Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ  BÀI THẢO LUẬN
NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÉP
BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Nhóm thực hiện : Nhóm 2
Giảng viên hướng dẫn : Đặng Minh Tiến
Chuyên ngành : Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng
Lớp học phần : 2279MLNP0221 Khóa : 2022-2026
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN................................................................................3
LỜI CAM ĐOAN.............................................................................3
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................4
PHẦN I. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC......................5
1.MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN...............................................5
1.1 Khái niệm phép biện chứng duy vật...........................................5
1.2 Khái niệm sự phát triển:..........................................................5
2. Tính chất của sự phát triển...........................................................6
3.Ý nghĩa của phương pháp luận :.....................................................7
PHẦN II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN TRONG QUÁ
TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM.....................................................8
1. Đặc trưng của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam....................................9
1.1. Sự nghiệp đổi mới được tiến hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa. .9
1.2. Đổi mới toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm được tiến hành
một cách tuần tự, từng bước phù hợp với mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn...11
1.3. Đổi mới kinh tế gắn liền với đổi mới hệ thống chính trị...............12
1.4. Đổi mới để phát triển trong ổn định........................................13
1.5. Đổi mới đất nước gắn liền mở cửa với thế giới bên ngoài.............14
2. Triển vọng của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam.................................15
2.1. Sự nghiệp đổi mới được đặt dưới sự lãnh đạo tài tình của một đảng
duy nhất: Đảng Cộng sản Việt Nam
..............................................15
2.2. Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam xuất phát từ thực tế của chính xã hội
Việt Nam
................................................................................16
2.3. Thực tiễn đổi mới ở Việt Nam luôn được tiến hành tổng kết, khái
quát thành lý luận chung về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
....16
PHẦN III: LIÊN HỆ.......................................................................18
1.Thực trạng trong học tập của sinh viên hiện nay..............................18
2.Liên hệ sinh viên trong học tập và rèn luyện....................................21
KẾT LUẬN...................................................................................22
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................23
ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN VÀ ĐIỂM THẢO LUẬN.............................24 1 2 LỜI CẢM ƠN
“Vốn dĩ đây là lần đầu tiên được bước chân vào giảng đường đại học, có biết
bao nhiêu là bỡ ngỡ, lại còn được tiếp xúc với môn triết học đầy mới lạ nhưng
cũng đầy khó khăn, thử thách. Tuy nhiên nhờ sự giúp đỡ của thầy Đặng Minh Tiến
đã giúp chúng em phần nào có được những kiến thức thật quý báu.
Em xin chân thành cảm ơn Thầy Đặng Minh Tiến- Giảng Viên hướng dẫn bộ
môn Triết học. Thầy đã tận tình hướng dẫn chúng em hoàn thành tốt đề tài của
mình. Nhờ có những bài giảng hay của Thầy đã giúp chúng em có thêm niềm tin, ý
chí và nghị lực để học tốt và hoàn thành tốt môn học của mình.
Tuy nhiên với kiến thức có hạn nên đề tài của nhóm chúng em sẽ không tránh
khỏi những thiếu sót. Chúng em mong Thầy đóng góp ý kiến để đề tài trở nên
hoàn thiện và có chiều sâu hơn.
Một lần nữa chúng em xin chân thành cảm ơn và gửi lời chúc sức khỏe đến thầy
Đặng Minh Tiến giảng viên bộ môn triết học của trường đại học Thương Mại” . LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung bài thảo luận môn triết học với đề tài:
“Nguyên lý về sự phát triển của phép biê n n chứng duy vâ n t – Vâ n n dpng quan
điểm phát triển trong quá trình đổi mới ở Việt Nam. Liên hệ vấn đề này trong
học tập và rèn luyện bản thân sinh viên hiện nay”
này là sản phẩm nghiên cứu
của tập thể nhóm 2. Sản phẩm được phân tích một cách khách quan, trung thực, có
nguồn gốc rõ ràng và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào.Chúng tôi xin
cam kết sẵn sàng chịu toàn bộ trách nhiệm và chịu mọi kỷ luật của bộ môn và nhà
trường nếu có sự thiếu trung thực về thông tin hay kết quả sử dụng trong đề tài thảo luận này.
Hà Nội,ngày tháng năm 2022 Đạị diện nhóm 2 3 LỜI MỞ ĐẦU
Toàn cầu hoá, hiện đại hoá hiện nay đang trở thành một xu hướng khách quan và
tất yếu của tất cả các nước trên thế giới, không kể các nước đang phát triển hay
phát triển, các nước giàu hay nghèo trong xu thế đó quốc gia nào có chiến lược,
chính sách, biện pháp và công cụ quản lý hợp lý sẽ mang lại lợi ích, sự phát triển
về kinh tế cho quốc gia đó, ngược lại sẽ mang lại kết quả xấu. Để có thể tranh thủ
các nguồn lực từ bên ngoài đặc biệt là nguồn vốn, tiến bộ khoa học công nghệ.. đồi
hỏi các nước phải có sự mở cửa, sự giao lưu, buôn bán, hợp tác với các nước trên
thế giới đặc biệt là các nước tư bản phát triển. Tuy vậy đi song song với việc hội
nhập kinh tế quốc tế chungs ta cần phải có sự thống nhất nhận thức về việc giữ độc
lập tự chủ trong quá trình hội nhập. Đây là một mối lo ngại lớn đối với các nước
trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển. Mối lo này phần nào cũng có lý
do chính đáng bởi hầu hết các nước đang phát triển đều có xuất phát điểm từ một
nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, khoa học công nghệ còn thấp kém, năng suất lao
động còn chưa cao, sức cạnh tranh về các loại hàng hoá trên thị trường thấp trong
khi các nước đi trước có lợi thế hơn hẳn về mọi mặt, việc mở rộng quan hệ với các
nước đó sẽ dấn đến tình trạng các nước kém phát triển khó tránh khỏi sự lệ thuộc
vào kinh tế. Thực tế ngày nay cho thấy có rất nhiều nước trên thế giới đã bị lệ
thuộc quá nhiều vào các nước tư bản nên mọi đường lối, chính sách phát triển kinh
tế dều bị các nước tư bản này chi phối và nắm giữ. Hiện nay nước Việt Nam ta
cũng tham gia vào các tổ chức hiệp hội trên thế giới. Nước ta cũng là một nước
nghèo nàn, lạc hậu hơn rất nhiều so với các nước ta vì vậy chúng ta phải chủ động
tham gia hội nhập kinh tế và phát triển mạnh mẽ hơn.
