Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
----------------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC ĐẠI CƯƠNG Đề tài:
Nguyên lý của sự phát triển. Vận dụng sự phát triển
vào những hình thái kinh tế xã hội loài người Nhóm: 02
Lớp học phần: 2152MNLP0221
Giảng viên hướng dẫn: Phạm Thị Hương
Hà Nội, tháng … năm …. Mục lục
Phần Mở đầu....................................................................................................................2
Phần nội dung...................................................................................................................3
Chương 1: Nguyên Lý về sự Phát triển..........................................................................3
I. Khái niệm..................................................................................................................3
1. Nội dung nguyên lý...............................................................................................3
2. Phân biệt “phát triển” với “vận động”, “tiến hóa”, “tiến bộ”:........................5
II. Tính chất của sự phát triển....................................................................................5
1.Tính khách quan của sự phát triển......................................................................5
2. Tính phổ biến của sự phát triển:.........................................................................6
3. Tính kế thừa của sự phát triển............................................................................6
4. Tính phong phú, đa dạng của sự phát triển.......................................................6
III. Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về sự phát triển......................7
1.Các sự vật, hiện tượng, ta đặt đối tượng trong sự vận động và phát triển......7
2. Không dao động trước những quanh co, phức tạp của sự phát triển trong
thực tiễn.....................................................................................................................7
3. Phương pháp thúc đẩy sự phát triển của sự vật, hiện tượng...........................7
Chương 2: Vận dụng hình thái KTXH vào các hình thức tổ chức xã hội loài người.8
I.Các hình thức xã hội loài người nói chung..............................................................8
1. Hình thái KTXH cộng sản nguyên thủy (công xã nguyên thủy)......................9
3. Hình thái KTXH phong kiến.............................................................................13
4. Hình thái KTXH tư bản chủ nghĩa...................................................................17
II. vận dung sự phát triển xã hội chủ nghĩa vào Việt Nam....................................20
1. thực trạng............................................................................................................20
2. Phương hướng và giải pháp sự phát triển xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam......22
Phần kết luận..................................................................................................................23
Tài liệu kham khảo.........................................................................................................24 Phần Mở đầu
Các sự vật, hiện tượng khác nhau trong thế giới đứng im, bất động hay không
ngừng vận động, phát triển? Nếu vận động, phát triển thì cái gì là nguồn gốc của vận
động, phát triển? Đó là những câu hỏi mà các nhà nghiên cứu đang tìm lời giải đáp. Suốt
thời gian qua nhờ sự lỗ lực tìm tòi và nghiên cứu các nhà khoa học đã dần hé lộ được
một phần thế giới qua những phát hiện về nguồn gốc và sự phát triển các hình thức tổ
chức xã hội loài người. Từ đó chúng ta đã dần nhận thức được các nguyên lý của sự phát
triển để áp dụng có hiệu quả vào đời sống như ở nước Việt Nam. Sau đây là những nội
dung giúp ta hiểu thêm về cách thức, khuynh hướng của chúng diễn ra. 2 Phần nội dung
Chương 1: Nguyên Lý về sự Phát triển I. Khái niệm 1. Nội dung nguyên lý
Triết học Mác-Lênin luôn coi trọng sự vận động và phát triển của sự vật, hiện
tượng. Việc đặt sự vật, hiện tượng trong trạng thái luôn phát triển là một nguyên lý quan
trọng của triết học Mác-Lênin. Liên hệ tức là vận động, mà không vận động thì không
có sự phát triển. Nhưng vận động và phát triển là hai khái niệm khác nhau. Khái niệm
vận động khái quát mọi sự biến đổi nói chung, không tính đến xu hướng và kết quả của
những biến đổi ấy như thế nào. Sự vận động diễn ra không ngừng trong thế giới và có nhiều xu hướng.
“Quan điểm siêu hình mà điểm trung tâm là quan niệm về tính tuyệt đối không thay đổi
của giới tự nhiên, phủ nhận mọi sự biến đổi, mọi sự phát triển trong giới tự nhiên”— Engels
“Mỗi một sự tiến bộ trong sự phát triển hữu cơ đồng thời lại là sự thoái bộ, vì nó cũng
cố sự phát triển phiến diện và loại trừ khả năng phát triển theo nhiều khuynh hướng khác nhau”— Engels
“Quan niệm về giới tự nhiên đã được hoàn thành trên những nét cơ bản: Tất cả những
gì cố định đều biến thành mây khói, và tất cả những gì người ta cho là tồn tại vĩnh cửu
thì nay đã trở thành nhất thời, và người ta đã chứng minh rằng toàn bộ giới tự nhiên
đều vận động theo một vòng tuần hoàn vĩnh cửu”— Engels
Nguyên lý về sự phát triển thể hiện qua ba quy luật cơ bản bao gồm:
+ Quy luật mâu thuẫn: Căn cứ vào vai trò mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của
sự vật gồm có mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu. Trong đó mâu thuẫn chủ yếu
nổi lên hàng đầu của mỗi giai đoạn phát triển của sự vật, hiện tượng, có tác dụng quy
định những mâu thuẫn khác trong cùng giai đoạn đó của sự phát triển. Còn sự phát triển,
chuyển hóa của sự vật, hiện tượng phụ thuộc chính vào việc giải quyết mâu thuẫn chủ
yếu. Mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn không đóng vai trò quyết định trong sự phát triển.
Tuy nhiên, không có thống nhất của các mặt đối lập thì cũng không có đấu tranh giữa
chúng. Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể tách rời nhau trong
mâu thuẫn biện chứng. Sự vận động và phát triển bao giờ cũng là sự thống nhất giữa
tính ổn định và tính thay đổi. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập quy định
tính ổn định và tính thay đổi của sự vật. Khi mâu thuẫn đã được giải quyết thì sự vật cũ
mất đi, sự vật mới ra đời lại bao hàm mâu thuẫn mới, mâu thuẫn mới lại được triển khai,
phát triển và lại được giải quyết làm cho sự vật mới luôn luôn xuất hiện thay thế sự vật
cũ. Do vậy, chính sự đấu tranh của các mặt đối lập dẫn đến sự chuyển hóa của các mặt
đối lập (giải quyết mâu thuẫn) là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển. Nếu
mâu thuẫn không được giải quyết (các mặt đối lập không chuyển hóa) thì không có sự phát triển 2
+ Quy luật lượng - chất: Chỉ ra cách thức chung nhất của sự vận động và phát triển, khi
sự thay đổi về chất chỉ xảy ra khi đã tích đủ lượng và đạt đến độ nhất định. Quy luật
cũng chỉ ra tính thống nhất của sự phát triển, khi đó sự vật thay đổi về lượng của sự vật
hiện tượng diễn ra từ từ kết hợp với sự thay đổi nhảy vọt về chất làm cho sự vật vừa tiến
bước tuần tự, vừa có những bước đột phá vượt bậc.
