-
Thông tin
-
Quiz
Lý thuyết ôn tập - Kinh tế chính trị Mác - Lênin | Đại học Tôn Đức Thắng
Kinh tế thị trường định xã hội chủ nghĩa: thực chất là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có ựu quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tài liệu được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!
Kinh tế chính trị (THM2) 261 tài liệu
Đại học Tôn Đức Thắng 3.5 K tài liệu
Lý thuyết ôn tập - Kinh tế chính trị Mác - Lênin | Đại học Tôn Đức Thắng
Kinh tế thị trường định xã hội chủ nghĩa: thực chất là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có ựu quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tài liệu được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!
Môn: Kinh tế chính trị (THM2) 261 tài liệu
Trường: Đại học Tôn Đức Thắng 3.5 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:





Tài liệu khác của Đại học Tôn Đức Thắng
Preview text:
Phần 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 Kinh tế thị trường là gì ?
Khái niệm : Kinh tế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế phát triển cao của kinh tế hàng
hoá mà mọi yếu tố đầu vào và đầu ra đều được thực hiệ qua thị trường =
- Kinh tế thị trường định xã hội chủ nghĩa: thực chất là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, vận động theo cơ chế thị trường có ựu quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.2. Đặc trưng của nền kinh tế thị trường
- Có sự phân công chuyên môn hoá trong sản xuất sản phẩm xã hội ngày càng cao.
- Tự do lựa chọn nội dung trao đổi, tự do lựa chọn đối tác trao đooir và tự do thoả thuận giá
cả theo cách thuận mua vừa bán .
- Hoạt động mua bán được điễn ra một cách thường xuyên, ổn điinhj.
- Các đối tác tham gia trong nên kinh tế thị trường đều thei đuổi lợi ích của mình, đó chính là lợi nhuận.
- Sự vận động của các quy luật khách quan trong nền kinh tế thị trường (quy luật giá trị, quy
luật cạnh tranh, quy luật cung cầu)
- Dẫn dắt hành vi, thái độ ứng xử của các chủ thể tham gia thị trường.
1.3 Những ưu thế và khuyết điểm cơ bnar của nền KTTT Những ưu thế :
- Tự động đáp ứng nhu cầu có thể thanh toán được của XHCN một cahcs linh hoạt và hợp lý.
- Có khả năng huy động tối đa mọi nền tảng của Xh.
- Tạo ra động lực mạnh để thúc đẩy hoạt động của các DN đạt hiệu quả cao, va thông qua phá
sản tạo ra cơ chế đâof thải các DN yếu kém .
- Phản ứngnhanh nhạy truớc các thay đổi nhu cầu Xh và các điều kiện kinh tế trong nước và thế giới.
- Buoojc các Dn phải thường xuyên học hỏi lẫn nhau,hạn chết các sai lầm trong kinh doanh.
- Tạo động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ kỹ thuật, nền kinh
tế năng động và đạt hiệu quả cao. Những khuyết điểm :
- Động lực lợi nhuận cao tạo ra môi trường thuận lợi dẫn đến nguy cơ vi phạm pháp luật,
thương mại hóa các giá trị đạo đức và đời sống tinh thần.
- Sự cạnh tranh không tổ chức dẫn đến mất cân đối vĩ mô, lạm phát, thất nghiệp, sự phát triển
có tính chu kỳ của nền kinh tế.
- Sự cạnh tranh đẫn đến độc quyền làm hạn chế nghiêm trọng các ưu điểm của KTTT
- Tạo ra sự bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo
- Lợi ích chung dài hạn của XH không được chăm lo.
- Mang theo các tệ nạn như buôn gian bán lậu, tham nhũng,...
- Tài nguyên thiên nhiên và môi trường bị tàn phá một cách có hệ thống, nghiêm trọng và lan rộng.
- Sản sinh và dẫn đến các cuộc chiến tranh kinh tế.
PHẦN 2: ĐẶC TRƯNG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIÊT NAM HIÊN NAY
A) Đặc trưng của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Việt Nam 1)Về Mục tiêu:
Phát triển lực lượng sản xuất: Mục tiêu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc
nâng cao năng suất lao động và khả năng sản xuất của nền kinh tế. Việc phát triển lực lượng
sản xuất không chỉ nhằm tăng cường sức mạnh kinh tế mà còn tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
Xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội: Điều này bao gồm việc đầu tư vào
cơ sở hạ tầng, công nghệ và các lĩnh vực quan trọng khác để xây dựng nền tảng cho một xã
hội công bằng và văn minh.
Thực hiện các mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh:
Đây là các mục tiêu cốt lõi của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bao gồm
việc nâng cao mức sống của người dân, bảo vệ môi trường, và đảm bảo sự phát triển bền vững và công bằng.
2)Về quan hệ sở hữu và thành phần kinh tế -Sở hữu:
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam tồn tại nhiều hình thức sở
hữu về tư liệu sản xuất, bao gồm cả công hữu và tư hữu.
Trước đổi mới: Nền kinh tế Việt Nam chỉ có một chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất,
đó là chế độ công hữu (gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể).
Sau đổi mới: Đảng Cộng sản Việt Nam thừa nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở
hữu, bao gồm công hữu và tư hữu. Hiện nay, có bốn thành phần kinh tế chính: kinh tế nhà
nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Các thành phần
kinh tế này bình đẳng trước pháp luật và được Nhà nước khuyến khích phát triển. -Phân phối:
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện đa dạng hóa các hình thức phân
phối dựa trên kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác
vào sản xuất.Có 4 cơ chế phân phối
Kết quả lao động: Phân phối dựa trên kết quả lao động của mỗi cá nhân, đảm bảo sự
công bằng và khuyến khích năng suất.
