Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA HTTT KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
----------------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN Đề tài:
MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
VẬN DỤNG VÀO PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ GIÁO DỤC
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Nhóm: 1
Lớp học phần: 241_MLNP0221_26
Người hướng dẫn: Phạm Thị Hương

Hà Nội, tháng 11 năm 2024 1 MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU...........................................................................................3
B. PHẦN NỘI DUNG.......................................................................................5

CHƯƠNG I: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý
THỨC................................................................................................................5

1.1. PHẠM TRÙ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC..............................................5
1.1.1. Phạm trù vật chất..................................................................................................5
1.1.2. Phạm trù ý thức.....................................................................................................7
1.2. MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
......................................................................................................................16

1.2.1. Vật chất quyết định ý thức..................................................................................16
1.2.2. Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất.............................18
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý
THỨC VÀO PHÁT TRIỂN MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ GIÁO
DỤC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.....................................................21

2.1. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ GIÁO DỤC Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY...............................................................................21

2.1.1. Quá trình phát triển kinh tế và giáo dục ở Việt Nam..........................................21
2.1.2. Những thành tựu trong quá trình phát triển kinh tế và giáo dục.........................22
2.1.3. Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình phát triển
kinh tế và giáo dục........................................................................................................24
2.1.4. Nguyên nhân của những hạn chế........................................................................25
2.2. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ KHẮC PHỤC NHỮNG
HẠN CHẾ VÀ TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRONG THỜI
GIAN TỚI...................................................................................................27

2.2.1. Những phương hướng và giải pháp khắc phục hạn chế trong phát triển giáo dục
trong thời gian tới..........................................................................................................27
2.2.2. Những phương hướng và giải pháp để phát triển giáo dục trong thời gian tới...29
C. PHẦN KẾT LUẬN.....................................................................................32 2 A. PHẦN MỞ ĐẦU
Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức là một trong những vấn
đề lý luận cơ bản của triết học, được nghiên cứu và vận dụng trong nhiều lĩnh
vực khác nhau, trong đó có kinh tế và giáo dục. Mối quan hệ này không chỉ là
nền tảng để giải thích sự phát triển của các hiện tượng tự nhiên và xã hội, mà
còn là cơ sở để hiểu rõ hơn về quá trình chuyển hóa và phát triển của các lĩnh
vực này trong giai đoạn hiện nay. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hóa và sự
thay đổi mạnh mẽ trong phương thức giáo dục, việc vận dụng mối quan hệ biện
chứng giữa vật chất và ý thức vào phát triển kinh tế và giáo dục là cần thiết để
tạo ra sự đổi mới và phát triển bền vững.
1. Lý do lựa chọn đề tài:
Trong giai đoạn hiện nay, cả kinh tế và giáo dục đang đối mặt với những
thách thức lớn. Kinh tế toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng với sự xuất hiện của
các công nghệ mới, các mô hình kinh doanh sáng tạo và những thay đổi trong
các cơ cấu kinh tế. Cùng với đó, giáo dục cũng phải đối mặt với yêu cầu nâng
cao chất lượng, đổi mới phương pháp dạy và học, và phát triển những thế hệ có
khả năng sáng tạo và thích ứng với môi trường thay đổi liên tục. Việc hiểu rõ và
vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức sẽ giúp nhận thức
đúng đắn về cách thức phát triển mối quan hệ giữa kinh tế và giáo dục, từ đó
thúc đẩy sự phát triển toàn diện của cả hai lĩnh vực này. Vì vậy, đề tài này được
lựa chọn nhằm làm sáng tỏ sự tương tác giữa vật chất và ý thức trong phát triển
kinh tế và giáo dục, và từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể cho sự phát triển bền
vững trong bối cảnh hiện nay.
2. Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Đề tài này nghiên cứu về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức,
với trọng tâm là việc vận dụng mối quan hệ này vào sự phát triển của hai lĩnh
vực quan trọng: kinh tế và giáo dục. Đề tài sẽ nghiên cứu sự tác động qua lại
giữa các yếu tố vật chất (như cơ sở vật chất, công nghệ, tài nguyên) và ý thức
(như tư duy, nhận thức xã hội, văn hóa giáo dục) trong việc thúc đẩy sự phát
triển của kinh tế và giáo dục, đặc biệt trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và toàn cầu hóa.
3. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của đề tài là làm rõ bản chất của mối quan hệ biện chứng giữa
vật chất và ý thức trong phát triển kinh tế và giáo dục, từ đó phân tích và đánh
giá sự ảnh hưởng của các yếu tố này đối với sự phát triển của nền kinh tế và hệ
thống giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Đề tài sẽ chỉ ra cách thức vận dụng mối
quan hệ này để phát triển, tối ưu hóa các yếu tố vật chất phục vụ cho giáo dục,
và đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững. 4. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm hai lĩnh vực chính: kinh tế và
giáo dục tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đề tài sẽ tập trung vào việc
nghiên cứu sự tương tác giữa các yếu tố vật chất và ý thức trong các chính sách
kinh tế và giáo dục hiện tại, cũng như những tác động của chúng đối với các mô
hình phát triển kinh tế và giáo dục. 3
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu theo phương pháp diễn dịch. Bám sát theo giáo trình triết học
Mác-Lê nin và bài giảng của giáo viên hướng dẫn kết hợp với việc tìm hiểu tài
liệu từ các nguồn trên internet.
