








Preview text:
Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Khái niệm: Cơ sở hạ tầng: •
Với tư cách là khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử:
“Cở sở tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế
- Với tư cách là khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử: “Cơ sở hạ tầng
là toàn bộ những quan hệ sản xuất họp thành cơ cấu kinh tế của một xã
hội nhất định”. CSHT ở đây là một phạm trù triết học, cần phân biệt với
thuật ngữ cơ sở hạ tầng trong ngành xây dựng (điện,đường, trường, trạm) •
Về mặt kết cấu cơ sở hạ tầng gồm có: quan hệ sản xuất thống trị, -
Về mặt kết cấu cơ sở hạ tầng gồm có: quan hệ sản
xuất thống trị, những quan hệ sản xuất tàn dư của thế hệ trước đó,
những quan hệ sản xuất là nền móng của xã hội sau. Trong đó quan hệ
sản xuất thống trị giữ địa vị chi phối, có vai trò chủ đạo quyết định tính
chất của một cơ sở hạ tầng nhất định. Tuy nhiên, hai kiểu quan hệ sản
xuất còn lại cũng có vai trò nhất định •
Nếu xét trong nội bộ phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất là hình
thức phát triển của lực lượng sản xuất. Còn
nếu xét trong tổng thể các -
Nếu xét trong nội bộ phương thức sản xuất, quan hệ
sản xuất là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất. Còn nếu xét
trong tổng thể các quan hệ xã hội, các quan hệ sản xuất hợp thành cơ
sở kinh tế của xã hội đó. Đây là cơ sở hiện thực để con người dựng
nên kiến trúc thượng tầng tương ứng. 2.
Kiến trúc thượng tầng:
- Với tư cách là khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử “Kiến trúc thượng
tầng là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng xã hội, những tiết chế tương
ứng và những quan hệ nộ tại của chúng được hình thành trên một cơ sở
hạ tầng nhất định”. -
Về mặt kết cấu thượng tầng gồm: những quan điểm, tư
tưởng của xã hội (chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo,…) và
những thiết chế xã hội tương ứng (nhà nước, đảng phai, giao
hội và những đoan thể xã hội khác). -
Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm
riêng, có quy luật vận động phát triển riêng, nhưng chúng liên hệ với
nhau, tác động qua lại lẫn nhau và đều hình thành trên cơ sở hạ tầng.
Song, mỗi yếu tố khác nhau có quan hệ khác nhau đối với cơ sở hạ
tầng. Có những yếu tố như chính trị, pháp luật có quan hệ trực tiếp với
cơ sở hạ tầng; còn những yếu tố như triết học, tôn giao, nghệ thuật chỉ
quan hệ gian tiếp với nó. II.
Mối quan hệ biện chứng giữa CSHT- KTTT
Mỗi một xã hội đều có cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của nó, đây
là hai mặt của đời sống xã hội và được hình thành một cách khách quan,
gắn liền với những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể. Không như các quan
niệm duy tâm giải thích sự vận động của các quan hệ kinh tế bằng những
nguyên nhân thuộc về ý thức, tư tưởng hay thuộc về vai trò của nhà nước
và pháp quyền, trong Lời tựa tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế
chính trị, C.Mác đã khẳng định: “Không thể lấy bản thân những quan hệ
pháp quyền cũng như những hình thái nhà nước, hay lấy cái gọi là sự
phát triển chung của tinh thần của con người, để giải thích những quan hệ
và hình thái đó, mà trái lại, phải thấy rằng những quan hệ và hình thái đó
bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất”(1).
- Thứ nhất: Vai trò quyết định của CSHT với KTTT thể hiện qua:
+ Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc
thượng tầng tương ứng với nó. Tính chất của kiến trúc thượng tầng là
do tính chất của cơ sở hạ tầng quyết định. Trong xã hội có giai cấp, giai
cấp nào thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị về mặt chính
trị và đời sống tinh thần của xã hội.
Các mâu thuẫn trong kinh tế, xét đến cùng, quyết định các mâu thuẫn
trong lĩnh vực chính trị tư tưởng; cuộc đấu tranh giai cấp
về chính trị tư tưởng là biểu hiện những đối kháng trong đời sống kinh
tế. Tất cả các yếu tố của kiến trúc thượng tầng như nhà nước, pháp
quyền, triết học, tôn giáo,… đều trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào
cơ sở hạ tầng, do cơ sở hạ tầng quyết định.
