn là tổ chức quyền lực chung của xã hội, là đại diện chính thức của toàn
xã hội nên NNPK có nhiệm vụ tổ chức và điều hành các hoạt động chung của xã hội vì sự tồn
tại và lợi ích chung của cả cộng đồng xã hội (+) tiến hành 1 số hoạt động nhằm phát triển kinh
tế – xã hội.
Tính xã hội mờ nhạt, hạn chế, tính giai cấp thể hiện công khai, rõ rệt.
2. Chức năng của nhà nước phong kiến
Bản chất của nhà nước phong kiến được quy định bởi các chức năng đối nội và đối ngoại của
nó.
a) Các chức năng đối nội cơ bản của nhà nước phong kiến bao gồm:
– Chức năng bảo vệ và phát triển chế độ sở hữu phong kiến, duy trì sự bóc lột của phong
kiến đối với nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác.
– Chức năng đàn áp sự chống đối của nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác.

– Chức năng đàn áp tư tưởng.
– Ngoài ra, nhà nước phong kiến còn tiến hành những hoạt động công cộng nhằm phát
triển kinh tế, văn hoá, xã hội như: ban hành chính sách quản lý đất đai, chính sách tiền tệ, làm
đường, làm thuỷ lợi… Tuy nhiên, hoạt động này chưa thường xuyên và rộng khắp trong các nhà
nước phong kiến mà chỉ xuất hiện ở từng quốc gia cụ thể vào từng thời kỳ cụ thể.
b) Các chức năng đối ngoại cơ bản của nhà nước phong kiến bao gồm:
– Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược.
– Chức năng phòng thủ chống xâm lược.
3. Bộ máy nhà nước phong kiến
Trong giai đoạn nhà nước phong kiến phân quyền cát cứ, chính quyền trung ương của
nhà nước phong kiến yếu, quyền lực thực sự nằm trong tay các lãnh chúa phong kiến. Các lãnh
chúa có quân đội riêng và toà án riêng, toàn quyền trong lãnh địa của mình.
Tới giai đoạn nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, bộ máy nhà nước phong kiến
được tổ chức tương đối chặt chẽ từ trung ương xuống đến địa phương. Ở trung ương, đứng đầu
triều đình là vua (hoặc quốc vương), giúp việc cho vua có các cơ quan với các chức vụ quan lại
khác nhau giúp vua thực hiện sự cai trị. Ở địa phương, cách tổ chức các cơ quan nhà nước còn
đơn giản, hầu như chưa có sự phân biệt giữa chức năng hành pháp và tư pháp, đội ngũ quan lại
địa phương cũng do vua bổ nhiệm.
Trong nhà nước phong kiến, các cơ quan: quân đội, cảnh sát, toà án vẫn là bộ phận chủ
đạo trong bộ máy nhà nước.
4. Hình thức nhà nước phong kiến
Hình thức chính thể phổ biến trong nhà nước phong kiến là quân chủ, lịch sử tổ chức
quyền lực nhà nước phong kiến cho thấy sự tồn tại và phát triển của chính thể quân chủ với
những biểu hiện cụ thể: quân chủ phân quyền cát cứ, quân chủ trung ương tập quyền, quân chủ
đại diện đẳng cấp và cộng hoà phong kiến.
Trong hình thức nhà nước quân chủ phân quyền cát cứ thì quyền lực nhà nước bị phân
tán, vua hoặc quốc vương không có toàn quyền, chỉ là “đấng thiêng liêng”, quyền lực thực sự
nằm trong tay các lãnh chúa phong kiến.
Trong hình thức quân chủ đại diện đẳng cấp, quyền lực nhà nước trung ương được tăng
cường trên cơ sở của sự ủng hộ của các lãnh chúa phong kiến vừa và nhỏ, cũng như tầng lớp cư
dân thành thị. Ở hình thức này, bên cạnh vua hoặc quốc vương còn có cơ quan đại diện đẳng
cấp, ví dụ như: Nghị viện ở Anh, Hội nghị quốc dân ở Nga, Hội nghị tam cấp ở Pháp. Cơ quan
đại diện này có thẩm quyền hạn chế trong lĩnh vực thuế và tài chính. Sự hiện diện của cơ quan
này cũng làm hạn chế quyền lực của nhà vua, vì thế khi quyền lực của vua được tăng cường
mạnh lên thì vua thường không tham dự hội nghị của cơ quan đại diện đẳng cấp nữa và tìm cách
loại bỏ nó.
