




Preview text:
* Lý giải ý kiến của Lỗ Tấn: “Đến Hồng Lâu Mộng tư tưởng và cách viết truyền thống đã bị đổ vỡ”
Trả lời:
Lỗ Tấn tuy không nhận mình là một Hồng học gia song với công trình Lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc mà nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà văn hóa lỗi lạc này đã mất ba năm để hoàn thành đã cho thấy tâm huyết và ân tình của ông đối với nền văn học Trung Quốc. Bên cạnh đó nghiên cứu của ông còn mở ra nhiều hướng đi mới trong việc nghiên cứu tiểu thuyết cổ nói chung và Hồng lâu mộng nói riêng. Chính bởi lẽ đó những nhận định về Hồng lâu mộng được quan tâm và đánh giá cao. Một trong những nhận định đó là: “Từ khi Hồng lâu mộng ra đời tư tưởng và cách viết truyền thống đã bị phá vỡ”. Nhận định định này có ảnh hưởng rất lớn đến xu hướng nghiên cứu và bàn luận về tác phẩm được người Trung Quốc cho là “độc nhất vô nhị ở nước họ và cũng chưa từng có trên thế giới.
Hồng lâu Mộng là bộ tiểu thuyết trường thiên, có tên là Thạch đầu kí (câu chuyện hòn đá), Kim Ngọc duyên (Duyên Vàng Đá), Kim Lăng thập nhị kim thoa (Mười hai chiếc thoa vàng đất Kim Lăng) là bộ tiểu thuyết vĩ đại xuất hiện thời Càn Long. Hồng lâu mộng đã đánh một dấu son vào lịch sử tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc đến thời đại nhà Thanh. Tác phẩm gồm 120 hồi, 80 hồi đầu do Tào Tuyết Cần viết, 40 hồi sau mọi người đều cho rằng Cao Ngạc là người viết tiếp.
Tào Tuyết Cần (1715? – 1763?) tên là Triêm, tên tự là Mộng Nguyễn, Cần Phố, hiệu là Tuyết Cần, Cần Khê, người Thẩm Dương, vốn dòng dõi người Hán, sau nhập tịch Mãn Châu. Ông sống trong triều đại phong kiến nhà Thanh, Trung Quốc. Ông sinh ra trong một gia đình đại quý tộc, gia đình đời đời thế tập chức Giang Ninh chức tạo là một chức quan to thu thuế tại Giang Ninh thành. Cuộc sống trong phủ vô cùng xa hoa vương giả. Nhưng đến đời của Tào Tuyết Cần, tất cả sự giàu sang quyền quý huy hoàng của gia đình đã trở thành quá khứ. Ông đã phải sống trong những ngày cay đắng nhất của đời mình với nghèo khổ, đi khắp nơi để mưu sinh, sống trong cảnh “cả nhà rau cháo, rượu thường mua chịu”. Mười năm cuối đời ông đã dồn toàn bộ trí lực để tạo nên kiệt tác Hồng Lâu Mộng, một trong những tác phẩm về sau được đánh giá là kinh điển của văn học Trung Quốc. Tác phẩm đã được ông sửa chữa 5 lần trong cảnh cùng khốn, ốm đau không tiền mua thuốc, con chết. Khi ông còn sống tác phẩm đã không hoàn thành và không được công bố.
Sau khi ông qua đời, hai mươi tám năm sau, Cao Ngạc đã dựa vào di thảo của ông để hoàn thành nốt bằng việc viết tiếp 40 hồi. Cao Ngạc cũng đổi tên “Thạch Đầu Ký” thành “Hồng Lâu Mộng” để phù hợp với nội dung tác phẩm. Như lời ông nói, ông viết tác phẩm không phải nhằm mục đích phê phán chế độ xã hội đương thời hay nhằm mục đích gì, ông chỉ viết để bày tỏ tâm sự của bản thân, giải tỏa nỗi niềm “cô phẫn” nên không có ý định xuất bản. Tuy nhiên ông đã tốn rất nhiều sinh lực và tâm huyết trong mười năm cuối cùng của cuộc đời, đến nỗi ông cũng phải thốt lên:
· “XEM RA CHỮ CHỮ TOÀN BẰNG HUYẾT
· CAY ĐẮNG MƯỜI NĂM KHÉO LẠ LÙNG”.