+ Quy luật phủ định: chỉ ra sự phát triển đi lên theo hình thức xoáy ốc kết quả của sự
phát triển thông qua sự thống nhất và sự kế thừa trong sự phát triển nghĩa là các sự vật
hiện tượng cũ nó phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện
dến hoàn thiện hơn. Quy định phủ định của phủ định còn coi sự phát triển của sự vật,
hiện tượng là do mâu thuẫn bên trong quy định chúng. Mỗi lần phủ định là kết quả của
sự đấu tranh và chuyển hóa giữa những mặt đối lập trong sự vật hiện tượng. Phủ định
biện chứng chỉ là một giai đoạn của quá trình phát triển vì chỉ thông qua phủ định của
phủ định mới dẫn đến sự ra đời của sự vật và như vậy phủ định của phư định mới hoàn
thành được một chu kỳ của sự phát triển đồng thờ tạo nên điểm xuất phát cho chu kỳ tiếp theo.
a. Nguồn gốc và định nghĩa của sự phát triển
- Quan điểm siêu hình cho rằng:
+ Các sự vật, hiện tượng khác nhau trong thế giới đứng im, bất động → phủ nhận sự phát triển
+ Giả sử có vận động, phát triển thì đó chỉ là sự tăng – giảm thuần túy về lượng mà
không có sự thay đổi về chất, không có sự ra đời cái mới.
+ Tính muôn vẻ về chất của vạn vật trong thế giới là nhất thành bất biến.
→ Vì vậy, phát triển chỉ là một quá trình tiến lên liên tục mà không có những bước
quanh co phức tạp (đường thẳng). Còn nếu có sự thay đổi về chất thì đó cũng chỉ là
những chất kế tiếp nhau theo một chu trình kín (đường tròn), tuần hoàn, lặp đi lặp lại.
- Quan điểm duy tâm cho rằng:
Nguồn gốc của sự phát triển trong các lực lượng siêu nhiên hay ý thức con người
(phi vật chất)→ nguồn gốc của sự phát triển là nằm ngoài chúng.
- Quan điểm biện chứng cho rằng:
+ Trong thế giới các mối liên hệ ràng buộc, tác động qua lại lẫn nhau làm cho mọi sự
vật, hiện tượng tồn tại như những hệ thống có cấp độ kết cấu tổ chức, với những quy
định về chất (kết cấu tổ chức) và về lượng khác nhau. Các hệ thống sự vật khác nhau
không ngừng vận động, và sự vận động của hệ thống không loại trừ sự đứng im (ổn định
tương đối về chất) của nó hay của yếu tố tạo thành nó. Sự vận động – thay đổi nói chung
– của một hệ thống sự vật bao gồm: Một là, sự thay đổi những quy định về chất theo xu
hướng tiến bộ ; hai là, sự thay đổi những quy định về chất theo xu hướng thoái bộ; và ba
là, sự thay đổi những quy định về lượng theo xu hướng ổn định tương đối về chất.
+ Nếu vận động là sự thay đổi nói chung, thì phát triển là một khuynh hướng vận động
tổng hợp của một hệ thống, trong đó sự vận động có thay đổi những quy định về chất
(kết cấu tổ chức) theo xu hướng tiến bộ giữ vai trò chủ đạo, còn sự vận động có thay đổi
những quy định về chất theo xu hướng thoái bộ và sự vận động có thay đổi những quy 2
định về lượng theo xu hướng ổn định giữ vai trò phụ đạo, cần thiết cho xu hướng chủ đạo, thống trị trên.
→ Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả là quá trình thay đổi dần dần về
lương dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi
chu kì sự vật lặp lại đường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn.
Vậy, “Phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát quá trình vận động theo
hướng đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn
thiện hơn của sự vật.”
2. Phân biệt “phát triển” với “vận động”, “tiến hóa”, “tiến bộ”:
- Vận động là mọi sự biến đổi nói chung. Khái niệm này có ngoại diên lớn hơn khái niệm phát triển.
- Phát triển là sự vận động theo khuynh hướng đi lên, tạo ra cái mới hợp quy luật
Nhờ có sự phát triển, cơ cấu tổ chức, phương thức tồn tại và vận động của sự vật cũng
như chức năng vốn có của nó ngày càng hoàn thiện hơn. Như thế, phát triển là một
trường hợp đặc biệt của sự vận động.
- Tiến hóa là một dạng của phát triển, diễn ra từ từ; là sự biến đổi hình thức của tồn tại
từ đơn giản đến phức tạp.
- Tiến bộ là 1 quá trình biến đổi hướng tới cái thiện; thực trạng xã hội: từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
II. Tính chất của sự phát triển
1. Tính khách quan của sự phát triển
- Tính khách quan của sự phát triển được biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và
phát triển. Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân của sự vật, hiện tượng là quá trình giải
quyết mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng đó. Tính chất này là thuộc tinh tất yếu không
phụ thộc vào ý thức con người.
+ Các sự vật, hiện tượng khác nhau trong thế giới đứng im, bất động -> phủ nhận sự phát triển.
+ Giả sử có vận động, phát triển thì đó chỉ là sự tăng – giảm thuần túy về lượng mà
không có sự thay đổi về chất, không có sự ra đời cái mới.
Ví dụ: Hạt lúa, hạt đầu khi có nước, đất, chất dinh dưỡng, ánh sáng dù không có con
người nhưng nó vẫn phát triển.
- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về tính khách quan của sự phát triển đã
phủ nhận quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và quan điểm siêu hình về sự phát triển.
+ Quan điểm duy tâm cho rằng nguồn gốc của sự phát triển ở các lực lượng siêu nhiên,
phi vật chất (thần linh, thượng đế), hay ở ý thức con người. Tức là đều nằm ở bên ngoài sự vật, hiện tượng. 2
+ Quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng về cơ bản là “đứng im”, không
phát triển. Hoặc phát triển chỉ là sự thay đổi đơn thuần về mặt lượng (số lượng, kích
thước…) mà không có sự biến đổi về chất.
2. Tính phổ biến của sự phát triển:
- Sự phát triển diễn ra ở tất cả mọi lĩnh vực, từ tự nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả
mọi sự vật và hiện tượng trong quá trình, mọi giai đoạn của sự vật hiện tượng đó; từ hiện
thực khách quan đến những khái niệm, những phạm trù phản ánh hiện thực ấy. Trong
mỗi quá trình biến đổi đã có thể bao hàm khả năng dẫn đến sự ra đời phù hợp với quy luật khách quan.
+ Trong tự nhiên : Tăng cường khả năng thích nghi cơ thể trước sự biến đổi của môi trường
Ví dụ: Người ở Miền Nam ra công tác làm việc ở Bắc thời gian đầu với khí hậu thay đổi
họ sẽ khó chịu nhưng dần họ quen và thích nghi.
+ Trong xã hội: Nâng cao năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội, tiến tới mức độ
ngày càng cao trong sự nghiệp giải phóng con người.
Ví dụ: Mức sống của dân cư xã hội sau lúc nào cũng cao hơn so với xã hội trước.
+ Trong tư duy : Khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn với tự nhiên và xã hội.
Ví dụ: Trình độ hiểu biết của con người ngày càng cao so với trước đây.
- Trong hiện thực, không có sự vật, hiện tượng nào là đứng im, luôn luôn duy trì một
trạng thái cố định trong suốt quãng đời tồn tại của nó.