Cũng chính vì điều đó, nước ta đã vận dụng nguyên lý về sự phát triển của
phép biện chứng duy vật trên con đường hội nhập của mình. Trên cơ sở đó, nhóm
2 chúng em đã đi tìm hiểu đề tài “ Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng
duy vật- Vận dụng quan điểm phát triển trong quá trình đổi mới ở Việt Nam / Liên
hệ vấn đề này trong học tập và rèn luyện bản thân sinh viên hiện nay”.
Vì vậy nhóm 2 chúng em đã chia đề tài thành 4 phần sau:
- Phần 1: Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật.
- Phần 2: Vận dụng quan điểm phát triển trong quá trình đổi mới ở Việt Nam.
- Phần 3: Liên hệ vấn đề này trong học tập và rèn luyện bản thân sinh viên hiện nay, - Phần 4: Kết luận. 4
PHẦN I. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN
CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1.MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.1 Khái niệm phép biện chứng duy vật
- Phép biện chứng: là học thuyết nghiên cứu, khái quát BC của thế giới thành các
nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng phương pháp luận khoa học.
- Đặc điểm của PBCDV: Là sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương
pháp luận biện chứng, giữa lý luận nhận thức và logic biện chứng, được chứng
minh bằng sự phát triển của khoa học tự nhiên trước đó.
- Vai trò của PBCDV: Là phương pháp luận chung nhất trong nhận thức và thực
tiễn để giải thích quá trình phát triển của sự vật và nghiên cứu khoa học.
1.2 Khái niệm sự phát triển:
– Khái niệm: Phát triển là một phạm trù triết học để chỉ quá trình vận động từ thấp
đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ chất cũ đến chất mới ở trình độ cao hơn.
-> Như vậy, phát triển là vận động nhưng không phải mọi vận động đều là
phát triển, mà chỉ vận động nào theo khuynh hướng đi lên thì mới là phát triển.
-Bên cạnh đó, ta cũng cần phải phân biệt hai khái niệm gắn với khái niệm phát
triển là “tiến hóa và tiến bộ”:
+ Tiến hóa là một dạng của phát triển, diễn ra từ từ và thường là sự biến đổi hình
thức của tồn tại xã hội từ đơn giản đến phức tạp. 5
+Tiến bộ là một quá trình biến đổi hướng tới cải thiện thực trạng xã hội từ chỗ
chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn so với thời điểm ban đầu.
– Phát triển qua hai quan điểm: + Quan điểm siêu hình:
Phủ nhận sự phát triển, tuyệt đối hóa mặt ổn định của sự vật, hiện tượng
Phát triển chỉ là sự tăng hoặc giảm về mặt lượng, không có sự thay đổi về
chất, không có sự ra đời của sự vật, hiện tượng mới
+ Quan điểm biện chứng:
Phát triển là quá trình tiến lên thông qua bước nhảy; sv, hiện tượng mới ra
đời thay thế cho sv, hiện tượng cũ; nguồn gốc bên trong của sự vận động,
phát triển là đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong sv, hiện tượng.
Sự phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà quanh có phức tạp thậm
chí có những bước thụt lùi tương đối trong sự tiến lên.
2. Tính chất của sự phát triển
Tính khách quan: nguồn gốc của sự phát triển nằm trong chính bản thân sự vật,
hiện tượng chứ không phải do tác động từ bên ngoài và đặc biệt không phụ thuộc
vào ý muốn của con người, do các quy luật khách quan chi phối mà cơ bản nhất là “Quy luật mâu thuẫn”
VD: (Về quy luật mâu thuẫn) Ta đang cần chứng chỉ IELTS mức 7.0, nhưng trình
độ hiện tại của bản thân >< yêu cầu trình độ, kĩ năng “nghe, nói, đọc, viết” là quá 6
cao với năng lực hiện tại => Muốn đạt được IELTS 7.0, ta cần phải giải quyết mâu
thuẫn về kỹ năng của bản thân với yêu cầu của chứng chỉ.
Tính phổ biến: Sự phát triển diễn ra ở trong mọi lĩnh vực, mọi SV, HT, mọi quá
trình và giai đoạn của SV, HT và kết quả là cái mới xuất hiện, thay thế cho cái cũ. VD:
– Phương tiện đi lại: Đi bộ > Xe kéo bằng động vật > Xe có gắn động cơ
– Phương thức sản xuất: Lịch sử xã hội loài người cho đến nay là lịch sử phát triển
của năm phương thức sản xuất: Công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong
kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
– Máy tính điện tử, bộ vi xử lý – …
=> Sự phát triển diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi SV, HT => Tính phổ biến – Tính kế thừa:
Sự vật, hiện tượng mới ra đời từ sự vật, hiện tượng cũ, chứ không phải ra đời từ hư vô.
Sv, hiện tượng mới còn giữ lại, có chọn lọc và cải tạo yếu tố còn tác dụng,
còn thích hợp và gạt bỏ mặt tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu của sv, hiện tượng cũ.
VD: Để có sự ra đời của Chủ nghĩa Mác nói chung, cũng như Triết học Mác nói
riêng, không phải tự nhiên Mác và Ăng-ghen nghĩ ra được, mà họ phải kế thừa, bổ
sung phát triển từ những tư tưởng đi trước, mà trực tiếp là Triết học cổ điển Đức,
Kinh tế chính trị học cổ điển Anh, Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp.