Hồng lâu mộng không chỉ có giá trị ở văn hay, ở cốt truyện tình éo le, gay cấn, ở lối miêu tả tinh vi mà còn ở việc đã phản ánh được một cách trung thực xã hội Trung Hoa hồi thế kỷ 17 – 18, đã nói lên được tiếng nói đau thương của một lớp thanh niên nam nữ đương thời và vạch ra được chiều hướng tan rã tất yếu của chế độ gia đình khắc nghiệt của xã hội mục nát đời Mãn Thanh.
Thứ nhất, Sự thay đổi về tư tưởng: Các tác phẩm trước Hồng lâu mộng cũng đã nói về tư tưởng chống phong kiến. Tiêu biểu như nhân vật Tôn Ngộ Không điển hình cho hình tượng người anh hùng nhân dân thông minh, nhanh nhẹn, dũng cảm chống phong kiến thể hiện ở 3 lần Đại náo thiên cung khiến thiên đình run sợ, Ngọc Hoàng Đại Đế phải chui xuống gầm bàn và nhờ đến sự trợ giúp của Phật Tổ Như Lai lừa Tôn Ngộ Không mới bị bắt. Tuy thái độ chống phong kiến đã rõ nét. Nhưng vì giới hạn của cốt truyện cũng như tư tưởng thời đại nên suy cho cùng, thái độ phản kháng chưa thật triệt để. Vì cuối cùng Tôn Ngộ Không quy y Phật Tổ. Đến Hồng lâu mộng tư tưởng chống phong kiến mãnh liệt hơn cả. Thể hiện rõ nét qua hai nhân vật trung tâm là Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc tình yêu của cặp đôi này là minh chứng rõ nét nhất cho sự suy yếu của chế độ phong kiến. Tình yêu đó càng đẹp đẽ, rực rỡ bao nhiêu thì khi lâm vào bi kịch nó càng đả kích, tố cáo sự lỗi thời, sa đọa của chế độ gia tộc phong kiến bấy nhiêu. Chính việc thông qua tình yêu đả kích chế độ phong kiến càng làm dậy sóng những phản ứng chống đối, mạnh mẽ và sự đồng cảm thương xót của độc giả đối với tình yêu của họ.
VD:
Xuất thân của Giả Bảo Ngọc vốn là một hòn đá trên đỉnh núi Thanh Ngạch, qua bàn tay tiên Nữ Oa tôi luyện, nay đầu thai xuống trần để nếm trải vinh hoa phú quý mà thành Giả Bảo Ngọc. Tinh thần phản kháng phong kiến của anh chàng ngây này, có gốc rễ từ cuộc sống thực và quá trình tìm đường của anh ta. Xuất thân trong gia đình “chung minh đỉnh thực, thế phiệt trâm anh”. Nhưng tư tưởng của Giả Bảo Ngọc hoàn toàn trái ngược so với lễ giáo phong kiến. Cậu ta khinh miệt công danh khoa cử, chửi những kẻ “học hành đỗ đạt”, vào luồn ra cúi “theo đuổi công danh” là “con mọt ăn lộc”, “giặc nước”. Do mâu thuẫn nội bộ trong nhà đình nhà họ Giả mà tư tưởng phản nghịch của Bảo Ngọc có cơ hội nảy nở, cậu ta có thể trốn học, không phải tiếp thu lễ giáo phong kiến, lại được sống chung với những người con gái trong sạch nơi Đại viên, cách li với cuộc sống trụy lạc, độc ác bên ngoài khiến cho Giả Bảo Ngọc có cách nhìn nhận, đánh giá và suy nghĩ khác đời. Giả Bảo Ngọc lật đổ chế độ trọng nam khinh nữ, đề cao người phụ nữ 1 cách kỳ lạ. Từ nhỏ, cậu ta đã thấy: “ Xương thịt con gái là nước kết thành, xương thịt con trai thì bùn kết thành. Ta trông thấy con gái thì thoải mái, thanh thản, thấy con trai thì như nhiễm hơi dơ bẩn kinh người”. Tư tưởng này thể hiện lòng đồng tình đối với phụ nữ bị xã hội chà đạp. Chống đối chế độ bất bình đẳng xã hội, GBN coi những người hầu gái như bạn bè thân thiết, không hề ngăn cách, nhiều lần đã đỡ đòn cho họ.
