Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN -------- -------- ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN Đề tài:
NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG
PHÁP LUẬN. LIÊN HỆ VỚI QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN Nhóm: 6
Lớp học phần: 22112MLNP0221
Người hướng dẫn: Giảng viên PHẠM THỊ HƯƠNG Hà Nam, tháng... năm... MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 2 PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3 . PHẠM Ⅰ3 TRÙ LÝ LUẬN
1. Khái niệm, đặc trưng, tính chất và cấu trúc hoạt động của lý luận 3
2. Quan niệm về nhận thức trong lịch sử triết học 4
3. Lý luận nhận thức duy vật biện chứng 5 II. PHẠM TRÙ THỰC TIỄN 5 1. Khái niệm 5
2. Những đặc trưng cơ bản của hoạt động thực tiễn 6
3. Các dạng hoạt động thực tiễn cơ bản 7
III. NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1. Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận. Lý luận hình
thành và phát triển từ sản xuất, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn 7
2. Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận, ngược lại, lý luận phải được vận dụng vào
thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn 9
IV. Ý NGHĨA CỦA PHƯƠNG PHÁP LUẬN 9
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN VÀO QUÁ TRÌNH HỌC TẬP VÀ RÈN LUYỆN CỦA SINH VIÊN 11
I. TÌNH HÌNH HỌC TẬP VÀ RÈN LUYỆN CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 11
1. Thực trạng của quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên hiện nay 11
2. Những điểm tích cực trong quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên 11
3. Những điểm hạn chế trong quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên hiện nay 12
4. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế 14 . PHƯƠNG HƯỚNG ⅠⅠ
VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ VÀ
TIẾP TỤC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP VÀ RÈN LUYỆN CỦA SINH VIÊN TRONG THỜI GIAN TỚI 16
1. Những phương hướng để khắc phục hạn chế và tiếp tục nâng cao chất lượng học
tập và rèn luyện của sinh viên trong thời gian tới 16
2. Những giải pháp để nâng cao hiệu quả của quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên trong thời gian tới 18 PHẦN KẾT LUẬN 21 TÀI LIỆU THAM KHẢO 22 1 PHẦN MỞ ĐẦU
Trong thực tiễn cuộc sống hàng ngày, chúng ta đều bắt gặp khá nhiều về khái
niệm lý luận và thực tiễn. Hiện nay, khoa học đang giành sự quan tâm rất lớn đến
việc nghiên cứu về lý luận và thực tiễn trong triết học. Lý luận và thực tiễn là hai khái
niệm được xác định là luôn song hành với nhau trong mọi hoạt động và hiếm khi
chúng tách rời nhau để hoạt động độc lập. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là
một trong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Lần đầu tiên trong
lịch sử triết học, C. Mác đã phát hiện ra sức mạnh của lý luận là ở mối liên hệ của nó
với thực tiễn, cũng như sức mạnh của thực tiễn là ở mối quan hệ của nó với lý luận.
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự thống nhất biện chứng. Thực tiễn luôn
vận động, biến đổi, do đó mà lý luận cũng không ngừng phát triển theo, sự thống nhất
biện chứng giữa chúng vì thế cũng có những nội dung cụ thể và những biểu hiện khác
nhau trong mỗi giai đoạn nhất định. Việt Nam sau khi thực hiện công cuộc đổi mới đã
đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa và đặc biệt
là trong giáo dục. Để đạt được những thành quả đáng tự hào như vậy là nhờ vào
đường lối của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng đúng đắn lý luận của chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn nước ta. Hiện nay, trong môi
trường đại học sinh viên đã cùng nhau học tập và phát triển, áp dụng mối liên hệ giữa
lý luận và thực tiễn để từ đó rút ra bài học, tích lũy những kinh nghiệm quý báu cho
con đường phát triển của bản thân. Tuy nhiên vẫn còn những nhận thức chưa đúng
đắn, chưa triệt để về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, để làm sáng tỏ
những nhận thức chưa đúng đắn đó nhóm 6 đã nghiên cứu và phân tích đề tài:
"Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thưc tiễn, ý nghĩa phương pháp luận." Đề tài
được thảo luận nhằm mục đích vận dụng kiến thức đã học, nêu lên nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn từ đó đưa ra những nhận định, phương hướng vận dụng
vào quá trình học tập, rèn luyện của sinh viên hiện nay. Đồng thời, đề tài góp phần
nâng cao năng lực nghiên cứu, thảo luận cho các thành viên trong nhóm. Quá trình
tìm hiểu còn nhiều thiếu sót mong nhận được sự góp ý của giảng viên và các bạn. Xin chân thành cảm ơn! 2 PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Ⅰ . PHẠM TRÙ LÝ LUẬN
1. Khái niệm, đặc trưng, tính chất và cấu trúc hoạt động của lý luận a. Khái niệm
Lý luận là quan niệm, học thuyết với tư cách là kết quả của một quá trình nhận thức nhất định.
Ví dụ: Học thuyết giá trị, học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết về CNTB độc quyền,..
Lý luận là một quá trình nhận thức - hoạt động lý luận.
Ví dụ: Từ nhận thức cảm tính đến lý tính đến thực tiễn
Lý luận học có quan hệ mật thiết với nhiều môn khoa học khác như triết học,
logic học, chính trị học, xã hội học…
+ Toán học: đối tượng nghiên cứu là quan hệ số lượng, hình dạng trong thế giới khách quan
+ Triết học: đối tượng nghiên cứu là chính trị và các hình thái của chính trị
+ Kinh tế học: đối tượng nghiên cứu là các quan hệ sản xuất, các quy luật chi
phối quá trình sản xuất...
