



















Preview text:
SỞ Y TẾ NGHỆ AN
TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN HƯNG NGUYÊN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐẾN MỔ LẤY THAI TẠI KHOA CHĂM SÓC
SỨC KHỎE SINH SẢN TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN HƯNG NGUYÊN
Chủ nhiệm đề tài: Bs Trần Thị Hoa Lê
Đơn vị: Trung tâm Y tế huyện Hưng Nguyên
HƯNG NGUYÊN, NĂM 2023 SỞ Y TẾ NGHỆ AN
TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN HƯNG NGUYÊN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐẾN MỔ LẤY THAI TẠI KHOA CHĂM SÓC
SỨC KHỎE SINH SẢN TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN HƯNG NGUYÊN
Chủ nhiệm đề tài: Bs Trần Thị Hoa Lê
Cộng sự: Bs CKII Lê Hữu Nam Đd Nguyễn Thị Hiền
HƯNG NGUYÊN, NĂM 2023 MỤC LỤC MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG DANH MỤC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ ..........................................................................................................1
Chương 1. TỔNG QUAN .........................................................................................3
1.1. Đại cương về mổ lấy thai.................................................................................3
1.2. Một số chỉ định mổ lấy thai..............................................................................7
1.3. Vai trò của mổ lấy thai…………………….. ................................................11
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...........................13
2.1. Đối tượng nghiên cứu ....................................................................................13
2.2. Phương pháp nghiên cứu................................................................................13
2.3. Các biến số nghiên cứu..................................................................................13
2.4. Công cụ nghiên cứu và xử lý số liệu..............................................................15
2.5. Đạo đức trong nghiên cứu..............................................................................16
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...................................................................17
3.1. Tỉ lệ mổ lấy thai………………………….…………………………………17
3.2. Một số yếu tố liên quan đến mổ lấy thai……………………………………18
Chương 4. BÀN LUẬN ..........................................................................................25
4.1. Tỉ lệ mổ lấy thai,……………………………………………………………25
4.2. Một số yếu tố liên quan đến mổ lấy thai……………………………………26
KẾT LUẬN .............................................................................................................34
KIẾN NGHỊ ............................................................................................................35 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT AĐ : Âm đạo AH : Âm hộ AFI : Chỉ số ối
BMI: Body Mass Index (Chỉ số khối cơ thể)
BVPSTW : Bệnh viện Phụ sản Trung Ương CTC : Cổ tử cung CBVC: Cán bộ viên chức
CSSKSS : Chăm sóc Sức Khỏe Sinh Sản ĐTĐ: Đái tháo đường
ĐTĐTN: Đái tháo đường thai nghén
IUI : (intrauterine insemination) Bơm tinh trùng vào buồng tử cung
IVF : (in vitro fertilization) Thụ tinh trong ống nghiệm
HIV : Human Immunodeficiency Virus (Virus gây suy giảm hệ miễn dịch ở người) MLT : Mổ lấy thai
OVN, OVS : Ối vỡ non, ối vỡ sớm
RDS : Hội chứng suy hô hấp cấp ở trẻ sơ sinh TC : Tử cung THA: Tăng huyết áp TSG : Tiền sản giật
TSSKNN : Tiền sử sản khoa nặng nề TTYT : Trung Tâm Y Tế
WHO : World Health Organization ( Tổ chức y tế thế giới ) DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Thời điểm mổ lấy thai của sản phụ……….……………………...….17
Bảng 3.2. Tuổi của sản phụ liên quan đến MLT………………………………..18
Bảng 3.3. Dân tộc của sản phụ liên quan đến MLT………….……………..…..18
Bảng 3.4. Địa hình dân cư của sản phụ liên quan đến MLT…………………....19
Bảng 3.5. Nghề nghiệp của sản phụ liên quan đến MLT…………………….....19
Bảng 3.6. Chiều cao của sản phụ liên quan đến MLT…….…….……………....20
Bảng 3.7. Số lần mang thai liên quan đến MLT……..………..……….….........20
Bảng 3.8. Đặc điểm tăng cân trong quá trình mang thai liên quan đến MLT..........21
Bảng 3.9. Bệnh lý của sản phụ liên quan đến MLT……………..……....…….......21
Bảng 3.10. Đặc điểm của thai liên quan đến mổ lấy thai…………..………….......22
Bảng 3.11. Đặc điểm phần phụ của thai liên quan đến MLT………………...........23
Bảng 3.12. Nguyên nhân khác liên quan đến MLT…………...........……………...23
Bảng 3.35. Kết hợp các yếu tố liên quan đến MLT…………………...……….…..24 DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ MLT trong nghiên cứu...............................................................17
Biểu đồ 3.2. Đặc điểm đường sinh dục của sản phụ liên quan đến MLT................22 ĐẶT VẤN ĐỀ
Thai nghén và sinh đẻ là thiên chức của người phụ nữ nhằm duy trì nòi giống con
người. Đối với nhiều phụ nữ, quá trình mang thai và sinh đẻ có không ít khó khăn
cũng như lo lắng, tiềm ẩn nhiều nguy cơ cho mẹ và thai nhi dù là sinh thường hay mổ lấy thai.