6. Phạm vi áp dụng:
Bài luận có thể trở thành tài liệu tham khảo cho mọi người học tập,
nghiên cứu với nội dung liên quan. 4 B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1.1. PHẠM TRÙ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1.1.1. Phạm trù vật chất

Khái niệm: Vật chất theo định nghĩa của Vladimir Ilyich Lenin là cái có
trước, vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc
vào ý thức và là cái quyết định ý thức; là cái tác động lại vật chất; và nó có quan
hệ biện chứng qua lại với nhau.
Quan niệm của các nhà triết học trước Mác
Phạm trù vật chất xuất hiện ngay từ khi triết học mới ra đời trong thời kỳ
cổ đại, dưới chế độ chiếm hữu nô lệ. Tuy nhiên nội dung của phạm trù này
không phải là bất biến mà luôn luôn biến đổi và phát triển.
Khuynh hướng chung của các nhà triết học duy vật thời cổ đại là đi tìm
một thực thể ban đầu nào đó và coi nó là yếu tố tạo ra tất cả các sự vật, hiện
tượng khác nhau của thế giới, tất cả đều bắt nguồn từ đó và cuối cùng đều tan
biến trong đó. Tức là họ muốn tìm một thực thể chung, là cơ sở bất biến của
toàn bộ tồn tại, là cái được bảo toàn trong sự vật dù trạng thái và thuộc tính của
sự vật có biến đổi và được gọi là vật chất (tiếng Latin là materia). Trong lịch sử
triết học cổ đại, các nhà triết học duy vật cũng quan niệm vật chất rất khác nhau.
Thales(624-547 trước Công nguyên) coi vật chất là nước, Anaximenes (585-524
trước Công nguyên) coi vật chất là không khí, Heraclitus(540-480 trước Công
nguyên) coi vật chất là lửa, Democritus (460-370 trước Công nguyên) coi vật
chất là các nguyên tử... Nói chung các nhà triết học cổ đại quan niệm vật chất
dưới dạng cảm tính và quy vật chất thành một thực thể cụ thể, cố định. Mặc dù
có những hạn chế về mặt lịch sử, song những quan niệm trên lại có ý nghĩa tích
cực trong việc đấu tranh chống lại quan niệm duy tâm thời bấy giờ.
Đến thời kỳ cận đại, khoa học phát hiện ra sự tồn tại của nguyên tử, cho
nên quan niệm của thuyết nguyên tử về cấu tạo của vật chất ngày càng được
khẳng định. Trong giai đoạn thế kỷ 17 - thế kỷ 18, mặc dù đã có những bước
phát triển, đã xuất hiện những tư tưởng biện chứng nhất định trong quan niệm về
vật chất, song quan niệm đó ở các nhà triết học duy vật thời kỳ này về cơ bản
vẫn mang tính chất cơ giới, đó là khuynh hướng đồng nhất vật chất với nguyên
tử hoặc với khối lượng. Quan niệm này chịu ảnh hưởng khá mạnh bởi cơ học cổ
điển của Newton, một lĩnh vực của vật lý được coi là phát triển hoàn thiện nhất
thời bấy giờ. Cơ học cổ điển coi khối lượng của vật thể là đặc trưng cơ bản và
bất biến của vật chất; thế giới bao gồm những vật thể lớn nhỏ khác nhau, cái nhỏ
nhất không thể phân chia nhỏ hơn là các nguyên tử; đặc trưng cơ bản của mọi
vật thể là khối lượng; tính tất yếu khách quan trong hiện thực là tính tất yếu
khách quan được thể hiện qua các định luật cơ học của Newton; vật chất, vận
động, không gian và thời gian là những thực thể khác nhau cùng tồn tại chứ 5
không có quan hệ ràng buộc nội tại với nhau. Quan niệm này tồn tại và được các
nhà triết học duy vật cũng như các nhà khoa học tự nhiên nổi tiếng sử dụng cho
đến tận cuối thế kỷ 19.
Karl Marx và Friedrich Engels nêu lên sự đối lập giữa vật chất với ý thức,
về tính thống nhất vật chất của thế giới, về tính khái quát của phạm trù vật chất
và sự tồn tại của vật chất dưới các dạng cụ thể. Theo Engels thì cần phân biệt
các dạng tồn tại khách quan của vật chất và khái niệm về vật chất. Vật chất với
tư cách là một phạm trù triết học không có tồn tại cảm tính khác với các đối
tượng vật chất cụ thể. Theo ông "Những từ như vật chất và vận động chỉ là sự
tóm tắt trong đó chúng ta tập hợp theo những thuộc tính của chúng, rất nhiều sự
vật khác nhau có thể cảm biết được bằng giác quan
"[1]. Engels đặc biệt nhấn
mạnh phê phán quan điểm đem quy vật chất về nguyên tử, về những hạt nhỏ
đồng nhất hoàn toàn giống nhau về chất, chỉ khác nhau về lượng, ông coi đó là
siêu hình, mang tính cơ giới, qua đó ông nêu lên tính vô hạn và vô tận, tính
không thể sáng tạo và không thể tiêu diệt được của vật chất và các hình thức tồn
tại của nó là không gian và thời gian.Ở đây cần phân biệt quan niệm vật chất với
tư cách là một phạm trù triết học với quan niệm của vật lý học và các khoa học khác về vật chất.
Quan niệm của các nhà triết học Mác-Lênin
Theo C.mác và Ph.ăng-ghen:

Vật chất, với tính cách là vật chất, một sáng tạo thuần túy của tư duy, và
là một trừu tượng thuần túy, không có sự tồn tại cảm tính.