Kết luận: Lý luận là sự khái quát kinh nghiệm thực tiễn, là hệ thống các tri thức
phản ánh khách quan, bản chất thế giới tự nhiên và xã hội loài người, được biểu hiện
bằng các học thuyết, các quy luật, phạm trù, khái niệm.
Ví dụ: Chủ nghĩa Mác - Lênin chính là lý luận.
b. Những đặc trưng và tính chất của lý luận Đặc trưng
Về nội dung phản ánh: Lý luận là phản ánh cái bên trong, cái tất yếu của đối
tượng. Cái bên trong, tất yếu này có thể là cái chung, cái bản chất, cái căn bản, cái
quy luật của đối tượng, lý luận có thể phản ánh cái bên trong, cái tất yếu của sự vật
trong tính chỉnh thể, toàn vẹn của nó, nhưng cũng có thể chỉ phản ánh cái bên trong,
tất yếu của từng mặt nào đó của đối tượng.
Về hình thức phản ánh: Lý luận biểu hiện, trình bày đối tượng trong hình thức
những khái niệm, phạm trù, quy luật hoặc hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật. Tính chất
Lý luận có tính chất trừu tượng hóa, khái quát hóa, tổng hợp và những tính
chất này hình thành trên cơ sở của phân tích, so sánh. Tính chất này thể hiện không
chỉ trong quá trình hoạt động, mà cả trong kết quả của hoạt động lý luận và nó thể
hiện rõ ở việc chủ thể sử dụng những công cụ là các phạm trù, khái niệm, quy luật
trong hoạt động nhận thức.
Xét về mặt tâm lý, lý luận biểu hiện rõ tính chủ thể của con người 3
Lý luận mang tính khuynh hướng, có lý luận tiên tiến, cách mạng, có lý luận
bảo thủ, phản cách mạng, có lý luận giáo điều, chiết trung, nguỵ biện, duy lý, phi duy
lý, duy khoa học, có lý luận khoa học và không khoa học, phản khoa học v.v. Tuy
nhiên, tính khuynh hướng của lý luận không phải là quá trình tự thân của lý luận, mà do thực tiễn quy định.
c. Cấu trúc của hoạt động lý luận
Hoạt động lý luận là một hệ thống bao gồm những yếu tố và điều kiện cấu thành cơ bản:
Chủ thể (người hoạt động lý luận): là con người hoạt động lý luận, có nhu
cầu, mục đích, tiềm năng, năng lực trí tuệ, thể lực, tinh thần nói chung, có kỹ năng,
kinh nghiệm, các phương tiện, công cụ hoạt động lý luận, đặc trưng cho nó.
Đối tượng của hoạt động lý luận: là những khách thể mà chủ thể lý luận tác
động vào nhằm khám phá, nắm bắt những quá trình bên trong, tất yếu của chúng.
Điều kiện của chủ thể hoạt động lý luận: là môi trường tự nhiên, xã hội và văn
hóa cùng với những yếu tố, quá trình vật chất và tinh thần mà trong đó hoặc trên đó
hoạt động lý luận diễn ra.
Sản phẩm hoạt động của lý luận: là những học thuyết, quan niệm hay tư duy,
là năng lực tư duy nâng lên sau hoạt động, là quá trình kết tinh, chuyển hóa lý luận
vào các lĩnh vực nhận thức khác.
2. Quan niệm về nhận thức trong lịch sử triết học
a. Khái niệm lý luận nhận thức
Lý luận nhận thức có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ: “Gnosis” – Tri thức và
“Logos” – Lời nói, học thuyết.Lý luận nhận thức nghiên cứu bản chất của nhận thức,
những hình thức, các giai đoạn của nhận thức, con đường để đạt tới chân lý, tiêu
chuẩn của chân lý…Trong lịch sử triết học, xuất phát từ lập trường thế giới quan khác
nhau, các trào lưu triết học có quan điểm khác nhau về lý luận nhận thức. Trong lịch
sử triết học, xuất phát từ lập trường thế giới quan khác nhau, các trào lưu triết
học có quan điểm khác nhau về lý luận nhận thức
b. Quan điểm về chủ nghĩa duy tâm
CNDT chủ quan: Nhận thức là sự phản ánh trạng thái chủ quan của con người.
CNDT khách quan: Nhận thức là quá trình hồi tưởng nhớ lại những tri thức đã
có ở thế giới ý niệm, là quá trình tự ý thức (tự nhận thức) của tinh thần thế giới.
Quan điểm của thuyết không thể biết: Con người không thể nhận thức được bản chất thế giới.
c. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác: thừa nhận con người có khả
năng nhận thức thế giới và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người.
CNDV siêu hình: nhận thức chỉ là sự phản ánh thụ động, giản đơn, không có
quá trình vận động, biến đổi, không phải là quá trình biện chứng.
CNDV cận đại: phản ánh chỉ là sự tiếp nhận thụ động một chiều những tác
động trực tiếp của sự vật lên giác quan của con người. 4
d. Các nguyên tắc xây dựng lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Thừa nhận sự vật khách quan tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức của con người.
Cảm giác, tri giác, ý thức nói chung là hình ảnh của thế giới khách quan.
Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra hình ảnh đúng, hình ảnh sai của cảm giác, ý thức nói chung.
3. Lý luận nhận thức duy vật biện chứng
a. Nguồn gốc của nhận thức
Nguồn gốc của nhận thức: thế giới vật chất tồn tại độc lập với con người, đó là
nguồn gốc “duy nhất và cuối cùng” của nhận thức.
Ví dụ: Pháp luật là công cụ để nhà nước quản lí xã hội, mọi người dân nhận
thức được tầm trọng của Pháp luật, nếu vi phạm sẽ bị Nhà nước trừng phạt. Do đó,
người dân sẽ luôn sống và làm việc tuân theo pháp luật của nhà nước.
b. Bản chất của nhận thức
Bản chất của nhận thức là thừa nhận khả năng nhận thức của con người
Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người.