Hiệu quả kinh tế: Phân phối dựa trên hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp và cá
nhân, thúc đẩy sự phát triển và cạnh tranh lành mạnh.
Đóng góp vốn và các nguồn lực khác: Phân phối dựa trên mức đóng góp vốn và các
nguồn lực khác vào quá trình sản xuất, tạo động lực cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp.
Cơ chế phân phối này tạo động lực kích thích các chủ thể kinh tế nâng cao hiệu quả hoạt
động, sản xuất, kinh doanh, đồng thời hạn chế bất công trong xã hội. Phân phối ở Việt Nam
chủ yếu dựa trên kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực
khác và thông qua phúc lợi xã hội. -Cơ chế vận hành
+Công bằng xã hội:
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa luôn gắn liền với phát triển văn
hóa, giáo dục, xây dựng con người và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Chính sách kinh tế
và xã hội được kết hợp chặt chẽ, đảm bảo mọi người có cơ hội và điều kiện phát triển toàn diện.
Phát triển văn hóa và giáo dục: Nền kinh tế luôn đi đôi với việc phát triển văn hóa
và giáo dục, xây dựng con người toàn diện, tạo ra môi trường xã hội văn minh và tiến bộ.
Thực hiện công bằng xã hội: Nền kinh tế hướng đến mục tiêu công bằng xã hội,
đảm bảo mọi người đều có cơ hội phát triển và hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế. Chính sách
kinh tế và xã hội được thiết kế để giảm bớt sự phân cực giàu nghèo, hạn chế phân hóa xã hội,
và đảm bảo sự bình đẳng trong các lĩnh vực đời sống.
Kết hợp chính sách kinh tế và xã hội: Sự kết hợp chặt chẽ giữa chính sách kinh tế
và chính sách xã hội giúp đảm bảo sự phát triển bền vững và hài hòa. Nền kinh tế không chỉ
tập trung vào tăng trưởng GDP mà còn chú trọng đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống của
người dân, bảo vệ môi trường, và đảm bảo quyền lợi của các nhóm yếu thế trong xã hội.
+Quản lý của Nhà nước:
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đại diện cho đa số nhân dân và bảo vệ quyền
lợi, lợi ích của nhân dân. Quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, kế hoạch và chính
sách, đồng thời sử dụng cơ chế thị trường để kích thích sản xuất và giải phóng sức sản xuất,
nhằm bảo vệ lợi ích của nhân dân và xã hội.
Pháp luật: Nhà nước sử dụng hệ thống pháp luật để quy định và điều chỉnh các hoạt
động kinh tế, đảm bảo tính minh bạch và công bằng.
Chiến lược và kế hoạch: Nhà nước đưa ra các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh
tế dài hạn, nhằm định hướng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Chính sách: Nhà nước áp dụng các chính sách kinh tế để điều chỉnh và hỗ trợ các
hoạt động kinh tế, đồng thời bảo vệ quyền lợi của các nhóm yếu thế trong xã hội. B) Thực trạng 1)Thực trạng
-Sau 35 năm đổi mới, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã hình thành và phát
triển, có nhiều yếu tố của nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế và bảo đảm định hướng XHCN.
Vd: Từ năm 1986, quá trình đổi mới đã giúp Việt Nam chuyển từ một quốc gia
nghèo trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp.
-Nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần; thị trường đã phát huy vai
trò trong việc xác định giá cả, phân bổ nguồn lực, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
.vd : Các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vẫn giữ vai trò chủ đạo,Các doanh nghiệp
tư nhân hoạt động đa dạng trong nhiều ngành, từ sản xuất, dịch vụ đến công nghệ, Việt Nam
đã tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA), mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu.
Nhà nước pháp quyền XHCN quản lý và điều tiết nền kinh tế để phát triển bền vững
cả về kinh tế, xã hội, và môi trường.
vd:Năm 2020: Mặc dù bị ảnh hưởng bởi Covid-19, Việt Nam vẫn đạt tăng trưởng
GDP 2,91%, nằm trong nhóm quốc gia có tăng trưởng cao nhất thế giới. Quy mô kinh tế đạt
hơn 343 tỷ USD, lớn thứ 4 Đông Nam Á. 2)Hạn chế
-Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam vẫn thấp so với thế giới, cần nỗ lực
nhiều để đạt mục tiêu phát triển.
-Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa đạt mục tiêu; nền kinh tế còn yếu trong khả năng chống chịu.
-Chất lượng tăng trưởng chậm cải thiện, nhiều doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả.
-Một số chính sách, quy định pháp luật còn bất cập, cải cách hành chính chưa triệt để.
-Rủi ro từ các biến thể virus SARS-CoV-2 và tiến độ tiêm chủng không đồng đều có
thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế 3.)Giải pháp
Để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, cần phải:
1. Nhận thức đầy đủ và toàn diện về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đảm bảo
phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.
2. Xác định rõ vai trò của kinh tế tư nhân là động lực quan trọng, trong khi kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo.
3. Nhà nước đóng vai trò định hướng, tạo môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng,
sử dụng chính sách và các nguồn lực điều tiết nền kinh tế.
4. Thể chế hóa quyền sở hữu tài sản, bảo đảm công khai, minh bạch, và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên.
5. Mở rộng và hiệu quả kinh tế đối ngoại