Bản thân phạm trù vật chất cũng không phải là sự sáng tạo tuỳ tiện của tư
duy con người, mà trái lại, là kết quả của "con đường trừu tượng hoá" của tư duy
con người về các sự vật, hiện tượng "có thể cảm biết được bằng các giác
Xét về thực chất, nội hàm của các phạm trù triết học nói chung, của phạm
trù vật chất nói riêng chẳng qua chỉ là "sự tóm tắt trong chúng ta tập hợp theo
những thuộc tính chung" của tính phong phú, muôn vẻ nhưng có thể cảm biết
được bằng các giác quan của các sự vật, hiện tượng của thế giới vật
Các sự vật, hiện tượng của thế giới, dù rất phong phú, muôn vẻ nhưng
chúng vẫn có một đặc tính chung, thống nhất đó là tính vật chất - tính tồn tại,
độc lập không lệ thuộc vào ý thức. Theo Lênin:
Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan - cái tồn tại hiện thực bên ngoài
ý thức và không lệ thuộc vào ý thức.
"Đặc tính duy nhất của vật chất mà chủ nghĩa duy vật triết học gắn liền với việc
thừa nhận đặc tính này - là cái đặc tính tồn tại với tư cách là hiện thực khách
quan, tồn tại ở ngoài ý thức chúng ta" Theo .
V.I.Lênin, trong đời sống xã hội thì
"khách quan không phải theo ý nghĩa là một xã hội những sinh vật có ý thức,
những con người, có thể tồn tại và phát triển không phụ thuộc vào sự tồn tại của
những sinh vật có ý thức (...), mà khách quan theo ý nghĩa là tồn tại xã hội
không phụ thuộc vào ý thức xã hội của con người"
Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con người thì
đem lại cho con người cảm giác. V.I.Lênin
khẳng định rằng, vật chất luôn biểu 6
hiện đặc tính hiện thực khách quan của mình thông qua sự tồn tại không lệ thuộc
vào ý thức của các sự vật,hiện tượng cụ thể, tức là luôn biểu hiện sự tồn tại hiện
thực của mình dưới dạng các thực thế.Chủ nghĩa duy vật biện chứng không bàn
đến vật chất một cách chung chung, mà bàn đến nó trong mối quan hệ với ý thức
của con người.Trong đó, xét trên phương diện nhận thức luận thì vật chất là cái
có trước, là tính thứ nhất, là cội nguồn của cảm giác (ý thức); còn cảm giác (ý
thức) là cái có sau, là tính thứ hai, là cái phụ thuộc vào vật chất. Đó cũng là câu
trả lời theo lập trường nhất nguyên duy vật của V.I.Lênin đối với mặt thứ nhất
vấn đề cơ bản của triết học.
Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chăng qua chỉ là sự phản ánh của nó.
Các hiện tượng vật chất luôn tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào các hiện
tượng tinh thân. Còn các hiện tượng tinh thân (cảm giác, tư duy, ý thức...), lại
luôn luôn có nguồn gốc từ các hiện tượng vật chất và những gì có được trong
các hiện tượng tinh thần ấy (nội dung của chúng) chẳng qua cũng chỉ là chép lại,
chụp lại, là bản sao của các sự vật, hiện tượng đang tồn tại với tính cách là hiện thực khách quan.
1.1.2. Phạm trù ý thức
Quan niệm của các nhà triết học trước Mác

Trước nhà triết học Mác – Lênin đã có nhiều quan niệm khác nhau về ý thức.
Mặc đù mới chỉ là nhận thức sơ khai nhưng một phần đã trở thành nền móng
cho việc phát triển các lý luận về ý thức sau này và của Mác – Lênin. Dưới đây
là một số quan điểm tiêu biểu:
Quan điểm của các nhà triết học duy tâm: Plato (427-347 TCN):
Cho rằng thế giới ý thức (ý niệm) là hoàn hảo, bất biến và tồn tại độc lập với
thế giới vật chất (thế giới hiện thực). Ông cho rằng tri thức và ý thức của con
người bắt nguồn từ việc nhận thức thế giới ý niệm.
Ý niệm về cái đẹp, sự thật, và công lý là những mẫu mực tồn tại trong “thế
giới ý niệm,” còn thế giới vật chất chỉ là “cái bóng” không hoàn hảo của nó.
Ví dụ: Một bức tượng nghệ thuật trong đời thực (thế giới vật chất) chỉ là sự
mô phỏng của ý niệm về “cái đẹp” (thế giới ý niệm). Theo Plato, tâm trí con
người có thể hiểu bức tượng này đẹp vì nó đã nhận thức được ý niệm về cái đẹp từ trước. Hegel (1770-1831):
Xem ý thức là sự biểu hiện của Tinh thần tuyệt đối (Absolute Spirit), và toàn
bộ lịch sử nhân loại là quá trình phát triển biện chứng của Tinh thần.
Ý thức không phải là hiện tượng cá nhân mà là một phần của Tinh thần toàn
thể. Tinh thần tự nhận thức qua quá trình mâu thuẫn, phát triển và tự hoàn thiện.
Ví dụ: Sự phát triển của triết học, nghệ thuật, và khoa học là quá trình Tinh
thần tự nhận thức về chính nó. Một triết gia đặt câu hỏi và đi đến một chân lý,
nhưng chân lý này lại bị phản biện, tạo ra một chân lý cao hơn (quá trình biện chứng).
Quan niệm của các nhà triết học duy vật
Democritus (460–370 TCN): 7
Cho rằng ý thức là kết quả của sự vận động của các nguyên tử trong não bộ.
Mọi hiện tượng ý thức, như tư duy hay cảm giác, đều là sản phẩm của các chuyển động vật lý.
Ví dụ: Khi một người nhìn thấy một ngọn nến cháy, Democritus giải thích
rằng hình ảnh của ngọn nến được phát ra dưới dạng dòng nguyên tử nhỏ, đi vào
mắt, và từ đó tạo ra cảm giác về ngọn nến.