Nhận thức là quá trình biện chứng có vận động và phát triển, đi từ chưa
biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ chưa đầy đủ đến đầy đủ hơn
Nhận thức là quá trình tác động biện chứng giữa chủ thể và khách thể
thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Kết luận: Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách tích
cực, chủ động, sáng tạo bởi con người trên cơ sở thực tiễn mang tính lịch sử cụ thể.
c. Các cấp độ của quá trình nhận thức:
Căn cứ trên mức độ thâm nhập vào bản chất của đối tượng nhận thức, có
thể chia thành nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận:
Nhận thức kinh nghiệm là loại nhận thức hình thành từ quan sát trực tiếp
các sự vật, hiện tượng hay các thí nghiệm, thực nghiệm khoa học → hình thành tri
thức kinh nghiệm thông thường và tri thức thực nghiệm khoa học.
Nhận thức lý luận là nhận thức sự vật, hiện tượng một cách gián tiếp dựa
trên các hình thức tư duy trừu tượng để khái quát về bản chất, quy luật và tính tất
yếu của các sự vật, hiện tượng.
Căn cứ trên tính chất tự phát hay tự giác của quá trình nhận thức, có thể
chia thành: nhận thức thông thường và nhận thức khoa học:
Nhận thức thông thường hình thành một cách tự phát, trực tiếp trong
hoạt động hàng ngày của con người.
Nhận thức khoa học hình thành chủ động, tự giác của chủ thể nhằm phản
ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của đối tượng nghiên cứu. II. PHẠM TRÙ THỰC TIỄN 1. Khái niệm
Các nhà triết học theo chủ nghĩa duy tâm cho rằng: hoạt động nhận thức, hoạt
động của ý thức, hoạt động của tinh thần nói chung là hoạt động thực tiễn. 5
Ví dụ: Quan điểm của Hêghen (nhà triết học duy tâm khách quan người Đức):
thực tiễn chỉ là tư tưởng, khái niệm thực tiễn chứ không phải bản thân thực tiễn với tư
cách là hoạt động vật chất.
Các nhà triết học tôn giáo cho rằng: hoạt động sáng tạo ra vũ trụ của thượng
đế là hoạt động thực tiễn.
Với chủ nghĩa duy vật siêu hình cho rằng: sự vật, hiện thực, cái cảm giác
được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ
không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn.
Ví dụ: Quan điểm của Phoiơbắc (nhà triết học duy vật siêu hình người Đức):
thực tiễn chỉ là các hoạt động bẩn thỉu của các con buôn.
Các nhà triết học duy vật trước Mác đã có những đóng góp cho quan điểm duy
vật về nhận thức, nhưng chưa một đại biểu nào hiểu đúng được bản chất của thực tiễn
cũng như vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, thực tiễn là toàn bộ những hoạt động
vật chất - cảm tính, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã
hội phục vụ nhân loại tiến bộ.
2. Những đặc trưng cơ bản của hoạt động thực tiễn
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng thực tiễn gồm những đặc trưng sau:
Thực tiễn là những hoạt động vật chất - cảm tính mà không phải là toàn bộ
hoạt động của con người. Theo như lời của C. Mác, đó là những hoạt động vật chất
của con người cảm giác được, nghĩa là con người có thể quan sát trực quan được các
hoạt động vật chất này.
Ví dụ: Người nông dân sử dụng liềm để gặt lúa.
Hoạt động thực tiễn là những hoạt động mang tính lịch sử - xã hội của con
người. Thực tiễn là hoạt động chỉ diễn ra trong xã hội, với sự tham gia của đông đảo
người trong xã hội và hoạt động thực tiễn luôn bị giới hạn bởi những điều kiện lịch
sử - xã hội cụ thể. Đồng thời, thực tiễn có trải qua các giai đoạn lịch sử phát triển cụ thể nó.
Ví dụ: Hoạt động bầu cử Đại biểu Quốc Hội.
Thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục
vụ con người. Khác với các loài động vật khác chỉ biết dùng hoạt động bản năng, tự
phát thích nghi thụ động với thế giới; con người bằng và thông qua hoạt động thực
tiễn, chủ động tác động vào thế giới để cải tạo thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu của
mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới.
Ví dụ: Hành động học tập của con người
Nếu cắt theo chiều dọc, thực tiễn bao gồm mục đích, phương diện và kết quả.
Để đạt mục đích trong hoạt động thực tiễn của mình, con người phải lựa chọn phương
tiện (công cụ) để thực hiện.
Dù xét theo chiều dọc hay chiều ngang thì thực tiễn là hoạt động thể hiện tính
mục đích, tính tự giác cao của con người, chủ động tác động, làm biến đổi tự nhiên, 6
xã hội, phục vụ con người. Hoạt động thực tiễn là hoạt động cơ bản, phổ biến của con
người và xã hội loài người. Không có hoạt động thực tiễn thì bản thân con người và
xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển.
3. Các dạng hoạt động thực tiễn cơ bản
Thực tiễn tồn tại dưới 3 hình thức cơ bản sau: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt
động chính trị - xã hội, hoạt động thực nghiệm khoa học.
Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức thực tiễn xuất hiện sớm, cơ bản,
quan trọng nhất, vì khi con người mới xuất hiện đã phải tiến hành sản xuất vật chất để
tồn tại. SXVC biểu thị mối quan hệ của con người với tự nhiên và là phương thức tồn
tại cơ bản của con người và xã hội loài người. SXVC còn là cơ sở cho sự tồn tại của
các hình thức thực tiễn khác, hoạt động sống khác của con người.
