-
Thông tin
-
Quiz
Lý thuyết ôn tập Chương 1 - tư tưởng Hcm về Đảng cộng sản - Tư tưởng Hồ Chí Minh | Trường Đại Học Duy Tân
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc vềnhững vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và pháttriển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lenin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừavà phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!
Tư tưởng Hồ Chí Minh (POS 361) 157 tài liệu
Đại học Duy Tân 1.8 K tài liệu
Lý thuyết ôn tập Chương 1 - tư tưởng Hcm về Đảng cộng sản - Tư tưởng Hồ Chí Minh | Trường Đại Học Duy Tân
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc vềnhững vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và pháttriển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lenin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừavà phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh (POS 361) 157 tài liệu
Trường: Đại học Duy Tân 1.8 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:











Tài liệu khác của Đại học Duy Tân
Preview text:
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM I. Khái niệm
1.1. Về tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lenin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa
và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn
hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc
ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi. 1.2. Về Đảng
Đảng Cộng sản là chính đảng của giai cấp công nhân. Nó là đội tiên phong, bộ
tham mưu chiến đấu, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân, đại biểu trung
thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân
tộc. Đảng Cộng sản bao gồm những bộ phận tiên tiến của giai cấp công nhân và
các tầng lớp nhân dân lao động. Đảng Cộng sản lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm
nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, lấy nguyên tắc tập trung dân
chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản của mình.
Như vậy, Đảng Cộng sản mang bản chất giai cấp công nhân, không tách rời với
giai cấp công nhân, nhân dân lao động.
1.3. Cơ sở hình thành của Đảng
a, Cơ sở lý luận
Từ thế kỷ XIX, Mác và Ănghen đã nghiên cứu sâu sắc sự phát triển của chủ nghĩa
tư bản Tây Âu, nơi có sự phân hóa xã hội đạt đến cực điểm, với một mâu thuẫn cơ bản
ngày càng phát triển gay gắt là mâu thuẫn giữa vô sản với tư sản. Các ông dành sự quan
tâm đặc biệt vào vấn đề thành lập Đảng cộng sản ở các nước tư bản phát triển, nơi mà
vấn đề dân tộc đã được giải quyết nhờ các cuộc cách mạng tư sản trước đó, nhằm tiến
hành cách mạng vô sản, thiết lập chuyên chính vô sản.
Học thuyết Mác khẳng định sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân. Giai
cấp công nhân chỉ có thể trở thành một giai cấp “cho mình”, thực hiện vai trò lãnh đạo
cách mạng vô sản khi tổ chức được một chính đảng cách mạng của riêng mình và cũng
chỉ khi đó phong trào công nhân mới hoàn toàn trở thành một phong trào tự giác. Theo
Mác, chừng nào mà giai cấp công nhân chưa thành lập được một chính đảng của mình
đối lập với các chính đảng hiện có của giai cấp tư sản thì chừng đó giai cấp công nhân
chưa thể hành động với tư cách một giai cấp được. Sự thành lập và vai trò lãnh đạo của
Đảng cộng sản là tất yếu nhằm mục tiêu “tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật
đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền”. Đảng cộng sản
được thành lập phản ánh cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đến thời kỳ tự giác. Theo
học thuyết Mác Lênin. Đảng cộng sản là Đảng của giai cấp vô sản, là đội tiên phong có tổ
chức cao nhất, bộ tham mưu của giai cấp vô sản, lãnh đạo cuộc đấu tranh giai cấp, lật đổ
sự thống trị của giai cấp tư sản, thiết lập chuyên chính vô sản.
Giai cấp vô sản tồn tại trong từng quốc gia dân tộc. trước khi hoàn thành sứ mệnh
lịch sử thế giới, giai cấp vô sản phải hành thành sứ mệnh lịch sử của dân tộc mình. Trong
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Mác Ăng-ghen nêu rõ: “cuộc đấu tranh của giai cấp vô
sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là cuộc đấu tranh dân tộc,
nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc”. Vì thế, “giai cấp vô sản mỗi nước
trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự
mình trở thành dân tộc, tuy hoàn toàn không như cái nghĩa giai cấp tư sản hiểu”. Điều đó
có nghĩa là việc thành lập Đảng cộng sản phải được thực hiện trong phạm vi từng quốc
gia dân tộc chứ không phải là trong từng khu vực của thế giới. Các quốc gia dân tộc, nhất
là những quốc gia láng giềng có quan hệ với nhau về nhiều mặt, nhưng mỗi quốc gia đó
có những đặc điểm riêng về truyền thống lịch sử, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa,
phong tục tập quán, tâm lý dân tộc..., cần phải thành lập ở mỗi quốc gia một đảng riêng
để để ra đường lối chính trị phù hợp với hoàn cảnh của từng nước.