Quan niệm của các nhà triết học Mác – Lênin
Nguồn gốc của ý thức
Nguồn gốc tự nhiên
Ý thức không phải là một cái gì đó có sẵn hoặc tồn tại độc lập mà là kết
quả của sự tiến hóa lâu dài của thế giới vật chất.
Cấu trúc vật chất và bộ não con người
Ý thức xuất hiện nhờ sự phát triển của một hệ cơ quan phức tạp, đặc biệt
là bộ não và hệ thần kinh. Bộ não người là cơ quan vật chất có cấu trúc và chức
năng đặc biệt, có khả năng thực hiện các hoạt động tư duy phức tạp.
Sự phức tạp của bộ não con người
Quá trình tiến hóa của sinh giới, từ các sinh vật bậc thấp lên đến con
người, cho thấy sự phát triển dần dần của khả năng phản ánh. Những sinh vật
bậc thấp có khả năng phản ánh đơn giản (như phản xạ), trong khi những động
vật có hệ thần kinh phát triển hơn thể hiện những hình thức phản ánh cao cấp
hơn, đặc biệt là phản ánh tâm lý. 8
Sự tiến hóa thành loài người thông minh
Sự phản ảnh của thế giới khách quan vào bộ óc con người
Triết học Mác - Lênin cho rằng phản ánh là thuộc tính phổ biến của vật chất.
Phản ánh là khả năng ghi lại những tác động của thế giới bên ngoài vào bản thân
một cách chủ động. Ở cấp độ vật chất vô cơ, phản ánh biểu hiện đơn giản như
khi ánh sáng chiếu vào gương hoặc khi đá bị bào mòn bởi nước.
Quan hệ giữa con người với thế giới khách quan là quan hệ tất yếu ngay từ
khi con người xuất hiện. Trong mối quan hệ này, thế giới khách quan, thông qua
hoạt động của các giác quan đã tác động đến bộ óc người, hình thành nên quá trình phản ánh.
Ví dụ: Khi trời mưa, bạn nghe tiếng mưa rơi, cảm nhận sự mát lạnh khi giọt
nước chạm vào da, hoặc nhìn thấy mây đen qua mắt. Bộ óc xử lý các thông tin
này để hình thành nhận thức rằng “đang có mưa” và có thể suy nghĩ ra cách đối
phó, ví dụ như mang áo mưa. Nguồn gốc xã hội
Ý thức không chỉ hình thành đơn thuần nhờ sự phát triển tự nhiên mà còn
chịu ảnh hưởng rất lớn từ các điều kiện xã hội. Triêt học Mác – Lênin đã nhấn
mạnh vai trò của yếu tố xã hội trong việc hình thành và phát triển của ý thức Yếu tố lao động
Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào thế giới tự
nhiên nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người; là
quá trình trong đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi
vật chất giữa mình với giới tự nhiên. Đây cũng là quá trình làm thay đổi cấu trúc
cơ thể, đem lại dáng đi thẳng bằng hai chân, giải phóng hai tay, phát triển khí
quan, phát triển bộ não,... của con người. 9
Lao động là điều kiện quan trọng nhất giúp con người chuyển từ dạng
sinh vật thuần túy sang dạng xã hội. Trong quá trình lao động, con người tác
động vào thế giới khách quan làm cho thế giới khách quan bộc lộ những thuộc
tính, những kết cấu, những quy luật vận động của nó, biểu hiện thành những
hiện tượng nhất định mà con người có thể quan sát được. Những hiện tượng ấy,
thông qua hoạt động của các giác quan, tác động vào bộ óc người, thông qua
hoạt động của bộ não người, tạo ra khả năng hình thành nên những tri thức nói
riêng và ý thức nói chung.
Trong quá trình lao động, con người không chỉ tương tác với thế giới tự
nhiên mà còn sáng tạo và cải biến nó để phục vụ cho các nhu cầu của mình. Lao
động đã giúp phát triển tư duy trừu tượng, hình thành các khái niệm, và tổ chức
các hoạt động nhận thức.
Lao động cũng làm nảy sinh sự cần thiết phải giao tiếp và phối hợp giữa
các cá nhân trong cộng đồng, góp phần tạo nên mối liên kết xã hội và phát triển ngôn ngữ.
Cảnh sinh hoạt và lao động của Người tinh khôn Yếu tố ngôn ngữ
Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động. Lao động ngay từ đầu đã
mang tính tập thể. Mối quan hệ giữa các thành viên trong lao động nảy sinh ở họ
nhu cầu phải có phương tiện để biểu đạt. Nhu cầu này làm ngôn ngữ nảy sinh và
phát triển ngay trong quá trình lao động.
Ngôn ngữ là công cụ vật chất của ý thức, là phương tiện giúp con người
biểu đạt tư duy và truyền đạt kinh nghiệm, tri thức từ thế hệ này sang thế hệ
khác. Ngôn ngữ không chỉ đơn thuần là phương tiện giao tiếp mà còn là yếu tố
hình thành và phát triển tư duy. Thông qua ngôn ngữ, con người có khả năng
nhận thức, phân tích và sáng tạo.
Sự phát triển của ngôn ngữ đi đôi với sự tiến hóa của tư duy. Khi ngôn
ngữ được hình thành và hoàn thiện, tư duy của con người ngày càng trở nên trừu 10
tượng và phong phú hơn. Không có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện.
Bức tranh tường ở di tích đô thị Teotihuacan, Mexico; mô tả tiếng nói
trừu tượng phát ra từ mồm người đàn ông như một cuộn giấy.