3. Tính kế thừa của sự phát triển
Sự phát triển tạo ra sự vật, hiện tượng mới từ sv, hiện tượng cũ, dựa trên cơ sở
chọn lọc, kế thừa, giữ lại, cải tạo ít nhiều những bộ phận, đặc điểm, thuộc tính… còn
hợp lý của cái cũ; đồng thời cũng đào thải, loại bỏ những gì tiêu cực, lạc hậu, không tích
hợp của cái cũ. Đến lượt nó, cái mới này lại phát triển thành cái mới khác trên cơ sở kế thừa như vậy.
Đó là quá trình phủ định biện chứng. Là sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi
về chất. Quá trình này diễn ra vô cùng, vô tận theo hình xoáy trôn ốc.
4. Tính phong phú, đa dạng của sự phát triển
- Sự phát triển có muôn hình, muôn vẻ, biểu hiện ra bên ngoài theo vô vàn loại hình
khác nhau.Sự phong phú của các dạng vật chất và phương thức tồn tại của chúng quy
định sự phong phú của phát triển. Môi trường, không gian, thời gian và những điều kiện,
hoàn cảnh, yếu tố khác nhau tác động vào các sự vật, hiện tượng cũng làm cho sự phát
triển của chúng khác nhau.
+ Trong giới hữu cơ, sự phát triển biểu hiện ở khả năng thích nghi của cơ thể trước sự
biến đổi của môi trường, ở khả năng tự sản sinh ra chính mình với trình độ ngày càng cao hơn… 2
+ Sự phát triển trong xã hội biểu hiện ở năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội
ngày càng lớn của con người.
+ Đối với tư duy, sự phát triển là năng lực nhận thức ngày càng sâu sắc, toàn diện, đúng đắn hơn.
- Đồng thời trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu sự tác động của các sự
vật, hiện tượng khác, của rất nhiều yếu tố, điều kiện. Sự tác động đó có thể thúc đẩy
hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật, đôi khi có thể làm thay đổi chiều hướng phát
triển của sự vật, thậm chí làm cho sự vật thụt lùi.
III. Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về sự phát triển
1. Các sự vật, hiện tượng, ta đặt đối tượng trong sự vận động và phát triển.
Ta cần phải phát hiện và nắm được sự vật không chỉ ở trạng thái hiện tại, như là
cái nó đang có, đang hiện hữu trước mắt, mà còn phải dự báo được khuynh hướng phát
triển tương lai, khả năng chuyển hóa của nó. Bằng tư duy khoa học, ta phải làm sáng tỏ
được xu hướng chủ đạo của tất cả những biến đổi khác nhau đó.
Quan điểm phát triển hoàn toàn đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến.
Tuyệt đối hóa một nhận thức nào đó về sự vật có được trong một hoàn cảnh lịch sử nhất
định, xem đó là nhận thức duy nhất đúng về toàn bộ sự vật trong quá trình phát triển tiếp
theo của nó sẽ đưa chúng ta đến sai lầm nghiêm trọng.
2. Không dao động trước những quanh co, phức tạp của sự phát triển trong thực tiễn.
Ta cần phải xác quyết rằng các sự vật, hiện tượng phát triển theo một quá trình
biện chứng đầy mâu thuẫn. Do đó ta phải công nhận tính quanh co, phức tạp của quá
trình phát triển như một hiện tượng phổ biến, đương nhiên.
Quan điểm phát triển đòi hỏi phải có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan đối với
mỗi bước thụt lùi tương đối của sự vật, hiện tượng. Bi quan về sự thụt lùi tương đối sẽ
khiến chúng ta gặp phải những sai lầm tai hại.
3. Phương pháp thúc đẩy sự phát triển của sự vật, hiện tượng.
- Cần nhận thức: phát triển là quá trinh trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc
điểm, tính chất, hình thức khác nhau nên cần tìm hình thức, phương pháp tác động phù
hợp để thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển đó.
- Việc xác định những biện pháp cũng cần căn cứ vào từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể
của sự vật, hiện tượng. Vì sự phát triển diễn ra theo nhiều giai đoạn, từ thấp đến cao, từ
kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
- Ta phải tích cực, chủ động nghiên cứu, tìm ra những mâu thuẫn trong mỗi sự vật, hiện
tượng. Từ đó, xác định biện pháp phù hợp giải quyết mâu thuẫn để thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát triển.
- Vì trong sự phát triển có sự kế thừa, ta phải chủ động phát hiện, cổ vũ cái mới phù hợp,
tạo điều kiện cho nó phát triển tìm cách thúc đẩy để cái mới đó chiếm vai trò chủ đạo. 2
+ Ta cũng phải tìm cách kế thừa những bộ phận, thuộc tính… tích cực,còn hợp lý của
cái cũ, đồng thời kiên quyết loại bỏ những gì thuộc cái cũ mà lạc hậu, cản trở sự phát triển.
+ Phải tích cực học hỏi, tích lũy kiến thức khoa học và kiến thức thực tiễn.
+ Tuyệt đối tránh bảo thủ, trì trệ trong tư duy và hành động.
- Sự phát triển được thực hiện bằng con đường tích lũy về lượng để tạo ra sự thay đổi về
chất. Do đó, chúng ta phải luôn nỗ lực, chăm chỉ lao động để làm cho sự vật, hiện tượng
tích lũy đủ về lượng rồi dẫn đến sự thay đổi về chất. 2
Chương 2: Vận dụng hình thái KTXH vào các hình thức tổ chức xã hội loài người.
I.Các hình thức xã hội loài người nói chung.
Hình thái kinh tế xã hội là một hệ thống, trong đó, các mặt của hình thái kinh tế xã
hội tác động qua lại với nhau tạo nên quy luật vận động, phát triển khách quan của xã
hội. Chính sự tác động của các quy luật khách quan đó mà hình thái kinh tế xã hội tuy là
một phạm trù xã hội nhưng lại có quy luật phát triển như một quy luật tự nhiên, nó vận
động phát triển từ thấp đến cao. Nguồn gốc sâu sa của việc phát triển và thay thế các
hình thái kinh tế xã hội nằm ở chỗ Sự phát triển của lực lượng sản xuất gây lên sự thay
đổi về quan hệ sản xuất.
Theo chủ nghĩa Mác – Lenin, trong lịch sử loài người đã và sẽ tuần tự xuất hiện 5
hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao:
1. Hình thái KTXH cộng sản nguyên thủy (công xã nguyên thủy) a. Khái Niệm
Chế độ cộng sản nguyên thủy là hình thái kinh tế - xã
hội đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Đó là một xã hội không
có giai cấp, chưa có nhà nước và pháp luật. Nhưng những
nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước và pháp luật
lại nảy sinh chính trong xã hội đó. b. Đặc Điểm - Thiếu năng suất
Chủ nghĩa cộng sản nguyên thủy không tạo ra thặng dư; tất
cả mọi thứ được sản xuất hàng ngày được tiêu thụ nhanh chóng để giữ cho các thành
viên của xã hội tồn tại.
- Không có quyền sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất
Điều này có nghĩa là các phương tiện sản xuất - như đất đai, công cụ và vũ khí - thuộc
về cộng đồng, ngoại trừ tài sản cá nhân nghiêm ngặt, chẳng hạn như quần áo hoặc vật dụng cá nhân..