Để lãnh đạo cách mạng, giai cấp công nhân phải có lý luận tiền phong. “Chỉ đảng
nào có lý luận tiền phong hướng dẫn thì đảng đó mới làm tròn vai trò chiến sĩ tiên
phong”. Nhưng theo Lê nin trong tác phẩm Làm gì, tự bản thân giai cấp công nhân không
thể có ý thức xã hội dân chủ được, mà nhiều lắm mới chỉ có giai cấp ý thức công liên chủ
nghĩa mà thôi. Ý thức xã hội chủ nghĩa chỉ có thể là bên ngoài đưa vào. Lúc đầu phong
trào công nhân và ý thức xã hội chủ nghĩa tồn tại độc lập với nhau vì chúng có nguồn gốc
phát sinh giống nhau. Giai cấp công nhân là sản phẩm của chế độ kinh tế - xã hội tư bản
chủ nghĩa, còn chủ nghĩa xã hội khoa học lại là sản phẩm của sự nghiên cứu và phát minh
khoa học. nếu phong trào công nhân không tiếp thu chủ nghĩa Mác- Lênin thì mãi nó
dừng lại ở trình độ tự phát, không thể trở thành một phong trò tự giác được; ngược lại nếu
chủ nghĩa Mác – Lênin không thâm nhập vào phong trào công nhân thì nó sẽ mãi dừng ở
lĩnh vực lý luận, mà không thể trở thành lĩnh vực lý luận thực tiễn. vì thế mà hai yếu tố
này cần có sự kết hợp với nhau, trong đó giai cấp công nhân là vũ khí vật chất của chủ
nghĩa Mác – Lênin, còn chủ nghĩa Mác – Lênin là vũ khí tư tưởng của phong trào công
nhân. Sự kết hợp của chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân là quy luật chung
cho sự ra đời của Đảng cộng sản trên thế giới. nhưng sự kết hợp đó không theo một
khuôn mẫu giáo điều, cứng nhắc, mà nó có nét đặc thù do sự chi phối của những điều
kiện lịch sử cụ thể, được thực hiện bằng con đường riêng biệt. Lênin chỉ rõ: Trong tất cả
các nước, chỉ có sự kết hợp của chủ nghĩa xã hội với phong trào công nhân mới xây dựng
được cơ sở vững chắc cho cả hai. Nhưng trong mỗi nước, sự kết hợp ấy lại là một sản
phẩm của lịch sử, lại được thực hiện băng con đường đặc biệt, tùy theo điều kiện không gian và thời gian. b, Cơ sở thực tiễn
Đảng cộng sản ở các nước thuộc địa trước hết phải lãnh đạo cuộc đấu tranh dân tộc.
vấn đề giai cấp ở thuộc địa phải đặt trong vấn đề dân tộc, đòi hỏi sự vận dụng sáng tạo lý
luận Mác – Lênin về Đảng cộng sản ở thuộc địa. Đến năm 1922, Việt Nam có 22 vạn
công nhân, chiếm tỷ lệ khoảng 1% dân số. Số lượng đó tuy không nhiều nhưng có một ý
nghĩa hết sức qun trọng. Lực lượng đó là lực lượng tiên tiến sẽ nằm ngọn cờ tiên phong
lãnh đạo phong trào cách mạng tại Việt Nam. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Việt
Nam bắt đâu ngay từ khi nó ra đời ngày càng phổ biến dưới quy mô lớn, ý thức giai cấp
và chính trị rõ rang. Nhưng trước khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời thì giai cấp công
nhân chưa nhận ra được sứ mệnh lịch sử của mình, còn thiếu một tổ chức lãnh đạo và
một đường lối chính trị đúng đắn. sự phát triển của phong trào công nhân chính là cơ sở
vật chất để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam. Yêu cầu tất yếu khách quan
phải có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, đó là cơ sở thực tiễn quan trọng để hình thành
Đảng cộng sản với nhiệm vụ giải phóng cho dân tộc mình.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa Mác – Lênin trở thành
hiện thực và có ảnh hưởng rộng rãi khắp nơi, dẫn đến sự ra đời của các Đảng cộng sản ở
nhiều nước trên thế giới. Quốc tế cộng sản được thành lập (3- 1919) với khẩu hiệu chiến
lược: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!”.
