1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
----------------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: KINH TẾ VĨ MÔ 1
Đề tài:
SỬ DỤNG MÔ HÌNH IS – LM PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI
KHÓA CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2017 – 2019 VÀ GIAI ĐOẠN 2020 –
2022
Nhóm: 5
Lớp học phần: 2328MAEC0111
Người hướng dẫn: G.V Nguyễn Thị Quỳnh Hương
Hà Nội, tháng 3 năm 2023
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT…………………………………………………..
I. ĐƯỜNG IS……………………………………………………………………… …
1. Khái niệm………………………………………………………………………
2. Cách xây dựng đường IS ……………………………………………………..
3. Phương trình đường IS ……………………………………………………..
4. Độ dốc đường IS……………………………………………………………….
5. Sự dịch chuyển và trượt dọc của đường IS…………………………………..
II. ĐƯỜNG LM……………………………………………………………………....
1. Khái niệm ……………………………………………………………………..
2. Cách xây dựng đường LM……………………………………………………
3. Phương trình đường LM……………………………………………………..
4. Độ dốc đường LM……………………………………………………………..
5. Sự dịch chuyển và trượt dọc của đường LM………………………………...
III. SỰ CÂN BẰNG ĐỒNG THỜI CỦA THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA VÀ THỊ
TRƯỜNG TIỀN TỆ ………………………………………………………………………
IV. CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA, TIỀN TỆ VÀ SỰ PHỐI HỢP CỦA HAI
CHÍNH SÁCH NÀY ………………………………………………………………………
1. Sự tác động của chính sách tiền tệ …………………………………………..
2. Sự tác động của chính sách tài khóa ………………………………………..
3. Sự tác động đồng thời của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ …….
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN ………………………………………………….
I. GIAI ĐOẠN 2017-2020………………………………………………………
II. GIAI ĐOẠN 2020-2022………………………………………………………
KẾT LUẬN ………………………………………………………………………………..
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………………...
BIÊN BẢN THẢO LUẬN ………………………………………………………………...
2
LỜI MỞ ĐẦU
hình IS-LM, còn được biết đến với tên gọi khác hình Hicks-Hansen,
được nhà kinh tế học R. Hicks (1904-1989) nhà kinh tế học của Hoa Kỳ Alvin Hansen
(1887-1975) đưa ra phát triển. hình IS-LM được sử dụng để mô tả sự tác động qua
lại giữa lãi suất sản lượng trong nền kinh tế. hình này hai đường: đường 1S
tả sự cân bằng của thị trường hàng hóa (tức thị trường sản phẩm); đường LM mô tả sự cân
bằng của thị trường tiền tệ. Kết hợp 1S LM ta sự cân bằng chung của hai loại thị
trường. Trong chương trình môn học Kinh tế mô, thì thuyết về hình IS - LM
chiếm vị trí quan trọng, thể nói học kinh tế phải hiểu chính xác hình
này. Trong quản kinh tế, để điều tiết nên kinh tế thì chính phủ sử dụng công cụ để quản
lí, ổn định nền kinh tế; trong những công cụ đó thì chính sách tài khóa là một trong những
những công cụ quan trong nhất, được sử dụng nhiều nhất, chế tác động của chính
sách tài khóa được thể hiện rất qua hình IS-LM. vậy, để hiểuhơn về hình
IS-LM việc sử dụng các chính sách tài khóa để quản nền kinh tế đặc biệt nền
kinh tế nước nhà, chúng ta cùng đi tìm hiểu đề tài Sử dụng hình IS LM phân tích
tác động của chính sáchi khóa của Việt Nam trong giai đoạn 2017 2019 giai đoạn
2020 – 2022.”
3
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I. ĐƯỜNG IS
1. Khái niệm
Đường IS đường biểu diễn tập hợp tất cả những điểm cân bằng của thị
trường hàng hoá ứng với từng mức lãi suất.
Mục đích xây dựng đường IS nhằm mô tả sự tác động của lãi suất đối với
sản lượng cân bằng. Nó cho biết sản lượng cân bằng sẽ thay đổi như thế nào khi lãi
suất thay đổi.
2. Cách xây dựng đường IS
Muốn xây dựng đường IS ta bắt đầu từ sự thay đổi của lãi suất. Trên hình
1.1, mức lãi suất i0, tổng cầu đường AD0, sản lượng cân bằng tại Y0, thị
trường hàng hoá cân bằng tại điểm E0. đồ thị trục tung lãi suất, trục hoành
sản lượng (thu nhập) ta có tổ hợp A (Y0, i0).
