1. Nguồn gốc của pháp luật
a. Theo quan điểm phi Mác-xít
nhiều học thuyết khác nhau giải thích nguồn gốc ra đời của pháp luật, tiêu biểu
như:
- Thuyết thần học cho rằng: pháp luật, cũng như nhà nước, sản phẩm do
Thượng đế, Chúa trời hay một đấng tối cao sáng tạo ra áp đặt vào đời
sống con người. Con người phải phục tùng pháp luật như phục tùng
mệnh lệnh của thần linh.
pháp luật tự nhiên pháp luật thực định.
+ Pháp luật tự nhiên: trước pháp luật nhà nước, mang nội dung bản
các quyền tự nhiên, vốn của con người, mang tính vĩnh hằng, bất
biến.
+ Pháp luật thực định: do nhà nước ban hành, nhưng chỉ giá trị, tính
chính đáng khi phù hợp với pháp luật tự nhiên.
Theo quan điểm này, pháp luật tự nhiên vị trí cao hơn, sở, tiêu chuẩn để
đánh giá pháp luật thực định
B. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin
Trái với quan điểm trên, chủ nghĩa Mác Lênin cho rằng:
- Pháp luật xuất hiện khi hội loài người phát triển đến một mức độ nhất
định, gắn liền với sự ra đời của nhà nước. Nhà nước pháp luật hai hiện
tượng hội cùng xuất hiện, cùng tồn tại cũng sẽ tiêu vong khi hội
không còn giai cấp, không còn đối kháng giai cấp.
- Trong hội cộng sản nguyên thủy, chưa tồn tại pháp luật nhà nước. Các
quan hệ hội được điều chỉnh bằng tập quán, tín điều tôn giáo, chuẩn mực
đạo đức... được cộng đồng thừa nhận tự giác tuân theo.
- Nguyên nhân hình thành pháp luật cũng chính nguyên nhân hình thành
nhà nước, bao gồm:
+ Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến của cải thừa, từ đó
xuất hiện chế độ hữu về liệu sản xuất.
+ Sự phân hóa hội thành các giai cấp với lợi ích đối kháng nhau, mâu
thuẫn giai cấp phát triển đến mức không thể điều hòa được, tất yếu
dẫn đến đấu tranh giai cấp.
- Từ đó, pháp luật được hình thành bằng hai con đường bản:
+ Một là, nhà nước thừa nhận, hợp thức hóa những quy tắc vốn trong
hội (tập quán, đạo đức, tín điều tôn giáo…) thành pháp luật, bảo
đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước.
+ Hai là, nhà nước trực tiếp đặt ra các quy tắc xử sự mới thông qua các
quan thẩm quyền, theo một trình tự, thủ tục, hình thức nhất
định. Những quy tắc này được ghi nhận thành văn bản quy phạm pháp
luật.
2. Bản chất của pháp luật
Bản chất của pháp luật thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa tính giai cấp tính
hội.
A. Tính giai cấp của pháp luật
- Pháp luật công cụ thể hiện bảo vệ ý chí, lợi ích của giai cấp thống
trị trong hội.
- Pháp luật do nhà nước tổ chức quyền lực của giai cấp thống trị ban
hành bảo đảm thực hiện.
- Pháp luật phương tiện để duy trì trật tự hội, định hướng sự phát
triển hội theo mục tiêu, lợi ích của giai cấp thống trị, đồng thời chống
lại những hành vi xâm hại đến sự tồn tại phát triển của giai cấp đó.
dụ:
+ Luật Đất đai 2013 (Việt Nam) quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân,
do Nhà nước đại diện quản lý. Đây sự thể hiện lợi ích ý chí
của giai cấp công nhân, nông dân những người lao động giai cấp
cầm quyền nước ta.
+ Luật Hình sự quy định xử nghiêm các hành vi phản bội Tổ quốc,
chống phá Nhà nước, nhằm bảo vệ địa vị chính trị quyền lực của
giai cấp cầm quyền.
B. Tính hội của pháp luật
- Pháp luật không chỉ mang tính giai cấp còn phản ánh ý chí, lợi ích
chung của các tầng lớp khác trong hội, đại diện cho công hội.
- Pháp luật khuôn mẫu xử sự chung, góp phần điều chỉnh, ổn định các
quan hệ hội, bảo đảm sự phát triển bền vững.
- Pháp luật còn mang tính dự phòng, định hướng, khuyến khích những
quan hệ hội tích cực, đồng thời hạn chế, loại bỏ những quan hệ tiêu
cực.
- Pháp luật kế thừa các giá trị đạo đức, phong tục tập quán, truyền thống
dân tộc phát triển chúng phù hợp với tiến bộ hội.
dụ:
+ Luật Hôn nhân Gia đình 2014 quy định nam nữ bình đẳng, cấm tảo
hôn, cấm bạo lực gia đình, góp phần bảo vệ quyền lợi thúc đẩy tiến
bộ hội.
+ Luật Giao thông đường bộ quy định đội bảo hiểm, đi đúng làn
đường nhằm bảo vệ an toàn cho toàn hội.
+ Luật Bảo vệ môi trường quy định xử hành vi gây ô nhiễm, bảo vệ
lợi ích lâu dài của cộng đồng thế hệ tương lai.