- Tư tưởng của Giả Bảo Ngọc thuộc hệ tư tưởng mới đó là tư tưởng dân chủ sơ khai, kết quả của nhu cầu tầng lớp thị dân mới trỗi dậy. Cuộc đấu tranh của Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc với tư tưởng truyền thống thể hiện cuộc vật lộn giữa cái mới và cái cũ. Cái mới đã ra đời xong còn non yếu. Cái cũ đã rạn nứt suy yếu song “con sâu trăm chân, chết vẫn không cứng” này còn đủ sức bóp chết cái mầm mới manh nha kia. Kết cục là Lâm Bảo Ngọc phải ngậm hờn mà chết, Giả Bảo Ngọc phải bỏ đi tu.
- Tư tưởng về tình yêu của Giả Bảo Ngọc cũng có những thay đổi đứng giữa hai tuyệt sắc giai nhân một là Tiết Bảo Thoa( điển hình giai nhân phong kiến) hơn hẳn Lâm Đại Ngọc về cả sắc và tài nhưng cuối cùng GBN vẫn chọn Lâm Đại Ngọc vì sự giao thoa lý tưởng sống, chống đối xã hội phong kiến. Điều này cho thấy lý tưởng về tình yêu đã thay đổi. Sức mạnh của giáo lý phong kiến đã suy yếu. Biểu hiện giai nhân phong kiến đã mất sức quyến rũ( Tiết Bảo Thoa) tình yêu tự do, vượt lên trên lễ giáo gia đình và phong kiến Bảo Ngọc và Đại Ngọc.
- Khởi đầu của Hồng lâu mộng là xuất xứ của các nhân vật khác thường. Ai cũng có xuất xứ kỳ lạ, đến từ cõi hư không. Với hai nhân vật trung tâm Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc, tác giả còn chỉ ra cụ thể hơn nguồn gốc hư ảo. Bảo Ngọc vốn là hòn đá, Đại Ngọc vốn là cây cỏ tiên. Nhưng dù là cây hay đá thì tiền kiếp của Bảo Ngọc và Đại Ngọc đều nằm ở thế giới hư không. nhưng thế giới trong Hồng lâu mộng lại xuất phát từ hiện thực đời sống, cuộc sống sinh hoạt đời thường của gia đình quý tộc được vẽ nên bằng những đường nét tỉ mỉ, vô cùng chân thực, và cụ thể, cuốn hút người đọc.
-Tư tưởng thiên mệnh: Số mệnh của mỗi nhân vật trong Hồng lâu mộng đã được định sẵn. Số phận của Kim Lăng thập nhị kim thoa được ghi chép, định đoạt ở những cuốn sổ này. Cuộc đời mỗi nhân vật được gói gọn trong một lá số tiền định, những bài thơ đầy ẩn ý, như lời sấm vĩ. những điềm báo số phận như: Câu hỏi đường phủ Giả nở hoa trái mùa, sau đó Bảo Ngọc mất ngọc thiêng, gia đình họ Giả quyết định cưới Bảo Thoa cho Bảo Ngọc, Đại Ngọc chết,...
