Cơ hội:
1. Các hiệp định thương mại tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy năng suất
Điều này là nhờ khả năng cắt giảm thuế và các rào cản thương mại
giữa các nền kinh tế theo các hiệp định FTA. Ước tính mức gia tăng
GDP vào năm 2030 là 2,4% theo năng suất thông thường so với kịch
bản cơ sở, và có thể lên đến 6,8% nếu có các biện pháp kích thích
tăng năng suất .Mức gia tăng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu sẽ
lần lượt 12% và 14%, và lên đến 18% nếu có các biện pháp kích thích
năng suất.
Thương mại cải thiện năng suất nhờ các hiệp định thương mại với các
nền kinh tế lớn thế giới, theo ba cách quan trọng. Thứ nhất, nhập
khẩu khiến các doanh nghiệp trong nước chịu áp lực cạnh tranh lớn
hơn, đồng thời giúp họ tiếp cận với nhiều đầu vào hơn và tốt hơn.
Thứ hai, các nhà xuất khẩu tăng năng suất bằng cách học hỏi từ các
khách hàng nước ngoài và thông qua việc tiếp xúc với sự cạnh tranh
từ các nhà sản xuất nước ngoài. Thứ ba, bên cạnh việc tăng năng suất
trong các doanh nghiệp, thương mại thúc đẩy việc phân bổ lại các
nguồn lực giữa các doanh nghiệp, hướng tới năng suất cao nhất.
2. Tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Mức độ đầu tư trong nước đã giảm mạnh mặc dù cán cân vãng lai
thặng dư lần đầu tiên trong năm 2015 gây ra mối lo ngại đối với tăng
trưởng bền vững trong thời gian dài của việt nam. Vì vậy nguồn vốn
nước ngoài là điều cần thiết để việt nam để trang trải cho tỉ lệ tiết
kiệm còn thấp( thâm hụt trong tiết kiệm), các nguồn đầu tư như vậy
có khả năng tiếp tục là đầu tư châu Á và đầu tư được thu hút bởi các
cam kết của Việt Nam trong các hiệp định thương mại và đầu tư. FDI
công nghệ cao được coi là chất xúc tác cho sự tăng trưởng và phát
triển ở Việt Nam, do hiệu ứng lan tỏa có thể đạt được nhờ chuyển
giao bí quyết, đổi mới, năng suất và tinh hoa nhanh hơn. FDI cũng
hỗ trợ tăng cường sự tham gia của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn
cầu, Những yếu tố này cũng rất quan trọng đối với năng lực cạnh
tranh quốc gia.
3. Hỗ trợ việc tạo ra một nền kinh tế cạnh tranh và đổi mới, sáng tạo hơn
Về lâu dài, đây không chỉ là vấn đề về tốc độ tăng trưởng xuất khẩu,
mà còn là cơ cấu xuất khẩu, và đặc biệt là hàm lượng công nghệ trong
xuất khẩu. Lợi ích của các hiệp định thương mại tự do sẽ cho phép
phát triển kinh tế của Việt Nam tiếp tục chuyển từ xuất khẩu các sản
phẩm chế tạo công nghệ thấp và hàng hóa sơ cấp sang các hàng hóa
công nghệ cao phức tạp hơn như điện tử, máy móc, phương tiện và
thiết bị y tế. Điều này có thể được thực hiện theo hai cách – thứ nhất,
thông qua các đối tác tìm nguồn cung ứng đa dạng hơn thông qua
mạng lưới thương mại lớn hơn và nhập khẩu hàng hóa trung gian rẻ
hơn từ các nước đối tác, điều này sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh
của hàng xuất khẩu của Việt Nam. Thứ hai – thông qua quan hệ đối
tác với các công ty nước ngoài có thể chuyển giao kiến thức và công
nghệ cần thiết để nhảy vào sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn.
4. FTA hỗ trợ việt nam giảm tỷ lệ nghèo tại Việt Nam
Trong kịch bản có FTA, tỷ lệ nghèo của Việt Nam ước tính giảm
từ 29% năm 2016 xuống còn 12,6% vào năm 2030 (tương đương
sức mua [PPP] ở mức 5,50 đô la Mỹ mỗi ngày).