Preview text:

1. Nguồn gốc của pháp luật
a. Theo quan điểm phi Mác-xít
Có nhiều học thuyết khác nhau giải thích nguồn gốc ra đời của pháp luật, tiêu biểu như:
- Thuyết thần học cho rằng: pháp luật, cũng như nhà nước, là sản phẩm do
Thượng đế, Chúa trời hay một đấng tối cao sáng tạo ra và áp đặt vào đời
sống con người. Con người phải phục tùng pháp luật như phục tùng
mệnh lệnh của thần linh.
- Thuyết pháp quyền tự nhiên lại khẳng định tồn tại hai hệ thống pháp luật:
pháp luật tự nhiên và pháp luật thực định. +
Pháp luật tự nhiên: có trước pháp luật nhà nước, mang nội dung cơ bản
là các quyền tự nhiên, vốn có của con người, mang tính vĩnh hằng, bất biến. +
Pháp luật thực định: do nhà nước ban hành, nhưng chỉ có giá trị, tính
chính đáng khi phù hợp với pháp luật tự nhiên.
Theo quan điểm này, pháp luật tự nhiên có vị trí cao hơn, là cơ sở, tiêu chuẩn để
đánh giá pháp luật thực định
B. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
Trái với quan điểm trên, chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng: -
Pháp luật xuất hiện khi xã hội loài người phát triển đến một mức độ nhất
định, gắn liền với sự ra đời của nhà nước. Nhà nước và pháp luật là hai hiện
tượng xã hội cùng xuất hiện, cùng tồn tại và cũng sẽ tiêu vong khi xã hội
không còn giai cấp, không còn đối kháng giai cấp. -
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, chưa tồn tại pháp luật và nhà nước. Các
quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng tập quán, tín điều tôn giáo, chuẩn mực
đạo đức... được cộng đồng thừa nhận và tự giác tuân theo. -
Nguyên nhân hình thành pháp luật cũng chính là nguyên nhân hình thành nhà nước, bao gồm: +
Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến của cải dư thừa, từ đó
xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. +
Sự phân hóa xã hội thành các giai cấp với lợi ích đối kháng nhau, mâu
thuẫn giai cấp phát triển đến mức không thể điều hòa được, tất yếu
dẫn đến đấu tranh giai cấp. -
Từ đó, pháp luật được hình thành bằng hai con đường cơ bản: +
Một là, nhà nước thừa nhận, hợp thức hóa những quy tắc vốn có trong
xã hội (tập quán, đạo đức, tín điều tôn giáo…) thành pháp luật, và bảo
đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước. +
Hai là, nhà nước trực tiếp đặt ra các quy tắc xử sự mới thông qua các
cơ quan có thẩm quyền, theo một trình tự, thủ tục, hình thức nhất
định. Những quy tắc này được ghi nhận thành văn bản quy phạm pháp luật.
2. Bản chất của pháp luật
Bản chất của pháp luật thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa tính giai cấp và tính xã hội.
A. Tính giai cấp của pháp luật
- Pháp luật là công cụ thể hiện và bảo vệ ý chí, lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội.
- Pháp luật do nhà nước – tổ chức quyền lực của giai cấp thống trị – ban
hành và bảo đảm thực hiện.
- Pháp luật là phương tiện để duy trì trật tự xã hội, định hướng sự phát
triển xã hội theo mục tiêu, lợi ích của giai cấp thống trị, đồng thời chống
lại những hành vi xâm hại đến sự tồn tại và phát triển của giai cấp đó. Ví dụ: +
Luật Đất đai 2013 (Việt Nam) quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân,
do Nhà nước đại diện quản lý. Đây là sự thể hiện rõ lợi ích và ý chí
của giai cấp công nhân, nông dân và những người lao động – giai cấp cầm quyền ở nước ta. +
Luật Hình sự có quy định xử lý nghiêm các hành vi phản bội Tổ quốc,
chống phá Nhà nước, nhằm bảo vệ địa vị chính trị và quyền lực của giai cấp cầm quyền.
B. Tính xã hội của pháp luật
- Pháp luật không chỉ mang tính giai cấp mà còn phản ánh ý chí, lợi ích
chung của các tầng lớp khác trong xã hội, đại diện cho công lý xã hội.
- Pháp luật là khuôn mẫu xử sự chung, góp phần điều chỉnh, ổn định các
quan hệ xã hội, bảo đảm sự phát triển bền vững.
- Pháp luật còn mang tính dự phòng, định hướng, khuyến khích những
quan hệ xã hội tích cực, đồng thời hạn chế, loại bỏ những quan hệ tiêu cực.
- Pháp luật kế thừa các giá trị đạo đức, phong tục tập quán, truyền thống
dân tộc và phát triển chúng phù hợp với tiến bộ xã hội. Ví dụ: +
Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định nam nữ bình đẳng, cấm tảo
hôn, cấm bạo lực gia đình, góp phần bảo vệ quyền lợi và thúc đẩy tiến bộ xã hội. +
Luật Giao thông đường bộ quy định đội mũ bảo hiểm, đi đúng làn
đường nhằm bảo vệ an toàn cho toàn xã hội. +
Luật Bảo vệ môi trường quy định xử lý hành vi gây ô nhiễm, bảo vệ
lợi ích lâu dài của cộng đồng và thế hệ tương lai.