Quan hệ xã hội và cộng đồng
Ý thức là sản phẩm của các mối quan hệ xã hội. Trong môi trường xã hội,
con người không chỉ sống mà còn làm việc, giao tiếp và hợp tác với nhau. Các
quan hệ xã hội đóng vai trò là nền tảng cho sự phát triển ý thức và định hình
những giá trị, chuẩn mực đạo đức, tư tưởng của con người.
Chính sự tương tác với người khác và các yếu tố xã hội giúp con người
nhận thức được bản thân và thế giới xung quanh, từ đó hình thành và phát triển ý thức.
Ví dụ: Trong một nhà máy, công nhân phải phối hợp với nhau để vận hành dây chuyền sản xuất.
Khi làm việc, họ nhận thấy lao động cá nhân không thể tách rời lao động
tập thể. Từ đây, họ ý thức được rằng giá trị sản phẩm không chỉ do cá nhân tạo
ra mà là kết quả của lao động xã hội.
Sự tương tác với đồng nghiệp và quản lý giúp họ nhận thức rõ hơn về
quyền lợi (tiền lương, thời gian nghỉ ngơi) và trách nhiệm (hoàn thành nhiệm vụ, đóng góp vào tập thể).
Kết quả: Ý thức về lao động và quyền gắn bó với tập thể được hình thành thông qua quan hệ sản xuất.
Như vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát
triển của ý thức là lao động. Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn
ngữ, đó là hai chất kích thích chủ yếu làm cho bộ óc vượn dần dần chuyển hóa
thành bộ óc người, khiến cho tâm lý động vật dần chuyển hóa thành ý thức. 11
Bản chất của ý thức
Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức, ta có thể hình dung ra được ý thức có
bản là sự phản ánh, sáng tạo và bản tính xã hội
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Ý thức là “hình ảnh” về hiện thực khách quan trong óc người. Hình ảnh
ấy bị thế giới khách quan quy định cả về nội dung, lẫn hình thức biểu hiện
nhưng nó không còn y nguyên như thế giới khách quan mà nó đã cải biến thông
qua lăng kính chủ quan của con người. Theo Mác thì ý thức chẳng qua chỉ là vật
chất được di chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó. .
Mọi sự vật, hiện tượng đều có khả năng phản ánh, từ những dạng vật chất đơn
giản đến các dạng phức tạp. Ý thức, theo đó, là dạng phản ánh cao nhất, có tính
trừu tượng và sáng tạo, đặc trưng cho con người.
Nội dung phản ánh là khách quan, hình thức phản ánh là chủ quan
Ở mức độ cao, ý thức không chỉ đơn thuần ghi lại những gì thế giới khách
quan mang lại, mà còn xử lý, phân tích và tái cấu trúc các thông tin, tạo ra
những hình ảnh tư duy mang tính sáng tạo. Chẳng hạn, con người có thể tưởng
tượng và sáng tạo ra những điều chưa từng tồn tại dựa trên cơ sở hiện thực
khách quan. Con người sử dụng sự sáng tạo, tạo ra các công cụ lao động 12
Con người sử dụng sự sáng tạo, tạo ra các công cụ lao động
Ý thức có bản chất xã hội – lịch sử
Ý thức con người không chỉ là sự phản ánh cá nhân mà còn là sản phẩm
của quá trình phát triển xã hội. Những tri thức, kinh nghiệm, giá trị đạo đức, và
chuẩn mực xã hội mà con người tiếp thu đều được hình thành, tích lũy qua các thế hệ.
Ý thức luôn mang dấu ấn của thời đại và môi trường xã hội mà con người
sống. Nó phát triển và biến đổi theo những điều kiện lịch sử cụ thể. Ví dụ,
những tư tưởng và quan niệm đạo đức của con người ở thế kỷ 21 rất khác so với
thời kỳ phong kiến do sự phát triển của khoa học, công nghệ và các quan hệ xã hội.
Con người thời kì hiện đại và thời kì phong kiến
Kết cấu của ý thức
Theo Mác - Lênin, ý thức không chỉ là một thực thể đơn lẻ mà là một hệ
thống gồm nhiều thành phần đan xen, cùng thực hiện các chức năng phản ánh,
tư duy, và định hướng hành động của con người Tri thức
Tri thức là thành phần quan trọng nhất, cốt lõi, phương thức tồn tại của ý
thức, bao gồm những hiểu biết, kinh nghiệm, và thông tin mà con người có được
thông qua quá trình nhận thức. Tri thức có vai trò quan trọng trong việc giúp con
người phản ánh và hiểu biết về thế giới xung quanh.
Sự hình thành và phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với quá trình
con người nhận thức và cải biên thế giới tự nhiên.
Tri thức càng được tích lũy, con người càng đi sâu vào bản chất của sự vật
và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn, tính năng động của ý thức từ đó mà tăng lên.
Ví dụ: Ban đầu: Người cổ đại chế tạo các công cụ đá để săn bắn, trồng trọt,
làm nền tảng cho nền văn minh sơ khai. 13
Phát triển: Trong thời kỳ công nghiệp hóa, máy móc cơ khí thay thế sức lao
động tay chân, tăng năng suất vượt bậc.
Hiện đại: Ngày nay, công nghệ AI và học máy (machine learning) đang được sử
dụng để giải quyết các vấn đề phức tạp như lái xe tự động, chẩn đoán bệnh, hay
xử lý ngôn ngữ tự nhiên. Tình cảm
Tình cảm là yếu tố thuộc về cảm xúc và thái độ của con người đối với các
hiện tượng và sự kiện trong thế giới khách quan. Tình cảm làm cho ý thức trở
nên sống động và gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của con người.