5. FTA có thể khuyến khích và đẩy mạnh cải cách trong nước, vượt ra ngoài
phạm vi các vấn đề “thương mại” trong Hiệp định.
Cùng với việc triển khai FTA phản ánh nội dung của các hiệp định
thương mại hiện đại: thúc đẩy cạnh tranh, hợp tác và xây dựng năng
lực; đẩy mạnh sự phát triển lĩnh vực dịch vụ, bao gồm dịch vụ tài
chính, viễn thông và nhập cảnh tạm thời của các nhà cung cấp dịch
vụ, như hải quan, logistics và thương mại điện tử. Nhiều điều khoản
của FTA cũng sẽ kích thích cải cách thể chế nhằm củng cố và chuẩn
hóa các quy tắc, thúc đẩy tính minh bạch và hỗ trợ thiết lập các thể
chế hiện đại ở Việt Nam, đặc biệt là trong những lĩnh vực như môi
trường, đấu thầu công, sở hữu trí tuệ, đầu tư, tiêu chuẩn lao động, vấn
đề pháp lý, quy tắc xuất xứ và các biện pháp phi thuế quan, bao gồm
các biện pháp về vệ sinh và kiểm dịch động thực vật và rào cản kỹ
thuật đối với thương mại, cùng với các biện pháp phòng vệ thương
mại. Những điều khoản về doanh nghiệp nhà nước (DNNN) theo các
Hiệp định FTA có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam, dự
kiến sẽ duy trì các điều chỉnh cơ cấu tại Việt Nam theo hướng nền
kinh tế công bằng, cân bằng và theo định hướng thị trường, và tạo ra
một sân chơi bình đẳng.
Thách thức:
1. Môi trường kinh tế - chính trị thế giới bất ổn và khó lường.
Đại dịch COVID-19 đã tấn công mọi ngóc ngách của nền kinh tế toàn
cầu, khu vực và quốc gia, làm thay đổi hoặc thậm chí làm gián đoạn
chuỗi cung ứng toàn cầu; Chủ nghĩa bảo hộ gia tăng ở nhiều quốc gia,
trong khi các thể chế đa phương, đặc biệt là Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO) gặp nhiều trở ngại trong quá trình cải cách và quản lý;...
Đây là những thách thức lớn mà Việt Nam phải đối mặt khi đất nước
đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và khu vực. Cần cân nhắc
kỹ lưỡng việc thực hiện các FTA để bảo đảm lợi ích quốc gia.
2. Thách thức đến từ áp lực cạnh tranh của sản phẩm nội địa và doanh
nghiệp trên chính thị trường nội địa
Mặc dù đã được cải thiện nhưng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế,
doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam vẫn còn yếu so với các
nước, kể cả các nước trong khu vực. Ít có ngành kinh tế, doanh
nghiệp đầu tàu nào có khả năng chi phối thị trường khu vực và toàn
cầu, tạo động lực thúc đẩy các ngành, doanh nghiệp khác phát triển..
Việt Nam chỉ tập trung vào các sản phẩm nông, thủy sản, dệt may, da
giày,.. các ngành nghề thâm dụng lao động, hàm lượng công nghệ, độ
phức tạp còn thấp, mức độ cạnh tranh nghành cao nên rất dễ chịu phải
bất kỳ cú shock giảm nhu cầu trên thế giới
3. Sự tham gia vào những nấc thang còn thấp trong các chuỗi giá trị toàn cầu
và sự phụ thuộc sâu sắc của xuất khẩu dựa vào nguồn nguyên liệu nhập
khẩu
Dữ liệu cơ sở dữ liệu về giá trị gia tăng trong thương mại của WTO
cho thấy ngành sản xuất của Việt Nam sử dụng giá trị gia tăng từ
nước ngoài cao hơn giá trị gia tăng được tạo ra trong nước (điện tử sử
dụng 62% và ô tô sử dụng 53% đầu vào từ nước ngoài)