Tính phong phú, đa dạng: Quá trình phát triển của SV, HT không hoàn toàn
giống nhau, ở những không gian và thời gian khác nhau; chịu sự tác động của
nhiều yếu tố và điều kiện lịch sử cụ thể VD: Có những người sinh cùng ngày,
tháng, năm nhưng hình hài khác nhau, trải qua những hoàn cảnh, điều kiện sự giáo
dục khác nhau dẫn đến năng lực, phẩm chất, tính cách khác nhau. Rồi sau này ra
trường, cơ hội mở ra mà mỗi người có được khác nhau và cách họ lựa chọn cũng
khác nhau dẫn đến những con đường khác nhau.
3.Ý nghĩa của phương pháp luận :
 Khi nhận thức sự vật phải nhận thức nó trong sự vận động, phát triển không
nhìn nhận sự vật đứng im, chết cứng, không vận động, không phát triển.
 Quan điểm phát triển đòi hỏi phải chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ định
kiến, đối lập với sự phát triển.
 Nhận thức sự vật phải thấy được khuynh hướng phát triển của nó, để có những
phương án dự phòng chủ động trong hoạt động tránh bớt được vấp váp, rủi ro;
nghĩa là con người sẽ chủ động, tự giác hơn trong hoạt động thực tiễn.
 Phát triển là khó khăn, phức tạp. Vì vậy, trong nhận thức cũng như hoạt động
thực tiễn khi gặp khó khăn, thất bại tạm thời phải bình tĩnh tin tưởng vào tương 7 lai
PHẦN II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN
TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
Nguyên lí về sự phát triển của phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin
khẳng định rằng, phát triển là sự phát sinh đối tượng mới phù hợp với quy luật tiến
hóa và sự diệt vong của đối tượng cũ trở nên lỗi thời, thế giới vật chất tồn tại khách
quan, các sự vật và hiện tượng luôn luôn vận động và biến đổi, chuyển hóa lẫn
nhau, cái cũ mất đi, cái mới ra đời. Do các sự vật và hiện tượng trong thế giới luôn
có sự vận động, biến đổi thường xuyên, nên tư duy con người cũng phải luôn luôn
đổi mới để theo kịp sự vận động, biến đổi đó, như Ph.Ăngghen đã viết trong tác
phẩm Chống Đuy rinh: “Phép biện chứng… là môn khoa học về những quy luật
phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của
tư duy”, “là chìa khóa để giúp con người nhận thức và chinh phục thế giới”. Cho
nên khi xây dựng đường lối đổi mới, Đảng ta đã xác định trước hết đổi mới tư duy
cho cán bộ, đảng viên về cả phương pháp tư duy; nhận thức lý luận; cơ chế, chính
sách. Phép biện chứng đề lớn liên quan đến đường lối đổi mới từ năm 1986 đến nay.
Đến nay, sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam đã tiến hành được trên 20 năm. Qua mỗi
giai đoạn đổi mới (5, 10, 15, 20 năm), Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam luôn
có sự tổng kết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn nhằm rút ra những bài học và kinh
nghiệm cho những giai đoạn phát triển tiếp theo. Có thể nói, con đường đổi mới ở
Việt Nam vừa thể hiện sự trung thành, vừa là sự tìm tòi và vận dụng một cách sáng
tạo lý luận nguyên lí về sự phát triển phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác -
Lênin . Nhìn lại con đường phát triển của Việt Nam trước và từ khi đổi mới đến
nay dưới góc độ phát triển kinh tế - xã hội, có thể nói, Việt Nam đã trải qua những
thời kỳ quan trọng như sau:
- Giai đoạn 1979 - 1985 là thời kỳ mà khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày càng trầm
trọng, nhất là sau khi thực hiện chính sách giá - lương - tiền năm 1985 mà hậu quả
của nó làm cho cuộc khủng hoảng đạt đến điểm đỉnh vào đầu năm 1986. Đây cũng
là thời kỳ xuất hiện những sáng tạo về phương thức quản lý kinh tế cả trong sản
xuất nông nghiệp lẫn công nghiệp ở một số địa phương trong cả nước.
- Giai đoạn 1986 – 1990: Bước đầu giải quyết được những hậu quả của cuộc khủng
hoảng kinh tế - xã hội nhờ thực hiện những chủ trương và chính sách đổi mới toàn
diện của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
- Giai đoạn 1991 – 1996: Việt Nam ra khỏi khủng hoảng và liên tục phát triển ổn
định với tốc độ tăng trưởng GDP khoảng trên 8%.
- Giai đoạn 1997 – 1999: Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á
nên tốc độ tăng trưởng GDP giảm xuống còn khoảng 5%. 8
- Từ giai đoạn năm 2000 – 2007: Việt Nam chính thức ra khỏi khủng hoảng kinh tế
- xã hội và đạt sự phát triển ổn định trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống
kinh tế - xã hội với tốc độ tăng trưởng liên tục đạt khoảng 8%, tỷ lệ lạm phát luôn
giữ ở một con số (khoảng 5 – 6%).
- Giai đoạn từ năm 2008 đến nay: Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế -
tài chính thế giới, kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng giảm
xuống còn khoảng trên 6% (tháng 9/2009).
Trên thực tế, tiến trình thực hiện công cuộc đổi mới ở Việt Nam luôn diễn ra trong
bối cảnh thế giới vừa thuận lợi, vừa phải đối phó với không ít khó khăn do tác
động chung từ sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa đến sự cấm vận về kinh tế
của Mỹ và sau này là hai cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Tuy nhiên, cho đến
nay, sự phát triển ổn định về kinh tế, xã hội đã ngày càng chứng tỏ sự nghiệp đổi
mới ở Việt Nam đã đi đúng hướng và phù hợp với thực tiễn xã hội Việt Nam.