Ví dụ: Hoạt động trồng rau, trồng hoa màu của người dân, hoạt động sản xuất
giày, dép, sản xuất ô tô của các công nhân tại nhà máy, xí nghiệp...
Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động thực tiễn thể hiện tình tự giác cao
của con người nhằm biến đổi, cải tạo xã hội, phát triển các thiết chế xã hội, các quan
hệ xã hội... Hoạt động chính trị - xã hội gồm các hoạt động: đấu tranh giai cấp, dân
chủ, tiến bộ xã hội, đấu tranh cải tạo các quan hệ chính trị- xã hội nhằm tạo môi
trường xã hội dân chủ, lành mạnh, thuận lợi cho con người phát triển.
Ví dụ: Hoạt động bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội, tiến hành hội nghị công
đoàn, hoạt động tình nguyện giúp đỡ nhân dân vùng núi, vùng sâu xa xây dựng đường xá...
Hoạt động thực nghiệm khoa học là hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn
- con người tạo ra điều kiện không có sẵn trong tự nhiên để thực nghiệm khoa học
theo mục đích đã đề ra. Trên cơ sở đó, vận dụng thành tựu khoa học, kỹ thuật, công
nghệ vào SXVC, cải tạo chính trị - xã hội và các quan hệ chính trị - xã hội. Ngày nay,
khi cách mạng khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, "tri thức xã hội phổ biến
đã chuyển hóa thành lực lượng sản xuất trực tiếp" thì hình thức hoạt đông thực tiễn
này càng quan trọng. Đặc biệt là trong quá trình phát triển và đổi mới đất nước.
Ví dụ: Nghiên cứu ra vacxin COVID-19, hoạt động nghiên cứu, thí nghiệm để
tìm ra nguồn năng lượng mới, vật liệu mới tốt hơn...
Ba hình thức thực tiễn này có quan hệ biện chứng, tác động, ảnh hưởng qua lại
lẫn nhau, trong đó, sản xuất vật chất có vai trò quan trọng, quyết định nhất nhưng 2
hình thức thực tiễn kia có ảnh hượng quan trọng tới sản xuất vật chất.
III. NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận. Lý luận
hình thành và phát triển từ sản xuất, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn
a. Thực tiễn là cơ sở của lý luận
Thực tiễn quy định nội dung lý luận, xét một cách trực tiếp thì tất cả những kiến
thức được tổng hợp thành lý luận đều được kết quá của quá trình nghiên cứu, hoạt 7
động thực tiễn của con người. Thông qua kết quả của việc hoạt động thực tiễn, mọi
kết quả của quá trình dù cho thất bại hay thành công cũng đều cho chúng ta biết được
tính chất, cấu trúc và các mối quan hệ của các yếu tố, các điều kiện trong các hình
thức thực tiễn để hình thành lý luận. Vì vậy, Ph. Ăngghen đã khẳng định: “chính việc
người ta biến đổi tự nhiên... là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con
người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đã học cải biến
tự nhiên”. Mặt khác, những hoạt động nghiên cứu thực tiễn của con người làm sinh ra
những vấn đề mới đòi hỏi trình độ nhận thức cao hơn để có thể giải quyết. Thông qua
đó, lý luận được bổ sung và mở rộng. Có thể nói rằng lý luận nảy sinh từ thực tiễn,
thực tiễn quy định nội dung lý luận. Như vậy, thực tiễn chính là nền tảng để nhận
thức con người nảy sinh, tồn tại và phát triển.
Ví dụ: Qua những lần quan sát khi nung nóng thanh sắt thì thanh sắt chuyển màu
vàng rực, từ đó đưa ra kết luận thanh sắt sẽ bị chuyển màu khi bị nung nóng.
b. Thực tiễn là động lực của lý luận
Lý luận được vận dụng làm phương pháp cho hoạt động thực tiễn, mang lại lợi
ích cho con người, đồng thời kích thích cho con người được phát triển những khái
niệm của lý luận. Chính vì thế mà con người ngày càng lý luận sâu sắc và phong phú,
đầy đủ hơn. Nhờ vậy, thực tiễn thúc đẩy sự hình thành khoa học lý luận.
c. Thực tiễn là mục đích của lý luận
Mặc dù lý luận cho ta những tri thức, kiến thức phong phú về cuộc sống xung
quanh, nâng cao những hoạt động nghiên cứu và phát triển nhưng tự thân lý luận
không thể tạo ra những sản phẩm đó mà qua trình đó phải thông qua những hoạt
động, thí nghiệm thực tiễn. Nhu cầu sản xuất vật chất và cải tạo xã hội làm con người
bắt buộc phải nhận thức thế giới xung quanh. Nếu không có thực tiễn, nhận thức sẽ
không tìm được phương hướng. Các tri thức khoa học chỉ khi được áp dụng vào thực
tiễn thì mới có ý nghĩa. Chính vì vậy mà lý luận sinh ra để đáp ứng nhu cầu hoạt
động thực tiễn của con người.