Khởi đầu của các nhân vật và các điềm báo trong tác phẩm dường như báo trước cái kết bi thảm của số phận họ. Những số phận bi kịch và kết thúc bi kịch của Hồng Lâu Mộng dường như là tất yếu. Dự báo trước sự suy tàn, sụp đổ của chế độ phong kiến. Cái kết ảm đạm đó khiến cho người đọc như vừa tình một giấc mộng hoàng kim vậy, mở đầu là hư ảo, cuối truyện mọi thứ đều tan biến, sự giàu có đến cực độ của gia đình họ Giả bỗng chốc như hóa vào cõi không, mờ ảo như chưa từng tồn tại trên đời. Đây phải chăng là ý nghĩa của của đầu đề tiểu thuyết: “giấc mộng lầu hồng”.
- Cảm giác cuộc đời như mộng, tất cả trở về không là kết quả tất yếu của lẽ biến dịch. Nhân sinh như mộng là lời cảm thán của tác giả trước sự vận hành và biến đổi của tự nhiên, xã hội. Hồng lâu mộng đã miêu tả quá trình thịnh suy của phủ Giả nằm trong quy luật: Bĩ cực thái lai, phồn hoa phú quý lên tới tột đỉnh ắt sẽ suy sụp.
- Một điều đáng chú ý là, mặc dù thấy rõ sự diệt vong tất yếu của giai cấp mình, tâm trạng Tào Tuyết Cần nhìn chung là bế tắc. Cũng như nhân vật Bảo Ngọc, tìm kiếm lối thoát trong nhà văn tìm tòi trong sách vở triết học cổ điển Trung Quốc mong có một lối thoát. Trong thời điểm lịch sử bấy giờ, tác giả không cách nào khác lý giải sự diệt vong của chế độ phong kiến là ngẫu nhiên của vận hành vũ trụ.
Cái kết là số phận bi thương của họ là nét nổi bật trong bức tranh hiện thực về sự suy tàn của chế độ phong kiến Trung Quốc.
Thứ hai, Sự thay đổi về cách viết truyền thống:
Nhân vật trong Hồng Lâu Mộng được miêu tả là những con người thực sống động, đời sống tinh thần phong phú, nhiều mặt. Nghệ thuật miêu tả nội tâm, tính cách nhân vật đạt đến đỉnh cao, thể hiện ở nét lạ hóa tính cách, chiều sâu của nội tâm. Khác hẳn so với cách miêu tả nhân vật trong tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa, các nhân vật đó là nhân vật hành động, tính cách bộc lộ chủ yếu qua hành động, và nét tính cách của các nhân vật mang tính đặc thù, xuyên suốt, nhất quán từ đầu đến cuối. Tào Tháo nổi bật là một gian hùng có tài năng và độc ác, Lưu Bị là vị vua tài, hiền đức nổi bật ở mặt phẩm chất, là bậc chính nhân quân tử.Trương Phi thì nóng nảy, bốc đồng, không suy nghĩ. Còn trong Hồng lâu mộng:
Các nhân vật hết sức sống động. Ví dụ như: Đám tang Tần Thị được Giả Trân tổ chức hết sức xa hoa. Riêng cái quan tài bằng gỗ quý ngàn năm không mục, mượn của một vị vương đã mất năm ngàn lạng,...Ông ta còn mua cho Giả Dung chồng của Tần Thị chức “Long cẩm úy” để viết lên cờ tang cho đẹp, mất một ngàn hai trăm lạng. tất cả đó chỉ là vỏ ngoài bao che cho mối quan hệ bất chính của Giả Trân( bố chồng)- Tần Thị( con dâu). Sự đối lập giữa vẻ ngoài hào nhoáng, đẹp đẽ với sự bẩn thỉu, thối nát bên trong của Giả Trân. Tiếp đến, là Phượng Thư được ví nham hiểm như một Tào Tháo. Y làm ra vô số tội ác, giết chết Giả Thụy, Lâm Đại Ngọc và mượn tay Thu Đồng để giết chết Vưu Nhị Thư rồi trong đám tang khóc lóc vô cùng thảm thiết.