Chính thể quân chủ trung ương tập quyền có đặc điểm là quyền lực nhà nước tập trung
vào tay vua hoặc quốc vương. Vua nắm toàn quyền nhưng trong hoạt động điều hành vua dựa
vào triều đình và bộ máy quan lại giúp việc từ trung ương xuống đến địa phương. Toàn bộ bộ
máy nhà nước từ trung ương xuống đến địa phương tạo thành một thể thống nhất.
Hình thức cộng hoà phong kiến tồn tại ở một số thành phố châu Âu (Phơlôrenxơ của
Italia, Nốpgôrớt và Psơcốp của Nga…) sau khi giành được sự tự quản bằng các con đường khác
nhau như: bỏ tiền ra mua sự tự trị từ nhà nước phong kiến, đấu tranh vũ trang…Quyền lực ở các
thành phố đó tập trung trong tay giới quý tộc thành thị tập hợp trong Hội đồng thành phố được

lập trên nguyên tắc bầu ra, chịu trách nhiệm điều hành các công việc và quan hệ của thành phố.
Chính ở các thành phố này đã sớm hình thành các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
III- Tư sản
Nhà nước tư sản là kiểu nhà nước ra đời, tồn tại và phát triển trong lòng hình thái kinh tế – xã
hội tư bản chủ nghĩa.
1. Bản chất của nhà nước tư sản
Bản chất của nhà nước tư sản do chính những điều kiện nội tại của xã hội Tư sản quyết
định, đó chính là cơ sở kinh tế, cơ sở xã hội và cơ sở tư tưởng.
Cơ sở kinh tế của nhà nước tư sản là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ tư hữu
tư bản về tư liệu sản xuất (chủ yếu dưới dạng nhà máy, hầm mỏ, đồn điền…), được thực hiện
thông qua hình thức bóc lột giá trị thặng dư.
Cơ sở xã hội của nhà nước tư sản là một kết cấu xã hội phức tạp trong đó có hai giai cấp
cơ bản, cùng tồn tại song song có lợi ích đối kháng với nhau là giai cấp tư sản và giai cấp vô
sản. Trong hai giai cấp này giai cấp giữ vị trí thống trị là giai cấp tư sản, mặc dù chỉ chiếm thiểu
số trong xã hội nhưng lại là giai cấp nắm hầu hết tư liệu sản xuất của xã hội, chiếm đoạt những
nguồn tài sản lớn của xã hội. Giai cấp vô sản là bộ phận đông đảo trong xã hội, là lực lượng lao
động chúnh trong xã hội. Về phương diện pháp lý họ được tự do, nhưng không có tư liệu sản
xuất nên họ chỉ là người bán sức lao động cho giai cấp tư sản, là đội quân làm thuê cho giai
cấp tư sản. Ngoài hai giai cấp chính nêu trên, trong xã hội tư sản còn có nhiều tầng lớp xã hội
khác như: nông dân, tiểu tư sản, trí thức…
Về mặt tư tưởng giai cấp tư sản luôn tuyên truyền về tư tưởng dân chủ – đa nguyên,
nhưng trên thực tế luôn tìm mọi cách đảm bảo địa vị độc tôn của ý thức hệ tư sản, ngăn cản mọi
sự phát triển và tuyên truyền tư tưởng cách mạng, tiến bộ của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động.
Nhà nước tư sản cũng có hai bản chất là tính giai cấp và tính xã hội:
* Tính giai cấp
– Thời kì 1: “NNTB là UB giải quyết công việc chung của gia cấp tư sản”: nhà nước đối xử với
các giai cấp tư sản hoàn toàn như nhau => nhà nước đều là phương tiện, công cụ giải quyết
công việc chung.
– Thời kì 2: “……………tập đoàn TB lũng đoạn” => NNTB sẵn sang tước đoạt, chà đạp quyền
lợi nhà tư bản nhỏ và vừa dưới danh nghĩa quốc hữu hóa vì quyền lợi quốc gia.
* Tính xã hội
Đặc điểm chung qua các thời kì:
– Giai đoạn của CNTB tự do cạnh tranh: TS và với là đồng minh chống phong kiến.
+ Cạnh tranh tự do cá thể
+ Chưa có yếu tố độc quyền
– Giai đoạn của CNTB độc quyền lũng đoạn nhà nước hay gđ chủ nghĩa đế quốc: bộ máy bạo
lực đàn áp phong trào đấu tranh.