Ví dụ: Trong hoạt động thực tiễn, con người dân tự hoàn thiện bản thân mình,
các giác quan của con người ngày càng phát triển. Do đó, làm tăng khả năng nhận
thức của con người về thế giới.
d. Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận
Thực tiễn là thước đo giá trị của những nhận thức đã đạt được trong quá trình
nhận thức, đồng thời không ngừng bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn
thiện nhận thức. Nhận thức thường diễn ra trong cả quá trình bao gồm các hình thức
trực tiếp và gián tiếp, điều đó không thể tránh khỏi tình trạng là kết quả nhận thức
không phản ánh đầy đủ các thuộc tính của sự vật. Mặt khác, trong quá trình hình
thành kết quả nhận thức thì các sự vật cần nhận thức không đứng yên mà nằm trong
quá trình vận động không ngừng. Những tri thức phù hợp với hiện thực khái quát
được thực tiễn kiểm nghiệm là tri thức chân thực, đó là chân lý và ngược lại, thực tiễn
kiểm nghiệm thấy không phù hợp thì có thể chứng minh tri thức đó là sai lầm. Như 8
vậy, xuất phát từ thực tiễn mà con người khái quát, tổng hợp và xây dựng thành lý
luận. Chính quá trình phát triển của thực tiễn đã đặt ra những vấn đề đòi hỏi lý luận
phải giải đáp. Lý luận được hình thành, phát triển và kiểm nghiệm trong thực tiễn và
tiếp tục bổ xung, phát triển trong thực tiễn. Như vậy, xuất phát từ thực tiễn mà con
người khái quát, tổng hợp và xây dựng thành lý luận. Chính quá trình phát triển của
thực tiễn đã đặt ra những vấn đề đòi hỏi lý luận phải giải đáp. Lý luận được hình
thành, phát triển và kiểm nghiệm trong thực tiễn và tiếp tục bổ sung, phát triển trong thực tiễn.
Ví dụ: Nhà bác học Galile tìm ra định luật về sức cản của không khí. Những ví
dụ trên chứng minh cho thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Bởi chỉ có đem những tri
thức đã thu nhận được qua nhận thức đối chiếu với thực tiễn để kiểm tra, kiểm
nghiệm mới có thể khẳng định được tính đúng đắn.
2. Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận, ngược lại, lý luận phải được vận
dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn
Lý luận có thể thúc đẩy tiến trình phát triển của thực tiễn nếu đó là lý luận
khoa học và ngược lại có thể kìm hãm sự phát triển của thực tiễn nếu đó là lý luận
phản khoa học, phản động, lạc hậu. Lý luận được hình thành và phát triển trên nền
tảng thực tiễn song nó có tính độc lập tương đối. Điều đó thể hiện ở chỗ, không phải
lý luận nào cũng xuất phát từ kinh nghiệm, có lý luận được xây dựng không trên cơ
sở những dữ liệu kinh nghiệm có trước. Điều này chỉ có thể lý giải bởi tính ưu việt,
vượt trội của tư duy trừu tượng của con người. Lý luận có vai trò rất to lớn đối với
thực tiễn, tác động trở lại làm biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con người.
Lý luận chính là kim chỉ nam dẫn đường soi sáng cho hoạt động thực tiễn vì
lý luận có khả năng định hướng mục tiêu, xác định lực lượng, phương pháp, biện
pháp thực hiện. Không chỉ thế lý luận còn có thể dự đoán được khả năng phát triển
của hoạt động thực tiễn đồng thời nhìn thấy những khả năng thất bại có thể xảy ra để
chúng ta có thể tránh được nó, giúp hạn chế được những sai lầm, thất bại trong hoạt
động thực tiễn nhằm đạt được kết quả tốt.
Tuy lý luận mang tính khách quan cao và là logic của thực tiễn, song lý luận
vẫn có thể lạc hậu so với thực tiễn. Việc áp dụng lý luận vào thực tiễn buộc chúng ta
phải bám sát vào thực tế của thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung, thay đổi những
điểm lạc hậu, khiếm khuyết của lý luận sao cho phù hợp với thực tiễn. Khi áp dụng lý
luận thực tiễn, tùy trường hợp nó có thể mang lại hiệu quả hoặc không, trong trường
hợp đó, giá trị của lý luận sẽ do thực tiễn quy định. Chính vì thế mà Lê-Nin đã nhận
xét rằng: “Thực tiễn cao hơn nhận thức, lý luận. Vì nó có ưu điểm không những của
tính phổ biến mà còn của tính hiện thực trực tiếp”.
IV. Ý NGHĨA CỦA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Không được tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn và hạ thấp vai trò của lý luận
trong nghiên cứu, sản xuất. Phải nâng cao trình độ tư duy lý luận, từ tư duy siêu hình, 9
duy tâm sang tư duy biện chứng duy vật. Cần coi trọng công tác tổng kết thực tiễn để
khái quát thành lý luận và rồi vận dụng sáng tạo các kinh nghiệm đã tiếp thu được.
Không được tuyệt đối hóa vai trò của lý luận và hạ thấp vai trò của thực tiễn,
rơi vào chủ quan duy ý chí. Phải coi trọng công tác thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện
lý luận. Hoạt động nghiên cứu lý luận phải đi đôi với hoạt động thực tiễn, “học đi đôi
với hành”, không thể áp dụng lý luận một cách dập khuôn mà không quan tâm đến
tình hình thực tế thực tiễn.
Chính vì thế mà bây giờ chúng ta phải cùng phát triển tư duy gắn liền với
thực tiễn cuộc sống. Không để lý luận trở thành lý thuyết suông mà học lý luận để
tránh mò mẫm, tránh phạm sai lầm trong hoạt động thực tiễn và từ hoạt động thực
tiễn phải biết đúc kết và làm phong phú thêm lý luận. 10
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀO QUÁ TRÌNH HỌC TẬP VÀ RÈN LUYỆN CỦA SINH VIÊN
I. TÌNH HÌNH HỌC TẬP VÀ RÈN LUYỆN CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
1. Thực trạng của quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên hiện nay
Quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên luôn là một trong những vấn đề
được quan tâm hàng đầu trong công cuộc xây dựng một nền giáo dục đổi mới, toàn
diện của nước ta hiện nay. Nhưng xã hội ngày càng văn minh hiện đại, công cuộc hội
nhập với thế giới ngày càng được đẩy mạnh thì càng nhiều thử thách được đặt ra cho
sinh viên. Từ thực tế cho thấy, chất lượng trung bình của sinh viên Việt Nam vẫn
chưa thật nổi bật trong mắt bạn bè quốc tế.