Những bài học chính của công cuộc đổi mới ở Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt
Nam tổng kết lại là: Kiên trì chủ nghĩa xã hội; kết hợp chặt chẽ đổi mới kinh tế với
đổi mới chính trị; phát triển kinh tế gắn liền với thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội và thực hiện đổi mới trong nước với việc mở cửa quan hệ với tất cả các nước
trên thế giới trên tinh thần giữ vững chủ quyền, độc lập dân tộc. Đây là những bài
học có tính chất khái quát chung cho sự nghiệp đổi mới toàn diện ở Việt Nam, còn
xét từng lĩnh vực đổi mới, như đổi mới kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, đối
ngoại, quốc phòng thì đều có những bài học cụ thể cả về bước đi, tốc độ phát triển
lẫn trọng tâm, trọng điểm trong phát triển. Trong đó, cái giữ vai trò đặc biệt quan
trọng là những bài học về xây dựng mô hình phát triển kinh tế ở Việt Nam.
1. Đặc trưng của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
Nhìn lại lịch sử tiến trình đổi mới của Việt Nam, chúng ta có thể rút ra một số đặc
trưng chủ yếu của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam ở những vấn đề sau:
1.1. Sự nghiệp đổi mới được tiến hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Việt Nam tiến hành sự nghiệp đổi mới là đổi mới về phương thức và mô hình xây
dựng chủ nghĩa xã hội cho phù hợp với thực tiễn của xã hội Việt Nam, chứ không
xa rời mục tiêu chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt
Nam luôn kiên định mục tiêu gắn việc giữ vững độc lập dân tộc với xây dựng chủ
nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin. Sự nghiệp đổi mới toàn diện ở
Việt Nam luôn hướng tới mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam. Vì vậy, đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã được thể
hiện trên cả phương diện mục tiêu lẫn trong từng giai đoạn cụ thể, trong cả kết quả
đạt được lẫn phương thức
để đạt kết quả đó. Chính sự định hướng xã hội chủ nghĩa này đã làm cho công cuộc
đổi mới ở Việt Nam thể hiện được tính đặc thù của lý luận chung về con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 9
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ngay từ đầu, khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác
định đổi mới tư duy về mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là vấn đề
giữ vị trí quan trọng, mang tính đột phá trong việc từ bỏ trên thực tiễn mô hình xây
dựng chủ nghĩa xã hội rập khuôn theo Liên Xô. Việc đổi mới tư duy này trước hết
được thể hiện chủ yếu trong sự nhận thức lại của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ
nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đổi mới tư duy
mà Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương là nhận thức đúng về bản chất của chủ
nghĩa xã hội mà trước kia hiểu chưa đúng, nhận thức lại về hình thức, bước đi cụ
thể của Việt Nam trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội để làm sao xây dựng
ở Việt Nam một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. Xã
hội mà Việt Nam xây dựng phải là xã hội do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát
triển cao, ổn định, bền vững; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con
người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, được phát triển toàn diện; có Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do
Đảng Cộng sản lãnh đạo; các dân tộc đoàn kết giúp nhau cùng phát triển; có quan
hệ hữu nghị, hợp tác với tất cả các
nước trên thế giới như trong các Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác
định. Vì vậy mà công cuộc đổi mới ở Việt Nam không thể xa rời mục tiêu chủ nghĩa xã hội.
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam được tiến hành theo mục tiêu chủ nghĩa xã hội trên
hai phương diện. Về phương diện lý luận là xác lập được hệ thống quan điểm đúng
về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với Việt 10
Nam; về phương diện thực tiễn là làm cho chủ nghĩa xã hội từng bước xuất hiện và
hình thành một cách vững chắc ở Việt Nam. Đây cũng chính là cách mà Việt Nam
và Trung Quốc tiến hành đổi mới và cải cách mở cửa khác hoàn toàn với công
cuộc cải tổ của Liên Xô và cải cách mở cửa ở các nước Đông Âu. Việt Nam tiến
hành đổi mới nhưng không “đổi màu”, còn Trung Quốc cải cách nhưng vẫn kiên
trì, không lay chuyển đối với chế độ xã hội chủ nghĩa. Chính sự thành công của
công cuộc đổi mới ở Việt Nam và cải cách mở cửa ở Trung Quốc đã khẳng định
tính đúng đắn của mô hình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa mà hai nước đã lựa
chọn. Đặc trưng này thể hiện được thực chất của công cuộc đổi mới ở Việt Nam và
xuyên suốt toàn bộ tiến trình thực hiện đổi mới cho đến khi chủ nghĩa xã hội được
xây dựng thành công ở Việt Nam.
1.2. Đổi mới toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm được tiến hành một
cách tuần tự, từng bước phù hợp với mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn
Việt Nam tiến hành đổi mới một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn
hóa, chính trị, xã hội. Nhưng, do đặc điểm khi tiến hành đổi mới Việt Nam đang ở
trình độ phát triển thấp và nhất là đang rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã
hội trầm trọng, nên tiến hành đổi mới không thể làm đồng bộ tất cả các lĩnh vực,
các khâu trong quá trình đổi mới. Vì thế, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định
trên cơ sở đổi mới toàn diện đất nước phải lấy đổi mới kinh tế là trọng tâm, xây
dựng Đảng là then chốt, lấy sự ổn định chính trị làm cơ sở cho đổi mới kinh tế và
các lĩnh vực khác. Trong quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam
đã tập trung toàn bộ sức lực, của cải và trí tuệ cho việc xây dựng một nền kinh tế
phát triển nhằm trước hết nâng cao đời sống của người dân lao động. Đổi mới phải
mang lại trước hết những lợi ích thiết thực cho người dân, đặc biệt là nông dân vốn
vẫn chiếm đa số trong dân số Việt Nam (lúc tiến hành đổi mới chiếm khoảng 80%
dân số cả nước). Chỉ khi làm được điều đó thì Đảng Cộng sản Việt Nam mới tạo ra
được một động lực mạnh mẽ cho việc tiến hành đổi mới toàn diện đất nước. Trong
đổi mới kinh tế thì việc xây dựng mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa phải nhằm vào trọng điểm là giải phóng sức sản xuất, giải phóng
mọi tiềm năng của đất nước cho việc thực hiện công cuộc đổi mới. Xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là làm cho quan hệ sản xuất
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, tạo ra một nền kinh tế có
sức cạnh tranh cao. Một nền kinh tế như thế sẽ khơi dậy được mọi tiềm năng sáng
tạo của người lao động, của các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh. Nhưng,
nền kinh tế mà Việt Nam xây dựng này vẫn duy trì vai trò chủ đạo của kinh tế nhà
nước, kể cả những năm gần đây, khi Việt Nam thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.