Khi lãi suất giảm từ i0 tới i1 tổng cầu sđược mở rộng làm đường tổng cầu
AD0 dịch chuyển tới AD1, xác định mức sản lượng cân bằng mới E1. Khi đó điểm
cân bằng mới của thị trường hàng hoá điểm E1. đồ thị phía bên dưới, ứng với
mức lãi suất i1 thì mức sản lượng cân bằng là Y1, xác định tổ hợp B (Y1, i1).
Ta nối hai điểm A B đồ thị phía bên dưới, đây chính đường IS. Khi
lãi suất từ i0 giảm xuống tới i1 thì mức sản lượng cân bằng Y sẽ di chuyển từ điểm
A tới điểm B trên đường IS. Mức sản lượng cân bằng sẽ từ Y0 dịch chuyển tới Y1.
4
3. Phương trình đường IS.
Đường IS được hình thành từ sự thay đổi điểm cân bằng sản lượng dưới tác
động của lãi suất. tác động của lãi suất làm thay đổi sản lượng cân bằng do
sự thay đổi của đầu tư.
Do đó, chỉ cần giải phương trình cân bằng sản lượng (Y = AD) trong điều
kiện đầu tư một hàm theo lãi suất thì ta có được phương trình đường IS: Y= f (i)
hoặc i= f (Y)
Phương trình: i=
A
b
-
1
b . m' '
.Y
Trong đó
A: tổng các yếu tố tự định;
b = d+l
d: hệ số phản ánh sự nhạy cảm của đầu tư với lãi suất;
l: hệ số phản ánh sự nhạy cảm của xuất khẩu với lãi suất;
m’’: số nhân trong nền kinh tế mở.
4. Độ dốc của đường IS
Đường IS thường dốc xuống về bền phải, thể hiện mối quan hệ nghịch biến
giữa lãi suất sản lượng cân bằng; nghĩa khi lãi suất giảm xuống, để cho thị
trường hàng hóa tiếp tục cân bằng thì sản lượng phải tăng lên và ngược lại.
Độ dốc đường IS phụ thuộc vào số nhân tổng cầu (k) chủ yếu vào độ
nhạy cảm của cầu đầu tư theo lãi suất (Irm)
Khi đầu hoàn toàn không phụ thuộc vào lãi suất (Irm= 0): cho r thay
đổi thế nào thì đầu cũng không đổi, tổng cầu không đổi nên sản lượng cân bằng
cũng không đổi, đường IS sẽ thẳng đứng và có dạng Y = k.Ao
Nếu đầu ít nhạy cảm với lãi suất (Irm nhỏ): Khi r thay đổi nhiều, nhưng
đầu thay đổi một lượng nhỏ, AD thay đổi ít do đó Y thay đổi ít, đường IS rất
dốc. Nếu đầu rất nhạy cảm với lãi suất (Irm lớn): một sự thay đổi nhỏ trong lãi
suất làm I thay đổi một lượng lớn, AD Y thay đổi nhiều, đường IS lài. Nếu đầu
tư hoàn toàn nhạy cảm với lãi suất thì đường IS sẽ nằm ngang.
5
5. Sự dịch chuyển và trượt dọc của đường IS.
Sự trượt dọc theo đường IS cho ta thấy sự thay đổi của sản lượng cân bằng
chỉ do sự biến động riêng của lãi suất làm dịch chuyển đường tổng cầu. mức lãi
suất nhất định, các nhân tố khác ngoài lãi suất biến động làm dịch chuyển
đường tổng cầu cũng sẽ làm dịch chuyển đường IS. Nguyên tắc của sự dịch chuyển
này là: Nếu các nhân tố đó làm tăng tổng cầu thì đường IS dịch chuyển sang phải;
ngược lại, nếu làm giảm tổng cầu thì đường IS s dịch chuyển sang trái. Lượng
dịch chuyển sang phải hay sang trái bằng với lượng thay đổi của sản lượng cân
bằng.
II. ĐƯỜNG LM
1. Khái niệm
Đường LM đường biểu diễn tập hợp những điểm cân bằng của thị trường
tiền tệ ứng với từng mức thu nhập. Mục đích xây dựng đường LM nhằm tả sự
tác động của sản lượng đối với lãi suất cân bằng. cho biết lãi suất cân bằng sẽ
thay đổi như thế nào khi sản lượng thay đổi, trong điều kiện c định các yếu tố
khác.