Sự đối lập về mặt tính cách với bề ngoài của nhân vật cũng chính là sự đối lập giữa sự giàu có, hào nhoáng của gia đình nhà họ Giả với sự băng hoại về mặt đạo đức phong kiến của con cháu nhà họ Giả. Các nhân vật vừa phạm vào nhau lại vừa cách xa nhau. vừa có điểm chung vừa có điểm riêng. Hơn 300 nhân vật nhưng mỗi nhân vật đều là một chủ thể có tính cách riêng, Không ai giống ai. Chẳng hạn ở hồi 27, tác giả đã thể hiện diễn biến tâm lý phức tạp vui buồn, giận hờn, mừng, tủi của các cô gái kiêu kì.
Việc miêu tả tâm lý trực tiếp và sự tự bộc lộ nội tâm của nhân vật bằng ngôn ngữ và hành động nhân vật, Tào Tuyết Cần đã đưa Hồng lâu mộng lên đỉnh cao của tiểu thuyết hiện thực. Hồng lâu mộng là cuốn tiểu thuyết đời thường, miêu tả đời sống hàng ngày một cách chi tiết- cụ thể không cường điệu. Nếu như trong các tác tiểu thuyết đời Minh nhân vật và sự kiện đều ít nhiều kỳ lạ thì trong Hồng lâu mộng cuộc sống diễn ra bình thường như nó vốn có. Sức hấp dẫn của Hồng lâu mộng là từ những cái bình thường, thường nhật chứ không phải bằng những chuyện li kì, biến cố rùng rợn, những con người phi thường như những cuốn tiểu thuyết trước.
Kết cấu của Hồng lâu mộng là kết cấu đa tuyến đồ sộ, mạch lạc. Sự việc trong mỗi chương mỗi hồi có sự mạch lạc nhưng hết sức trọn vẹn, hết sự việc này đến sự việc khác diễn ra. VD trong hồi 31, kết cấu cốt truyện xuyên suốt là những tiểu tiết trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày trong phủ Giả: từ việc Tập Nhân bị khạc ra máu và được Bảo Ngọc lo lắng tận tâm, tiệc rượu vào dịp tết Đoan Dương của Giả phu nhân, đến chuyện Tình Văn làm gãy nan quạt hay cuộc trò chuyện của phụ nữ ở phủ Giả.. Có thể nói, mỗi hồi là mỗi câu chuyện và hành động trọn vẹn nhưng cũng không tách rời nhau, sang hồi khác thì lại là hành động và sự việc khác. Sự phá vỡ kết cấu truyền thống này thể hiện cái nhìn mới mẻ của tác giả cũng như mở ra chiều hướng giải quyết đa dạng cho tác phẩm.