Từ 1985, Cộng đồng sức khỏe thế giới (The international healthcare community) đã
cho rằng tỉ lệ mổ lấy thai (MLT) lý tưởng là trong khoảng 10 - 15%. Tỉ lệ mổ lấy thai
ở nhiều nước trên thế giới tăng nhanh trong vòng 20 năm trở lại đây, đặc biệt là các
nước phát triển. Khi tỉ lệ này trên 15% thì tai biến sẽ xảy ra nhiều hơn cho mẹ và thai.
Ngoài một số trường hợp phải mổ lấy thai như rau tiền đạo trung tâm, rau bong non
thể nặng, tiềm sản giật, sản giật, thai bất xứng khung chậu mẹ, bệnh lý toàn thân nặng
của mẹ,….Sẹo mổ trên tử cung có thể bị nứt trong các thai kì nếu không xử trí kịp thời
có thể dẫn tới tử vong cả mẹ lẫn con nhất là khoảng cách giữa hai lần mang thai quá
gần. Đồng thời còn có các tai biến gây tê, gây mê, do chảy máu, nhiễm trùng, tổn
thương đường tiết niệu, thuyên tắc mạch. Tai biến xa còn phải kể đến như bệnh lạc nội
mạc tử cung, dính ruột, tắc ruột, rau cài răng lược, thai ngoài tử cung, chửa tại vết mổ.
Khả năng mang thai lần sau ở người sinh mổ thấp hơn sinh thường và cần phải can
thiệp vào lần sinh tiếp theo. MLT cũng làm tăng tai biến cho trẻ : sinh non, tử vong sơ
sinh, suy giảm miễn dịch, hội chứng suy hô hấp cấp ở trẻ sơ sinh.
Mặc dù MLT có thể cứu được tính mạng mẹ và thai nhi trong một số tình huống cấp
cứu, khi có sự gia tăng tỉ lệ MLT không có bằng chứng cho thấy có sự giảm bệnh suất
và tỉ suất cho mẹ và trẻ sơ sinh lại có sự tăng tỉ lệ của những biến chứng liên quan đến
MLT. Vì vậy người bệnh, người nhà cũng như nhân viên y tế đặc biệt là các bác sỹ
phải hiểu rõ về những biến chứng gần và xa của MLT.
Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về mổ lấy thai, mỗi nghiên cứu cho tỉ lệ mổ lấy
thai tương đối khác nhau.
Với đặc điểm địa hình dân cư gần trung tâm thành phố của Huyện Hưng Nguyên
cùng điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, sự hạn chế gia tăng dân số quá mức, tỉ lệ
vô sinh mắc phải cao, các sản phụ trong quá trình mang thai có chế độ chăm sóc, ăn
uống được chú trọng, môi trường làm việc ít hoạt động cũng góp một phần ảnh hưởng
đến cuộc chuyển dạ. Tại Trung tâm Y tế huyện Hưng Nguyên nhận thấy mổ lấy thai
có xu hướng ngày càng tăng. Do đó, kiểm soát và đưa ra những chỉ định xử trí hợp lý
cho các sản phụ là việc làm cần thiết, góp phần làm giảm tình trạng mổ lấy thai. Vì
vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài:“ Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến mổ lấy
thai tại khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Sinh Sản Trung tâm Y tế huyện Hưng
Nguyên” với các mục tiêu:
1. Khảo sát tỉ lệ mổ lấy thai tại khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Sinh Sản từ
01/01/2022 đến 31/12/2022.
2. Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến mổ lấy thai tại khoa Chăm Sóc Sức
Khỏe Sinh Sản từ 01/01/2022 đến 31/12/2022. Chương 1: TỔNG QUAN
1.1. Đại cương về mổ lấy thai 1.1.1. Định nghĩa
Mổ lấy thai là một phương pháp rạch qua thành bụng và thành tử cung để lấy thai,
phần phụ của thai ra khỏi buồng tử cung.
Định nghĩa này không bao gồm mở bụng lấy thai trong trường hợp chửa trong ổ bụng
và vỡ tử cung khi thai đã nằm trong ổ bụng [6].