Theo bản báo cáo “Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2013 – 2014” thực hiện với
148 nước được công bố bởi Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), kết quả cho thấy: ở
hạng mục Giáo dục đại học và đào tạo, Việt Nam đứng thứ 96 trong bảng xếp hạng,
thứ 7 trong các nước ASEAN (sau Singapore, Malaysia, Brunei, Thái Lan, Indonesia, Philippines).
Tuy nhiên, phương pháp giáo dục ngày nay của nước ta đã có sự đổi mới, học
tập từ các quốc gia phát triển trên thế giới để đưa ra các phương pháp tích cực đối với
quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên. Nhờ có những nỗ lực không ngừng nghỉ
của các cá nhân và tổ chức, chất lượng sinh viên Việt Nam liên tục được nâng cao,
điều này được thể hiện từ kết quả “Bảng xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học tốt nhất
châu Á năm 2023” của Tổ chức giáo dục Quacquarelli Symond (QS). Với 11 trường
Đại học Việt Nam nằm trong bảng xếp hạng, nhiều trường như Trường Đại học Tôn
Đức Thắng, Trường Đại học Duy Tân, Trường Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh...
đã tăng hạng so với kết quả năm ngoái. Qua đó, khẳng định được quá trình học tập và
rèn luyện của sinh viên đã khắc phục phần nào các hạn chế và ngày càng hoàn thiện hơn.
2. Những điểm tích cực trong quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên
Trong suốt quá trình học hỏi kiến thức và trau dồi kinh nghiệm của sinh viên,
ta không thể phủ nhận những mặt tích cực của nó. Như đã đề cập ở trên, việc học tập
và rèn luyện của sinh viên có nhiều tiến bộ rõ rệt.
Phương pháp dạy học được đổi mới. Thay vì thời lượng học lý thuyết dày
đặc, nặng nề như trước kia, giờ đây, các tiết thực hành, thảo luận đã được tăng thêm.
Qua đó, sinh viên tránh được việc phải học kiến thức một cách khô khan, khó hiểu;
tăng cường khả năng tiếp thu kiến thức, có thể áp dụng lý thuyết đã học trên lớp vào
viêc giải quyết các vấn đề trong thực tiễn.
Đội ngũ giảng viên tích cực nắm vững lý luận và thông tin nhanh chóng các
vấn đề thực tiễn. Giảng viên lựa chọn những vấn đề lý luận quan trọng để tập trung
giảng giải, đối với những vấn đề khó hiểu thì lấy ví dụ minh họa để làm sáng tỏ. Bên 11
cạnh đó, các giảng viên cũng kịp thời nắm bắt các kiến thức thực tiễn, mang tính thời
sự, phù hợp với lý luận trong bài giảng.
Nhiều chương trình, cuộc thi dành cho sinh viên được tổ chức. Có nhiều cuộc
thi tiêu biểu như: Cuộc thi Tài chính “Bản lĩnh Nhà đầu tư” do Câu lạc bộ chứng
khoán SEC và Hội sinh viên Ngân hàng tổ chức, Cuộc thi “Phân tích đầu tư” có quy
mô toàn cầu do viện CFA (CFA Institute) tổ chức, Cuộc thi “I – INVEST” được tổ
chức bởi Khoa Tài chính – Ngân hàng, CLB Chứng Khoán và Đoàn trường Đại học
Ngoại Thương Hà Nội. Qua các cuộc thi, sinh viên có cơ hội cọ xát, học hỏi và phát
triển bản thân cũng như mở rộng các mối quan hệ.
Sinh viên ít nhiều biết tự vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn vào quá trình học tập và rèn luyện của bản thân. Trong quá trình học tập và rèn
luyện, nhiều sinh viên không ngừng tự đánh giá, đổi mới phương pháp học để tìm ra
phương pháp phù hợp và hiệu quả đối với bản thân nhất. Từ đó, tận dụng mọi nguồn
sách báo, tài liệu để nguồn kiến thức họ thu được là tối đa.
Ngoài các giờ học trên lớp, sinh viên cũng tích cực tham gia các hoạt động
ngoại khóa do Nhà trường, Khoa (Viện), các câu lạc bộ... tổ chức. Ví dụ như gần đây,
Trường Đại học Thương mại tại cơ sở Hà Nam có tổ chức giải bóng đá nữ theo
chuyên ngành và cuộc thi văn nghệ theo lớp, các bạn sinh viên đều tích cực tham gia, hưởng ứng nhiệt tình.
Nhiều sinh viên dám nghĩ, dám làm, đưa ra ý tưởng và tận dụng mọi cơ hội để
biến nó thành hiện thực. Có thể thành công hoặc thất bại, nhưng họ không chùn bước
và ngày càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm. Đã có nhiều sinh viên nhận được
bằng phát minh, sáng chế và không thiếu những sáng chế đã được áp dụng vào thực
tiễn, mang lại lợi ích và phục vụ con người. Có thể kể đến Giang Quốc Hoàn, tại thời
điểm ấy (năm 2019) là sinh viên năm thứ hai Cơ điện tử của Trường ĐH Bách Khoa
Hà Nội là một tấm gương: Giang Quốc Hoàn cùng một người bạn học tại Trường Đại
học Công Nghệ (ĐHQG Hà Nội) nghiên cứu chế tạo “Robot thí nghiệm Hóa học”
(Robot Chemical Experiment) đã nhận được Huy chương Đồng tại “Triển lãm Sáng
tạo trẻ quốc tế” tổ chức tại Indonesia; ngoài ra, Giang Quốc Hoàn còn được nhận một
giải đặc biệt do Liên hiệp Khoa học, Công nghệ và Sáng tạo Malaysia trao tặng.