- Thiếu chuyên môn hóa
Việc thiếu chuyên môn hóa là do tất cả mọi người trong xã hội đều làm cùng một công
việc. Trong số các công việc được thực hiện là sản xuất dụng cụ, thu thập trái cây, chuẩn
bị nơi trú ẩn, săn bắn và câu cá.
- Phân công lao động
+ Có một bộ phận lao động trong đó đàn ông tham gia nhiều hoạt động săn bắn, trong
khi phụ nữ tham gia thu thập thức ăn.
Tuy nhiên, không có sự phân công lao động trong các khía cạnh khác, chẳng hạn như
lãnh đạo, vì cả nam và nữ đều tham gia cùng một mức độ trong việc ra quyết định.
+ Phụ nữ mang thai hoặc những người nuôi con bằng sữa mẹ được bảo vệ khỏi những
nguy hiểm của việc săn bắn, để bảo tồn thế hệ tiếp theo.
- Quan hệ sản xuất 2
Trong chủ nghĩa cộng sản nguyên thủy, các công cụ làm việc còn sơ khai đến mức con
người không thể chiến đấu một mình chống lại các thế lực tự nhiên và động vật hoang
dã. Đó là lý do tại sao họ sống theo nhóm hoặc cộng đồng và phương thức sản xuất (săn
bắn và câu cá) của họ được thực hiện cùng nhau.
- Điểm ảnh hưởng
Việc thuần hóa động vật và thực vật sau cuộc cách mạng đá mới, thông qua chủ nghĩa
mục vụ và nông nghiệp, được coi là bước ngoặt của chủ nghĩa cộng sản nguyên thủy đối
với một xã hội giai cấp, vì nó được theo sau bởi tài sản tư nhân và nô lệ bất bình đẳng có liên quan. c. Ưu điểm
- Một nền dân chủ hoàn chỉnh
Dân chủ được nhận thức chủ yếu vì tất cả các thành viên của cộng đồng tham gia vào tất
cả các quyết định để đạt được các giải pháp tương ứng, bất kể giới tính của họ.
- Vắng mặt khai thác
Trong phương thức sản xuất nguyên thủy không có người khai thác hay khai thác, vì có
tất cả sự bình đẳng trong các chức năng sản xuất được thực hiện bởi tất cả các thành viên.
- Công trình được thiết kế tốt
Các nghề nghiệp tương tự được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do đó, vai trò của
công việc được thiết kế và phân công cụ thể trước. Theo cách này, có ít nhầm lẫn hơn và
mọi người đều rõ ràng về những gì họ được phân công làm.
- Tôn trọng môi trường
Không có tác động đến môi trường. Chất thải được sản xuất gần như không và có sự
phân phối tài nguyên đầy đủ.Một bộ lạc và tài sản của nó tạo thành một loại thống nhất
có nguồn gốc từ phương thức sản xuất, nơi các cá nhân liên quan với nhau và với thiên nhiên. d. Nhược điểm
- Trình độ phát triển thấp
+ Không có dư thừa trong những gì được sản xuất. Tất cả mọi thứ được sản xuất là để
tiêu thụ nó gần như ngay lập tức, không phải cho các mục đích khác.
+ Với nhu cầu hạn chế và không có sự phát triển, phương châm chính của các thành viên
của một chủ nghĩa cộng sản nguyên thủy là sự sống còn. Phần lớn nỗ lực hàng ngày
được dành cho việc đạt được và đáp ứng nhu cầu cơ bản của họ. Sản xuất nhiều hơn thế
là khó khăn; do đó, mức sống thấp.
- Sản xuất đơn giản
+ Khi dân số của cộng đồng tăng lên, một cộng đồng mới được hình thành trong một bãi
đất trống. Sản xuất bị chi phối bởi truyền thống, thay vì lãnh đạo hoặc thị trường
+ Sự đơn giản này trong phương thức sản xuất cung cấp chìa khóa cho bí mật về sự bền
bỉ của các xã hội nguyên thủy này, tồn tại hàng trăm ngàn năm.
Do không có tiến bộ về cơ sở hạ tầng, nên các trường hợp chết vì bệnh nặng hơn do
bệnh tật và động vật tấn công. 2
- Nhu cầu rất hạn chế
Nhu cầu được đáp ứng bởi các cá nhân trong cộng đồng là rất hạn chế. Tất cả mọi thứ
được sản xuất là được sử dụng trong sự tồn tại nghiêm ngặt hàng ngày. Nó không tìm
cách thỏa mãn những nhu cầu "tâm linh" khác của con người. e. Nguyên nhân tan rã
- Người tinh khôn đã biết cải tạo công cụ bằng đá để nâng cao năng suất lao động. Sau
đó, họ cảm thấy rằng năng suất như vậy là không đủ sống. Do đó, sau khi phát hiện ra
kim loại họ đã dùng kim loại để chế tạo ra công cụ.
- Con người xẻ đá làm nhà, xẻ gỗ đóng thuyền. Bây giờ, sản phẩm làm ra không chỉ đủ
đủ nuôi sống mình mà còn dư thừa.
- Một số người, do có khả năng lao động mà dư thừa của cải. Một số khác thì lợi dụng
chức vụ để chiếm đoạt một phần của cải dư thừa của người khác. Những người có của
cải dư thừa ngày càng trở nên giàu có. Xã hội bắt đầu có sự phân hóa giàu nghèo. Từ
đó, xã hội dần dần hình thành các giai cấp trong xã hội. Những người trong thị tộc giờ
đây không thể cùng làm chung, ăn chung được nữa. Thế là xã hội nguyên thủy dần dần tan rã.
Tóm lại sự phát triển ở giai đoạn này chủ yếu thể hiện qua quá trình tiến hóa về cơ
thể con người, đã có thể đi đứng bằng hai chân, có những hành động linh hoạt hơn, bộ
não cũng hoan thiện và phát triển. Từ đó con người đã vận động phát triển cả về mặt tư
duy lẫn nhận thức về mặt xã hội. Phát triển hình thành lên cuộc sống khác xa với cuộc
sống bầy thú. Đồng thời qua sự phát triển về mặt tư duy và nhận thức hộ đã chế tạo ra
các công cụ bằng đá để phục vụ cho nhu cầu sản xuất lương thực thực phẩm. Đó cũng
chính là một trong những mặt phát triển nhất của hình thái kinh tế xã hội nguyên thủy so với bầy thú.
2. Hình thái KTXH chiếm hữu nô lệ a.Thời gian hình thành
Xã hội chiếm hữu nô lệ xuất hiện ở phương Đông
sớm nhất, khoảng 3000 năm trước công nguyên ở các
nước Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc và nhiều
quốc gia khác, ở châu Âu xã hội này xuất hiện muộn
hơn. Xã hội chiếm hữu nô lệ Hy Lạp ra đời khoảng thế
kỷ thứ VIII trước công nguyên, ở La Mã vào thế kỷ thứ
VI trước công nguyên và kết thúc vào thế kỷ thứ V sau
công nguyên khi đế quốc Tây La Mã sụp đổ.
b. Các giai cấp chính của xã hội chiếm hữu nô lệ
Xã hội chiếm hữu nô lệ chia thành ba giai cấp chính:
- Giai cấp chủ nô, quý tộc là giai cấp thống trị áp bức bóc lột vì chúng chiếm giữ được tư liệu sản xuất. 2
- Giai cấp nông dân công xã nông thôn và tầng lớp thị dân thành thị: Ở Hy Lạp, La Mã
tầng lớp này được gọi là bình dân. Nông dân và, thị dân có tài sản, có gia đình riêng
nhưng bị nhà nước chủ nô bóc lột, khi phá sản có thể rơi xuống địa vị nô lệ.