1.1.2. Sơ lược về lịch sử mổ lấy thai
Theo sử sách của người Ai Cập, MLT đã được đề cập vào những năm 3000 năm trước
công nguyên. Khi ấy MLT chỉ được thực hiện trên người mẹ mới chết hoặc đang hấp
hối để cứu con. Năm 1500, Jacob Nufer (Thụy Sỹ) làm nghề thiến lợn và người đầu
tiên thực hiện MLT cho vợ của ông ta vì đẻ khó sau khi 12 bà đỡ đã bó tay và được
coi là trường hợp phẫu thuật lấy thai đầu tiên. Năm 1610, Jaremiah Trautmanm (Đức)
ủng hộ việc phẫu thuật lấy thai và đã báo cáo 15 trường hợp thành công [3].
Năm 1882, Max Sanger (Đức) giới thiệu phương pháp mổ dọc thân tử cung để lấy thai
có khâu phục hồi cơ tử cung 2 lớp và ông đã xuất bản một cuốn sách dày 200 trang
với tên "Kỹ thuật mổ lấy thai" gọi là kỹ thuật Sanger [3].
Năm 1904, Williams đã xuất bản cuốn sách giáo khoa nổi tiếng về phương pháp phẫu
thuật lấy thai chuẩn mực trong thực hành sản khoa [3].
Vào đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX ở Việt Nam MLT lần đầu tiên được áp dụng tại
khoa sản bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) là theo phương pháp cổ điển. Sau đó giáo sư
Đinh Văn Thắng thực hiện mổ ngang đoạn dưới tử cung lấy thai tại bệnh viện Bạch
Mai và ngày nay phương pháp này được áp dụng rộng rãi tại các địa phương trong cả nước [5].
1.1.3. Nghiên cứu về mổ lấy thai trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.3.1. Nghiên cứu tình hình mổ lấy thai trên thế giới
Tỉ lệ MLT ở các nước trên thế giới có xu hướng tăng nhanh, liên quan đến sự phát
triển của khoa học kỹ thuật và phương tiện vô cảm cũng như các lý do xã hội khác. Tỉ
lệ MLT cũng khác nhau, dao động tùy từng nghiên cứu và vùng miền.
Nghiên cứu của Hsu C.Y. và cs (2007) tại Đài Loan cho kết quả: Chỉ định MLT chủ
yếu là do có tiền sử MLT cũ (dao động 43,3 - 45,5%), tiếp theo là do ngôi thai bất
thường (19,6 - 23,4%). Nghiên cứu của Quinlan J.D. và cs (2015) thống kê cho thấy tỉ
lệ MLT tại các nước phát triển: tỉ lệ MLT ở Brazil là 45,9%, tại Italy là 38,2%, tại
Mexico là 37,8%, tại Australia và Hoa Kỳ đều là 30,3%, tại Đức là 27,8%, tại Canada
là 26,3%, tại Ireland là 26,2%, tại Trung Quốc là 25,9%, Tây Ban Nha 25,9%,
1.1.3.2. Nghiên cứu về mổ lấy thai ở Việt Nam
Tỉ lệ MLT ở Việt Nam cũng đang có xu hướng tăng nhanh. Tỉ lệ MLT ở Việt Nam
sau năm 2000 thông qua một số nghiên cứu:
Nghiên cứu của Phạm Bá Nha (2009) về chỉ định MLT tại khoa Sản, Bệnh viện Bạch
Mai thấy: Tỉ lệ MLT là 36,7%. Tỉ lệ mổ ở thai phụ con so là 52,1% [9].
- Nhóm chỉ định MLT do đường sinh dục của người mẹ: Tỉ lệ mổ cao nhất trong
nhóm là do sẹo mổ cũ ở tử cung 66,7%; do dọa vỡ tử cung và cơn co tử cung cường
tính là 13,2%; do cổ tử cung không tiến triển là 12,3%.
-Nhóm chỉ định MLT do bệnh của người mẹ: Tỉ lệ mổ do tiền sản giật, sản giật cao
nhất, chiếm 50,3%; do bệnh tim mạch 19,7%; do tiểu đường và Basedow là 15%.
-Nhóm chỉ định MLTdo thai nhi: Tỉ lệ MLT do thai suy 28,8%; do thai to 28,6%; do
ngôi mông 18,2%. Nhóm chỉ định MLT do phần phụ của thai: Tỉ lệ mổ do ối vỡ non,
ối vỡ sớm cao nhất 77,2%; do cạn ối 14,6%. Nhóm nguyên nhân khác: con so lớn tuổi
42,3%; do tiền sử sản khoa nặng nề 33,1% và do vô sinh 16,1%.