Có thể thấy, các lớp sinh viên đang ngày càng hướng tới những điều tích cực
hơn. Quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên cũng được đảm bảo hơn, không
ngừng được nâng cao chất lượng. Qua đó, sinh viên cũng cho thấy sức mạnh của
mình, khẳng định vai trò to lớn trong công cuộc xây dựng đất nước và phát triển xã hội.
3. Những điểm hạn chế trong quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên hiện nay
Bên cạnh những điểm mạnh, thì trong quá trình học tập sinh viên vẫn còn nhiều
những mặt hạn chế, những điểm điểm yếu kém sau: Sự thụ động 12
Khi còn học phổ thông các bạn chưa được trang bị các kỹ năng mềm: sống, học
tập, làm việc độc lập,...Ở đại học sinh viên phải tự lập nên có nhiều bỡ ngỡ do chưa
thích ứng với môi trường sinh hoạt độc lập, hầu hết sinh viên chưa hòa nhập được với
môi trường và phương pháp giảng dạy ở bậc đại học, khi mà giảng viên chỉ đóng vai
trò là người hướng dẫn, sinh viên mới là người chủ động trong việc tìm hiểu và nắm
bắt kiến thức, đặc biệt là đối với sinh viên năm nhất đã gắn bó với phương pháp dạy
học truyền thống với suốt 12 năm học phổ thông và không dễ từ bỏ. Theo khảo sát
của Trường Đại học Hoa Lư về thái độ tự học của sinh viên cho thấy rằng tỉ lệ sinh
viên yêu thích, say mê tự học rất thấp (35.2% trong tổng số 117 sinh viên), tỉ lệ sinh
viên tự giác học tập còn hạn chế (31% trong tổng số 103 sinh viên). Thực tế này đã
cho thấy tính thụ động ở sinh viên còn rất lớn, học mang tính hình thức còn diễn ra
nhiều, phương pháp học không hợp lí, còn phụ thuộc vào giảng viên, chưa chủ động, tự giác, tích cực. Lười học
Sinh viên chỉ học đối phó, cốt lấy điểm, học cho qua, bệnh hình thức, thiếu thực
chất, thiếu thực lực, thiếu thực học, thiếu thực tài diễn ra rất phổ biến. Nguy hiểm
hơn tình trạng đó không chỉ diễn ra đối với sinh viên trung bình, yếu mà ngay cả sinh
viên khá giỏi cũng sẵn sàng quay cóp nhất là đối với những môn học khó nhớ. Ngoài
ra, số lượng sinh viên đọc lại những nội dung đã học không nhiều. Thậm chí một vài
sinh viên xác nhận rằng thỉnh thoảng mới đọc lại nội dung đã học. Bài vở thường bị
sinh viên bỏ bê đến khi gần thi mới lấy ra ôn tập lại, khi đó khối lượng kiến thức thì
nhiều mà thời gian ôn tập thì ngắn, hậu quả là các bạn phải học đêm học ngày, ảnh
hưởng tới giờ giấc nghỉ ngơi, sinh hoạt và điểm bài thi hiếm khi đạt được như mong
đợi. Một tình trạng đáng báo động hơn là số lượng sinh viên đi học muộn, nghỉ học
ko lí do diễn ra ngày càng nhiều. Theo số liệu được công bố trong hội thảo bàn về
chuẩn mực đạo đức của cán bộ, giảng viên và người học do Đại học Quốc gia
TP.HCM tổ chức đã cho thấy có gần 65% sinh viên đi học muộn, gần 50% sinh viên
nghỉ học không lý do. Những số liệu này cho thấy thái độ học tập của sinh viên cần
tiếp tục được cải thiện.
Thiếu kỹ năng làm việc nhóm
Hiện nay, phương pháp học nhóm đang là một phương pháp học tập phổ biến ở
các trường đại học. Hình thức làm việc nhóm mang lại nhiều lợi ích như: san sẻ, tăng
hiệu suất công việc, nâng cao tính gắn kết... Tuy nhiên, không phải tất cả các bạn sinh
viên đều tận dụng được lợi ích của hình thức làm việc nhóm nhất là đối với các tân
sinh viên. Tân sinh viên thường bỡ ngỡ và gặp nhiều khó khăn khi bắt đầu làm việc
nhóm. Cách hoạt động nhóm chưa đúng, không có nguyên tắc rõ ràng, ý thức tự giác
và tinh thần trách nhiệm của mỗi thành viên trong nhóm là khác nhau nên một số
thành viên phải đảm nhiệm nhiều công việc, trong khi đó các thành viên còn lại
không hợp tác, ỉ lại từ đó dẫn đến hiệu quả làm việc không cao. Vân Anh - sinh viên
trường Đại học Ngoại Ngữ bức xúc kể lại: “Không hiểu là mình đang teamwork hay
tao – work nữa. Việc thì việc chung của nhóm mà không hiểu sao cứ đổ hết lên đầu
mình. Lên kế hoạch là mình, ý tưởng là mình, thuyết trình cũng là mình. Người thì
bận về quê, người thì bận chuyển nhà… Không hiểu tinh thần, ý thức làm việc tập thể 13
của mọi người để đâu. Có khi bàn bạc trong nhóm thì thấy mọi người đã xem mà
không rep gì cả. Thật chả hiểu nữa. Cứ thế này mình cũng xin ra nhóm sớm”. Kỹ
năng làm việc nhóm là một trong những
kỹ năng rất quan trọng vì vậy thực trạng thiếu kỹ
năng làm việc nhóm của sinh viên cần được nhìn nhận thẳng thắn để
sửa đổi. Có như vậy, những phương pháp cải thiện mới thực sự đạt được hiệu quả.