Chủ nghĩa yêu nước đã dẫn Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác – Lênin đến
với chủ nghĩa Mác – Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản, con đường của
cách mạng Tháng Mười Nga. Người bỏ phiếu tán thành quốc tế III và tham gia Đảng
cộng sản Pháp (12-1920), trở thành một nhà yêu nước cộng sản.
Là đảng viên của Đảng cộng sân Pháp, cùng với việc tìm hiêu công tác xây dựng
Đảng Cộng sản Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị những diều kiện về tư tưởng,
chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam.
II. Quan điểm Hồ Chí Minh về tính tất yếu sự ra đời, phát triển và vai trò
lãnh đạo của Đảng
1.2.1. Tính tất yếu, quy luật hình thành và vai trò của Đảng Cộng sản
Tự bản thân mình, giai cấp công nhân không thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử. Sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là khách quan, song để biến khả năng khách quan
thành hiện thực thì phải thông qua những nhân tố chủ quan. Trong những nhân tố ấy, việc
thành lập Đảng Cộng sản với lý luận tiên phong, trung thành với sự nghiệp, lợi ích giai
cấp là nhân tố quyết định đảm bảo cho việc thực hiện sứ mệnh lịch sử thủ tiêu chủ nghĩa
tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
1.2.1.1. Tính tất yếu sự ra đời Đảng Cộng sản
Sự thâm nhập của chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân dẫn đến sự hình
thành chính đảng của giai cấp công nhân. V. I. Lênin chỉ ra rằng, Đảng Cộng sản
là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân.
Nhưng trong mỗi nước, sự kết hợp ấy là sản phẩm của lịch sử lại được thực hiện
bằng những con đường đặc biệt, tùy theo điều kiện không gian và thời gian. Ở
nhiều nước thuộc địa, nửa thuộc địa thì Đảng Cộng sản ra đời là kết quả của sự
kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.
Đảng Cộng sản ra đời đánh dấu sự phát triển nhảy vọt của phong trào công nhân
từ tự phát lên tự giác, cuộc đấu tranh vì lợi ích kinh tế trong giới hạn của chủ
nghĩa tư bản cho phép chuyển sang cuộc đấu tranh chính trị nhằm lật đổ giai cấp
tư sản, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
1.2.1.2. Vai trò của Đảng Cộng sản
Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định trước tiên trong việc thực hiện sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân.
Trong lịch sử chưa có giai cấp nào giành được địa vị thống trị, giữ vai trò lãnh
đạo xã hội mà không tạo ra được trong hàng ngũ của mình một đảng chính trị,
lực lượng tiên phong để lãnh đạo toàn bộ cuộc đấu tranh. Trong cuộc đấu tranh
chống giai cấp tư sản, chừng nào và chỉ khi nào giai cấp công nhân tự tổ chức ra
chính đảng của mình để lãnh đạo cuộc đấu tranh thì mới đảm bảo giành được
thắng lợi trọn vẹn, hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình. Nếu không có
chính đảng lãnh đạo, giai cấp công nhân chỉ có thể đấu tranh tự phát , đấu tranh
vì mục đích kinh tế, chứ không phải là cuộc đấu tranh tự giác, đấu tranh vì mục
đích chính trị. Chính vì vậy, Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định hàng đầu đảm
bảo cho giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.
Với một Đảng Cộng sản chân chính thì sự lãnh đạo của Đảng chính là sự lãnh
đạo của giai cấp công nhân. Đảng với giai cấp là thống nhất, nhưng Đảng có
trình độ lý luận và tổ chức cao nhất để lãnh đạo giai cấp công nhân và toàn thể
dân tộc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Để làm tròn vai trò
đó, Đảng Cộng sản phải là một đảng kiểu mới, một đảng mácxít – lêninnít.
1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản Việt Nam
Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên
một cách toàn diện những vấn đề về Đảng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản
Việt Nam đã trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng ta.