Nghiên cứu của Đặng Thị Hà (2010) tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ
Chí Minh cho kết quả: tổng số 3018 sản phụ vào viện trong thời gian nghiên cứu có
1303 sản phụ được chỉ định MLT, chiếm 43,2%. Trong các chỉ định MLT, chỉ định
MLT chủ động chiếm 36,5%, MLT cấp cứu là 63,5%. Chỉ định MLT cấp cứu (tổng
828 trường hợp): do suy thai chiếm 4,2%, bất xứng đầu chậu chiếm 26,6%, gây
chuyển dạ thất bại 52,4%, vết mổ cũ đau 16,3%, sa dây rốn 0,5%. Chỉ định MLT chủ
động (tổng 475 trường hợp): do thai to 13,3%, ngôi bất thường 7,9%, vết mổ cũ
50,0%, thiểu ối 9,8%, khung chậu hẹp 10,9%, con so lớn tuổi/con quý 8,1% [4].
Nghiên cứu của Ninh Văn Minh (2013) tại Bệnh viện Sản Nhi Ninh Bình cho kết quả:
Tỉ lệ MLT/ tổng số đẻ năm 2012 là 23,1%, tỉ lệ mổ con so 51,94%. Các chỉ định về
phía mẹ 31,49% (sẹo mổ cũ 54,6%, CTC không tiến triển 21,32%, bệnh toàn thân
18,46%), về phía thai 44,08% (ngôi không lọt 51,1%, thai quá ngày sinh 3,38%, suy
thai 18,76%, ngôi bất thường 24,88%), về phía phần phụ của thai 14,81% (rau tiền
đạo 15,89%, ối vỡ non, sớm 61,92% ối giảm, hết 18%) nguyên nhân khác 9,62% [8].
1.1.4. Giải phẫu của tử cung liên quan đến mổ lấy thai
1.1.4.1. Giải phẫu tử cung khi chưa có thai
Tử cung còn gọi là dạ con, nơi hàng tháng sinh ra kinh nguyệt và là nơi nương náu,
phát triển của thai nhi [7].
* Vị trí và chiều hướng
-Tử cung nằm chính giữa chậu hông bé, sau bàng quang, trước trực tràng, trên âm đạo và dưới các quai ruột.
-Hướng của tử cung: Bình thường tử cung nằm ngả và gấp ra trước. Thân tử cung gấp
với cổ tử cung 1 góc 120°, thân tử cung hợp với âm đạo 1 góc 90°. Trong 1 số truờng
hợp tử cung có thể lật ra sau hoặc sang bên [2].
* Hình thể ngoài và kích thước
Tử cung giống hình nón cụt, dẹt và rộng ở trên, tròn và hẹp ở dưới. Gồm 3 phần:
- Thân tử cung: Rộng ở trên gọi là đáy tử cung, có 2 sừng liên tiếp với 2 vòi trứng.
Thân dài 4cm, rộng 4cm khi chưa chửa đẻ lần nào.
- Eo tử cung: Là phần thắt nhỏ giữa thân và cổ, dài 0,5 cm.
- Cổ tử cung: Dài và rộng 2,5 cm, khi đẻ nhiều lần cổ tử cung ngắn lại * Liên quan
- Mặt trước dưới: Liên quan với túi cùng bàng quang - tử cung.
- Mặt sau trên: Liên quan với túi cùng Douglas (Túi cùng tử cung - trực tràng). * Hình thể trong
Tử cung là 1 khối cơ trơn, rỗng ở giữa gọi là buồng tử cung, dài khoảng 6,5cm thông
với cổ tử cung. Tử cung được cấu tạo bởi 4 lớp từ ngoài vào trong: - Lớp thanh mạc.
- Lớp dưới thanh mạc: Dính vào tử cung.
- Lớp cơ: Là lớp dày nhất của tử cung. Gồm 3 lớp cơ: Các sợi cơ dọc ở ngoài, sợi cơ
đan chéo ở giữa và các sợi cơ vòng phía trong.
- Lớp niêm mạc: Lớp trong cùng của tử cung, lớp này phát triển và biến đổi theo các
giai đoạn sinh dục của người phụ nữ. Hàng tháng khi niêm mạc bong ra gây hiện tượng kinh nguyệt.
* Phương tiện giữ tử cung tại chỗ [10] - Dây chằng rộng:
Là 1 nếp phúc mạc trùm lên tử cung ở cả mặt trước và mặt sau và 2 bên tử cung.
- Dây chằng tròn tử cung:
Là 1 thừng sợi mô liên kết, đi từ sừng tử cung tới lỗ bẹn sâu, qua lỗ bẹn nông rồi vào
các tổ chức liên kết dưới da mu.
- Dây chằng tử cung cùng:
Là dải mô liên kết và cơ trơn dính tử cung vào xương cùng.
- Dây chằng ngang cổ tử cung:
Là 1 dải mô liên kết bám cổ tử cung vào thành bên chậu hông.