- Giai cấp nô lệ: Nguồn chủ yếu từ các bộ lạc bại trận trong chiến tranh, không cùng
huyết thống với giai cấp chủ nô, bị kẻ chiến thắng tước đoạt tài sản, ruộng đất, còn bản
thân bị biến thành nô lệ. Theo pháp luật của nhà nước chủ nô, nô lệ không phải là con
người, chỉ là tài sản đặc biệt của chủ nô, tài sản biết nói. Chủ nô có thể giết, đánh đập
đến tàn phế hoặc đem nô lệ ra chợ mua bán, đổi chác c. Phân chia đẳng cấp
- Giai cấp chủ nô thuộc đẳng cấp quý tộc cao quý, nông dân thị dân thuộc đẳng cấp
dưới, nô lệ chỉ là tài sản của chủ nô nên không không được xếp vào đẳng cấp nào. Ở xã
hội chiếm hữu nô lệ, khái niệm nhân dân không có nô lệ.
- Sự phân chia xã hội thành đẳng cấp nặng nề nhất là Ấn Độ (chế độ chủng tính Varna).
Sự phân chia xã hội thành đẳng cấp theo giải thích của giai cấp thống trị thì đó là theo ý
muốn của thần thánh vĩnh viễn không thay đổi được. Thực ra đẳng cấp được phân chia
để nhằm củng cố hơn nữa địa vị của giai cấp thống trị, nó cũng bắt nguồn như nguồn gốc giai cấp.
d. Các mô hình nhà nước thời kỳ chiếm hữu nô lệ
- Trong xã hội nô lệ, khi cộng đồng thị tộc dựa trên quan hệ huyết thống tan rã thì ở Hy
Lạp, La Mã hình thành cộng đồng bộ tộc, vì nhà nước cai trị dân cư theo khu vực hành
chính và thêm nhiều yếu tố khác làm xáo trộn dân cư. Bộ tộc là cộng đồng người có sự
thống nhất ban đầu về kinh tế, văn hóa và lãnh thổ, một cộng đồng cao hơn cộng đồng thị tộc.
- Nhưng ở châu Á, khi công xã nguyên thủy tan rã, hình thành nhà nước đầu tiên thì dân
tộc quốc gia cũng ra đời. Đặc trưng chung của nhà nước là cai trị dân cư theo khu vực
hành chính và hình thành nên bộ máy quyền lực công cộng, có hai chức năng chính là
đối nội và đối ngoại.
- Ở các nước phương Đông, thiết chế chính trị của nhà nước chiếm hữu nô lệ là quân
chủ chuyên chế tập quyền. Trong khi đó Hy Lạp lại thiết lập nhà nước Cộng hòa dân chủ
chủ nô, ở La Mã là nhà nước Cộng hòa quý tộc chủ nô. Dù thiết chế chính trị có khác
nhau nhưng nhà nước nào cũng phải đầy đủ ba bộ phận cơ bản: bộ máy hành chính quan
liêu đông đúc; đội ngũ trí thức, tăng lữ; những cơ quan sức mạnh gồm quân đội cảnh sát… e. Chiến tranh
- Khi xã hội có giai cấp và nhà nước thì chiến tranh bây giờ mới đúng nghĩa là biện pháp
vũ lực phục vụ cho công cuộc bành trướng quyền lực, mở rộng lãnh thổ, tức là chiến
tranh đã phục vụ cho mục đích chính trị. Giai cấp thống trị chủ nô tham lam không chỉ
bóc lột cư dân trong lãnh thổ của mình mà còn tiến hành các cuộc chiến tranh cướp đoạt
đất đai xây dựng nên những đế quốc rộng lớn, thống trị, bóc lột các dân tộc khác.
- Nội chiến trong quốc gia cổ Ấn Độ giữa các tiểu vương quốc trong nhiều giai đoạn lịch
sử. Cục diện Xuân thu Chiến quốc ở Trung Quốc suốt gần 500 năm trời để tranh giành 2
quyền bá chủ gây nên núi xương sông máu. Nội chiến ở Hy Lạp cổ đại giữa các thành
bang do Athens đứng đầụ với các thành bang do Xpác đứng đầu để tranh giành quyền
lợi chính trị và kinh tế ở bán đảo. f. Đấu tranh giai cấp
- Mâu thuẫn cơ bản trong xã hội chiếm hữu nô lệ là mâu thuẫn giữa chủ nô và nô nệ là
dẫn tới cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt, nô lệ khởi nghĩa chống lại nhà nựớc và giai
cấp chủ nô. Đấu tranh của nô lệ chống chủ nô là một trong những động lực góp phần
giải thể chế độ đó để bước sang một hình thái kinh tế xã hội cao hơn – hình thái kinh tế xã hội phong kiến.
- Hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ không phải bắt buộc đối với tất cả các dân
tộc, nhiều dân tộc đã bỏ qua chế độ này, từ công xã nguyên thủy thẳng tiến lên chế độ
phong kiến. Vì khi công xã nguyên thủy của quốc gia đó tan rã thì các quốc gia chung
quanh đã hình thành và phát triển chế độ phong kiến như lịch sử của Mông Cổ, Nhật
Bản, Nga, của các tộc người Giécmanh, …
Tóm lại trong thời kì này nhờ sự tích tụ về lượng là của cải vật chất dẫn đến sự thay
đổi về chất và thông qua điểm nút phân tầng giai cấp đã đã dẫn sự vận động phát triển
trong nhận thức con người cần sức lao động để tạo thêm nhiều của cải vật chất hơn dẫn
đến việc hình thành nên các giai cấp. Sự phát triển này nhằm phù hợp giữa quan hệ sản
xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phát triển còn thể hiện rõ hơn ở
phương tiện lao đông khi trong thời kì này đã chế tạo được nhiều công cụ lao động bằng
kim loại phát triển hơn so với thời kì trước.
3. Hình thái KTXH phong kiến a. Thời gian hình thành
- Xã hội phong kiến phương Đông: được
hình thành sớm (từ thế kỷ III TCN đến
khoảng thế kỷ X), nhưng lại phát triển chậm
chạp (từ thế kỷ X đến thế kỷ XV), quá trình
khủng hoảng suy vong kéo dài từ thế kỷ XVI
đến giữa thế kỷ XIX, lệ thuộc hoặc là thuộc
địa của các nước tư bản phương Tây.