2. Cách xây dựng đường LM
Muốn y dựng đường LM ta bắt đầu từ sự thay đổi của sản lượng (thu
nhập). Giả định rằng mức cung tiền cố định mức M0, với mức thu nhập Y0,
đường cầu tiền là đường LP0, và thị trường tiền tệ cân bằng tại điểm E0. Tại đồ thị
trục tung là lãi suất, trục hoành là sản lượng, có tổ hợp A (Y0, i0) là tổ hợp biểu thị
mức lãi suất cân bằng (i0) ứng với mức thu nhập (Y0)
Khi thu nhập tăng từ Y0 tới Y1 thì đường cầu tiền sẽ dịch chuyển từ LP0 tới
LP1. Thị trường tiền tệ cân bằng tại điểm E1, mức lãi suất cân bằng là i1. Ứng với
mức thu nhập Y1 thì thị trường tiền tệ n tằng tại mức lãi suất i1. đồ thị lãi
suất thu nhập sẽ xác lập điểm B (Y1, i1). Nối hai điểm A B, ta được đường
LM.
6
3. Phương trình đường LM
Đường LM được hình thành từ sự thay đổi điểm cân bằng lãi suất dưới tác
động của sản lượng. tác động của sản lượng làm thay đổi lãi suất cân bằng
do sự thay đổi cầu về tiền. Do đó, chỉ cần giải phương trình cân bằng của thị
trường tiền tệ (PMS = LP) trong điều kiện cầu về tiền một hàm theo lãi suất
sản lượng ta sẽ được phương trình đường LM: i= f (Y) hoặc Y= f (i)
Phương trình: I =
MS
P. h
+
kY
h
Trong đó:
MS
P
là lượng cung tiền thực tế
k là hệ số phản ánh sự nhạy cảm của cầu tiền với thu nhập
h là hệ số phản ánh sự nhạy cảm của cầu tiền với lãi suất
4. Độ dốc của đường LM
Độ dốc:
k
h
Đường LM dốc lên, thể hiện: khi sản lượng cao hơn sẽ đòi hỏi lượng tiền
cao hơn. Do đó, ứng với một lượng cung tiền không đổi, để giảm bớt cầu tiền lãi
suất cân bằng trên thị trường tiền tệ sẽ tăng lên.
Độ dốc của đường LM phụ thuộc độ nhạy cảm của cầu tiền đối với sự thay
đổi của sản lượng. Nếu sản lượng thay đổi m cho cầu tiền thay đổi nhiều thì
đường LM sẽ rất dốc, còn nếu sản lượng thay đổi làm cho cầu tiền thay đổi ít thì
đường LM sẽ thoai thoải.
5. Sự dịch chuyển và trượt dọc của đường LM
Đường LM được hình thành từ sự thay đổi của sản lượng trong điều kiện
các yếu tố khác không đổi. Do đó, tác động của sản lượng làm thay đổi lãi suất cân
bằng được thể hiện bằng sự trượt dọc theo đường LM. Còn tác động của các yếu tố
khác với sản lượng làm thay đổi lãi suất cân bằng thì đường LM sẽ dịch chuyển.
Đường LM thể dịch chuyển do sự thay đổi của cầu tiền (mà không phải
do sản lượng gây ra); cũng thể do thay đổi lượng cung tiền. Nguyên tắc dịch
chuyển của đường LM khi lượng cung tiền thay đổi là: lượng cung tiền tăng thì
đường LM dịch chuyển xuống dưới; lượng cung tiền giảm thì đường LM dịch
chuyển lên trên.
III. SỰ CÂN BẰNG ĐỒNG THỜI CỦA THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA TIỀN
TỆ
Đường IS phản ánh các trạng thái cân bằng của thị trường hàng hoá với các
tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập.
Đường LM phản ánh trạng thái cân bằng của thị trường tiền tệ với các tổ
hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập.
7
Như vậy, sự cân bằng đồng thời giữa thị trường hàng hoá thị trường tiền
tệ chỉ xảy ra khi nền kinh tế vừa nằm trên đường IS vừa nằm trên đường LM, tức
phải nằm giao điểm của hai đường. Trên đồ thị hình bên, điểm E0 (Y0, i0)
chính là điểm cân bằng chung của cả hai thị trường.
Về mặt đại số, muốn xác định điểm E0 này, ta giải hệ phương trình IS-LM.
Nghiệm của hệ phương trình này chính là điểm E0 cần tìm.
IV. CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA, TIỀN T SỰ PHỐI HỢP 2 CHÍNH SÁCH
NÀY
Chính sách tiền tệ một chính sách điều tiết kinh tế cực quan
trọng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường ảnh hưởng lớn đến các
biến số như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát… Để đạt được
các mục tiêu của chính sách tiền tệ thì việc sử dụng các công cụ của vai trò
cơ bản, quyết định.Chính sách tài khóa trong kinh tế học vĩ mô là chính sách thông
qua chế độ thuế đầu công cộng để tác động tới nền kinh tế.Chính sách tài
khóa cùng với chính sách tiền tệ các chính sách kinh tế quan trọng, nhằm
ổn định và phát triển kinh tế.