1.1.4.2. Giải phẫu tử cung khi có thai
Khi chưa có thai tử cung nặng 50 – 60gram. Sau khi sổ rau tử cung nặng
trung bình 1000gram, sự gia tăng về trọng lượng tử cung chủ yếu xảy ra vào nửa đầu thời kỳ thai nghén [7].
Phúc mạc ở thân tử cung phì đại theo lớp cơ tử cung. Ở phần trên của tử cung, phúc
mạc dính vào lớp cơ. Ở đoạn eo tử cung, phúc mạc có thể bóc tách được dễ dàng ra
khỏi lớp cơ vì giữa phúc mạc và lớp cơ có tổ chức liên kết dày, ranh giới giữa hai
vùng là đường bám chặt phúc mạc. Đó chính là ranh giới giữa thân tử cung và đoạn
dưới tử cung, nhờ tính chất bóc tách được phúc mạc ra khỏi lớp cơ ở đoạn dưới tử
cung, người ta tiến hành mổ tử cung qua đoạn dưới để có thể phủ được phúc mạc sau
khi khâu mép rạch của cổ tử cung.
Eo tử cung khi chưa có thai là một vòng nhỏ 0,5 – 1cm khi có thai eo tử cung trải rộng
và dài thành đoạn dưới tử cung và dài tới 10cm. Đoạn dưới tử cung không có lớp cơ
đan ở giữa nên dễ vỡ, dễ chảy máu khi có rau tiền đạo [10].
1.2. Một số chỉ định mổ lấy thai
1.2.1. Mổ lấy thai chủ động
1.2.1.1. Nguyên nhân từ người mẹ
- Khung chậu bất thường
+ Khung chậu hẹp toàn diện là khung chậu có tất cả các đường kính giảm cả eo trên
và eo dưới. Đặc biệt đường kính nhô – hậu vệ nhỏ hơn 8,5cm.
+ Khung chậu méo khi đo hình trám Michaelis không cân đối. Bình thường hình trám
Michaelis có đường chéo góc trên – dưới (gai sau đốt sống thắt lưng V đến đỉnh liên
mông) dài 11cm và đường chéo góc ngang (liên gai chậu sau trên) dài 10cm, hai
đường chéo này vuông góc với nhau. Đường chéo góc trên – dưới chia đường chéo
góc ngang thành hai phần bằng nhau mỗi bên 5cm, đường chéo góc ngang chia đường
chéo góc trên dưới thành hai phần: phía trên 4cm, phía dưới 7cm. Nếu khung chậu
méo thì 2 đường chéo này cắt nhau không cân đối, không vuông góc và hình trám
được hợp thành bởi 2 tam giác không cân.
+ Khung chậu hình phễu là rộng eo trên, hẹp eo dưới. Chẩn đoán dựa vào đường kính
lưỡng ụ ngồi. Nếu đường kính lưỡng ụ ngồi < 9cm thai sẽ không sổ được, nên có chỉ
định mổ lấy thai chủ động.
- Tử cung có sẹo mổ cũ [1]
+ Sẹo mổ ở thân tử cung trước có thai như: sẹo mổ bóc nhân xơ tử cung, sẹo mổ tạo hình tử cung,… + Sẹo mổ 2 lần;
+ Sẹo mổ dưới 24 tháng;
+ Sẹo mổ cũ và ngôi thai bất thường.
- Bệnh lý âm đạo – sinh dục:
+ Âm đạo chít hẹp bẩm sinh hoặc bị rách không được khâu phục hồi tốt hoặc sau
những trường hợp phẫu thuật có liên quan đến âm đạo như mổ rò bang quang – âm
đạo, mổ rò trực tràng – âm đạo đã có kết quả tốt.
+ Dị dạng sinh dục: tử cung đôi, tử cung hai sừng hoặc đáy tử cung có vách giữa làm cho ngôi bất thường.
+ Bảo tồn kết quả chỉnh hình phụ khoa sau mổ treo tử cung bị sa, mổ sa sinh dục, sa
bàng quang, làm lại âm đạo – tầng sinh môn.
+ Ung thư cổ tử cung tại chỗ hoặc xâm lấn, ung thư buồng trứng tiến triển nhanh.
+ U tiền đạo làm cho ngôi không lọt hoặc không xuống được. - Bệnh lý toàn thân:
+ Các bệnh tim ở giai đoạn mất bù trừ.
+ Tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, tiền sản giật và sản giật.
+ Các bệnh lây qua đẻ thường: HIV, Herpes sinh dục tiến triển,…
1.2.1.2. Nguyên nhân từ thai
-Thai to đều không tương xứng với khung chậu, không có khả năng lọt qua eo trên.
-Thai suy mạn tính phát hiện qua monitoring sản khoa.
- Ngôi thai không thuận lợi: ngôi chỏm kiểu thế sau hoặc cúi kém, ngôi trán, ngôi thóp
trước, ngôi ngang, ngôi mặt cằm sau, ngôi mông.