4. Ngành xuất khẩu của Việt Nam nằm ở phía thấp của sản xuất với ít liên
kết trên và dưới và ít sản phẩm doanh nghiệp trong nuoc. Trong một số
lĩnh vực, các công ty nước ngoài đóng vai trò tối quan trọng đối với xuất
khẩu. Khi có các biến động trên thế giới, họ có thể dễ dàng rời khỏi Việt
Nam để chuyển sản xuất sang các nước khác trên thế giới, làm ảnh hưởng
sâu sắc đến xuất nhập khẩu trong nước
5. Có những câu hỏi mở về tác động dài hạn của TPP ở cấp độ cơ bản hơn.
Có vẻ như TTP sẽ giúp Việt Nam hội nhập sâu hơn vào các chuỗi giá trị
toàn cầu hiện có và dẫn đến chuyên môn hóa hơn nữa cơ cấu sản xuất và
xuất khẩu. Khả năng cao là sự chuyên môn hóa này sẽ không dẫn đến
nâng cấp kinh tế – ít nhất là không có lập luận xác đáng nào cho rằng cơ
chế thị trường sẽ dẫn đến nâng cấp như vậy. Việc chuyên môn hóa sâu
hơn vào các sản phẩm thâm dụng lao động, công nghệ thấp thậm chí có
thể làm giảm cơ hội nâng cấp dài hạn. Trong một nghiên cứu toàn diện
Jean Imbs và Romain Wacziarg (2003) đã phát hiện ra rằng các quốc gia
đang phát triển thành công trong lĩnh vực phát triển của họ không chuyên
môn hóa mà phát triển một cơ cấu sản xuất và xuất khẩu rất đa dạng và
rộng lớn – điều ngược lại được kỳ vọng đối với Việt Nam. Sự chuyên
môn hóa mà Việt Nam có thể trải qua trong TPP phù hợp với logic của mô
hình thương mại Smith-Ricardo với tất cả những hậu quả tiêu cực của sự
chuyên môn hóa đó.
6. Hệ thống luật pháp và chính sách kinh tế của VN còn nhiều bất cập, chưa
tương thích với yêu cầu hội nhập, quản trị công và quản trị doanh nghiệp
tuy có nhiều tiến bộ nhưng chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong
tình hình mới

Preview text:

Cơ hội:
1. Các hiệp định thương mại tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy năng suất
Điều này là nhờ khả năng cắt giảm thuế và các rào cản thương mại
giữa các nền kinh tế theo các hiệp định FTA. Ước tính mức gia tăng
GDP vào năm 2030 là 2,4% theo năng suất thông thường so với kịch
bản cơ sở, và có thể lên đến 6,8% nếu có các biện pháp kích thích
tăng năng suất .Mức gia tăng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu sẽ
lần lượt 12% và 14%, và lên đến 18% nếu có các biện pháp kích thích năng suất.
Thương mại cải thiện năng suất nhờ các hiệp định thương mại với các
nền kinh tế lớn thế giới, theo ba cách quan trọng. Thứ nhất, nhập
khẩu khiến các doanh nghiệp trong nước chịu áp lực cạnh tranh lớn
hơn, đồng thời giúp họ tiếp cận với nhiều đầu vào hơn và tốt hơn.
Thứ hai, các nhà xuất khẩu tăng năng suất bằng cách học hỏi từ các
khách hàng nước ngoài và thông qua việc tiếp xúc với sự cạnh tranh
từ các nhà sản xuất nước ngoài. Thứ ba, bên cạnh việc tăng năng suất
trong các doanh nghiệp, thương mại thúc đẩy việc phân bổ lại các
nguồn lực giữa các doanh nghiệp, hướng tới năng suất cao nhất.
2. Tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Mức độ đầu tư trong nước đã giảm mạnh mặc dù cán cân vãng lai
thặng dư lần đầu tiên trong năm 2015 gây ra mối lo ngại đối với tăng
trưởng bền vững trong thời gian dài của việt nam. Vì vậy nguồn vốn
nước ngoài là điều cần thiết để việt nam để trang trải cho tỉ lệ tiết
kiệm còn thấp( thâm hụt trong tiết kiệm), các nguồn đầu tư như vậy
có khả năng tiếp tục là đầu tư châu Á và đầu tư được thu hút bởi các
cam kết của Việt Nam trong các hiệp định thương mại và đầu tư. FDI
công nghệ cao được coi là chất xúc tác cho sự tăng trưởng và phát
triển ở Việt Nam, do hiệu ứng lan tỏa có thể đạt được nhờ chuyển
giao bí quyết, đổi mới, năng suất và tinh hoa nhanh hơn. FDI cũng
hỗ trợ tăng cường sự tham gia của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn
cầu, Những yếu tố này cũng rất quan trọng đối với năng lực cạnh tranh quốc gia.