1. Sự tác động của chính sách tài khóa:
Để tăng sản lượng Y, chính phủ thể sử dụng chính sách tài chính mở
rộng (tăng chi tiêu chính phủ hoặc giảm thuế). Trong ngắn hạn, chi tiêu chính phủ
tăng làm tăng chi tiêu hàng hóa trong nước (đường IS dịch chuyển sang phải trong
khi đường LM đứng yên), dẫn đến đồng nội tệ lên giá so với ngoại tệ (do nhu cầu
về đồng nội tệ lớn). Đồng nội tệ n giá làm giảm xuất khẩu tăng nhập khẩu.
Trong dài hạn, sự gia tăng của tỷ giá hối đoáim giảm xuất khẩu ròng, nguyên
nhân làm mất ảnh hưởng của sự mở rộng tổng cầu trong nước về hàng hóa dịch
vụ. Điều này làm triệt tiêu ảnh hưởng mở rộng ban đầu của chính sách tài chính
đưa lãi suất trong nước về mức lãi suất thế giới. Do vậy: trong ngắn hạn, dưới chế
độ tỷ giá hối đoái thả nổi và vốn chu chuyển hoàn hảo thì chính sách tài chính hoàn
toàn không hiệu lực trong việc điều tiết tổng cầu của nền kinh tế. Để giảm sản
lượng Y, chính phủ sẽ sử dụng chính sách tài khóa thắt chặt (giảm chi tiêu, tăng
thuế).
2. Sự tác động của chính sách tiền tệ
Khi chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ lỏng bằng việc tăng cung tiền sẽ
tạo áp lực làm tăng tỷ giá hối đoái, đường LM dịch chuyển sang phải. Để giữ cho
tỷ giá hối đoái cố định thì cung tiền phải giảm dẫn đến đường LM dịch chuyển
sang trái về vị trí ban đầu. Do vậy, trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái cố định thì
chính sách tiền tệ không có hiệu quả.
8
3. Sự tác động đồng thời của chính sách tài khóa và tiền tệ
Chính sách tài khóa chính sách tiền tệ mở rộng: làm cho cả đường IS
LM đều dịch phải. Khi sử dụng chính sách tài khóa chính sách tiền tệ cùng
mức độ làm cho đường IS LM dịch chuyển sang phải một đoạn như nhau làm
cho lãi suất cân bằng không đổi, sản lượng cân bằng tăng.
Khi chính sách tài khóa lấn át chính sách tiền tệ thì đường IS dịch sang
phải nhiều hơn đường LM làm cho lãi suất cân bằng sản lượng cân bằng
đồng thời tăng
Khi chính sách tiền tệ lấn át chính sách tài thì đường LM dịch sang phải
nhiều hơn đường IS làm cho lãi suất cân bằng giảm, sản lượng cân bằng tăng.
9
Chính sách tài khóa chính sách tiền tệ thắt chặt: Làm cho cả đường
IS và LM đều dịch trái
Khi sử dụng chính sách tài khóa chính sách tiền tệ cùng mức độ làm
cho đường IS LM dịch chuyển sang trái một đoạn như nhau làm cho lãi suất
cân bằng không đổi, sản lượng cân bằng giảm
Khi chính sách tài khóa lấn át chính sách tiền tệ thì đường IS dịch sang trái
nhiều hơn đường LM làm cho lãi suất cân bằng sản lượng cân bằng đồng thời
giảm.
10
Khi chính sách tiền tệ lấn át chính sách tài thì đường LM dịch sang trái
nhiều hơn đường IS làm cho lãi suất cân bằng tăng, sản lượng cân bằng giảm.
Chính sách tài khóa thắt chặt, chính sách tiền tệ mở rộng
Khi sử dụng chính sách tài khóa chính sách tiền tệ cùng mức độ làm
cho đường IS dịch trái LM dịch phải một đoạn như nhau làm cho i suất cân
bằng giảm, sản lượng cân bằng không đổi.
11
Khi chính sách tài khóa lấn át chính sách tiền tệ thì đường IS dịch sang trái
nhiều hơn đường LM dịch phải một đoạn làm cho lãi suất cân bằng sản lượng
cân bằng đồng thời giảm.
Khi chính sách tiền tệ lấn át chính sách tài thì đường LM dịch sang phải
nhiều n đường IS dịch trái một đoạn làm cho lãi suất cân bằng giảm, sản
lượng cân bằng tăng
Chính sách tài khóa mở rộng, chính sách tiền tệ thắt chặt
Khi sử dụng chính sách tài khóa chính sách tiền tệ cùng mức độ
làm cho đường IS dịch phải và đường LM dịch trái một đoạn như nhau làm cho
lãi suất cân bằng tăng, sản lượng cân bằng không đổi.