Trong cải cách kinh tế, nếu lúc đầu được tiến hành theo hướng giải quyết những
nhu cầu thiết yếu về đời sống cho người dân, còn sự nghiệp công nghiệp hóa chỉ
được tiến hành trên cơ sở cho phép và phục vụ cho mục tiêu nói trên thì sau này,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại được coi trọng hơn trên cơ sở những thành tựu
kinh tế đã đạt được. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đến năm 2020, Việt Nam
phải hoàn thành về cơ bản sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì 11
thế, trong những năm gần đây, Việt Nam đã tập trung nhiều sức lực cho sự nghiệp
này. Vì chỉ có hoàn thành được sự nghiệp này thì nền kinh tế Việt Nam mới phát
triển được và mới có vị trí cao trên trường quốc tế. Đặc biệt, đến Đại hội X (năm
2006), Đảng Cộng sản Việt Nam lại đưa thêm chủ trương phát triển nền kinh tế tri
thức để tranh thủ tối đa những tiến bộ khoa học, công nghệ tiên tiến trên thế giới
nhằm đưa nền kinh tế nước ta hội nhập được với nền kinh tế thế giới.
Như vậy, nhìn vào tiến trình đổi mới của Việt Nam, có thể thấy, ở mỗi giai đoạn,
Đảng Cộng sản Việt Nam đều xác định rõ những nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm
và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ đó. Mặc dù trong đường lối xây dựng chủ nghĩa
xã hội trước kia và trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi công
nghiệp hoá là nhiệm vụ trọng tâm, nhưng mỗi thời kỳ, giai đoạn nó lại được tiến
hành theo những phương thức khác nhau và sự đầu tư cho phát triển cũng khác
nhau. Hơn nữa, nó còn được bổ sung thêm những yêu cầu mới cho phù hợp với
tình hình phát triển mới cả trong nước và thời đại.
1.3. Đổi mới kinh tế gắn liền với đổi mới hệ thống chính trị
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng đổi
mới hệ thống chính trị cho tương ứng với sự phát triển của kinh tế, tức là tùy theo
thành quả và yêu cầu đổi mới kinh tế mà từng bước có sự đổi mới về chính trị và
hệ thống chính trị. Nói một cách chính xác hơn thì đó là quá trình đổi mới về thể
chế chính trị trong sự tương thích với đổi mới thể chế kinh tế. Đổi mới hệ thống
chính trị ở Việt Nam đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định trong Nghị quyết
Trung ương 6 khóa VI (năm 1989) chính là đổi mới tổ chức và phương thức hoạt
động của hệ thống chính trị theo hướng tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Vì vậy, đổi mới trong lĩnh vực chính trị trước hết là làm trong sạch Đảng, xây
dựng Đảng vững mạnh hơn để Đảng làm tốt vai trò lãnh đạo của mình chứ không
phải thực hiện đa nguyên, đa đảng. Khi xã hội Việt Nam xây dựng một nền kinh tế
phát triển theo cơ chế thị trường thì để lãnh đạo được xã hội đó, đòi hỏi Đảng
Cộng sản Việt Nam càng phải đổi mới không ngừng phương thức lãnh đạo của
mình, giữ vững sự lãnh đạo duy nhất của Đảng. Sự đổi mới này được thể hiện rõ
nhất trong những thay đổi nhận thức của Đảng về động lực của sự phát triển, về vai
trò của Nhà nước và kinh tế tư nhân,… để từ đó, có những chủ trương, đường lối
chỉ đạo đúng đắn sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam theo xu hướng của công
cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Có thể thấy, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới
đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng đổi mới cả về quan niệm cũng
như phương thức lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và để
đảm nhiệm được vai trò lãnh đạo của mình, Đảng đã luôn tự đổi mới cả về cơ cấu,
tổ chức cũng như không ngừng nâng cao chất lượng đảng viên trong Đảng cho phù
hợp với tình hình mới. Để đổi mới hệ thống chính trị, Việt Nam còn từng bước tiến
hành xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân và
thực hiện mở rộng dân chủ trong nhân dân để người dân phát huy được quyền làm
chủ của mình thông qua việc nâng cao và phát huy vai trò của các tổ chức trong
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Chính nhờ có sự đổi mới hệ thống chính trị một cách 12
thường xuyên mà những đổi mới trong kinh tế, văn hóa, xã hội ở Việt Nam luôn đi
đúng hướng, không chệch khỏi mục tiêu chủ nghĩa xã hội của công cuộc đổi mới.
1.4. Đổi mới để phát triển trong ổn định
Như đã phân tích ở trên, Việt Nam tiến hành đổi mới là một cuộc cách mạng về mô
hình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, công cuộc đổi mới được tiến hành tạo ra
sự phát triển toàn diện đất nước, tạo ra sự tăng trưởng mạnh về kinh tế. Nhưng,
trong quá trình phát triển, Việt Nam luôn đảm bảo sự ổn định về chính trị, xã hội
cũng như tránh sự tăng trưởng nóng trong kinh tế. Duy trì sự ổn định trong phát
triển là đặc trưng quan trọng của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam. Nó vừa đảm bảo
sự tăng trưởng về kinh tế lại vừa đảm bảo cuộc sống ổn định của đa số người dân
lao động. Vì thế, trong quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giải quyết
tốt mối quan hệ giữa chính sách phát triển kinh tế với chính sách xã hội, giữa phát
triển kinh tế với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Nghĩa là, nguyên tắc
tiến bộ và công bằng luôn được thực hiện trong từng bước phát triển và cả trong
suốt tiến trình thực hiện đổi mới. Khi phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường thì
sự phân hóa giàu nghèo tất yếu sẽ xảy ra. Nếu không giải quyết tốt vấn đề này sẽ
dẫn đến những sự bất công quá đáng trong xã hội. Trong xã hội, nếu có khoảng
cách quá lớn giữa người giàu và người nghèo, hơn nữa người nghèo lại chiếm đa
số, thì xã hội đó đâu còn đảm bảo được sự tiến bộ nữa. Vì vậy, có thể thấy, thành
tích nổi bật của công cuộc đổi mới ở Việt Nam là trong lúc kinh tế có sự tăng
trưởng không ngừng thì đời sống của đa số người dân đều được cải thiện và nâng
cao. Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo trong xã hội tuy chưa giải quyết
được theo yêu cầu của định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng cũng không để quá lớn.