VD: Trước đây, vào khoảng từ 2000-4000 năm tcn, trên thế giới có xuất
hiện hình thái kinh tế chiếm hữu nô lệ: quan hệ sản xuất chiếm hữu nô
lệ, đất đai và các tư liệu sản xuất khác hầu hết thuộc sở hữu tư nhân
của các chủ nô, kể cả nô lệ, từ đó hình thành nên kiểu nhà nước chủ nô.
Cơ sở kinh tế xã hội (hay CSHT) của nhà nước chủ nô là nhân tố quyết
định bản chất, chức năng, bộ máy, hình thức nhà nước (hay KTTT) cũng
như quá trình tồn tại, phát triển của nhà nước chủ nô. Nô lệ có địa vị vô
cùng thấp kém, họ bị coi là tài sản thuộc sở hữu của chủ nô, chủ nô có
quyền tuyệt đối đối với nô lệ, khai thác bóc lột sức lao động, đánh đập,
đem bán, tặngcho, bỏ đói hay giết chết.
+ Khi cơ sở hạ tầng thay đổi kéo theo kiến trúc thượng tầng cũng thay
đổi theo. Qúa trinh thay đổi diễn ra không chỉ trong giai đoạn thay đổi từ
hình thai kinh tế- xã hội này sang hình thai kinh tế-xã hội khác, mà còn
diễn ra ngay trong bản thân mỗi hình thai kinh tế- xã hội. Sự thay đổi cơ
sở hạ tầng dẫn đến làm thay đổi kiến trúc thượng tầng diễn ra rất phức
tạp. Trong đó, có những yếu tố của kiến trúc thượng tầng thay đổi nhanh
chóng cùng với sự thay đổi cơ sở hạ tầng như chính trị, pháp luật.
VD: +) Thay đổi từ HT KT-XH này sang HT-KT XH khác: Nhà nước
phong kiến là nhà nước của giai cấp địa chủ phong kiến, cơ sở hình thành
của nhà nước là quan hệ sản xuất phong kiến mà đặc trưng là chế độ
chiếm hữu ruộng đất của giai cấp này. Các địa chủ phong kiến nắm trong
tay đủ mọi quyền lực, còn nông dân chỉ có quyền sở hữu nhỏ phụ thuộc
vào địa chủ và hầu như không có quyền gì. Khi nền kinh tế hàng hóa thị
trường phát triển (tức sự thay đổi trong CSHT), sự tập trung tư liệu sản
xuất và xã hội hóa lao động đòi hỏi con người phải có quyền tự do bình
đẳng, hội họp kinh doanh và đảm bảo quyền sở hữu tài sản. Chế độ
phong kiến hà khắc đã không còn phù hợp với quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa. Vì thế các cuộc cách mạng dân chủ tư sản liên tiếp nổ ra dưới
sự lãnh đạo của giai cấp tư sản, lật đổ nhà nước phong kiến, thiết lập nhà
nước tư sản, mở đường cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển.
+) Diễn ra ngay trong bản thân các HT KT-XH: Thời bao cấp, VN ta có
nền kinh tế nhà nước chỉ huy, tức là các thương nghiệp tư nhân bị loại bỏ.
Tuy nhiên dần dần cho tới hiện nay, VN đang phát triển kinh tế
theo nền kinh tế thị trường, có sự tham gia của rất nhiều doanh nghiệp
tư nhân. Các doanh nghiệp được tạo điều kiện để phát triển. Sự thay đổi
này diễn ra ngay trong hình thái KT-XH XHCN.
-Thứ hai: tác động trở lại của KTTT đối với CSHT:
+ Tất cả các yếu tố cấu thành kiến trúc thuowngjt ầng đều có tác động
đến cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, mỗi yếu tố khác nhau có vai trò khác
nhau, có cách thức tác động khác nhau.
+ Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ
tầng diễn ra theo hai chiều. Nếu kiến trúc thượng tầng tác động phù hợp
với các quy lật kinh tế khách quan thì nó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy
kinh tế phát triển; nếu tác động ngược lại, nó sẽ kìm hãm phát triển kinh
tế, kìm hãm phát triển xã hội.