12
Khi chính sách tài khóa lấn át chính sách tiền tệ thì đường IS dịch phải
nhiều n đường LM dịch trái một đoạn làm cho lãi suất cân bằng sản
lượng cân bằng đồng thời tăng.
Khi chính sách tiền tệ lấn át chính sách tài thì đường LM dịch sang trái
nhiều hơn đường IS dịch phải một đoạn làm cho lãi suất cân bằng tăng, sản lượng
cân bằng giảm.
13
CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trong giai đoạn 2017-2022, Việt Nam đã áp dụng các chính sách tài khóa
tiền tệ nhằm hỗ trợ nền kinh tế. Trong đó, chính sách tài khóa bao gồm tăng chi
ngân sách và giảm thuế để kích thích tăng trưởng kinh tế, trong khi chính sách tiền
tệ bao gồm cắt giảm lãi suất để hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp.
I. GIAI ĐOẠN 2017 - 2020
Những thành tựu nổi bật của kinh tế hội việt nam trong giai đoạn 2017-
2019
Tăng trưởng kinh tế: GDP Việt Nam trong giai đoạn này tăng trung bình
6,8%/năm, đạt mức cao nhất trong 10 năm qua.
Xuất khẩu: Tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam đạt 245 tỷ USD trong năm
2019, tăng 8,1% so với năm trước.
Đầu tư nước ngoài: Việt Nam thu hút được 35,5 tỷ USD vốn FDI, tăng 7,2% so
với năm trước.
Tăng trưởng doanh nghiệp: Năm 2019, hơn 138.000 doanh nghiệp được
thành lập mới, tăng 5,2% so với năm trước đó.
Cải cách hành chính: Chính phủ đã triển khai nhiều cải cách hành chính, giảm
thủ tục hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Phát triển khu công nghiệp: Việt Nam đang xây dựng nhiều khu công nghiệp
mới để thu hút đầu tư, đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước.
Phát triển du lịch: Ngành du lịch Việt Nam đang phát triển mạnh, thu hút nhiều
du khách trong và ngoài nước, đóng góp vào ngân sách quốc gia.
14
Điều chỉnh chính sách thuế: Chính phủ đã điều chỉnh chính sách thuế, giảm
thuế đối với nhiều ngành nghề, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển.
Tổng thể, trong giai đoạn 2017-2019, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu
quan trọng, đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Những hạn chế kinh tế xã hội việt nam trong giai đoạn 2017-2019
Nền kinh tế vẫn chịu ảnh hưởng của sự bất ổn trong khu vực thế giới, đặc
biệt là cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.
Chất lượng tài sản quốc gia công tác kiểm soát, quản tài sản vẫn còn
nhiều vấn đề phức tạp và khó khăn.
Thị trường lao động đang sự chuyển đổi từ lao động nông thôn sang lao
động thành thị, tuy nhiên tình trạng thất nghiệp vẫn còn cao, đặc biệt tại
các đô thị lớn.
Hệ thống giáo dục, đào tạo vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt các trường
đại học chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động.
Trong lĩnh vực công nghệ, Việt Nam vẫn còn đang mức độ phụ thuộc cao
vào các đối tác nước ngoài.
Tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn đang diễn biến phức tạp, đặc biệt là ở các
đô thị lớn.
Năng suất lao động hiệu quả sản xuất vẫn chưa cao, đặc biệt trong các
ngành kinh tế truyền thống.
Tình trạng tham nhũng biến chất trong cán bộ, đặc biệt trong các
quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước, vẫn còn phức tạp.
Chính sách, pháp luật vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của
thị trường kinh tế và xã hội.
Phân bổ nguồn lực chưa đạt được tính công bằng hiệu quả, gây ra nhiều
vấn đề về phát triển kinh tế và xã hội.
Các tác động của chính sách tài khóa của Việt Nam trong giai đoạn 2017
2019
a. Giai đoạn 2017-2018
2017 là năm đầu tiên triển khai nhiều nghị quyết của Trung ương (như Nghị
quyết 05-NQ/TW, Nghị quyết 07-NQ/TW…) và các quy định pháp luật tài
chính ngân sách mới (như Luật Ngân sách nhà nước (NSNN) 2015, Luật Phí
và lệ phí 2015…), cùng với việc triển khai thực hiện các kế hoạch 5 năm giai
đoạn 2016 - 2020 như: Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế, Kế hoạch tài chính 5
năm quốc gia, Kế hoạch đầu tư công trung hạn… với trọng tâm là nâng cao
chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế,
thực hiện cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để đảm bảo bền vững nền tài
chính quốc gia.