- Xã hội phong kiến phương Tây: được hình
thành muộn hơn (từ thế kỷ V đến khoảng thế
kỷ X), phát triển trong giai đoạn từ thế kỷ XI
đến khoảng thế kỷ XV, kết thúc sớm hơn, rơi vào khủng hoảng suy vong (từ thế kỷ XIV
đến khoảng thế kỷ XV) nhường chỗ cho chủ nghĩa tư bản.
b. Nguyên nhân hình thành xã hội phong kiến. Ở phương Đông:
- Do việc không có chế độ tư hữu ruộng đất: sự phân chia xã hội thành kẻ giàu người
nghèo diễn ra rất chậm chạp, chưa thật sâu sắc và mức độ phân hóa chưa cao lắm so với
lịch sử quá trình hình thành nhà nước ở phương Tây. Bởi vậy ở phương Đông, quá trình
hình thành, định tính và định hình của các giai cấp cũng diễn ra chậm chạp và không sắc 2
nét, mâu thuẫn đối kháng chưa phát triển đến mức gay gắt không thể điều hòa được.
Nhưng dù trong hoàn cảnh như vậy, nhà nước vẫn phải ra đời bởi chính công cuộc trị
thủy thủy lợi, không chỉ duy trì chế độ công hữu về ruộng đất mà còn là yếu tố thúc đẩy nhà nước ra đời sớm.
- Bên cạnh đó còn có một số tác nhân khác, ví dụ nhu cầu tự vệ. Ở phương Tây:
- Cuối thế kỉ V, các quốc gia cổ đại phương Tây đã bị các bộ tộc người Giéc-man từ
phương Bắc tràn xuống xâm chiếm tiêu diệt, hình thành nhiều vương quốc mới như
Ăng-glơ, Phơ răng, Đông Gốt, Tây gốt,..
- Trên lãnh thổ của người Rơ Ma họ đã chiếm ruộng đất đem chia cho nhau; phong cho
các tướng lĩnh, quý tộc các tước vị như: công tước, hầu tước,… c. Khái niệm:
Xã hội phong kiến là chế độ xã hội theo sau xã hội cổ đại, và được hình thành trên
cơ sở tan rã của xã hội cổ đại. Quá trình suy vong của xã hội cổ đại phương Đông và xã
hội cổ đại phương Tây không giống nhau. Do vậy, sự hình thành xã hội phong kiến ở hai
khu vực này cũng có những điểm khác biệt. d. Đặc điểm
- Giai cấp trong xã hội phong kiến
+ Xã hội phong kiến gồm có hai giai cấp cơ bản là: địa chủ và nông dân lĩnh canh (ở
phương Đông), lãnh chúa phong kiến và nông nô (ở phương Tây).
+ Giai cấp thống trị (địa chủ, lãnh chúa phong kiến) có tài sản, quyền lực, chuyên áp
bức, bóc lột giai cấp bị trị là những người nghèo khổ, không có tài sản, không có quyền
dân chủ (nông dân lĩnh canh, nông nô) chủ yếu bằng địa tô. Tuy nhiên, từ thế kỉ XI, ở
phương Tây, sau khi thành thị trung đại, xuất hiện kinh tế công thương nghiệp phát triển và thị dân ra đời.
- Quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội phong kiến
+ Địa chủ ở phương Đông và lãnh chúa ở phương Tây đều nắm ruộng đất trong tay giao
cho nông dân, nông nô cày rồi thu địa tô.
+ Nông dân lĩnh canh ở phương Đông và nông nô ở phương Tây khi nhận ruộng của địa
chủ, lãnh chúa phải nộp một phần hoa lợi cho địa chủ, lãnh chúa gọi là địa tô.
+ Lãnh chúa có cuộc sống xa hoa, đầy đủ, có quyền lực tối cao, về ruộng đất. Họ đứng
đầu cơ quan pháp luật, thống trị nông nô về mặt tinh thần. Nông nô là lực lượng lao
động chính nhưng phải sống phụ thuộc vào lãnh chúa, khổ cực và đói nghèo.
- Bộ máy nhà nước của xã hội phong kiến
Thứ nhất, Ở phương Tây:
+ Đứng đầu nhà nước là nhà vua ( ở Ai Cập gọi là Pha-ra-ông,ở Lưỡng Hà là Enxin-
người đứng đầu,Trung Quốc gọi là Thiên Tử-con trời,ở Ấn Độ gọi là Pagio…).Vua
chuyên chế có quyền lực vô hạn,tuyệt đối,quyết định các vấn đề chiến tranh hay hoà 2
bình..Ngoài quyền lực về hành chính,vua còn nắm quyền lực tối cao về tôn giáo và
thường được coi là đại diện,hiện thân dòng dõi của thần thánh.
+ Sau vua là hệ thống quan lại gồm toàn quý tộc: Viên quan lớn cao giúp vua trị nước ở
Ai Cập là Liđia,ở Trung Quốc gọi là thừa tướng (đứng đầu quan văn) và Thái Uý (đứng
đầu quan võ),Dưới nữa là các quan giữ tài chính,lương thực,tư pháp,chỉ huy quân đội…
+ Bộ máy nhà nước cổ đại Phương Đông thường có 3 chức năng chính:
Quan lại phụ trách tài chính,coi sóc bảo tàng,giữ quốc khố…
Quan lại chỉ huy quân đội,tiến hành chiến tranh xâm lược,bóc lột các nước khác.
Quan lại coi sóc công tác thuỷ lợi,xây dựng đền đài….
Thứ hai, Ở phương Tây:
+ Đứng đầu nhà nước phương Tây là Đại Hội Công dân.Trong các đại hội,chỉ có nam
giới được tham dự. Đại hội bầu ra các quan chức nhà nước,thảo luận và thống nhất
các đạo luật, quyết định chiến tranh hay hoà bình và các vấn đề phát triển của đất nước….
+ Sau Đại Hội công dân là hội đồng dân biểu : Ở Hy Lạp có khoảng 400 đến 500 đại
biểu thay mặt toàn dân thường trực giữa 2 kỳ Đại Hội Công dân ; Ở La mã có viện
nguyên lão hay viện nguyên lão có quyền xác nhận những nghị quyết của Đại Hội Công
dân thông qua các dự án trước khi Đại Hội Công dân thảo luận
+ Hội đồng 500 bầu ra 10 viên chức điều hành công việc và có nhiệm kì một nam và có
thể bị bãi miễn nếu không hoàn thành nhiệm vụ.Cơ sở kinh tế của xã hội phong kiến
- Cơ sở kinh tế của xã hội phong kiến chủ yếu là kinh tế nông nghiệp kết hợp chăn nuôi
và một số nghề thủ công nghiệp.
+ Ở phương Đông: sản xuất nông nghiệp đóng kín trong các công xã nông thôn.
+ Ở phương Tây: sản xuất nông nghiệp đóng kín trong các lãnh địa phong kiến.
Ruộng đất nằm trong tay lãnh chúa hay địa chủ, giao cho nông dân hay nông nô cày cấy rồi thu tô, thuế.
e. Ưu điểm của xã hội phong kiến: Ở phương Tây:
- Các quốc gia cổ đại phương Tây, nền kinh tế phát triển theo hướng thương nghiệp thị
trường ,có điều kiện để phát triển mạnh các mặt: Nông,công thương,hàng hải. Chế độ tư hữu chiếm ưu thế.