3. Hỗ trợ việc tạo ra một nền kinh tế cạnh tranh và đổi mới, sáng tạo hơn
Về lâu dài, đây không chỉ là vấn đề về tốc độ tăng trưởng xuất khẩu,
mà còn là cơ cấu xuất khẩu, và đặc biệt là hàm lượng công nghệ trong
xuất khẩu. Lợi ích của các hiệp định thương mại tự do sẽ cho phép
phát triển kinh tế của Việt Nam tiếp tục chuyển từ xuất khẩu các sản
phẩm chế tạo công nghệ thấp và hàng hóa sơ cấp sang các hàng hóa
công nghệ cao phức tạp hơn như điện tử, máy móc, phương tiện và
thiết bị y tế. Điều này có thể được thực hiện theo hai cách – thứ nhất,
thông qua các đối tác tìm nguồn cung ứng đa dạng hơn thông qua
mạng lưới thương mại lớn hơn và nhập khẩu hàng hóa trung gian rẻ
hơn từ các nước đối tác, điều này sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh
của hàng xuất khẩu của Việt Nam. Thứ hai – thông qua quan hệ đối
tác với các công ty nước ngoài có thể chuyển giao kiến thức và công
nghệ cần thiết để nhảy vào sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn.
4. FTA hỗ trợ việt nam giảm tỷ lệ nghèo tại Việt Nam
Trong kịch bản có FTA, tỷ lệ nghèo của Việt Nam ước tính giảm
từ 29% năm 2016 xuống còn 12,6% vào năm 2030 (tương đương
sức mua [PPP] ở mức 5,50 đô la Mỹ mỗi ngày).
5. FTA có thể khuyến khích và đẩy mạnh cải cách trong nước, vượt ra ngoài
phạm vi các vấn đề “thương mại” trong Hiệp định.
Cùng với việc triển khai FTA phản ánh nội dung của các hiệp định
thương mại hiện đại: thúc đẩy cạnh tranh, hợp tác và xây dựng năng
lực; đẩy mạnh sự phát triển lĩnh vực dịch vụ, bao gồm dịch vụ tài
chính, viễn thông và nhập cảnh tạm thời của các nhà cung cấp dịch
vụ, như hải quan, logistics và thương mại điện tử. Nhiều điều khoản
của FTA cũng sẽ kích thích cải cách thể chế nhằm củng cố và chuẩn
hóa các quy tắc, thúc đẩy tính minh bạch và hỗ trợ thiết lập các thể
chế hiện đại ở Việt Nam, đặc biệt là trong những lĩnh vực như môi
trường, đấu thầu công, sở hữu trí tuệ, đầu tư, tiêu chuẩn lao động, vấn
đề pháp lý, quy tắc xuất xứ và các biện pháp phi thuế quan, bao gồm
các biện pháp về vệ sinh và kiểm dịch động thực vật và rào cản kỹ
thuật đối với thương mại, cùng với các biện pháp phòng vệ thương
mại. Những điều khoản về doanh nghiệp nhà nước (DNNN) theo các
Hiệp định FTA có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam, dự
kiến sẽ duy trì các điều chỉnh cơ cấu tại Việt Nam theo hướng nền
kinh tế công bằng, cân bằng và theo định hướng thị trường, và tạo ra
một sân chơi bình đẳng. Thách thức:
1. Môi trường kinh tế - chính trị thế giới bất ổn và khó lường.
Đại dịch COVID-19 đã tấn công mọi ngóc ngách của nền kinh tế toàn
cầu, khu vực và quốc gia, làm thay đổi hoặc thậm chí làm gián đoạn
chuỗi cung ứng toàn cầu; Chủ nghĩa bảo hộ gia tăng ở nhiều quốc gia,
trong khi các thể chế đa phương, đặc biệt là Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO) gặp nhiều trở ngại trong quá trình cải cách và quản lý;...