+ Hình thành tập đoàn tư bản lớn sở hữu tập thể.
+ Xuất hiện sở hữu tư bản nhà nước (Tập đoàn tư bản khống chế, không phải sở hữu toàn
dân).
– Giai đoạn của CNTB hiện đại:
+ Yếu tố tư nhân hóa phát triển mạnh.
+ Người lao động có sở hữu tư liệu sản xuất.

2. Chức năng của nhà nước tư sản
Bản chất của nhà nước tư sản thể hiện thông qua các chức năng đối nội và đối ngoại của nó.
Chức năng của nhà nước tư sản chính là những phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước
nhằm thực hiện quyền lực nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống nhà nước và xã hội.
a) Chức năng củng cố, bảo vệ, duy trì sự thống trị của giai cấp tư sản
– Củng cố và bảo vệ chế độ tư hữu tư sản: Tất cả các nhà nước tư sản đều coi quyền tư hữu là
quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm. Thông qua pháp luật các nhà nước tư sản đã thiết lập và
bảo vệ quyền tư hữu cùng với sự giúp đỡ của tất cả bộ máy bạo lực và các biện pháp khác. Song
ở các giai đoạn phát triển khác nhau, nhà nước tư sản đã thực hiện chức năng này cũng khác
nhau, thích ứng với hoàn cảnh kinh tế của mỗi giai đoạn.
– Trấn áp các giai cấp bị trị về mặt chính trị: Đây là hoạt động thường xuyên của nhà nước tư
sản nhằm bảo vệ địa vị thống trị về chính trị của giai cấp tư sản. Tuy vậy hoạt động này cũng có
những biểu hiện khác nhau. Trong giai đoạn đầu, để bảo vệ địa vị thống trị của mình, nhà nước
tư sản thướng sử dụng bộ máy bạo lực đàn áp trực tiếp các phong trào đấu tranh của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động. Trong giai đoạn hiện nay, nhà nước tư sản vẫn duy trì sự đàn
áp chính trị nhưng dưới những hình thức, phương pháp ngụy trang tinh vi hơn, như: quy định
các hình thức, thể thức ứng cử, bầu cử…
– Trấn áp giai cấp bị trị về mặt tư tưởng: Một mặt nhà nước tư sản luôn tuyên truyền về tinh
thần dân chủ đa nguyên, nhưng trên thực tế trong tất cả các giai đạo phát triển các nhà nước tư
sản luôn tìm mọi cách nhằm đảm bảo địa vị độc tôn của ý thức hệ tư sản, ngăn cản việc truyền
bá những tư tưởng cách mạng, tiến bộ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Hoạt động
này được bảo đảm bởi sự liên kết giữa nhà nước tư sản với các thế lực tôn giáo và hệ thống các
phương tiện thông tin đại chúng.
b) Chức năng kinh tế
Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do chức năng này chưa được chú trọng.
Chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, nhà nước tư sản từng bước can thiệp vào
lĩnh vực kinh tế, và khi chủ nghĩa tư bản độc quyền chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền
nhà nước thì sự can thiệp này được tăng cường và làm nảy sinh chức năng mới – chức năng
kinh tế.
Mục đích của chức năng này nhằm tạo ra các điều kiện, các đảm bảo vật chất, kỹ thật,
pháp lý và chính trị cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tập đoàn tư bản, đảm bảo sự
tăng trưởng của nền kinh tế tư bản, ngăn ngừa và khắc phục những nguyên nhân dẫn đến tình
trạng khủng hoảng kinh tế.
Để thực hiện chức năng này, nhà nước tư sản sử dụng hàng loạt các hình thức và phương
pháp như: sử dụng hệ thống đòn bẩy kinh tế, các kích thích kinh tế thể hiện trong các tác động
mang tính hành chính – kinh tế lên hệ thống các quan hệ kinh tế.
Sự biểu hiện của chức năng này thể hiện:
+ Nhà nước tư sản căn cứ vào tình hình kinh tế – xã hội để xây dựng và đưa ra các
chương trình kinh tế cụ thể.
+ Nhà nước thông qua chương trình đầu tư tài chính nhằm phục vụ trực tiếp cho các
chương trình và mục tiêu kinh tế.
+ Nhà nước đưa ra và thực hiện các chính sách tài chính – tiền tệ, chính sách thuế, chính
sách thị trường thích hợp với điều kiện và nhu cầu phát triển kinh tế.

