



Preview text:
Quản lý tài chính công
Câu hỏi: Phân tích các nguyên nhân dẫn đến bội chi ngân sách nhà nước. Lấy ví dụ minh họa.
Bội chi ngân sách nhà nước là một vấn đề nan giải mà nhiều quốc gia đều phải đối
mặt: từ các nền kinh tế đang phát triển đến các nền kinh tế phát triển. Bội chi ngân sách
nhà nước không chỉ phản ánh thực trạng tài khóa của một quốc gia mà còn có tác động
sâu rộng đến nền kinh tế vĩ mô. Dưới đây là các nguyên nhân cơ bản của bội chi ngân sách nhà nước.
Ngân sách là một khái niệm chung để chỉ ngân sách của các hộ gia đình, các doanh
nghiệp và ngân sách của khu vực chính phủ. Ngân sách nhà nước là một phạm trù và có
nhiều góc độ để để đánh giá: góc độ kinh tế, góc độ chính trị, góc độ pháp luật và góc độ
quản lý. Có thể hiểm nôm na Ngân sách: tổng số thu và chi của một đơn vị trong một thời
gian nhất định. Tuy nhiên theo quy định của pháp luật cụ thể: khoản 14 Điều 4 Luật Ngân
sách nhà nước năm 2015 thì Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà
nước được dự toán và thực hiện trong mội khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Ngân sách nhà nước là công cụ huy động các nguồn lực tài chính quốc gia để đảm
bảo cho nhu cầu chi tiêu của nhà nước và thực hiện cân đối thu chi. Khi chi mà vượt hơn thu thì là bội chi.
Bội chi ngân sách nhà nước trong một năm là số chênh lệch giữa tổng chi ngân
sách nhà nước lớn hơn tổng thu ngân sách nhà nước của năm đó.
Từ khái niệm trên ta có thể xác định bội chi ngân sách với công thức như sau: Bội chi ngân sách nhà =
Tổng chi ngân sách nhà - Tổng thu ngân sách nhà nước nước nước
Theo khoản 1 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước 2015: Bội chi ngân sách nhà nước
bao gồm bội chi ngân sách trung ương và bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh. Bội chi
ngân sách trung ương được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách nhà
trung ương không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách trung ương. Bội chi ngân 1
sách địa phương cấp tỉnh là tổng hợp bội chi ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương,
được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách cấp tỉnh không bao gồm
chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách cấp tỉnh của địa phương.
Bội chi NSTW = Tổng chi NSTW (không gồm chi trả nợ gốc) – tổng thu NSTW
Bội chi NSĐP cấp tỉnh = Tổng mức bội chi ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương
Bội chi NS cấp tỉnh của từng địa phương = Tổng chi ngân sách cấp tỉnh (không
bao gồm chi trả nợ gốc) – Tổng thu ngân sách cấp tỉnh.
Thu ngân sách nhà nước bao gồm:
- Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phí
- Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực
hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí
thu từ hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước
thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật
- Các khoản viện trợ không hoàn lại
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Chi ngân sách nhà nước bao gồm: - Chi đầu tư phát triển - Chi dự trữ quốc gia - Chi thường xuyên - Chi trả nợ lãi - Chi viện trợ
- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
Nguyên nhân của bội chi ngân sách nhà nước
Tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước: đây là nguyên nhân cơ bản
nhất gây ra bội chi ngân sách nhà nước. Trong một số giai đoạn nhất định, khi Nhà nước
thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi ngân
sách nhà nước. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước
làm mức bội chi ngân sách nhà nước giảm bớt. 2
Ví dụ: Nhà nước đẩy mạnh xây dựng dự án đường cao tốc Bắc – Nam giai đoạn
2021-2025. Dự án đường cao tốc Bắc – Nam thuộc nhóm chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng. Việc này giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện giao thông, thu hút đầu tư. Việc
đầu tư hệ thống đường cao tốc Bắc – Nam làm tăng bội chi trong ngắn hạn nhưng về dài
hạn sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng, từ đó tăng các nguồn thu từ hoạt động kinh tế,
thuế, phí giúp cân đối lại ngân sách nhà nước, giảm bội chi ngân sách nhà nước.
Sai lầm trong chính sách, trong công tác quản lý kinh tế - tài chính, bất cập của quá
trình phân cấp ngân sách nhà nước cho địa phương, điều hành ngân sách không hợp lý
dẫn đến hạn chế khai thác nguồn thu cho ngân sách nhà nước,… làm cho nền kinh tế trì
trệ cũng có thể dẫn tới bội chi ngân sách nhà nước.