- Đa thai: song thai hai ngôi đầu chèn nhau làm cho ngôi đầu thứ nhất không lọt được,
song thai, thai thứ nhất là ngôi mông, thai thứ hai là ngôi đầu có thể mắc đầu vào nhau
khi đẻ thai thứ nhất, chửa từ ba thai trở lên hoặc khi có thêm một nguyên nhân đẻ khó.
-Thai già tháng: khi đã chẩn đoán chắc chắn thai già tháng, phải đình chỉ thai nghén.
Nếu lượng nước ối còn nhiều thì gây chuyển dạ đẻ bằng cách truyền nhỏ giọt tĩnh
mạch oxytocin và theo dõi chuyển dạ bằng máy monitoring, nếu có bất thường phải mổ lấy thai.
1.2.1.3. Nguyên nhân từ phần phụ của thai
- Cạn ối, ối vỡ non kèm theo các yếu tố đẻ khó khác.
- Rau tiền đạo trung tâm, bán trung tâm, rau bong non thể nặng và trung bình.
1.2.2. Mổ lấy thai trong quá trình chuyển dạ [5]
1.2.2.1. Mổ lấy thai vì nguyên nhân từ người mẹ
Sản phụ lớn tuổi (con so hoặc con rạ) có tuổi từ 35 trở lên (có thể kèm theo hay
không lý do vô sinh) trong quá trình chuyển dạ có thêm 1 vài dấu hiệu bất thường cần phải MLT.
- Các bệnh lý của người mẹ vẫn có thể cho phép theo dõi chuyển dạ (THA đơn thuần,
ĐTĐ điều chỉnh chế độ ăn , Basedown không điều trị) sẽ được mổ lấy thai nếu xuất
hiện thêm một yếu tố đẻ khó khác.
1.2.2.2. Mổ lấy thai vì nguyên nhân của thai
- Thai to không phải do thai bất thường.
- Các ngôi bất thường: ngôi vai (không có chỉ định nội xoay thai hoặc không đủ điều
kiện nội xoay thai), ngôi trán, ngôi thóp trước, ngôi mặt cằm sau. Ngôi mông nếu có
thêm một yếu tố đẻ khó khác.
- Thai quá ngày sinh không đủ sức chịu đựng cuộc chuyển dạ phát hiện qua theo dõi bằng monitoring sản khoa.
- Chửa đa thai (song thai, ba thai…)
- Suy thai cấp tính trong chuyển dạ khi chưa đủ điều kiện đẻ đường âm đạo. Hiện
tượng thai suy cấp tính càng dễ xảy ra trên cơ sở thai suy mạn tính, cơn co tử cung mau, mạnh.
1.2.2.3. Mổ lấy thai vì nguyên nhân bất thường trong chuyển dạ
- Cơn co tử cung bất thường sau khi đã dùng các thứ thuốc tăng co hay giảm co để
điều chỉnh mà không thành công. Do rối loạn cơn co tử cung không điều chỉnh được
bằng thuốc mặc dù đã chờ đợi đúng thời gian của biểu đồ chuyển dạ.
- Cổ tử cung không xóa hay mở mặc dù cơn cơ tử cung đồng bộ, phù hợp với độ mở
cổ tử cung. Có thể cổ tử cung có các tổn thương thực thể như: sẹo xơ, phù nề.
- Ối vỡ non, ối vỡ sớm làm cuộc chuyển dạ ngừng tiến triển, có nguy cơ gây nhiễm
khuẩn ối, sau khi đã tích cực điều chỉnh cơn co tử cung. Hậu quả của ối vỡ non, ối vỡ
sớm thường làm cho cổ tử cung khó mở, nhiễm khuẩn hậu sản.
- Đầu không lọt khi cổ tử cung đã mở hết mặc dù cơn co đủ mạnh có thể vì lý do bất
tương xứng giữa đầu thai nhi và khung chậu khá kín đáo mà chưa biết hoặc do đầu cúi
không tốt ở các kiểu thế sau.
- Chỉ định mổ lấy thai vì các tai biến trong chuyển dạ như:
+ Chảy máu vì rau tiền đạo, rau bong non. Trong nhiều trường hợp phải tiến hành mổ
lấy thai ngay cả khi thai đã chết.
+ Doạ vỡ và vỡ tử cung.
+ Sa dây rau khi thai còn sống.
+ Sa chi sau khi đã thử đẩy lên nhưng không thành công.
1.2.3. Mổ lấy thai vì nguyên nhân khác
1.2.3.1. Về phía người bệnh và gia đình
- Mẹ lớn tuổi mới mang thai: Khi xã hội càng phát triển áp lực công việc càng lớn tuổi
kết hôn của phụ nữ càng muộn, khoảng cách giữa các lần sinh càng xa, tuổi mang thai
của mẹ ngày càng tăng cao hơn.