- Kỹ thuật canh tác tiến bộ: biết dùng phân bón, gieo trồng theo thời vụ, dùng cày và bừa
cải tiến do hai ngựa kéo, …
- Nông nô được tự do trong quá trình sản xuất, có gia đình riêng, có túp lều để ở, có
nông cụ, có gia súc và quan tâm đến sản xuất hơn. Ở phương Đông:
- Kinh tế phương Đông cổ đại là nền kinh tế nông nghiệp, chế độ công hữu chiếm ưu thế. 2
- Xuất hiện công cụ bằng sắt làm cho diện tích gieo trồng được mở rộng, năng suất lao động tăng.
f. Nhược điểm của xã hội phong kiến:
- Cơ sở kinh tế của nhà nước phong kiến là quan hệ sản xuất phong kiến mà đặc trưng là
sở hữu của địa chủ, phong kiến về ruộng đất và bóc lột nông dân thông qua phát canh,
thu tô. Xã hội phong kiến có kết cấu phức tạp, giai cấp địa chủ, phong kiến được phân
chia thành nhiều đẳng cấp khác nhau phụ thuộc vào chức tước, phẩm hàm, đất đai, tài sản...
- Nông dân là bộ phận đông đảo nhất trong xã hội phong kiến nhưng đồng thời cũng là
đối tượng bị áp bức, bóc lột nặng nề, do vậy, đấu tranh giai cấp trong xã hội thường
xuyên xảy ra. Để bảo vệ lợi ích của mình, giai cấp địa chủ, phong kiến đã sử dụng mọi
biện pháp có thể, đẩy người nông dân vào những “đêm trường trung cổ”.
- Quan hệ sản xuất, phong tục tập lạc hậu lỗi thời và kém hiệu quả. Tồn tại và kéo dài hệ
thống tư tưởng trọng nam khinh nữ, nền giáo dục chưa được coi trọng.
- Chế độ hôn nhân thời phong kiến rất hạn chế quyền lợi của phụ nữ. Chẳng hạn như cho
phép đàn ông lấy nhiều vợ và thiếp (trong khi phụ nữ chỉ được phép lấy một chồng), vợ
không được quyền kiện chồng v.v...
- Chủ yếu là sản xuất và mua bán trong nước, chưa có sự giao lưu buôn bán với các quốc gia khác.
Tóm lại sự phát triển trong thời kì này được thể hiện rõ nhất qua sự sáng chế ra các
công cụ sản xuất bằng máy móc nhằm tăng nhanh về năng suất và cả chất lượng lao
động nhưng đồng thời cũng hình thành nên nhiều mâu thuẫn mới và quy mô ngày càng
mở rộng trong xã hội nổi bật là giữa địa chủ và nông dân. Giai đoạn này cũng là thời kì
phát triển của nhiêu kết cấu hạ tầng như sự hình thành nền giao dục sự phát triển lớn
trong nhận thức và tư duy về thế giới và con người của những nhà tri thức chủ yếu ở giai
cấp thống trị, địa chủ, hay sự phát triển hơn trong thể chế trinh trị mặc dù còn mang
nặng tinh giai cấp nhưng đó cũng là những điểm tiến bộ hơn so với thời kì trước.
4. Hình thái KTXH tư bản chủ nghĩa a. Lịch sử hình thành
- Chế độ phong kiến thế giới suy tàn vào thế kỷ thứ
XV- XVI. Năm 1506-1609, cuộc cách mạng tư sản
Hà Lan thắng lợi lật đổ ách thống trị của Tây Ban
Nha, thành lập nhà nước tư sản đầu tiên trên thế
giới.. Năm 1640, cách mạng tư sản Anh thắng lợi
đã mở đầu cho thời kỳ lịch sử cận đại toàn thế giới,
tức là mở đầu cho một thời đại mới mà nội dung là
thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa.
- Chủ nghĩa tư bản trỗi dậy
Vào những năm 80 của thế kỷ XIX chế độ phong kiến bị lật đổ ở châu Âu, Bắc Mỹ, ở
Nhật Bản (châu Á), chủ nghĩa tư bản được xác lập trên phạm vi rộng lớn, trở thành một 2
hệ thống chính trị kinh tế trên thế giới. Các cường quốc tư bản phương Tây đã tiến hành
xâm lược các nước Á, Phi, thiết lập nên hệ thống thuộc địa rộng lớn vào cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX. Toàn thế giới bị lôi cuốn vào quỹ đạo kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản. b. Ưu điểm
- Bộ máy nhà nước tư bản
Giai cấp tư sản đã xây dựng bộ máy nhà nước hoàn thiện hơn nhiều so với nhà nước nô
lệ và phong kiến, thể hiện qua các loại thiết chế.
+ Thiết chế cộng hòa
+ Thiết chế quân chủ nghị viện.
+ Thiết chế cộng hòa đại nghị
+ Thiết chế cộng hòa tổng thống
+ Thiết chế quân chủ (tư sản)
Có các hình thức nhà nước khác nhau như vậy là do hoàn cảnh cụ thể của từng nước, do
tương quan lực lượng trong cuộc đấu tranh giai cấp giữa tư sản, phong kiến và quần chúng nhân dân.
Thiết chế quân chủ hoặc quân chủ nghị viện là kết quả của một cuộc cách mạng tư
sản không triệt để. Giai cấp tư sản do lo sợ sức mạnh của quần chúng nhân dân sau khi
nắm được chính quyền đã phản bội lại nhân dân để bắt tay liên minh với phong kiến kẻ
thù của cách mạng tư sản.
Ngược lại, thiết chế cộng hòa là kết quả của một cuộc cách mạng tư sản triệt để loại
trừ quý tộc phong kiến khỏi bộ máy nhà nước, thủ tiêu tận gốc quyền sở hữu phong kiến
về ruộng đất, tức là thủ tiêu quý tộc phong kiến với tư cách là một giai cấp.
- Hiến pháp ra đời, luật pháp phát triển
+ Hiến pháp, đạo luật cơ bản của nhà nước ra đời làm nền tảng cho toàn bộ các văn bản
pháp luật sau này. Pháp luật tư sản đã chia thành các ngành luật ứng với các mối quan hệ
xã hội mà ngành luật đó điều chỉnh như luật hình sự, dân sự, luật hôn nhân gia đình, luật
tố tụng hình sự, tố tụng dân sự…
+ Pháp luật tư sản tiến bộ hơn pháp luật phong kiến không chỉ ở kỹ thuật lập pháp, ở
phát triển các ngành luật mà còn ở nội dung pháp luật quy định:
Sự bình đẳng của công dân trước pháp luật.
Thừa nhận quyền của phụ nữ về chính trị và kinh tế.
Ghi nhận quyền tự do của con người và quyền của công dân Trong đó nhấn mạnh
quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của quyền tư hữu tài sản.
Dù hạn chế ở tính chất giai cấp, nhà nước và pháp luật tư sản còn mang tính chất xã
hội. Trong khi phục vụ cho tư sản, nó buộc phải phục vụ cho toàn xã hội, thực hiện chức
năng quản lý xã hội, đưa xã hội vào khuôn khổ pháp luật tuân theo ý chí của giai cấp thống trị.
- Cách mạng kinh tế, công nghiệp 2
+ Giai cấp tư sản do nhu cầu đẩy mạnh sản xuất, tăng năng
suất lao động đã tiến hành cuộc cách mạng kinh tế, cách mạng
công nghiệp. Đưa lao động thủ công sang lao động máy móc
cơ mà trọng tâm là việc phát minh ra máy hơi nước của Jêm Oắt.