Ví dụ: Cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp năm 2009. Trước khủng hoảng Hy
Lạp đã thực hiện nhiều chính sách tài khóa mở rộng bao gồm tăng chi tiêu công và giảm
thuế mà không có các biện pháp bù đắp nguồn thu. Công tác quản lý yếu kém dẫn đến
việc không kiểm soát được chi tiêu công. Sau khủng hoảng Hy Lạp đã phải thực hiện các
chính sách thắt lưng buộc bụng từ các gói cứu trợ của Liên minh Châu Âu cũng như Quỹ
Tiền Tệ quốc tế. Đây tiếp tục là một sai lầm tác động tiêu cực đến đến nền kinh tế, tỷ lệ
thất nghiệp tăng gấp 3 lần , thâm hụt ngân sách tiếp tục tăng.
Tác động của chu kỳ kinh tế: Chu kỳ kinh tế là sự biến động của GDP thực tế với
hai giai đoạn chính là khủng hoảng và thịnh vượng. Trong giai đoạn khủng hoảng, tiêu
dùng giảm mạnh dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo theo đầu tư cũng giảm và
kết quả là GDP thực tế giảm sút, thất nghiệp tăng, lợi nhuận của doanh nghiệp giảm dẫn
đến những hậu quả tiêu cực về kinh tế xã hội. Nguồn thu nhập của Nhà nước luôn gắn
chặt với kết quả hoạt động kinh tế trong nước, vì vậy trong giai đoạn khủng hoảng thu
ngân sách nhà nước giảm. Nhưng nhu cầu chi của ngân sách nhà nước lại tăng lên để giải
quyết những khó khăn về kinh tế xã hội. Điều đó làm cho mức bội chi ngân sách nhà
nước tăng lên. Ở giai đoạn kinh tế thịnh vượng, tiêu dùng và sản xuất đều phát triển, GDP
thực tế tăng làm thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi của Nhà nước cũng tăng
nhưng tăng chậm hơn tốc độ tăng thu. Điều đó làm giảm mức bội chi ngân sách nhà nước.
Ví dụ: Cuộc khủng hoảng nợ Châu Á (1997) tại Hàn Quốc. Ảnh hưởng từ khủng
hoảng kinh tế trong khu vực, tiêu dùng giảm mạnh: các doanh nghiệp lớn tại Hàn Quốc
như Daewoo, KIA,… gặp khó khăn về tài chính, nhiều công ty lâm vào tình trạng phá
sản, tỉ lệ thất nghiệp tăng cao, người dân có xu hướng tiếp tiệm chi tiêu. Thu ngân sách 3
giảm. Chính phủ tăng các biện pháp chi tiêu hỗ trợ nhằm mục đích cứu hệ thống ngân
hàng, đảm bảo an sinh xã hội, ổn định nền kinh tế. Điều đó làm bội chi ngân sách nhà
nước tăng lên. Hàn Quốc thực hiện hàng loạt các biện pháp cải cách đặc biệt tái cấu trúc
các doanh nghiệp lớn, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài để tăng cường hiệu quả kinh
tế. Nền kinh tế bắt đầu tăng trưởng trở lại, tiêu dùng và sản xuất phục hồi làm do nguồn
thu ngân sách tăng lên, nhà nước thu được nhiều hơn. Nguồn thu tăng mạnh từ đó giảm
bội chi ngân sách nhà nước.
Một số nguyên nhân dến từ thiên tai, dịch bệnh, địch họa,…: Nếu gây tác hại lớn
cho nền kinh tế thì chúng sẽ là những nguyên nhân làm giảm thu, tăng chi và dẫn tới bội chi ngân sách nhà nước.
Ví dụ: Dịch bệnh Covid 19. Dịch bệnh Covid 19 bùng phát đã nhanh chóng lan
rộng ra trên cả nước và gây ra thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế. Với tốc độ lây lan nhanh
chóng, nhiều nơi đã phải tổ chức cách ly phong tỏa nhằm tránh lây lan ra cộng đồng. Việc
phong tỏa khiến các hoạt động sản xuất bị đình trệ, các ngành dịch vụ như du lịch, hàng
không, dịch vụ lưu trú ăn uống bị ảnh hưởng nặng nề. Chi phí sản xuất hàng hóa tăng cao,
người dân có xu hướng thắt chặt chi tiêu, nhiều doanh nghiệp phá sản dẫn đến giảm thu
cho ngân sách nhà nước. Nhà nước tăng chi tiêu để hỗ trợ hệ thống y tế, hỗ trợ doanh
nghiệp, cung cấp nhiều gói kinh tế hỗ người dân bị ảnh hưởng như giảm thuế GTGT. Sự
kết hợp giữa giảm thu và tăng chi dẫn tới bội chi ngân sách nhà nước.
Bội chi ngân sách nhà nước có thể là một biện pháp kích thích tăng trưởng nền
kinh tế, nhưng cũng có thể gây nhiều hệ lụy. Do đó nhà nước cần có các biện pháp quản
lý và giám sát chặt chẽ, đảm bảo bội chi không vượt quá mức kiểm soát và có các biện
pháp hiệu quả để giảm bội chi khi cần thiết. 4