+ Nhà nước áp dụng các biện pháp để bảo vệ nền sản xuất trong nước trước sức ép của
thị trường kinh tế quốc tế.
c) Chức năng xã hội
Nhà nước tư sản thực hiện chức năng xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội như: việc
làm, thất nghiệp, dân số, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, vấn đề bảo trợ xã hội cho người già,
giải quyết các tệ nạn xã hội…Chính sách xã hội và việc thực hiện chức năng xã hội của nhà
nước tư sản tuỳ thuộc vào tương quan các lực lượng chính trị trong nhà nước tư sản ở các giai
đoạn phát triển và trong từng quốc gia cụ thể.
d) Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược và chống phá các phong trào cách mạng thế giới
Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược để mở rộng thuộc địa là chức năng đối ngoại
chủ yếu của nhà nước tư sản thời kỳ chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do. Các nhà nước tư sản tìm
mọi cách xâm lược các vùng đất mới hoặc gây chiến tranh với nhà nước tư sản khác để chia lại
thế giới, xác định quyền thống trị hay mở rộng vùng ảnh hưởng của mình.
Khi hệ thống xã hội chủ nghĩa được thiết lập, chức năng đối ngoại chủ yếu của các nhà
nước tư sản là tiến hành chống phá các nước xã hội chủ nghĩa, đe doạ, chia rẽ phong trào giải
phóng dân tộc.
e) Chức năng đối ngoại hoà bình, hợp tác quốc tế
Trong giai đoạn hiện nay bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi vì thế nhiều nhà nước tư sản
có sự thay đổi tích cực trong quan hệ đối ngoại, giải quyết các vấn đề quốc tế thông qua đối
thoại với những chính sách đối ngoại mềm dẻo. Bên cạnh đó, các nhà nước tư sản tăng cường
mở rộng các hình thức hợp tác quốc tế trong nhiều lĩnh vực phát triển xã hội như: kinh tế, văn
hoá – xã hội, môi trường, khoa học – kỹ thuật, các vấn đề nhân đạo… với các nước có chế độ
chính trị khác nhau.
3. Bộ máy nhà nước tư sản
Các nhà nước tư sản dù được tổ chức dưới hình thức chính thể nào thì vẫn đều có chung
một cách thức tổ chức bộ máy nhà nước trên cơ sở thuyết phân quyền nhằm chống lại sự độc
đoán chuyên quyền của chế độ chuyên chế phong kiến, giải quyết những vấn đề thuộc nội bộ
của giai cấp tư sản và che đậy bản chất thực của mình trước quần chúng nhân dân lao động.
Nội dung của thuyết phân quyền là sự phân chia quyền lực nhà nước thành 3 nhánh
quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba nhánh quyền này phải được giao cho ba cơ quan nhà
nước khác nhau nắm giữ trên một cơ chế kìm chế, đối trọng nhau nhưng độc lập với nhau, yếu
tố chủ đạo của học thuyết là “dùng quyền lực để hạn chế quyền lực”.
Trên cơ sở của nguyên tắc phân chia quyền lực, về cơ bản bộ máy nhà nước tư sản bao
gồm những bộ phận sau:
a) Nghị viện
Về hình thức, nghị viện tư sản là cơ quan quyền lực cao nhất, nắm quyền lập pháp. Về cơ
cấu tổ chức nghị viện tư sản cớ thể được tổ chức theo cơ cấu 1 viện cũng có thể được tổ chức
theo cơ cấu nhiều viện nhưng phần lớn các nước có cơ cấu 2 viện: thượng nghị viện và hạ nghị
viện. Với nghị viện có cơ cấu 2 viện về nguyên tắc thượng nghị viện có ít quyền hơn so với hạ
nghị viện và được hình thành bằng nhiều hình thức khác nhau: bầu, bổ nhiệm, thừa kế… Hạ
nghị viện được hình thành bằng hình thức bầu cử.