Tình cảm không chỉ là sự phản ứng tự phát mà còn mang tính xã hội. Nó
bị chi phối bởi những giá trị, chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hóa mà
con người tiếp nhận từ cộng đồng và xã hội.
Tình cảm có chức năng định hướng hành động của con người. Những cảm
xúc mạnh mẽ có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm những quyết định và hành động
trong đời sống. Đồng thời cũng đóng vai trò trong việc hình thành các giá trị đạo đức và nhân cách
Ví dụ: Khi nhìn thấy một người gặp khó khăn, tình cảm đồng cảm có thể thúc
đẩy ý thức giúp đỡ và hành động để hỗ trợ họ, từ đó hình thành các hành vi đạo đức. Ý chí
Ý chí là khả năng con người điều chỉnh và kiểm soát hành động của mình
để đạt được những mục tiêu đã đề ra. Ý chí thể hiện sức mạnh tinh thần, sự kiên
trì, và quyết tâm vượt qua khó khăn, thử thách.
Nó giúp con người kiểm soát bản thân, vượt qua những cám dỗ và khó
khăn để hoàn thành công việc.
Ý chí còn giúp con người có khả năng lập kế hoạch và thực hiện hành
động có tổ chức, hướng đến những mục tiêu dài hạn.
Ví dụ: Một học sinh quyết tâm đạt được thành tích cao trong kỳ thi dù phải thức
khuya dậy sớm, giải quyết nhiều bài tập khó, và đối mặt với áp lực. Ý chí giúp
họ vượt qua sự mệt mỏi và căng thẳng. Tự ý thức
CNDT coi nó là một thực thể độc lập có sẵn trong cá nhân, biểu hiện xu
hướng về bản thân mình, tự khẳng định cái tôi riêng biệt tách rời xã hội. 14
Trái lại CNDVBC tự ý thức là ý thức hướng về nhận thức bản thân mình
thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài.
Khi phản ánh thế giới khách quan con người tự phân biệt mình, đối lập
mình với thế giới đó là sự nhận thức mình như là một thực thể vận động, có cảm
giác, tư duy có các hành vi đạo đức và vị trí xã hội. Mặt khác sự giao tiếp xã hội
và hoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con người nhận rõ bản thân mình và tự
điều chỉnh theo các quy tắc tiêu chuẩn mà xã hội đề ra
Văn hóa cũng đóng vai trò là cái gương soi giúp con người tự ý thức bản thân.
Ví dụ: Một người công nhân trong xã hội cảm thấy mình là lực lượng sản
xuất chủ yếu, và qua quá trình làm việc, họ nhận ra rằng công sức của mình là
yếu tố quan trọng trong việc tạo ra giá trị xã hội. Tự ý thức này có thể thúc đẩy
họ tham gia vào các phong trào đòi quyền lợi lao động, đòi hỏi cải thiện điều kiện làm việc. Tiềm thức
Tiềm thức được hiểu như là các tầng sâu hơn trong ý thức mà con người
không thể nhận biết một cách trực tiếp nhưng có thể dễ dàng truy cập và nhận
thức lại khi cần thiết. Những thông tin, ký ức, kinh nghiệm, và cảm xúc có thể
được “chôn giấu” trong tiềm thức nhưng vẫn có thể chi phối hành vi, phản ứng
và cảm xúc mà không qua quá trình tư duy có ý thức.
Tiềm thức vẫn là một phần của ý thức và như ý thức, là sản phẩm của quá
trình phát triển vật chất. Triết học Mác - Lênin khẳng định rằng ý thức, bao gồm
cả các khía cạnh như tiềm thức, là sự phản ánh thế giới khách quan vào não
người. Khi những phản ánh này không được con người xử lý một cách có ý
thức, chúng đi vào tầng tiềm thức.
Lao động và ngôn ngữ là những yếu tố cơ bản hình thành ý thức. Tiềm
thức cũng được cấu thành từ những tác động lặp đi lặp lại trong lao động và
ngôn ngữ, tạo nên các thói quen và niềm tin mà không cần phải liên tục suy nghĩ.
Tiềm thức có thể ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý thức, đặc biệt trong các phản
ứng cảm xúc hoặc quyết định vô thức. Những trải nghiệm, cảm giác, và niềm tin
từ tiềm thức có thể bất ngờ nổi lên, dẫn dắt cách con người cảm nhận và hành động.
Nhiều hành vi hàng ngày của con người được điều khiển bởi tiềm thức,
nhờ những thói quen và kinh nghiệm đã được khắc sâu trong quá trình sống.
Giúp con người điều chỉnh hành vi một cách tự động. 15
Ví dụ : Một người có thể không nhớ rõ một sự kiện đau thương trong quá khứ,
như một tai nạn hoặc một sự kiện bị bỏ qua, nhưng lại cảm thấy lo lắng hoặc
căng thẳng mỗi khi gặp một tình huống tương tự trong cuộc sống. Vô thức
Vô thức là những trạng thái tâm lý ở chiều sâu, điều chỉnh sự suy nghĩ,
hành vi, thái độ ứng xử của con người mà chưa có sự tranh luận của nội tâm,
chưa có sự truyền tin bên trong, chưa có sự kiểm tra, tính toán của lý trí
Con người không thể nhận thức được hoặc không thể dễ dàng truy cập.
Vô thức chi phối các hành vi và suy nghĩ mà con người không nhận biết, như
bản năng, giấc mơ, trực giác và những hành vi lặp lại nhiều lần.
Vô thức giúp điều chỉnh các trạng thái tâm lý, tạo sự cân bằng và giúp con
người giải tỏa căng thẳng, duy trì chuẩn mực sống tự nhiên mà không cần ép buộc.