1. Đảng cộng sản là nhân tố hàng đầu đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng
a) Sự cần thiết phải có Đảng cộng sản để lãnh đạo cách mạng Từ sau chiến tranh thế
giới thứ nhất đến đầu năm 1930 đã có nhiều tổ chức chính trị với những hoạt động cứu
nước sôi nổi mặc dù đấu tranh liên tục và anh dũng nhưng đều bị thất bại trong nhiệm vụ
giành lấy độc lập dân tộc. nguyên nhân chủ yếu là các tổ chức đó chưa đưa ra được
đường lối lãnh đạo đúng đắn, không tập hợp và phát huy sức mạnh của toàn dân tộc,
không gắn cách mạng Việt Nam với cách mang thế giới.
b) Đảng là yếu tố quyết định thắng lợi
Người khẳng định: Trong thời đại hiện nay, giai cấp công nhân là giai cấp độc nhất
và duy nhất có sứ mệnh là lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng. Người khẳng
định: “Đặc tính cách mạng của giai cấp công nhân là kiên quyết, triệt để, tập thể, có tổ
chức, có kỷ luật đồng thời tinh thần đấu tranh của họ ảnh hưởng và giáo dục các tầng lớp
khác vì vậy mà giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo.
Cùng với việc lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, Hồ
Chí Minh khẳng định tính tất yếu phải có Đảng cộng sản. Người phân tích: “Kinh nghiệm
thế giới và trong nước chứng tỏ rằng: những cuộc đấu tranh tự phát của nhân dân, thường
không có mục đích rõ rang, kế hoạch đầy đủ, tổ chức chắc chắn. Kết quả là thất bại.
muốn thắng lợi thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo”.
Hồ Chí Minh khẳng định: “Cần có sự lãnh đạo của một đảng biết vận dụng một
cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể ở nước thì mới có thể đưa cách
mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công”.
2. Đảng cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với
phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam
Đây là luận điểm mới của Hồ Chí Minh về sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam.
Trong khi khẳng định quy luật chung ra đời của Đảng cộng sản, Người đánh giá cao
phong trào yêu nước ở Việt Nam, xem nó như một thành tố hình thành nên Đảng cộng sản Việt Nam.
Ở Nguyễn Ái Quốc hai yếu tố phong trào công nhân và phong trào yêu nước không
tách rời nhau mà hòa quyện với nhau, kẻ thù của giai cấp công nhân cũng là kẻ thù của cả
dân tộc. vì thế quyền lợi của giai cấp và quyền lợi của dân tộc thống nhất với nhau. Muốn
giải phóng giai cấp trước hết phải giải phóng dân tộc.
Chủ nghĩa yêu nước đã dẫn Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, ra sức
chuẩn bị các điều kiện cho sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam để lãnh đạo cuộc đấu
tranh giành độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho đồng bào. Phong trào yêu
nước chống Pháp ở Việt Nam đầu thế kỷ XX thất bại đã đưa những trí thức yêu nước
chuyển dần sang khuynh hướng chính trị vô sản, tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin và những
tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, góp phần tích cực thúc đẩy quá trình hình
thành Đảng cộng sản Việt Nam.
Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập năm 1925 là
một điển hình cho sự thành công về sự kết hợp chủ nghĩa Mác Lênin với phong trào yêu
nước. “Đảng kết hợp phong trào cách mạng Việt Nam với chủ nghĩa Mác – Lênin”.
Đầu năm 1930, khi phong trào công nhân và phong trài yêu nước Việt Nam đã kết
thành một làn song cách mạng dân chủ vô cùng mạnh mẽ, đòi hỏi một tổ chức lãnh đạo
thống nhất và một đường lối chính trị đúng đắn, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động triệu tập
và chủ trì hội nghị thành lập Đảng và thống nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng cộng sản Việt Nam.
Đảng cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện là kết quả của sự
sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử đấu tranh dân tộc và lịch sử đấu tranh giai cấp ở Việt
Nam dưới ánh sáng của thời đại mới, là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin
với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam trong những năm 20 của thế
XX. Đó là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
3. Đảng cộng sản Việt Nam là “đảng của giai cấp công nhân đồng thời là đảng của
dân tộc Việt Nam”
Vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về công tác xây dựng
Đảng kiểu mới cảu giai cấp công nhân, Hồ Chí Minh đã tích cực chuẩn bị về tư tưởng,
chính trị cho việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Trong quá trình lãnh đạo cách
mạng, lãnh đạo Đảng, Hồ Chí Minh đã bổ sung, và phát triển chủ nghĩa Mác Lênin về
công tác xây dựng Đảng. Người nêu ra luận điểm quan trọng là Đảng cộng sản Việt Nam
là Đảng của giai cấp công nhân đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam. Tại đại hội II
của Đảng, Hồ Chí Minh khẳng định: Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động và của cả dân tộc là một. Chính vì Đảng cộng sản Việt Nam là
đàn của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt nam.