- Tiền mẹ sử vô sinh, hiếm muộn.
- Lần mang thai này có dùng các biện pháp hỗ trợ sinh sản IUI, IVF.
- Người bệnh và sản phụ chọn giờ, chọn ngày, chọn giới tính.
- Người bệnh không chịu được cơn đau, sức khỏe yếu hoặc một số yếu tố tâm lý khác.
- Bệnh lý mẹ liên quan đến yếu tố xã hội.
1.2.3.2. Về phía bác sỹ
- Chi phí trả công cho bác sĩ MLT cao hơn chi phí trả công đỡ sinh thường.
- MLT không mất nhiều thời gian như khi theo dõi để sinh thường: trung bình một ca
MLT kéo dài 20 – 30 phút thì một ca sinh thường có thể lên tới 12 giờ.
- Bác sĩ có xu hướng MLT vì sợ kiện tụng, không theo dõi chuyển dạ tránh các tai
biến không mong muốn có thể xảy ra.
1.3. Vai trò của mổ lấy thai
Sinh đẻ là hiện tượng sinh lý bình thường. Trong đa số trường hợp, việc sinh đẻ sẽ
được thực hiện qua đường âm đạo. Khi có một lý do nào đó khiến cho việc sinh con
qua đường âm đạo gặp khó khăn, để đảm bảo an toàn cho mẹ và con, bác sỹ mới phải
dùng đến phương pháp mổ lấy thai.
Vai trò của mổ lấy thai:
- Giúp cuộc sinh nở diễn ra nhanh gọn. Bác sỹ, nữ hộ sinh không phải theo dõi thường xuyên.
- Giảm được nguy cơ tử vong cho cả mẹ và con trong các trường hợp bất khả kháng
không thể sinh được bằng đường âm đạo do khung chậu người mẹ giới hạn hay hẹp,
sức khỏe quá yếu không ổn định,... hay thai quá to, ngôi không thuận lợi,...
- Giảm sự đau đớn trong chuyển dạ.
- Tránh được các nguy cơ bị tổn thương đường sinh dục như vỡ tử cung, rách phức tạp
âm đạo, tầng sinh môn,...
- Giữ được sự rắn chắc của tầng sinh môn.
- Tránh được một số nguy cơ khó tiên lượng khi sinh và sau khi sinh như thuyên tắc
ối, suy thai cấp, băng huyết sau sinh,...
- Đề phòng và kiểm soát nguy cơ tăng cao huyết áp ở những sản phụ nhiễm độc thai
nghén và mắc các bệnh cao huyết áp.
- Bảo vệ thai nhi trước nguy cơ bị cạn nước ối hoặc thai quá già tháng...
- Chủ động được thời điểm để con chào đời theo ý muốn.
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả hồ sơ bệnh án các sản phụ đến nhập viện tại khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Sinh
Sản Trung tâm Y tế huyện Hưng Nguyên có đầy đủ các tiêu chuẩn chọn mẫu và
không có các tiêu chuẩn loại trừ từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2022.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Các sản phụ mang thai có tuổi thai từ 37 tuần 0 ngày đến 40 tuần 6 ngày nhập viện
tại TTYT Huyện Hưng Nguyên cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin.
- Nhớ ngày kinh cuối cùng hoặc có kết quả siêu âm 3 tháng đầu.
- Thai sống, được khảo sát hình thái bình thường qua sàng lọc, siêu âm.
- Tình trạng sức khỏe không có các bệnh tâm thần, ngoại khoa, rối loạn chuyển hóa
xác định qua hỏi tiền sử, khám lâm sàng.
- Các hồ sơ phải bảo đảm đầy đủ các thông tin cần thiết về phía mẹ, trẻ sơ sinh theo
yêu cầu của nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Thai < 37 tuần 0 ngày hoặc > 40 tuần 6 ngày.
- Thai dị dạng, thai bất thường
- Các trường hợp hồ sơ bệnh án ghi chép không đầy đủ thông tin nghiên cứu.
- Sản phụ không cung cấp chính xác thông tin hoặc sản phụ đẻ ở nơi khác chuyển đến
trong thời gian nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Mô tả cắt ngang, hồi cứu với cỡ mẫu không hạn chế.
2.3. Các biến số nghiên cứu
* Tuổi thai: dựa vào ngày đầu của kỳ kinh cuối cùng, nếu không nhớ ngày kinh thì
dựa vào kết quả siêu âm 3 tháng đầu để ước tính tuổi thai.