Ví dụ: Một người cảm thấy căng thẳng khi đứng trước đám đông mà
không hiểu tại sao, có thể do ký ức bị kìm nén từ quá khứ.
1.2. MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1.2.1. Vật chất quyết định ý thức

Vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức
Nguồn gốc của ý thức chính là vật chất : bộ não người – cơ quan phản ánh
thế giới xung quanh, sự tác động của thế giới vật chất vào bộ não người, tạo
thành nguồn gốc tự nhiên
Ý thức là chức năng của bộ não con người với tư cách là một tổ chức tinh vi,
phức tạp, hoàn thiện. Vậy nếu không có con người, không có bộ não thì cũng không có ý thức Ví dụ:
Tổn thương não bộ ảnh hưởng đến ý thức: Khi một phần nào đó của não bị
tổn thương (ví dụ, do tai nạn, đột quỵ), ý thức hoặc các khả năng nhận thức của
con người cũng có thể bị ảnh hưởng. Điều này chứng minh rằng ý thức phụ
thuộc vào hoạt động vật chất của não bộ.
Sự phát triển của trẻ nhỏ: Trong quá trình phát triển của trẻ sơ sinh, ý thức
của trẻ hình thành và phát triển song song với sự phát triển của não bộ. Trẻ mới
sinh chỉ có các phản xạ cơ bản, nhưng khi não bộ dần hoàn thiện, ý thức (bao
gồm khả năng nhận thức thế giới, ngôn ngữ và tư duy) cũng phát triển theo.
Vật chất quyết định nội dung của ý thức 16
Ý thức luôn là sự phản ánh hiện thực khách quan (thế giới vật chất) vào
bộ não con người Do đó nội dung của ý thức luôn bị quy định bởi hiện thực
khách quan. Vậy nên nếu không có thế giới vật chất thì cũng không thể có ý thức.
Ví dụ: Trong xã hội phong kiến, ý thức của con người chịu ảnh hưởng bởi
tư tưởng tôn giáo, thần quyền, và trật tự giai cấp cứng nhắc (vua là “thiên tử,”
quyền lực xuất phát từ thần thánh). Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển, tư tưởng
về tự do, bình đẳng, quyền cá nhân và nhu cầu phá bỏ trật tự phong kiến đã nảy
sinh trong ý thức của giai cấp tư sản và quần chúng. Cụ thể trong lịch sử:
Cách mạng Anh (1640–1688): Giai cấp tư sản Anh nổi dậy chống lại chế
độ quân chủ chuyên chế vì họ muốn một hệ thống chính trị phù hợp với sự phát
triển kinh tế tư bản. Tư tưởng dân chủ, tự do, và quyền tài sản bắt đầu thay thế tư tưởng phong kiến.
Cách mạng Pháp (1789): Hoàn cảnh kinh tế và xã hội bức bách (đói
nghèo, sự bất công trong chế độ thuế khóa) thúc đẩy các tầng lớp quần chúng
đấu tranh. Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền ra đời, phản ánh sự thay đổi
trong ý thức xã hội từ thần quyền phong kiến sang quyền con người, bình đẳng, tự do.
Vật chất quyết định bản chất của ý thức
Bản chất của ý thức là sự phản ánh năng động sáng tạo hiện thực khách
quan vào bộ não con người.
Con người có thể phản ánh năng động, sáng tạo được là do hoạt động vật
chất (hoạt động thực tiễn)
Thông qua hoạt động thực tiễn, con người phản ánh sáng tạo về thế giới, và
cũng thông qua hoạt động thực tiễn, con người quay trở lại cải tạo xã hội, hoạt
động thực tiễn ấy chính là hoạt động vật chất
Ví dụ: Sử dụng chất kích thích hoặc thuốc: Một người sử dụng rượu hoặc ma túy
(chất tác động lên hệ thần kinh) thường thay đổi ý thức, có thể dẫn đến ảo giác
hoặc suy giảm khả năng kiểm soát hành vi. Điều này cho thấy bản chất ý thức có
thể bị tác động hoặc thay đổi bởi các yếu tố vật chất.
Vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức
Ý thức là sự phản ánh lại hiện thực khách quan mà hiện thực khách quan
(thế giới vật chất) từ tự nhiên đến xã hội đều vận động, phát triển không ngừng,
vì thế ý thức của con người cũng vận động và phát triển không ngừng.
Ví dụ: Sự phát triển của ý thức xã hội về bình đẳng giới 17
Vật chất:Trong xã hội nông nghiệp truyền thống, vai trò của phụ nữ thường
bị giới hạn trong gia đình, chủ yếu làm công việc nội trợ và sản xuất nhỏ lẻ. Khi
cách mạng công nghiệp nổ ra, phụ nữ bắt đầu tham gia lao động trong các nhà
máy, xí nghiệp, và các ngành công nghiệp khác.
Ý thức: Từ vai trò kinh tế ngày càng lớn, phụ nữ bắt đầu nhận thức rõ hơn về
quyền bình đẳng với nam giới. Phong trào nữ quyền xuất hiện và phát triển
mạnh mẽ trong thế kỷ 19-20, đấu tranh cho quyền bầu cử, quyền lao động, và
quyền được đối xử công bằng trong xã hội.
Sự thay đổi trong điều kiện vật chất (phụ nữ tham gia vào sản xuất và nền
kinh tế công nghiệp) đã quyết định sự vận động và phát triển của ý thức xã hội về bình đẳng giới.
1.2.2. Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào đầu óc con người thông qua giác quan và tư duy.