Luận điểm nêu trên đã chỉ đạo cách thức tổ chức và hoạt động của Đảng cộng sản
Việt Nam không chỉ thể hiện bản chất giai cấp công nhân, mà còn gắn bó máu thịt với
dân tộc. Mọi hoạt động của Đảng không có lợi ích nào khác ngoài phụng sự giai cấp,
phụng sự nhân dân. Chính vì vậy Đảng cộng sản Việt Nam được nhân dân thừa nhận và
gọi một cách gần gũi là “Đảng ta”. Đó là một cội nguồn sức mạnh của Đảng.
Nói Đảng của giai cấp, đồng thời là của dân tộc song không có nghĩa là “Đảng
toàn dân” không mang bản chất giai cấp mà đó là Đảng mang bản chất giai cấp công
nhân. Sở dĩ có đặc trưng đó là vì khác hẳn các chính đảng khác của giai cấp bóc lột, giai
cấp công nhân có lợi ích thống nhất với lợi ích của giai cấp cẩn lao và lợi ích của toàn
dân tộc. theo Hồ Chí Minh bản chất giai cấp công nhân không dừng lại ở số lượng đảng
viên xuất than từ công nhân, mà cơ bản là nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác
– Lênin. Mục tiêu, đường lối của Đảng thực sự vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội, giải phóng con người. Đảng không chỉ kết hợp những người ưu tú trong
giai cấp công nhân, mà còn kết nạp những người ưu tú trong giai cấp nông dân, trong đội
ngũ tri thức và các thành phần khác đã được giác ngộ, tự giác đứng trên lập trường của giai cấp công nhân.
4. Đảng cộng sản Việt Nam phải lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm cốt
Trong tác phẩm Đường cách mệnh (1927) Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Đảng muốn vững
thì chủ nghĩa làm nòng cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy.
Đảng mà không có chủ nghĩa như người không có trí khôn, tàu không có kim chỉ nam.
Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất chắc chắn
nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác – Lênin.
Theo Hồ Chí Minh, nếu không có lý luận dẫn đường, Đảng chỉ là một tập hợp ngẫu
nhiên, rời rạc thiếu thống nhất và không có sức mạnh. Chủ nghĩa Mác Lênin chính là học
thuyết khoa học “chân chính nhất, cách mạng nhất” vì nó chỉ ra cho Đảng mục tiêu, con
đường thực hiện sứ mệnh giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và giải
phóng dân tộc, xóa bỏ áp bức bất công, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp.
Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin “làm cốt” theo Hồ Chí Minh không có nghĩa là giáo
điều, máy móc theo từng câu, từng chữ mà chính là nắm vững tinh thần của chủ nghĩa
Mác – Lênin, nắm vững lập trường quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác –
Lênin đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, tham khảo
những kinh nghệm các nước, vận dụng sáng tạo những vào hoàn cảnh cụ thể của Việt
Nam để định ra chính sách và đường lối đúng đắn cho cách mạng. Với tinh thần độc lập
tự chủ và sáng tạo, Hồ Chí Minh đã nêu lên một chuẩn mực cho mọi người cách mạng về
sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác Lênin để giải quyết thành công những vấn đề
mà cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng thế giới đặt ra.
5. Đảng cộng sản Việt Nam phải được xây dựng theo những nguyên tắc của Đảng
kiểu mới của giai cấp vô sản
Nếu khái quát những luận điểm của Hồ Chí Minh, có thể thấy Người đã để cập
những nguyên tắc xây dựng Đảng sau đây:
a) Một là tập trung dân chủ Theo Hồ Chí Minh, dân chủ và tập trung là hai mặt có
mối quan hệ gắn bó và thống nhất với nhau trong một nguyên tắc. dân chủ để đi đến tập
trung, là cơ sở để tập trung, chứ không phải là dân chủ theo kiểu phân tán, tùy tiện, vô tổ
chức. Tập trung là tập trung trên cơ sở dân chủ, chứ không phai tập trung quan liêu theo
kiểu độc đoán chuyên quyền.