Về ngôn ngữ, Bởi nội dung tiểu thuyết là miêu tả về cuộc sống thường nhật bên cạnh những cảnh sinh hoạt đời thường của hai phủ Ninh – Giả nên ngôn ngữ mà Tào Tuyết Cần sử dụng ở đây là ngôn ngữ bạch thoại, thay vì sử dụng văn ngôn thì ông sử dụng ngôn từ gần gũi, thân thuộc, giản dị, tự nhiên như lời ăn tiếng nói hàng ngày. Bên cạnh đó, ngôn ngữ miêu tả tâm trạng nhân vật một cách trọn vẹn, phù hợp với trình tự phát triển tự nhiên của tâm lí, phù hợp với tính cách, vị thế và hoàn cảnh... Không những thế, thông qua ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, ta có thể hình dung được cá tính khác nhau của mỗi người, có các nhân vật cùng tuyến với nhau theo hướng tư tưởng mới, không chịu sự đè ép và chà đạp của tầng lớp trên lên quyền sống và tự do của con người, nhưng cũng thông qua ngôn ngữ đối thoại mà hiện lên sự đố kị ganh ghét của họ. Tiêu biểu như nhân vật Tình Văn với Tập Nhân: khi Tình Văn nghe Tập Nhân nói hai tiếng “chúng tôi” thì “trong bụng đâm ra ghen, liền cười nhạt mấy tiếng”: “...đừng để tôi phải hổ thẹn thay cho ai! Các người làm những việc thầm kín với nhau, giấu thế nào được tôi! Tôi cứ nói thẳng: ngay các cô nhà này cũng còn chưa với lên được, huống chi chị cũng như tôi, thế mà lại dám gọi “Chúng tôi” à?”, khiến cho Tập Nhân “xấu hổ, tím bầm mặt lại”,...Có thể thấy, những lời nói bắt bẻ và bóc trần của Tình Văn với Tập Nhân đã thấy được nội tâm của cô ta, ghen ghét ra mặt và có sự đố kị. Điều đó để có thể thấy rằng, thông qua ngôn ngữ chân thực và giản dị gần gũi với đời sống thường nhật, nhân vật trong tác phẩm hiện lên cũng chân thực, tính cách và nội tâm được bộc lộ một cách trọn vẹn cùng với các mối quan hệ của họ. Đây cũng chính là một trong những điểm mới mẻ và sự khéo léo của Tào Tuyết Cần.
KL: Có thể thấy, “Hồng Lâu Mộng” của Tào Tuyết Cần là tiểu thuyết thế sự đặc sắc nhất của Trung Quốc, với sự khác biệt và mới mẻ về nghệ thuật cũng như luồng tư tưởng mới, thông qua việc miêu tả cuộc sống thường nhật của một gia đình quý tộc cũng như đã phản ánh một xã hội đầy biến động với sự thối nát, mục ruỗng, tác phẩm xứng danh trở thành món ăn tinh thần của quần chúng và được độc giả đón nhận một cách tích cực. Quả xứng danh là tiểu thuyết vĩ đại, “Hồng lâu mộng đã đánh một dấu son vào lịch sử tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc vào thời đại nhà Thanh”. Chính vì vậy mà Hồng lâu mộng đã trở thành một kiệt tác “hiện thực không tô vẽ” ( Lỗ Tấn).
* Tính chất “bi kịch”
Khái niệm
Để hiểu được tính chất “bi kịch” ta cần tìm hiểu khái niệm “cái bi”. Trong “Từ điển thuật ngữ văn học” cái bi (tiếng Nga : tragicheskoe ; tiếng Pháp : tragique) là phạm trù mỹ học phản ánh một hiện tượng có tính quy luật của thực tế đời sống xã hội thường diễn ra trong cuộc đấu tranh không ngang sức giữa cái thiện với cái ác, cái mới với cái cũ, cái tiến bộ với cái phản động,… trong điều kiện những cái sau còn mạnh hơn những cái trước. Đó là sự trả giá tự nguyện cho những chiến thắng và sự bất tử về tinh thần bằng nỗi đau và cái chết của nhân vật chính diện.
Tính chất “bi kịch” có thể hiểu chung là những nỗi đau khổ, kết thúc mất mát về nhiều mặt mà nhân vật phải trải qua trong hành trình sống với tâm niệm và theo đuổi lý tưởng của đời. Số phận bi thảm và kết thúc “không có hậu” của nhân vật gây thương xót cho người đọc, thường có ý nghĩa thức tỉnh, dự báo về một cái gì tốt đẹp hơn có thể nảy sinh trong cuộc sống…
Biểu hiện trong tác phẩm
Hồng Lâu Mộng được xem là một tấn bi kịch với quá nhiều những thân phận bi thương. Bi kịch cá nhân có và cả gia tộc cũng có. Bi kịch tình yêu có và cả lý tưởng cũng không chừa. Sau đây là những bi kịch chính