+ Tuy kiến trúc thượng tầng có tác động mạnh mẽ đối
với sự phát triển kinh tế, nhưng không làm thay đổi được tiến trinh phát
triển khác quan của xã hội. III.
Ý nghĩa đời sống xã hội: -
Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT
là cơ sở khoa học cho việc nhận thức một cách đúng đắn mối quan hệ
giữa kinh tế và chính trị. -
Kinh tế và chính trị tác động biện chứng, trong đó kinh
tế tác động chín trị, chính trị tác động trở lại to lớn, mạnh mẽ đối với kinh
tế. Thực chất của vai trò kiến trúc thượng tầng là
vai trò hoạt động tự giác tích cực của các giai cấp, đảng phái vì lợi ích
kinh tế sống còn của mình. Sự tác động của kiến thức thượng tầng đối
với cơ sở hạ tầng trước hết và chủ yếu thông qua đường lối, chính sách
của đảng, nhà nước. Chính vì vậy Lenin viết: “Chính trị là biểu hiện của
sự tập 96trung kinh tế… Chính trị không thể không chiếm vị trí hạng đầu so với kinh tế”. -
Trong nhận thức và thực tiễn, nếu tách rời hoặc tuyệt
đối hóa một yếu tố nào đó giữa kinh tế và chính trị là điều sai lầm. Bởi:
+ Tuyệt đối hóa kinh tế, hạ thấp hoặc phủ nhận yếu tố chính trị là rơi
vào quan điểm duy vật tầm thường, duy vật kinh tế sẽ dẫn đến vô
chính phủ, bất chấp kỷ cương, pháp luật và không tránh khỏi thất bại, đổ vỡ.
+ Còn nếu tuyệt đối hóa về chính trị, hạ thấp hoặc phủ định vai trò của
kinh tế sẽ dẫn đến duy tâm, duy ý chí, nôn nóng, chủ quan, đốt cháy giai
đoạn và cũng không tránh khỏi thất bại.
- Có thể thấy, trong quá trinh lanh đạo cashc mạng, Đảng Cộng Sản Việt
Nam đã rất quan tâm đến nhận thức và vận dụng quy luật này. Điều đó
thể hiện ở chỗ: trong thời kỳ đổi mới đất nước, ĐCS Việt Nam chủ
trương đổi mới toàn diện cả kinh tế và chính trị, trong đó đổi mới kinh tế
là trung tâm, đồng thời đổi mới chính trị từng bước thận trọng vững chắc
bằng những hình thức, bước đi thích hợp; giải quyết tốt mối quan hệ
giữa đổi mới - ổn định – phát triển, giữ vững định hướng XHCN.
Sự vận dụng của CSHT và KTTT ở nước ta hiện nay: -
Trước sự đổi mới năm 1986: đề cao thai quá vai trò của
kiến trác thượng tầng, chính trị là thống soái. Nhà nước, cơ quan quản lí
can thiệp thô bạo vào kinh tế bằng những mệnh lệnh chủ quan, vi phạm
các quy luật kinh tế khách quan => khủng hoảng kinh tế xã hội. -
Từ 1986 đến nay: thực hiện đổi mới toàn diện (kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội), lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước
đổi mới về chính trị, trước hết là đổi mới tư duy về kinh tế, giải quyết tốt
mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định, phát triển, giữ vừng định dướng xã hội chủ nghĩa.
=> Kinh tế quyết định chính trị, nhưng chính trị tác đọng mạnh mẽ qua lại với kinh tế. -
Thực trạng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng nước ta hiện nay:
+ Về cơ sở hạ tầng: nền kinh tế đã đạt tốc đọ tăng trưởng khá cao và
phát triển tương đối toàn diện. Đất nước đã có sự thay đổi cơ bản và
toàn diện, đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội. Kinh tế tăng trưởng
khá nahnh, sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa, phát triển kinh tế
thị tường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh. Đời sống nhân
dân được cải thiện rõ rệt.
=> Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với khả
năng; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nên kinh tế còn kém; cơ
cấu knh tế chuyển dịch chậm. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với
nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn còn tồn tại,
+ Về kiến trúc thượng tầng: qua 25 năm đổi mới: “Nhận thực về
CNXH và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày căng sáng tỏ hơn; hệ
thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội chủ nghĩa và
con được đi lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam đã hình thành những đường
nét cơ bản”. Tuy nhiên, vẫn còn tồn lại một số vấn đề:
Tư duy của Đảng trên một số lĩnh vực chậm đổi mới; một số vấn đề
ở tầm quan điểm, chủ trương lớn chưa được làm rõ nên chưa đạt được
sự thống nhất cao về nhận thức và thiếu dứt khoát trong hoạch định
chính sách, chỉ đạo điều hành.
Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp
yếu kém về phẩm chất và năng lực, vừa thiếu tính tiên phong, gương
mẫu vừa không đủ trình độ, năng lực hoàn thành nhiệm vụ.
Sự phân định giữa vai trò lãnh đạo của Đảng với chức năng quản lý
của NN có lúc có nơi chưa rõ ràng, chồng chéo, buông lỏng.
Ý thức chấp hành PL của cán bộ, nhân dân còn yếu, hệ thống PL chưa
đồng bộ, hoàn chỉnh; đạo đức lối sống sa sút đáng lo ngại, bản chất
văn hóa dân tộc bị sói mòn, tội phạm, tệ nạn XH có xu hướng gia
tăng; sự tấn công của các mặt trái cơ chế thị trường cũng như những
âm mưu chống phá của các thế lực thù địch với VN càng ngày càng lộ rõ và gia tăng.
Tệ quan liêu tham nhũng vẫn còn diễn ra nghiêm trọng
*Sự vận dụng của Đngr CSVN trong việc xây dựng và phát triển
niền kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay: - Về CSHT:
Phát triển kinh tế, công nghiệp hóa- hiện địa hóa đất nước gắn với phát
triển kinh tế tri thức là nhiệm vụ trọng tâm.
+ Tranh thủ các cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi
thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức,
phát triển mạnh các ngành kinh tế và các sản phẩm kinh tế có giá trị tăng cao
dựa nhiều vào tri thức.
+ Đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hoá – hiện đại hoá nông nghiệp và
nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân
Đa dạng hóa các thành phần kinh tế, các kiểu quan hệ sản xuất gắn
liền với các hình thức sở hữu và bước đi thích hợp làm cho quan hệ sản
xuất phù hợp với trinh độ phát triển của lực lượng sản xuất
+ Phát triển kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế,
trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế Nhà nước cùng với
kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
+ Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước: Nhà nước làm tốt
các chức năng định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch và cơ chế; chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của
thị trường. Thực hiện quản lý Nhà nước bằng hệ thống pháp luật, giảm
tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp…
+ Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị
trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh.
Xác lập, củng cố và nâng cao địa vị làm chủ của người lao động trong
nền sản xuất xã hội, thực hiện công bằng ngày một tốt hơn. Thực hiện
nhiều hình thức phân phối, khuyến khích làm giâu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo.
Giuwx vừng độc lập, chủ quyền và bảo vệ lợi ích quốc gia, độc lập dân
tộc, quan hệ kinh tế với nước ngoài. - Về KTTT:
Nâng cao bản linh và trinh độ trí tueetj của Đảng:
+ Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động của Đảng
+ Đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Đảng cộng sản Việt
Nam đối với Nhà nước, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt.
+ Thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung phát triển lý luận, tiếp tục
làm sáng tỏ những vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội của nước ta.
Tiếp tục xây dựng và hoan thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa:
+ Xây dựng hệ thống chính trị XHCN vừa đảm bảo tính quốc tế, tính giai
cấp, tính dân tộc, tính nhân dân; trong đó quyền lực cao nhất thuộc về nhân dân.
+ Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ phù hợp với sự phát triển kinh tế
xã hội để quản lý mọi mặt của xã hội văn minh hiện đại.
+ Cải cách nền hành chính quốc gia, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của
Nhà nước, phát huy dân chủ tăng cường pháp chế XHCN.
+ Phân định rõ chức năng, quyền hạn, trách nhiệm của Đảng, chính
quyền, các ban ngành, các tổ chức quần chúng từ trung ương đến địa phương.
Phát triển các linh vực khao học, giao dục, công nghệ nhằm nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển văn hóa tiến bộ
mang đậm bản sắc dân tộc, giải quyết tốt vấn đề tiến bộ và công bằng xã hội.
Tăng cường củng cố sức mạnh của lực lượng vũ trang, nâng cao cảnh
giá cách mạng, sẵn sang đập tan mọi âm mưu phá hoại nền kinh tế và lật đổ chế độ. END