Đây là những thách thức lớn mà Việt Nam phải đối mặt khi đất nước
đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và khu vực. Cần cân nhắc
kỹ lưỡng việc thực hiện các FTA để bảo đảm lợi ích quốc gia.
2. Thách thức đến từ áp lực cạnh tranh của sản phẩm nội địa và doanh
nghiệp trên chính thị trường nội địa
Mặc dù đã được cải thiện nhưng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế,
doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam vẫn còn yếu so với các
nước, kể cả các nước trong khu vực. Ít có ngành kinh tế, doanh
nghiệp đầu tàu nào có khả năng chi phối thị trường khu vực và toàn
cầu, tạo động lực thúc đẩy các ngành, doanh nghiệp khác phát triển..
Việt Nam chỉ tập trung vào các sản phẩm nông, thủy sản, dệt may, da
giày,.. các ngành nghề thâm dụng lao động, hàm lượng công nghệ, độ
phức tạp còn thấp, mức độ cạnh tranh nghành cao nên rất dễ chịu phải
bất kỳ cú shock giảm nhu cầu trên thế giới
3. Sự tham gia vào những nấc thang còn thấp trong các chuỗi giá trị toàn cầu
và sự phụ thuộc sâu sắc của xuất khẩu dựa vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu
Dữ liệu cơ sở dữ liệu về giá trị gia tăng trong thương mại của WTO
cho thấy ngành sản xuất của Việt Nam sử dụng giá trị gia tăng từ
nước ngoài cao hơn giá trị gia tăng được tạo ra trong nước (điện tử sử
dụng 62% và ô tô sử dụng 53% đầu vào từ nước ngoài)
4. Ngành xuất khẩu của Việt Nam nằm ở phía thấp của sản xuất với ít liên
kết trên và dưới và ít sản phẩm doanh nghiệp trong nuoc. Trong một số
lĩnh vực, các công ty nước ngoài đóng vai trò tối quan trọng đối với xuất
khẩu. Khi có các biến động trên thế giới, họ có thể dễ dàng rời khỏi Việt
Nam để chuyển sản xuất sang các nước khác trên thế giới, làm ảnh hưởng
sâu sắc đến xuất nhập khẩu trong nước
5. Có những câu hỏi mở về tác động dài hạn của TPP ở cấp độ cơ bản hơn.
Có vẻ như TTP sẽ giúp Việt Nam hội nhập sâu hơn vào các chuỗi giá trị
toàn cầu hiện có và dẫn đến chuyên môn hóa hơn nữa cơ cấu sản xuất và
xuất khẩu. Khả năng cao là sự chuyên môn hóa này sẽ không dẫn đến
nâng cấp kinh tế – ít nhất là không có lập luận xác đáng nào cho rằng cơ
chế thị trường sẽ dẫn đến nâng cấp như vậy. Việc chuyên môn hóa sâu
hơn vào các sản phẩm thâm dụng lao động, công nghệ thấp thậm chí có
thể làm giảm cơ hội nâng cấp dài hạn. Trong một nghiên cứu toàn diện
Jean Imbs và Romain Wacziarg (2003) đã phát hiện ra rằng các quốc gia
đang phát triển thành công trong lĩnh vực phát triển của họ không chuyên
môn hóa mà phát triển một cơ cấu sản xuất và xuất khẩu rất đa dạng và
rộng lớn – điều ngược lại được kỳ vọng đối với Việt Nam. Sự chuyên
môn hóa mà Việt Nam có thể trải qua trong TPP phù hợp với logic của mô
hình thương mại Smith-Ricardo với tất cả những hậu quả tiêu cực của sự chuyên môn hóa đó.
6. Hệ thống luật pháp và chính sách kinh tế của VN còn nhiều bất cập, chưa
tương thích với yêu cầu hội nhập, quản trị công và quản trị doanh nghiệp
tuy có nhiều tiến bộ nhưng chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong tình hình mới