Trên tinh thần là xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, nên đa số người dân
lao động Việt Nam đều được hưởng lợi từ những thành tựu của công cuộc đổi mới.
Ở Việt Nam, đổi mới là để đáp ứng những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của 13
người dân. Muốn có phát triển thì mọi chủ trương, chính sách đổi mới đều phải
dựa vào dân, xuất phát từ dân và phục vụ cho dân. Chính điều đó tạo ra không chỉ
động lực mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới, mà còn là và căn bản là làm cho lòng
dân được yên và tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tin vào sự
đúng đắn của con đường đổi mới đã được lựa chọn. Mục đích của đổi mới ở Việt
Nam là vì sự phát triển của con người, làm cho con người Việt Nam trở thành động
lực mạnh mẽ của công cuộc đổi mới đất nước. Vì vậy, Việt Nam luôn gắn phát
triển kinh tế - xã hội với giáo dục và đào tạo con người nhằm bảo đảm nguồn lực
phát triển ổn định và bền vững cho đất nước. Giáo dục và đào tạo con người đáp
ứng được yêu cầu của đất nước chính là tạo ra sự ổn định trong phát triển.
Việt Nam đổi mới để phát triển, phát triển để đảm bảo sự ổn định đất nước và trên
cơ sở ổn định, ngày càng đổi mới và phát triển hơn nữa. Đó chính là mối quan hệ
giữa ổn định và phát triển được Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết tốt trong thực
tiễn đổi mới đất nước trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, Đảng
Cộng sản Việt Nam luôn lấy ổn định về chính trị là cơ bản và tiền đề của đổi mới và phát triển kinh tế.
1.5. Đổi mới đất nước gắn liền mở cửa với thế giới bên ngoài
Ngay từ khi bước vào công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định
con đường đổi mới của Việt Nam phải kết hợp được sức mạnh trong nước với sức
mạnh thời đại. Vì thế, tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã đề ra nhiệm vụ đối ngoại là: “Ra sức kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức
mạnh của thời đại”(1). Suốt quá trình từ khi đổi mới đến nay, Đảng Cộng sản Việt
Nam đã luôn chú trọng giải quyết tốt nhiệm vụ này. Nếu như thời kỳ đầu của công
cuộc đổi mới, Việt Nam chỉ mới chú trọng đến việc mở cửa và quan hệ với các
nước trong khu vực và chủ yếu là Liên Xô và các nước trong hệ thống xã hội chủ
nghĩa thì nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương mở rộng quan hệ với tất cả
các nước trên thế giới trên nguyên tắc giữ vững độc lập và tự cường dân tộc. Công
cuộc đổi mới ở Việt Nam không thể đạt được những thành tựu như ngày nay nếu
không có sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, không có hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhờ chính sách mở cửa mà Việt Nam đã tranh thủ được sự giúp đỡ từ bên ngoài,
đặc biệt là trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư từ các nước phát triển.
Trước khi hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ, Việt Nam luôn nhận được sự viện trợ
toàn diện và to lớn của Liên Xô và các nước khác trong hệ thống xã hội chủ nghĩa.
Sau khi hệ thống này sụp đổ, Việt Nam không còn nguồn viện trợ đó nữa, nhưng
nhờ sự đổi mới trong chính sách đối ngoại, Việt Nam đã thu hút được nhiều nguồn
vốn, như nguồn ODA (hỗ trợ phát triển chính thức) của các nước phát triển, nguồn
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Chính sự hợp tác này luôn được duy trì và
mở rộng đã giúp cho nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ, giúp
cho các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều cơ hội và trên thực tế, đã vươn ra thị
trường thế giới. Quá trình đổi mới ở Việt Nam luôn lấy đổi mới trong nước là cơ
sở để phát triển quan hệ với bên ngoài, phát huy sức mạnh trong nước là chính
trong sự tiếp thu và sử dụng sức mạnh của thời đại. Đây cũng có thể coi là tính tất
yếu trong sự nghiệp đổi mới của Việt Nam. Sự thành công của sự nghiệp đổi mới ở 14
Việt Nam không chỉ là về mặt phát triển kinh tế, giữ vững độc lập chủ quyền dân
tộc, mà còn là sự thành công trong lĩnh vực quan hệ đối ngoại của Đảng Cộng sản
Việt Nam. Dựa trên những thành công đó, đến Đại hội IX (năm 2006), Đảng Cộng
sản Việt Nam đã nhấn mạnh việc “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm
độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc
gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”(2). Có thể thấy, đây cũng
là mục đích, yêu cầu và nội dung của việc mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam và tinh thần này cũng được tiếp tục nhấn mạnh ở Đại hội lần thứ X của
Đảng Cộng sản Việt Nam và giữ vững đến nay.
2. Triển vọng của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
Đến nay, công cuộc đổi mới của Việt Nam đã đạt được những thành tựu vô cùng to
lớn và vững chắc. Đúng như đánh giá ghi trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng:
“Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn
diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh. Đời sống
nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc
được củng cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh
được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức
mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất
nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp”(3). Như vậy, có thể khẳng định triển
vọng của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam nhất định sẽ tiến triển tốt đẹp, nhất định sẽ
thành công vì những lý do sau đây:
2.1. Sự nghiệp đổi mới được đặt dưới sự lãnh đạo tài tình của một đảng duy
nhất: Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay luôn giữ
vững bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hành động của mình.