Về tập trung. Người nhấn mạnh: Phải thống nhất về tư tưởng, tổ chức hành động. do
đó thiểu số phải phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, mọi đảng viên phải chấp
hành vô điều kiện nghị quyết của Đảng. Còn dân chủ, như Người đã phân tích đó là “của
quý báu nhất của nhân dân”, là thành quả của cách mạng. Người đã viết: “Chế độ ta là
chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi
người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà
cũng là một nghĩa vụ của mọi người.
b) Hai là tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Theo Hồ Chí Minh, đây là nguyên tắc
lãnh đạo của Đảng. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người đã phân tích rất rõ về
nguyên tắc này: một người dù tài giỏi đến mấy cũng không thể thấy hết mọi mặt của vấn
đề, càng không thể thấy hết được mọi việc, hiểu hết được mọi chuyện. vì vậy càng phải
có nhiều người tham gia lãnh đạo. nhiều người thì nhiều kiến thức, người thây mặt này.
người thay mặt kia, do đó hiểu được mọi mặt, nọi vấn đề. Về cá nhân phụ trách, Người
chỉ rõ việc gì đã được tập thể bàn bạc kỹ lưỡng. kế hoạch đã được định rõ thì cẩn giao
cho một người phụ trách, nếu giao cho một nhóm người thì cũng cần có một người phụ
trách chính. Đối với nguyên tắc này Người đã kết luận: “Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi
đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan, kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá
nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập
thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn đi đôi với nhau”.
c) Ba là tự phê bình và phê bình
Hồ Chí Minh rất coi trọng nguyên tắc này. Người coi đây là nguyên tắc sinh hoạt
của Đảng, là luật phát triển của Đảng. Người đặt tự phê bình lên trước để mỗi đảng viên
trước hết tự mình phải thấy rõ mình, để phát huy ưu điểm khắc phục nhược điểm. một
người biết tự phê bình tốt thì mới đi phê bình người khác được.
Nhưng thực hiện tự phê bình và phê bình thật đúng đắn và nghiêm túc thật không
phải chuyện dễ dàng. Muốn thực hiện tốt nguyên tắc này, đòi hỏi mỗi người phải trung
thực, chân thành với bản than mình cũng như với người khác.
d) Bốn là kỷ luật nghiêm minh, tự giác
Hồ Chí Minh rất coi trọng việc xây dựng một kỷ luật nghiêm minh và tự giác trong
Đảng để tạo nên sức mạnh to lớn của Đảng: Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tỉnh thần kỷ
luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm minh của cán bộ đảng viên. Nghiêm minh là thuộc về
tổ chức Đảng, vì đó là kỷ luật đối với mọi cán bộ, đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật
của Đảng. Tự giác là thuộc về mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên đối với Đảng, một tổ chức
của những người tự nguyện đứng trong hàng ngũ để cùng chiến đấu cho độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội. Kỷ luật này là lòng tự giác của Đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Đảng,
e) Đoàn kết thống nhất trong Đảng
Trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài và gian khổ, toàn Đảng phải đoàn kết thành
một khối vững chắc, toàn đảng phải thống nhất ý chí và hành động. mọi đảng viên phải
bảo vệ sự đoàn kết thống nhất của Đảng như bảo vệ con ngươi của mắt mình.
Để xây dựng và đoàn kết thống nhất trong Đảng, Người thường nêu những yêu cầu
như: phải thực hiện và mở rộng dân chủ nội bộ để cán bộ đảng viên có thể tham gia bàn
bạc đến nơi đến chốn những vấn đề hệ trọng của Đảng; phải thường xuyên thực hiện tự
phê bình và phê bình với tinh thần trung thực, chân thành, thẳng thắn, tự nghiêm khắc với
mình và có tình thương yêu đồng chí; phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng,
chống chủ nghĩa cá nhân với bao nhiêu thứ tệ nạn từ chủ nghĩa cá nhân mà ra: tham ô,
lãng phí, quan lieu, bè cánh, cơ hội, dối trá, chạy theo chức, quyền, danh, lợi...
6. Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đảng
lãnh đạo, dân làm chủ. Phải thường xuyên chăm lo củng cố moi quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân.