+ Cách mạng công nghiệp bắt đầu ở Anh vào cuối thế kỷ thứ
XVIII và đến cuối thế kỷ thứ XIX đã lan khắp các cường quốc châu Âu, Bắc Mỹ. Công
nghiệp hóa đã đưa loài người từ nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công
nghiệp, tạo nên một lực lượng sản xuất máy móc sắt thép vô cùng to lớn. Tạo nên năng
suất lao động cao gấp hàng trăm lần so với thời nô lệ, phong kiến. Làm ra nguồn của cải
gấp hàng nghìn năm trước cộng lại. Cách mạng công nghiệp đã tạo nên những ngành
nghề mới, phương tiện giao thông vận tải mới, đường sắt, ôtô, tàu thủy với tốc độ nhanh
chóng. Thành thị, xí nghiệp, nhà máy bành trướng, nông thôn thu hẹp, nông nghiệp được
cơ hóa, năng suất nâng cao chưa từng thấy. Cách mạng công nghiệp biến đổi sâu sắc xã
hội, cư dân đô thị tăng Ịên, giai cấp công nhân đại công nghiệp ra đời.
+ Phương tiện vận tải đường biển và lực lượng hải quân hùng mạnh với tàu chiến đại
bác và nhiều hóa khí, súng ống, đạn dược kiểu mới đã giúp cho các cường quốc có khả
năng mở rộng và xâm lược được nhiều thuộc địa.
c. Hạn chế và nguyên nhân - Phân chia giai cấp
+ Xã hội tư bản chủ nghĩa được chia làm hai giai cấp chính là tư sản và công nhân (vô
sản). Tư sản là giai cấp thống trị áp bức, bóc lột. Tư sản bao gồm nhiều tầng lớp: tư sản
công nghiệp, thương nghiệp, ngân hàng. Giai cấp này có được địa vị áp bức, bóc lột
thống trị nhờ nắm giữ được các tư liệu sản xuất như ruộng đất, hầm mỏ, nhà máy, xí
nghiệp, ngân hàng và các ngành kinh tế quan trọng khác của đất nước
+ Cách thức bóc lột của chủ nghĩa tư bản: dựa trên kiểu bóc lột giá trị thặng dư, bóc lột
sức lao động của giai cấp công nhân. Cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư
bản là quan hệ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê. Mặc dù so với các
hình thức bóc lột đã từng tồn tại trong lịch sử, bóc lột tư bản chủ nghĩa cũng đã là một
sự tiến bộ, song theo sự phân tích của C.Mác và V.I.Lênin thì chừng nào chủ nghĩa tư
bản còn tồn tại thì chừng đó quan hệ bóc lột còn tồn tại và sự bất bình đẳng, phân hóa
xã hội vẫn là điều không tránh khỏi.
- Hạn chế về luật pháp
Dù là tiến bộ hơn chế độ nô lệ và phong kiến, nhà nước và pháp luật tư sản vẫn mang
đậm bản chất giai cấp, là công cụ phục vụ đắc lực bảo vệ quyền lợi cho giai cấp tư sản,
sẵn sàng đàn áp những giai cấp khác để bảo vệ trật tự tư sản.
- Chiến tranh, xâm lược thuộc địa
+ Trên con đường tranh giành thuộc địa, các cường quốc tư bản mâu thuẫn với nhau gay
gắt dẫn đến những cuộc xung đột chiến tranh giữa các cường quốc. Cuối thế kỷ thứ XIX
đầu thế kỷ thứ XX, chủ nghĩa tư bản phát triển lên chủ nghĩa đế quốc thuộc địa. Các
nước tư bản chủ nghĩa chia thành hai khối: khối Đồng minh bao gồm Đức, Áo, Hung; 2
khối Hiệp ước bao gồm Anh, Nga, Pháp. Khối Đức, Áo, Hung quyết tâm giải quyết
tranh chấp bằng biện pháp vũ lực và đã phát động cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất
(1914-1918) thảm khốc trong lịch sử.
+ Các cuộc chiến tranh thế giới với mục đích tranh giành thị trường, thuộc địa và khu
vực ảnh hưởng đã để lại cho loài người những hậu quả nặng nề: hàng triệu người vô tội
đã bị giết hại, sức sản xụất của xã hội bị phá hủy, tốc độ phát triển kinh tế của thế giới bị
kéo lùi lại hàng chục năm.
+ Chủ nghĩa tư bản sẽ phải chịu trách nhiệm chính trong việc tạo ra hố ngăn cách giữa
các nước giàu và các nước nghèo trên thế giới (thế kỷ XVIII chênh lệch về mức sống
giữa nước giàu nhất và nước nghèo nhất mới chỉ là 2,5 lần, hiện nay số chênh lệch ấy là 250 lần).
Tóm lại, chủ nghĩa tư bản ngày nay với những thành tựu và đóng góp của nó đối với
sự phát triển của nền sản xuất xã hội, là sự chuẩn bị tốt nhất những điều kiện, tiền đề cho
sự ra đời của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Nhưng bước chuyển từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội vẫn phải thông qua các cuộc cách mạng xã hội. Dĩ
nhiên, cuộc cách mạng xã hội sẽ diễn ra bằng phương pháp nào - hòa bình hay bạo lực,
điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của từng nước và bối
cảnh quốc tế chung từng thời điểm, vào sự lựa chọn của các lực lượng cách mạng.
5. Hình thái KTXH cộng sản chủ nghĩa a.Khái niệm
Chủ nghĩa cộng sản là một hình thái kinh tế xã hội và
hệ tư tưởng chính trị ủng hộ việc thiết lập xã hội phi
nhà nước, không giai cấp, tự do, bình đẳng, dựa trên
sự sở hữu chung và điều khiển chung đối với các
phương tiện sản xuất nói chung. Karl Marx cho rằng
chủ nghĩa cộng sản sẽ là giai đoạn cuối cùng của lịch
sử, đạt được qua một cuộc cách mạng vô sản. Trong
xã hội cộng sản, các quyết định về việc sản xuất cái gì và theo đuổi những chính sách gì
được lựa chọn một cách dân chủ, cho phép mọi thành viên của xã hội tham gia vào quá
trình quyết định trong cả hai lĩnh vực chính trị và kinh tế. Việc sản xuất và phân phối
của cải được tiến hành công bằng giữa các công dân. Một nền kinh tế cộng sản chủ
nghĩa sẽ dựa trên sở hữu toàn dân đối với các tư liệu sản xuất. b.Đặc điểm - Sở hữu:
Trong xã hội cộng sản không còn sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, không còn sự phân
phối thu nhập xã hội dựa trên lao động, không còn sự tha hóa của lao động là đặc trưng
của chủ nghĩa tư bản. Con người được giải phóng khỏi phân công lao động do nền sản
xuất công nghiệp tạo ra để phát huy hết sở trường của mình. - Giai cấp:
+ Trong giai đoạn xã hội chủ nghĩa, vẫn còn có sự phân công lao động do đó vẫn tồn tại
giai cấp theo phân công lao động là công nhân và nông dân, và tầng lớp trí thức. Sự phát 2