Quyền lực của nghị viện tư sản ở các giai đoạn phát triển khác nhau của nhà nước tư sản
cũng hết sức khác nhau. Ơ giai đoạn đầu của nhà nước tư sản vai trò của nghị viện là hết sức
lớn. Đây chính là chế định dân chủ nhất trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước tư sản, là cơ sở

hợp pháp để giai cấp tư sản đấu tranh gạt bỏ đặc quyền, đặc lợi của giai cấp phong kiến, điều
này hoàn toàn đúng với câu nói:“nghị viện Anh có thể làm được mọi việc trừ việc biến đàn bà
thành đàn ông”. Chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, chế độ nghị viện mất dần vai trò là
trung tâm quyền lực chính trị, ảnh hưởng của nghị viện trong đời sống nhà nước bị giảm sút do
xu hướng tập trung quyền lực vào hệ thống cơ quan hành pháp. Hiện nay, việc xem xét sự phát
triển của nghị viện tư sản là hết sức phức tạp và khó khăn, bởi lẽ nghị viện tư sản hiện nay
không đơn thuần chỉ là cơ quan lập pháp mà đóng vai trò quan trộng đối với quá trình phát triển
dân chủ (đặc biệt ở những nước mà các đảng cánh tả nắm được đa số ghế trong nghị viện).
b) Nguyên thủ quốc gia
Nguyên thủ quốc gia là người người đớng đầu nhà nước, đại diện cho các quốc gia trong
các quan hệ đối nội và đối ngoại.
Chức vụ này trong các nhà nước có các hình thức chính thể khác nhau, sự hình thành và
thẩm quyền cũng hết sức khác nhau. Trong các nhà nước có hình thức chính thể quân chủ lập
hiến nguyên thủ được hình thành bằng con đường truyền kế, và được nhìn nhận như là biểu
tượng cho truyền thống và sự thống nhất dân tộc (Nhật Bản, Vương quốc Anh…).
Ở các nước có chính thể cộng hoà, nguyên thủ quốc gia được hình thành thông qua con
đường bầu cử. Tuy nhiên thẩm quyền của họ cũng hết sức khác nhau ở các loại hình chính thể
khác nhau. Nếu như trong chính thể cộng hoà tổng thống quyền lực của nguyên thủ là hết sức
lớn, vừa là người đứng đầu nhà nước, vừa là người đứng đầu cơ quan hành pháp (Mỹ, Mêxicô,
Philippin…), thì trái lại ở những nước có chính thể cộng hoà đại nghị cũng giống như các nước
có chính thể quân chủ lập hiến, nguyên thủ quốc gia phần lớn mang tính chất đại diện hình thức.
Tuy nhiên, nguyên thủ quốc gia cũng có ảnh hưởng nhất định trong việc thành lập chính phủ
hoặc trong một số vấn đề khác nhờ sử dụng sứ mạng đạo đức và là biểu tượng của vị đứng đầu
đầu nhà nước (Đức, Ý, Nhật Bản…).
c) Chính phủ
Chính phủ là cơ quan nắm quyền hành pháp trong nhà nước tư sản. Chính phủ đóng một
vai trò cực kỳ quan trọng và giữ vị trí trung tâm trong bộ máy nhà nước. Trên thực tế, chính
phủ tư sản quyết định phần lớn các chính sách đối nội và đối ngoại của nhà nước tư sản.
Cách thức hình thành chính phủ trong các nhà nước tư sản cũng hết sức khác nhau. Đối
với những nước có chính thể cộng hoà tổng thống, chính phủ được thành lập không phụ thuộc
vào nghị viện, đứng đầu chính phủ là tổng thống, những nước này không đặt ra chức vụ thủ
tướng. Đối với các nước có chính thể cộng hoà đại nghị hoặc quân chủ đại nghị, chính phủ được
thành lập trên cơ sở của đảng chính trị nắm đại đa só ghế trong nghị viện. Thủ tướng chính phủ
và các thành viên chính phủ có thể do tổng thống bổ nhiệm (Italia, Pháp, Nhật), có thể do tổng
thống kết hợp với nghị viện bầu (Đức).
d) Toà án
Toà án tư sản nắm quyền tư pháp, Toà án có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện
quyền lực chính trị của giai cấp tư sản.
Các thẩm phán của nhà nước tư sản thường có tính chuyên nghiệp cao, chủ yếu được bổ
nhiệm với nhiệm kỳ dài, thậm chí ở một số nước là nhiệm kỳ suốt đời, nếu bảo đảm sức khỏe và
không phạm tội.
Tuy nhiên ở các hệ thống pháp luật khác nhau, thẩm quyền và phương thức hoạt động
của toà án cũng khác nhau, đặc biệt là giữa hệ thống pháp luật Ăng lô – Xắc xông và Hệ thống
pháp luật Châu Âu lục địa.