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam chính là thể hiện sự vận dụng một cách sáng tạo lý
luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội
vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Trong đường lối lãnh đạo cũng như thực hiện
đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xuất phát từ thực tiễn của xã hội Việt
Nam. Cả khi trước đổi mới và trong đổi mới, Đảng cũng có những sai lầm trong
nhận thức cũng như chỉ đạo cách mạng, nhưng Đảng luôn chủ trương nhìn thẳng
vào sự thật, dám nhận những sai lầm để sửa chữa nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo
của Đảng. Vì thế, cùng với những thành công của đổi mới thì uy tín của Đảng cũng
ngày càng được nâng cao. Điều chủ yếu đảm bảo sự thành công trong lãnh đạo
công cuộc đổi mới của Đảng chính là ở chỗ, Đảng đã có bước phát triển về tư duy,
nhất là tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam và nhờ đó, đã đề ra và lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới một cách đúng
đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam qua mỗi giai đoạn và thời kỳ cụ thể. Vì thế,
những chủ trương, chính sách của Đảng đã phản ánh đúng yêu cầu phát triển của 15
đất nước, hợp với lòng dân nên chúng luôn đi vào cuộc sống và không ngừng phát huy tác dụng.
2.2. Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam xuất phát từ thực tế của chính xã hội Việt Nam
Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp kém phát triển và có
truyền thống văn hóa, lịch sử riêng. Vì thế, mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam không thể sao chép bất cứ nơi nào trên thế giới. Con đường hình thành
sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam trước hết xuất phát từ thực tiễn của Việt Nam, từ
những sáng kiến trong phong trào thực tiễn của nhân dân lao động. Trên cơ sở thực
tiễn đó, Đảng Cộng sản Việt Nam mới rút ra, đúc kết thành lý luận xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam thông qua con đường đổi mới đất nước. Những thành tựu
đạt được của sự nghiệp đổi mới đã chứng minh rằng, con đường đổi mới đã đi
đúng hướng và phản ánh đúng quy luật phát triển khách quan của Việt Nam và vì
thế, nó là tất yếu, không thể đảo ngược và luôn tiến về phía trước
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
2.3. Thực tiễn đổi mới ở Việt Nam luôn được tiến hành tổng kết, khái quát
thành lý luận chung về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam không phải ngay từ đầu đã hình thành một hệ
thống quan điểm tương đối rõ và đầy đủ như bây giờ, mà nó phải trải qua quá trình
đúc kết kinh nghiệm cả những cái làm được và chưa làm được trong suốt cả tiến
trình và qua mỗi một giai đoạn cụ thể mới hình thành nên. Mô hình xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam (ở Trung Quốc là theo mô hình của Trung Quốc và được
bắt đầu trước Việt Nam) đang được tiến hành là chưa có tiền lệ trong lịch sử. Vì
thế, con đường dẫn đến thành công và ổn định lâu dài chính là vừa làm, vừa bổ
sung về mặt lý luận để có sự hoàn chỉnh về đường lối cũng như các bước phát triển 16
tiếp theo của công cuộc đổi mới. Ở Việt Nam, qua mỗi kỳ Đại hội Đảng đều có sự
nhìn nhận, đánh giá lại tiến trình đổi mới theo các mốc thời gian 5 năm, 10 năm,
15 năm, 20 năm và trên cơ sở đó, hình thành lý luận chung về con đường đổi mới
của Việt Nam. Chính sự bổ sung ngày càng đầy đủ và hoàn chỉnh về mặt lý luận sẽ
đảm bảo cho sự nghiệp đổi mới của Việt Nam ngày càng đi đúng theo tiến trình
phát triển tất yếu khách quan của xã hội Việt Nam. Đổi mới của Việt Nam đã và
đang phát triển tốt đẹp thì tương lai và triển vọng của nó cũng không thể khác được.
Những điều trình bày trên là nói về triển vọng chung của sự nghiệp đổi mới ở Việt
Nam. Trên thực tế, con đường đó không diễn ra một cách suôn sẻ, không gặp
những trở ngại, khó khăn. Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam
đã gặp nhiều khó khăn cả về khách quan lẫn chủ quan làm chậm tiến trình đổi mới.
Đó là những nhận thức sai lầm trong chỉ đạo thực hiện, sự bảo thủ của cơ chế cũ,
những thiên tai lũ lụt, những biến động của thế giới theo chiều hướng bất lợi cho
công cuộc đổi mới của Việt Nam. Việt Nam đã gặp phải khó khăn, như sự cấm vận
của Mỹ, sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa, quan hệ căng thẳng với Trung
Quốc,… trong những năm đầu tiến hành đổi mới. Nhưng, từng bước một, Việt
Nam đã vượt qua những khó khăn đó bằng chính nội lực phát triển của mình. Đặc
biệt, có hai sự kiện có ảnh hưởng lớn đến tiến trình đổi mới của Việt Nam là sự
khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 và cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính
thế giới năm 2008. Nếu cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 còn tác động ít đến
sự phát triển kinh tế của Việt Nam do Việt Nam chưa hội nhập sâu vào nền kinh tế
thế giới, thì cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính năm 2008 đã thực sự là một thử
thách đối với triển vọng của sự nghiệp đổi mới của Việt Nam. Có thể thấy, nếu
Việt Nam không vượt qua được sự suy thoái kinh tế do cuộc khủng hoảng này gây
ra thì thành tựu của bao nhiêu năm tiến hành đổi mới sẽ trở về con số không, nói gì
đến triển vọng của nó nữa. Thế nhưng, đến nay, tất cả đều diễn ra một cách tốt đẹp.