* Các đặc điểm của sản phụ:
- Tuổi sản phụ: tính theo năm dương lịch - Chiều cao: tính bằng cm
- Cân nặng sản phụ: tính bằng kg
- Dân tộc: theo dân tộc nơi mình sinh sống
- Khu vực sinh sống: nơi sản phụ sinh sống
- Nghề nghiệp :nghề nghiệp đem lại thu nhập chính cho sản phụ
- Số lần mang thai : số lần có thai và tính cả thai ngoài tử cung.
- Thời điểm MLT : khi có chuyển dạ hay chưa chuyển dạ (chủ động). * Đặc điểm của thai
- Thai suy: có thể là thai suy mãn hoặc suy cấp trong chuyển dạ.
- Thai to toàn bộ: trọng lượng của thai ≥ 3600 gram đối với con so và ≥ 4000 gram đối với con rạ.
- Ngôi bất thường: ngôi ngang, ngôi trán, ngôi mặt, ngôi mông, ngôi thóp trước.
- Đa thai: chửa song thai, ba thai...
* Đặc điểm phần phụ của thai
- Ối vỡ non, ối vỡ sớm: ối vỡ sớm là ối vỡ xảy ra sau hoặc cùng lúc với chuyển dạ,
trước khi cổ tử cung mở hết. Ối vỡ non là ối vỡ tự nhiên của màng ối và màng đệm tại
bất kỳ thời điểm nào trước khi có chuyển dạ.
- Thiểu ối: tình trạng nước ối ít hơn bình thường, khi chỉ số ối (AFI) < 5 cm và màng ối còn nguyên vẹn.
- Đa ối: chỉ số ối (AFI) lớn hơn 24 – 25 cm. - Sa dây rốn.
- Rau bong non: là rau bám đúng vị trí nhưng bong một phần hay toàn bộ bánh rau trước khi sổ thai.
- Rau tiền đạo: là rau bám một phần hay toàn bộ vào đoạn dưới tử cung gây chảy máu
vào ba tháng cuối của thai kỳ trong chuyển dạ và sau đẻ.
* Bệnh lý của sản phụ khi mang thai
- Tiền sản giật: TSG là biến chứng thường gặp nhất ở phụ nữ mang thai với tỉ lệ từ 2%
- 8%. Triệu chứng thường gặp là phù, huyết áp tăng và protein niệu, là một trong
những nguyên nhân chính gây tử vong cho mẹ và thai.
- Bệnh tim: Bệnh tim ở phụ nữ mang thai gây ra nhiều nguy cơ cho mẹ và con trong
khi mang thai, sau khi đẻ và đặc biệt trong chuyển dạ. Tần suất mắc bệnh ở Việt Nam
khoảng 1-2% phụ nữ mang thai. Theo dõi, tiên lượng, xử trí bệnh đòi hỏi sự phối hợp
chặt chẽ giữa chuyên khoa sản và tim mạch.
- Basedow: Bệnh rối loạn chức năng tuyến giáp do thiếu Iot do thai nghén hoặc do
thay đổi miễn dịch do thai nghén.
- Đái tháo đường thai kỳ: sự giảm dung nạp glucose hoặc đái tháo đường được phát
hiện lần đầu trong lúc mang thai (không loại trừ người bệnh đã có giảm dung nạp
glucose hoặc đái tháo đường từ trước nhưng chưa được phát hiện). - Bệnh lý khác.
* Đường sinh dục của sản phụ - CTC không tiến triển.
- Khung chậu hẹp: đường kính nhô hậu vệ < 8,5cm.
- TC có sẹo mổ cũ: sẹo MLT cũ dưới 24 tháng, sẹo MLT cũ 2 lần trở lên, sẹo mổ bóc nhân xơ tử cung...
- Dọa vỡ TC: sản phụ đau nhiều, cơn co TC cường tính, TC co thắt quả nậm bầu, có vòng Bandl, thai suy.
* Một số nguyên nhân khác: tiền sử sản khoa nặng nề, xin mổ, vô sinh, chọn giờ, chọn ngày, chọn giới tính.
* Cân nặng trẻ: tính bằng gram, tính ước lượng qua siêu âm và được cân ngay sau khi mổ.
2.4. Công cụ nghiên cứu và xử lý số liệu
- Phiếu thu thập thông tin nghiên cứu. - Hồ sơ bệnh án.
- Sổ lưu trữ, sổ đẻ, sổ phẫu thuật khoa CSSKSS.
- Máy siêu âm 4D, monitoring – máy nghe tim thai sản khoa. - Phần mềm Excel.
2.5. Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng đạo đức của TTYT huyện Hưng Nguyên và
được sự đồng ý của Ban giám đốc TTYT huyện Hưng Nguyên trước khi tiến hành.
Tất cả các đối tượng nghiên cứu được chọn vào nghiên cứu khi sản phụ cung cấp
thông tin đầy đủ và chính xác.