Bất kỳ đảng phái nào muốn thực hiện được ý đồ chính trị của mình thì cũng đều
phải huy động, tập hợp nhân dân. Nhưng sự khác nhau căn bản giữa phương pháp của
Đảng cộng sản so với các Đảng tư sản là việc tập hợp quần chúng nhân dân nhằm thực
hiện những công việc vì chính bản than quân chúng. Đảng cộng sản không có mục đích
tự thân mà Đảng ra đời nhằm phục vụ nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo là nhằm
“lấy tài dân, sức dân để làm những công việc có lợi cho dân”, chứ không phải vì lợi ích
của người lãnh đạo. Mục tiêu lãnh đạo của Đảng chính là vì độc lập và tự do của dân tộc,
hạnh phúc và dân chủ của nhân dân. Với ý nghĩa đó, sự lãnh đạo của Đảng đồng nghĩa là
“đầy tớ” của nhân dân. Khi trở thành Đảng cầm quyền thì Đảng càng phải ý thúc đẩy đủ
sâu sắc chức trách xã hội của mình. Nếu không thực sự là đây tớ của nhân dân, thiếu gắn
bó mật thiết với nhân dân, Đảng sẽ rơi vào trạng thái quan liêu, do đó sẽ mất đi sức sống
vốn có của nó. Dựa vào dân, gắn bó mật thiết với nhân dân là điều kiện tồn tại và phát
triển của Đảng. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thường xuyên đi vào quân
chúng nhân dân, tổng kết, đúc kết ý kiến của quần chúng nhân dân biên thành chủ trương
của người lãnh đạo để quahy trở lại chỉ đạo quân chúng. Người cũng lưu ý: người lãnh
đạo phải biết tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, nhưng tuyệt đối không theo đuôi quần chúng.
Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, do có đường lối đúng đắn và có sự gắn bó
máu thịt với nhân dân, Đảng đã được nhân dân thừa nhận là Đảng duy nhất có vai trò
lãnh đạo cách mạng Việt Nam và trong suốt tiến trình đi lê của cách mạng Việt Nam
Đảng ta hoàn toàn xứng đáng với sự tin cậy ấy.
Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, luận điểm Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành
của nhân dân vẫn còn nguyên giá trị.
7. Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới
Để xứng đáng là một Đảng cách mạng chân chính lãnh đạo sự nghiệp cách mạng to
lớn của giai cấp và dân tộc, một Đảng “vừa là đạo đức, vừa là văn minh”, một Đảng tiêu
biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại, Đảng phải thường xuyên
chăm lo tới sự chỉnh đốn và đổi mới bản thân mình. Chỉnh đốn và đổi mới Đảng là nhằm
làm cho Đảng trong sạch vững mạnh, vững mạnh về cả ba mặt chính trị, tư tưởng, đạo
đức, làm cho đội ngũ cán bộ đảng viên không ngừng nâng cao phẩm chất và năng lực
trước những yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng.
Đối với toàn Đảng. Người cũng chỉ rõ là Đảng sống trong xã hội, mỗi cán bộ, đảng
viên đều chịu ảnh hưởng của xã hội, cả cái tốt và cái xấu, cái hay và cái dở. Chỉ có thể
phát huy được cái tốt, cái hay lọc bỏ cái xấu, cái dở bằng việc rèn luyện thường xuyên
của mỗi cán bộ, đảng viên, thường xuyên chú ý đến việc chỉnh đốn Đảng.
Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề này trước những bước chuyển của cách mạng,
vì đây là thời điểm thường có những bất cập, bên cạnh đó là những chao đảo, suy thoái có thể xảy ra.
Trước lúc đi xa. Hồ Chí Minh để lại những điều tâm huyết, căn dặn toàn đảng:
"Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn
viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý
phục vụ nhân dân. Hồ Chí Minh nêu lên một luận điểm quan trọng: “Một dân tộc, một
đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm
nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu long dạ không trong sáng
nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Luận điểm trên đây thực sự là một chân lý, không chỉ
phản ánh đúng thực tiễn ở nước ta, mà còn ở nhiều nơi trên thế giới. Nó mãi mãi là lời
cảnh tỉnh có ý nghĩa rất sâu xa đối với Đảng cộng sản, đối với mỗi đảng viên cộng sản.
1.2.2.2. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản
Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là vấn đề chiến lược có tính
nguyên tắc, bởi vậy, cần kế thừa và phát triển những bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo
nhân dân ta đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong quá trình lãnh đạo, Đảng tiếp tục tích cực tổng kết thực tiễn kết hợp với nghiên
cứu lý luận để nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về vai trò lãnh đạo của Đảng; không
ngừng bổ sung, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nước, xã hội nói chung và các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam nói riêng trong thời kỳ mới.