Chế độ chính trị - xã hội Việt Nam vẫn ổn định, kinh tế vẫn tăng trưởng. Nếu cuối
năm 2008 và đầu năm 2009, kinh tế Việt Nam cũng rơi vào suy thoái do tác động
của khủng hoảng tài chính toàn cầu thì nhờ những biện pháp tích cực nhằm chống
suy giảm kinh tế do Chính phủ Việt Nam đưa ra, đến nay, Việt Nam đã chính thức
ngăn chặn được sự suy thoái này và nền kinh tế đang trên đường phục hồi và phát
triển. Việc Chính phủ Việt Nam đưa ra Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP về những
giải pháp cấp bách ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng và đảm bảo an
sinh xã hội (trọng tâm của Nghị quyết này là 3 lĩnh vực: Thúc đẩy sản xuất kinh
doanh và xuất khẩu; kích cầu đầu tư và tiêu dùng; điều hành linh hoạt chính sách
tiền tệ) đã chứng tỏ khả năng nhạy bén của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong vấn
đề khắc phục khó khăn trongđổi mới cũng như khẳng định tương lai sáng sủa của
con đường đổi mới của Việt Nam. Vì thế, triển vọng gần của sự nghiệp đổi mới ở
Việt Nam, theo nhiều chuyên gia dự báo, sẽ là phục hồi nền kinh tế trong năm
2010 và tiếp tục duy trì mức tăng trưởng như cũ bắt đầu từ năm 2011. Đến lúc đó,
công cuộc đổi mới ở Việt Nam sẽ làm tiếp những việc bị gián đoạn do khủng
hoảng tài chính toàn cầu đem lại, như đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để
hoàn thành vào năm 2020 như đã đề ra; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, đặc 17
biệt là thực hiện tốt chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, làm cho đời
sống người nông dân được nâng cao,… Nhìn vào triển vọng và tương lai của sự
nghiệp đổi mới, mỗi người dân Việt Nam đều lạc quan và tin tưởng vào sự tiến
triển tốt đẹp của nó. Vì mục tiêu của nó là xây dựng một xã hội Việt Nam dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, là làm cho mọi người dân Việt
Nam đều được hưởng một cuộc sống đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần. PHẦN III: LIÊN HỆ
Trong những năm gần đây xã hội đang thay đổi từng ngày với một tốc độ chóng
mặt. Nó bị ảnh hưởng bởi những luồng tư tưởng từ khắp nơi xâm nhập vào. Vì thế
mà xã hội ngày càng phát triển nhưng bên canh đó nó cũng làm thay đổi về tư
tưởng, về lối sống của nhiều người. Đặc biệt ở đây, một vấn đề được quan tâm là
lối sống của sinh viên ngày nay. Nói đến sinh viên tức là nói đến thế hệ đang nắm
trong tay tri thức cùng với nhứng hiểu biết về tiếng bộ xã hội nói chung và sự phát
triển đất nước nói riêng. Họ là lớp người đang được đào tạo toàn diện và đầy đủ
nhất bao gồm các chuyên ngành trên khắp các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, khoa học.
1.Thực trạng trong học tập của sinh viên hiện nay. a. Tích cực
Đất nước Việt Nam vốn được biết là nơi sản sinh ra những tinh anh, những tinh
hoa của đất nước. Kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp đấy mà sinh
viên Việt luôn luôn nỗ lực, cố gắng và có tinh thần tự học rất cao. Trải qua hơn
nghìn năm bắc thuộc, cùng sự đàn áp của đế quốc phương Tây làm cho nền giáo
dục ngày càng trì trệ và gặp nhiều khó khăn. Xong sau chiến tranh nền giáo dục
Việt vẫn đem lại nhiều thành tựu đáng tự hào. Ta đã đào tạo được đội nghiên cứu
khoa học cống hiến cho cộng đồng và ngoài quốc tế, đưa nền kinh tế Việt sánh
ngang với các nước trên khu vực. Điều đó đã đủ để chứng minh sinh viên Việt ham
học hỏi, thông minh, sáng tạo, có chọn lọc và tiếp thu kiến thức tốt nhất. 18
-Đầu tiên khi ta nghĩ về sinh viên đó là những con người năng động và sáng tạo,
là những người tiên phong trong mọi công cuộc cải cách, đổi mới. Trong đầu họ
luôn đầy ắp các ý tưởng đạo đáo và thú vị và họ biết tận dụng mọi cơ hội để
biến ý tưởng ấy thành hiện thực. Trong học tập, sinh viên không ngừng tự đổi
mới phương pháp học tập, họ không chỉ học tập trong phạm vi trường, lớp mà
luôn phát huy tinh thần học tập mọi lúc, mọi nơi.
-Thứ hai, sinh viên Việt Nam là những con người táo bạo và tự tin. Sinh viên
dám nghĩ, dám làm, dám chịu. Các ý tưởng độc đáo không chỉ nằm trong suy
nghĩ mà luôn được thử nghiệm trong thực tế. Tự tin nhưng không kiêu, táo bạo
song sinh viên không hề liều lĩnh- đó chính là sinh viên Việt Nam.
-Thứ ba, tính siêng năng, cần cù, chịu thương chịu khó của sinh viên cũng là một
đức tính cần được nói đến. Sinh viên ngày nay đã biết thân tự lập thân, mọi vấn
đề trong cuộc sống đều được sinh viên giải quyết trong sự chủ động.
-Cuối cùng đó là phong thái tự tin, dám khẳng định mình của sinh viên Việt
Nam. Dù trong bất cứ lĩnh vực nào sinh viên cũng tự tin vào tiếng nói của mình.
Họ đã chứng minh cho chúng ta thấy được sức mạnh của họ, vai trò to lớn của
họ trong công cuộc xây dựng đất nước và phát triển xã hội. b. Hạn chế
Thực trạng sinh viên hiện nay thụ động trong học tập không chịu
tìm tòi sách, tài liệu phục vụ cho chuyên môn của mình. Mặc dù trong phương
pháp giảng dạy đại học nhiều thầy cô lên lớp hướng dẫn và đưa ra những tư
liệu, đầu sách cần thiết cho sinh viên tìm kiếm tham khảo nhưng tâm lí quen với việc
đọc chép làm cho sinh viên trở nên khó khăn trong việc tự học và tự giác trong học tập. 19