15
Theo đó, ngay từ đầu năm 2017, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 01/NQ-CP
ngày 1/1/2017 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế
hoạch phát triển Kinh tế - xã hội (KT-XH) và dự toán NSNN; Nghị quyết
70/NQ-CP ngày 3/8/2017 những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến
độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công; Chỉ thị 14/CT-TTg về
nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng ngành, lĩnh vực nhằm thực
hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và nhiệm vụ tài chính NSNN. Theo đó, chính
sách tài khóa năm 2017 được thực hiện theo hướng thận trọng, chặt chẽ, tiếp
tục tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho phát triển, nâng cao năng lực cạnh
tranh quốc gia gắn với 3 đột phá chiến lược. Cụ thể:
Thu NSNN: Tập trung rà soát, hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm sửa đổi, bổ
sung hoặc ban hành mới cho phù hợp với tình hình thực tế. Bên cạnh đó, đẩy
mạnh công tác quản lý thu trên cơ sở tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra
thuế, chống thất thu thuế, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh nâng cao
năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Chi NSNN: Thực hiện chi NSNN tiết kiệm, chặt chẽ, hiệu quả gắn với thực
hiện cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công an toàn, bền vững. Trong điều hành
chi NSNN, thực hiện tiết kiệm triệt để các khoản chi thường xuyên, đảm bảo
hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm; Đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý chi
NSNN, quản lý chặt chẽ và hạn chế tối đa việc ứng trước dự toán NSNN và chi
chuyển nguồn sang năm sau. Các địa phương chủ động sắp xếp điều chỉnh
nhiệm vụ chi NSNN phù hợp với khả năng thu ngân sách địa phương, nhất là
các khoản chi đầu tư phát triển gắn với tiến độ một số nguồn thu tập trung cho
đầu tư (thu tiền sử dụng đất, xổ số kiến thiết…). Tăng cường công tác kiểm
soát thanh toán vốn đối với các dự án đầu tư từ nguồn NSNN và nguồn trái
phiếu chính phủ (TPCP).
Trong cân đối NSNN và quản lý nợ công: Thực hiện kiểm soát chặt chẽ bội chi
NSNN; Tập trung quản lý nợ công chặt chẽ, chủ động, đảm bảo theo Chương
trình quản lý nợ trung hạn, kế hoạch vay, trả nợ của Chính phủ và các hạn mức
vay nợ năm 2017; Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý về nợ công, về huy
động vốn trên thị trường tài chính; Đa dạng hóa các sản phẩm TPCP đối với
các kỳ hạn dài, tăng nguồn lực cho NSNN, giảm áp lực nợ ngắn hạn; Hạn chế
tối đa việc cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay mới, không chuyển vốn
vay về cho vay lại, bảo lãnh Chính phủ thành vốn cấp phát NSNN; Thực hiện
đánh giá đầy đủ các tác động lên nợ công, nợ chính quyền địa phương và khả
năng trả nợ trong trung hạn trước khi thực hiện các khoản vay mới.
Kết quả thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách năm 2017
16
Thứ nhất, thu NSNN tích cực, vượt dự toán NSNN năm 2017.
Mặc dù kinh tế - xã hội những tháng đầu năm 2017 có nhiều biến động tác
động nhất định đến công tác thu NSNN, nhưng nhờ có chính sách tài khoá chủ
động nên thu NSNN đạt kết quả tích cực. Đến ngày 31/12/2017, thu cân đối
NSNN ước đạt 1.283,2 nghìn tỷ đồng, vượt 71 nghìn tỷ đồng, vượt 5,9% so dự
toán, tăng 43,7 nghìn tỷ đồng so báo cáo Quốc hội đạt mức động viên 25,6% so
GDP; trong đó, thuế, phí ước đạt 21% GDP. Thực hiện thu NSĐP đạt kết quả
tích cực so với dự toán, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho cân đối ngân sách
địa phương (NSĐP).
Công tác quản lý thu, chống thất thu và giảm nợ đọng thuế đã đạt hiệu quả
tương đối. Năm 2017, cơ quan thuế đã thực hiện thanh tra, kiểm tra 86,55 nghìn
doanh nghiệp, xử lý tăng thu thuế trên 16,3 nghìn tỷ đồng, thu vào NSNN gần
12 nghìn tỷ đồng; thực hiện đôn đốc, cưỡng chế thu khoảng 39,8 nghìn tỷ đồng
tiền nợ thuế năm 2016 chuyển sang. Cơ quan Hải quan đã thực hiện trên 8,2
nghìn cuộc kiểm tra sau thông quan, tăng thu cho NSNN gần 2,2 nghìn tỷ đồng;
Xử lý và thu nộp NSNN khoảng 589,7 tỷ đồng nợ thuế phát sinh từ ngày
31/12/2016 trở về trước.