Bên cạnh hệ thống toà án cổ điển, nhà nước tư sản còn thiết lập các toà án khác như: toà
hành chính, toà thương mại, toà vị thành niên, toà bảo hiến…
4. Hình thức nhà nước tư sản
Xét dưới góc độ khoa học pháp lý, hình thức nhà nước tư sản gồm: Hình thức chính thể, hình
thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị.
a) Hình thức chính thể tư sản
– Chính thể quân chủ lập hiến:
+ Chính thể quân chủ nhị nguyên thể hiện tính song phương quyền lực giữa nhà vua và
nghị viện. Vua chỉ bị hạn chế trong lĩnh vực lập pháp mà không bị hạn chế trong lĩnh vực hành
pháp. Các đạo luật do nghị viện thông qua phải có sự phê chuẩn của nhà vua.Chính phủ chịu
trách nhiệm trước nhà vua. Hình thức này chỉ tồn tại ở nhà nước tư sản trong giai đoan đầu
(Nhà nước Phổ thời kỳ đệ nhị đế quốc, 1871 – 1918 và nhà nước Nhật theo Hiến pháp Minh Trị
1889).
+ Hình thức quân chủ đại nghị thể hiện tính hình thức của quyền lực nhà vua. Nhà vua,
với tính cách là nguyên thủ quốc gia chỉ là người đại diện tượng trưng chứ không nắm quyền
hành thực tế. Trên thực tiễn, nhà vua không nắm quyền lực trên cả lĩnh vực hành pháp và lập
pháp. Các đạo luật do nghị viện thông qua và nhà vua không có quyền phủ quyết. Chính phủ do
nghị viện thành lập và phải chịu trách nhiệm trước nghị viện (Anh, Nhật bản theo Hiến
pháp1946…)
– Chính thể cộng hoà tư sản
+ Ở chính thể cộng hoà tổng thống, vai trò của nguyên thủ quốc gia là rất quan trọng.
Tổng thống vừa là người đứng đầu nhà nước, vừa là người đứng đầu chính phủ, do nhân dân
trực tiếp bầu ra hoặc do các đại biểu cử tri bầu ra. Các thành viên của chính phủ do tổng thống
lựa chọn và bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước tổng thống. Tổng thống có quyền phủ quyết các
dự luật của nghị viện. Nghị viện không có quyền giải tán chính phủ trừ trường hợp tổng thống
phạm tội nghiêm trọng bị hạ viện khởi tố và thượng viện xét xử theo thủ tục đặc biệt (thủ tục
đàn hạch).
+ Ở chính thể cộng hoà đại nghị, vai trò của nghị viện là rất lớn, nghị viện là thiết chế
quyền lực trung tâm trong cơ chế thực thi quyền lực nhà nước. Nghị viện bầu ra nguyên thủ
quốc gia (tổng thống) và đảng chính trị nắm đa số ghế trong nghị viện có quyền thành lập chính
phủ, chính phủ chịu trách nhiệm trước nghị viện và có thể bị nghị viện giải tán, vai trò của tống
thống không lớn (Liên bang Đức, Ý, Áo).
+ Ngoài chính thể cộng hoà tổng thống và chính thể cộng hoà đại nghị, hiện nay còn xuất
hiện và tồn tại hình thức cộng hoà hỗn hợp giữa cộng hoà tổng thống và cộng hoà đại nghị
(Pháp, Bồ đào Nha). Trong hình thức chính thể này, những đặc điểm của cộng hoà đại nghị
được bảo lưu nhưng bên cạnh đó lại tăng cường quyền lực của tổng thống. Tổng thống được
tuyển cử qua hình thức phổ thông đầu phiếu. Chính phủ do tổng thống bổ nhiệm, người đứng
đầu chính phủ là thủ tướng nhưng tổng thống vẫn có quyền điều hành hoạt động đối với chính
phủ. Trong trường hợp cần thiết, tổng thống có quyền giải tán cả nghị viện.
b) Hình thức cấu trúc nhà nước tư sản
Hình thức cấu trúc liên bang là sự hợp thành từ nhiều bang thành viên, song mỗi thành
viên của liên bang không có đầy đủ các dấu hiệu của một nhà nước độc lập. Mặc dù mỗi thành
viên đều có lãnh thổ riêng, hiến pháp riêng, hệ thống chính quyền riêng song bang không có chủ
quyền quốc gia riêng (không là chủ thể của luật pháp quốc tế). Nhà nước liên bang có hiến pháp
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.