Nó do vật chất sinh ra, cụ thể là từ hoạt động của bộ não người và các
điều kiện vật chất, xã hội xung quanh. Tuy nhiên, ý thức không phải bản sao y
nguyên hiện thực mà mang tính sáng tạo và có quy luật phát triển riêng. Các quy
luật của ý thức như mâu thuẫn, liên hệ giúp nó vượt qua hiện thực trực tiếp, tạo
ra tư duy trừu tượng, sáng tạo nghệ thuật hay phát minh khoa học. Nhờ vậy, ý
thức không ngừng vận động, góp phần cải tạo thế giới. Ví dụ:
Một nhạc sĩ ngắm nhìn cảnh vật thơ mộng, ánh hoàng hôn lãng mạn và
lứa đôi hẹn hò. Cảnh vật thực tế (thế giới vật chất) gợi lên cảm hứng trong tâm
trí nhạc sĩ. Từ đó, nhạc sĩ sáng tạo ra một bản tình ca dựa trên cảm xúc, và tâm
tình cá nhân. Bản nhạc này là sự thể hiện của tư duy, cảm xúc và phong cách
riêng của người nhạc sĩ. Như vậy, ý thức (trong trường hợp này là sự sáng tạo
nghệ thuật) không chỉ phản ánh hiện thực mà còn phát triển theo quy luật vận
động riêng, mang tính chủ quan của con người.
Một nhà khoa học quan sát hiện tượng rơi tự do của các vật thể (thế giới
vật chất) và bắt đầu suy nghĩ về nguyên nhân của hiện tượng này. Từ việc quan
sát thực tế, nhà khoa học phát triển lý thuyết về trọng lực, vượt xa những gì có
thể nhận thức bằng giác quan đơn thuần. Ý thức của nhà khoa học phản ánh thế
giới vật chất, nhưng thông qua tư duy trừu tượng, suy luận và phát triển, nó đã
tạo ra các khái niệm mới, độc lập với các sự vật ban đầu mà họ quan sát được.
Ý thức chỉ có thể tác động đến vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Vì bản thân ý thức không thay đổi được hiện thực. Ý thức định hướng
mục tiêu, phương pháp và kế hoạch, nhưng cần hành động thực tiễn để biến ý 18
tưởng thành hiện thực. Thực tiễn cũng là thước đo kiểm nghiệm tính đúng đắn
của ý thức. Như vậy, sự kết hợp giữa ý thức sáng tạo và thực tiễn hành động là
yếu tố quyết định để cải tạo và thay đổi thế giới vật chất.
Ví dụ: Xây dựng nhà cửa:
Ý thức: Con người nhận thấy cần nơi ở an toàn, thoải mái.
Thực tiễn: Thực hiện thiết kế, thu thập vật liệu và xây dựng để biến ý tưởng thành ngôi nhà thực tế.
Vai trò của ý thức trong việc chỉ đạo hoạt động, hành động của con người
Ý thức không chỉ đơn thuần là một hình ảnh phản chiếu thụ động của thế
giới khách quan mà còn đóng vai trò như một "người lái tàu" chỉ đạo, định
hướng cho mọi hoạt động, hành động của con người.
Ý thức như một "người lái tàu". Ý thức giúp con người xác định rõ mục
tiêu muốn đạt được, từ những mục tiêu nhỏ nhặt hàng ngày đến những mục tiêu
lớn lao hơn như sự nghiệp, cuộc sống. Ý thức giúp con người lựa chọn những
phương tiện, cách thức phù hợp nhất để đạt được mục tiêu đã đề ra. Ý thức giúp
con người đánh giá kết quả của hành động, từ đó rút ra kinh nghiệm, điều chỉnh hành động cho phù hợp. Ví dụ:
Giáo dục: Ý thức về tầm quan trọng của kiến thức thúc đẩy con người học
tập không ngừng. Ý thức về mục tiêu nghề nghiệp định hướng cho việc lựa chọn ngành học, chuyên ngành.
Lao động: Ý thức về trách nhiệm với công việc giúp con người làm việc
hiệu quả, sáng tạo. Ý thức về giá trị của sản phẩm lao động thúc đẩy con người
nâng cao chất lượng sản phẩm.
Xã hội: Ý thức về công bằng, dân chủ thúc đẩy con người tham gia các
hoạt động xã hội, đấu tranh cho những quyền lợi chính đáng. Ý thức về bảo vệ
môi trường thúc đẩy các hoạt động bảo vệ thiên nhiên.
Khoa học: Ý thức tò mò, ham hiểu thúc đẩy các nhà khoa học khám phá
những bí ẩn của tự nhiên. Ý thức về trách nhiệm với xã hội hướng các nghiên
cứu khoa học đến việc giải quyết các vấn đề của nhân loại.
Xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức càng to lớn
Vai trò của ý thức trong xã hội hiện đại ngày càng trở nên quan trọng. Ý
thức không chỉ là một hiện tượng thụ động mà còn là một lực lượng tích cực,
định hình hành vi của con người và thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Trong xã
hội hiện đại, tri thức là lực lượng sản xuất trực tiếp. Ý tưởng sáng tạo có thể tạo 19
ra những giá trị kinh tế lớn. Và sự phát triển của công nghệ thông tin đã tạo điều
kiện cho sự lan tỏa nhanh chóng của thông tin, ý tưởng, thúc đẩy sự giao lưu văn
hóa và hợp tác quốc tế. Hay các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, khủng bố
đòi hỏi sự hợp tác của toàn nhân loại, điều này đòi hỏi ý thức trách nhiệm cao của mỗi cá nhân. Ví dụ:
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo,
internet vạn vật đang thay đổi hoàn toàn cách chúng ta sống và làm việc.
Các tổ chức quốc tế: Các tổ chức như Liên hợp quốc, UNESCO đóng vai
trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu, thúc đẩy hợp tác quốc tế. 20