Thứ hai, chi NSNN đảm bảo nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ phát triển KT-
XH.
Các bộ, ngành và địa phương đã nghiêm túc chấp hành chỉ đạo của Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính, chi trong phạm vi dự
toán được giao, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi; rà soát, sắp xếp, tiết
kiệm chi thường xuyên; mua sắm tài sản theo đúng chế độ quy định; đảm bảo
nguồn kinh phí thực hiện điều chỉnh tiền lương, các chính sách an sinh xã hội,
chi đầu tư phát triển...
Trong điều kiện cân đối ngân sách trung ương còn khó khăn, Bộ Tài chính đã
tham mưu Chính phủ xử lý, điều hành ngân sách chủ động, tích cực đảm bảo
những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách như: Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ
chính trị, tổ chức thành công Hội nghị APEC 2017, thực hiện điều chỉnh lương
hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công tăng bằng mức
lương cơ sở từ ngày 01/7/2017 và hỗ trợ tiền lương tăng thêm cho các địa
phương ngân sách khó khăn không cân đối được nguồn theo quy định.
Bên cạnh đó, đã chi hỗ trợ trên 4,2 nghìn tỷ đồng từ dự phòng ngân sách trung
ương để khắc phục hậu quả bão, mưa lũ, khôi phục sản xuất sau thiên tai; xuất
17
cấp trên 127,3 nghìn tấn gạo dự trữ quốc gia để cứu đói, cứu trợ cho nhân dân,
hỗ trợ học sinh vùng khó khăn; chi trả kịp thời kinh phí bồi thường thiệt hại do
sự cố về môi trường biển từ nguồn đền bù của Formosa.
Tính đến 31/12/2017, các nhiệm vụ chi thường xuyên đã cơ bản thực hiện xong
theo dự toán, đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhiệm vụ chuyên môn của cơ quan, đơn
vị sử dụng ngân sách.
Thứ ba, huy động vốn và cân đối ngân sách được đảm bảo.
Với những kết quả tích cực trong thu NSNN của các địa phương và thực hiện
chính sách chi tiết kiệm, bội chi NSNN năm 2017 trong phạm vi dự toán Quốc
hội quyết định, ước khoảng 174,3 nghìn tỷ đồng, bằng 3,48% GDP thực hiện.
Đây là một tín hiệu tích cực trong thực hiện nhiệm vụ tài chính - NSNN với
chính sách tài khóa thắt chặt, đảm bảo nguồn lực thực hiện nhiệm vụ phát triển
KT-XH.
Hoạt động huy động vốn TPCP từ thị trường có những chuyển biến tích cực,
danh mục TPCP được cải thiện về kỳ hạn và lãi suất, giảm áp lực nợ trong ngắn
hạn, giảm rủi ro thanh khoản. Năm 2017, Kho bạc Nhà nước đã thực hiện huy
động qua Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội được 159,9 nghìn tỷ đồng, trong
đó 100% trái phiếu huy động có kỳ hạn 5 năm trở lên; kỳ hạn vay bình quân là
13,52 năm, cao hơn mức 8,71 năm năm 2016, lãi suất vay bình quân năm là
6,07%/năm, thấp hơn mức 6,49%/năm của năm 2016, giảm chi phí vay cho
NSNN. Bên cạnh đó, công tác phát hành TPCP cho Bảo hiểm Xã hội Việt Nam
đạt 63 nghìn tỷ đồng với kỳ hạn 10 năm, lãi suất 5,82%/năm.
b. Giai đoạn 2018-2019
Năm 2018, kinh tế toàn cầu tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro, bất ổn do chủ
nghĩa bảo hộ mậu dịch gia tăng, căng thẳng trong quan hệ thương mại giữa
một số nền kinh tế lớn diễn ra mạnh mẽ. Triển khai các Nghị quyết Trung
ương và Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày
01/01/2018 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạọ, điều hành thực
hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) và dự toán ngân sách nhà
nước (NSNN) năm 2018. Theo đó, ngay từ đầu năm 2018, chính sách tài
khóa được triển khai theo hướng chặt chẽ, tiết kiệm, đảm bảo nguồn lực cho
việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển KT-XH.
- Thực hiện các mục tiêu tại Nghị quyết số 01/NQ-CP, chính sách thu NSNN
tiếp tục được rà soát và hoàn thiện cùng với việc đẩy mạnh cải cách thủ tục
hành chính (TTHC) thuế, hải quan, nhằm cải thiện môi trường kinh doanh,
18
tạo điều kiện cho phát triển doanh nghiệp (DN), nâng cao năng suất, chất
lượng, hiệu quả của nền kinh tế, đồng thời, vừa đảm bảo thực hiện đồng bộ
các mục tiêu, nhiệm vụ thu NSNN đề ra, vừa đảm bảo thực hiện tốt các cam
kết quốc tế về thuế. 2018 cũng là năm bắt đầu thực hiện các quy định mới về
thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước (Nghị định số
123/2017/NĐ-CP sửa đổi Nghị định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất,
thuê mặt nước do Chính phủ ban hành ngày 14/11/2017); thực hiện lộ trình
giảm thuế suất thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ các nước trong khu vực
Đông Nam Á xuống mức 0% theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN.
Ngoài ra, nhằm góp phần phát triển ngành công nghiệp ô tô, Chính phủ đã bổ
sung quy định về thuế nhập khẩu ưu đãi 0% đối với linh kiện ô tô nhập khẩu
theo Chương trình ưu đãi thuế.
Cùng với việc hoàn thiện chính sách thu NSNN, công tác cải cách TTHC
cũng được chú trọng, nhằm tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thường
nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 19/NQ-
CP và Nghị quyết số 35/NQ-CP, theo đó, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số
05/2018/TT-BTC hướng dẫn thí điểm về khai, nộp lệ phí trước bạ điện tử với
ôtô, xe máy và trao đổi dữ liệu điện tử thu nộp lệ phí trước bạ với ôtô, xe
máy…
19
- Chính sách chi NSNN tiết kiệm, chặt chẽ, hiệu quả. Cụ thể, không ban hành
chính sách mới làm tăng chi NSNN khi chưa có nguồn đảm bảo; thực hiện cắt
giảm tối đa, công khai các khoản chi hội nghị, hội thảo, khánh tiết, công tác
khảo sát nước ngoài… đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, ứng phó biến đổi khí
hậu và đảm bảo an sinh xã hội.
- Tăng cường cân đối NSNN và quản lý nợ công: Kiểm soát chặt chẽ bội chi
NSNN, bội chi ngân sách địa phương được chú trọng. Công tác quản lý nợ
công được triển khai theo đúng quy định tại Luật Quản lý nợ công và các quy
định về quản lý nợ chính quyền địa phương, nợ nước ngoài quốc gia để đảm
bảo nợ trong mức giới hạn an toàn, giảm thiểu phát sinh nghĩa vụ nợ và nợ rủi
ro cao, thất thoát, lãng phí.
Trên cơ sở triển khai thực hiện tích cực, hiệu quả chính sách tài khóa, năm
2018, Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng như sau:
- Ngay từ đầu năm 2018, Bộ Tài chính đã chủ động xây dựng trình Thủ tướng
Chính phủ phương án điều hành NSNN năm 2018 theo các kịch bản tăng
trưởng kinh tế nhằm đảm bảo cân đối ngân sách các cấp, giữ bội chi và tổng
mức vay của NSNN trong phạm vi Quốc hội cho phŠp trong mọi tình huống.
Bộ Tài chính đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 31/CT-TTg
ngày 08/11/2018 về việc chấn chỉnh, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong việc
chấp hành pháp luật NSNN đưa việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương tài chính -
NSNN thực sự đi vào cuộc sống.
- Trong tổ chức thực hiện thu NSNN, ngay từ đầu năm Bộ Tài chính đã tập
trung chỉ đạo triển khai tốt các luật thuế và nhiệm vụ thu NSNN năm 2018;
chủ động phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và chính quyền địa phương
làm tốt công tác quản lý thu, chú trọng khai thác nguồn thu, mở rộng cơ sở
thuế (cả đối tượng và địa bàn); đẩy mạnh chống thất thu, buôn lậu, gian lận
thương mại; quyết liệt xử lý nợ thuế; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra
thuế... Đồng thời, chú trọng cải cách hành chính, tạo thuận lợi, giảm thời
gian, chi phí cho người nộp thuế.
Cùng với kinh tế tăng trưởng cao hơn kế hoạch, kết hợp với các giải pháp đã
thực hiện, đến hết 31/12/2018, thu cân đối NSNN ước đạt 1.422,7 nghìn tỷ
đồng, vượt 103,5 nghìn tỷ đồng (+7,8%) so dự toán (trong đó, thu ngân sách
trung ương vượt 4,3%, thu ngân sách địa phương vượt 12,5% so dự toán),
tăng 64,3 nghìn tỷ đồng so báo cáo Quốc hội, tỷ lệ động viên đạt 25,7%GDP,