Sinh viên chưa đặt ra mục tiêu cũng như kế hoạch học tập
Xác định mục tiêu và lập kế hoạch cụ thể là một trong những kỹ năng rất quan
trọng để thành công, không chỉ trong học tập mà trong tất cả mọi công việc. Thế
nhưng một bộ phân sinh viên đang sống không có lí tưởng, không có mục tiêu hoặc
xác định được mục tiêu nhưng lại không biết cách lập kế hoạch cụ thể để thực hiện
mục tiêu đó. Theo khảo sát của Đại học Hoa Lư tỉ lệ sinh viên tự chủ trong việc lập
kế hoạch và thực hiện kế hoạch tự học chỉ chiếm 37.7% (trong tổng số 125 SV).
Trong khi đó, tỉ lệ sinh viên chỉ tự học khi có người đôn đốc, nhắc nhở lại chiếm đến
82.2% (trong tổng 273 SV). Như vậy, rất ít sinh viên dành thời gian để đặt ra mục tiêu
và lên kế hoạch học tập, đây cũng là một trong những lí do khiến cho kết quả học tập
của sinh viên không cao. Thực trạng trên là cơ sở quan trọng để đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên.
4. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ
phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng
như người nhắm mắt mà đi”, “Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò
trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp”. Ngày nay, đã có rất nhiều phương
pháp học mới được chia sẻ trên các nền tảng mạng xã hội khác nhau như Facebook,
Tiktok, Youtube... để sinh viên dễ tiếp cận, dễ nắm bắt hơn. Mỗi phương pháp sẽ có
những cái hay riêng, phù hợp với từng nhu cầu của mỗi sinh viên. Thế nhưng không
phải tất cả các sinh viên đều lĩnh hội được cái hay, cái tiện ích của những phương
pháp đó. Vẫn còn rất nhiều sinh viên có năng lực, tố chất tốt nhưng lại coi khinh lý
luận hoặc lý luận suông, mắc bệnh chủ quan, không biết chủ động mày mò, tìm hiểu
những phương pháp học mới, đặt mục tiêu, lên kế hoạch học tập cụ thể. Từ đó, nảy
sinh ra nhiều điểm hạn chế trong quá trình học tập của sinh viên. Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến những hạn chế đó, cụ thể là:
Nguyên nhân của sự thụ động trong học tập
Thứ nhất: Sinh viên được tạo thói quen đọc chép từ khi còn học phổ thông.
Hầu hết những năm đi học từ tiểu học, trung học cơ sở đến khi học phổ thông đa số
việc học và thi hết môn đều ôn theo đề cương, có trọng tâm trọng điểm. Điều đó đã
hình thành cho sinh viên thói quen thụ động từ nhỏ trong việc học tập. Khi bước vào
môi trường Đại học, cách học và cách dạy có nhiều thay đổi, cách biệt làm nhiều sinh
viên không theo kịp bài, hoang mang, buông lỏng chuyện học, học đối phó sau cùng
làm cho sinh viên thụ động trong học tập.
Thứ hai: Sinh viên chưa sử dụng tốt khoảng thời gian rảnh của bản thân. Thay
vì lên thư viện để tìm hiểu thêm và đào sâu những vấn đề đã được thầy cô hướng dẫn 14
trên lớp thì nhiều sinh viên lại dùng khoảng thời gian này vào những hoạt động vui
chơi, giải trí, nghỉ ngơi thư giãn. Theo số liệu khảo sát tại Trường Đại học Khoa học
Xã hội & Nhân văn Hà Nội cho thấy 50% sinh viên không thường xuyên sử dụng thư
viên, 40% thường xuyên sử dụng thư viện, số còn lại trả lời không sử dụng (cuộc
khảo sát tiến hành trên 290 SV).
Thứ ba: Sinh viên thường đặt nặng vấn đề điểm số nên thực hiện các hoạt
động giảng viên yêu cầu một cách đối phó. Các bài về nhà chỉ chuẩn bị sơ sài, trên
lớp sinh viên chỉ xem thảo luận và thuyết trình là một phần bắt buộc để có điểm phục
vụ cho môn học, chưa hiểu hết ý nghĩa về rèn luyện kỹ năng diễn đạt, trình bày vấn
đề, kỹ năng hợp tác với các thành viên trong nhóm.
Nguyên nhân của lười học
Thứ nhất: Đối với các tân sinh viên việc không ai quản thúc là một lí do của
sự lười học. Khi học cấp 2, cấp 3, học sinh thường được nhà trường, thầy cô, bố mẹ
phối hợp cùng nhau để quản lý chặt chẽ chuyện học hành. Các vấn đề về học tập và
hạnh kiểm đều được nhà trường báo lại với phụ huynh để tìm phương pháp giải quyết
và tình trạng lười học được đẩy lùi xa hơn. Tuy nhiên khi vào đại học sinh viên phải
tự lập cả trong cuộc sống, lẫn học tập và tinh thần tự giác phải rất cao, đặc biệt là
những bạn học xa nhà. Do đó không phải ai cũng thích ứng và bắt nhịp được với sự
thay đổi này. Thêm vào đó tâm lý xả hơi sau những ngày ôn thi đại học vất vả và bố
mẹ không còn quản lý trực tiếp nữa khiến không ít sinh viên mải chơi dẫn đến kết
quả học tập ngày càng tệ đi.
Thứ hai: Không có phương pháp học phù hợp. Ở bậc trung học phổ thông, các
bạn thường được thầy cô dẫn dắt nhiều hơn nhưng khi lên đại học do số lượng sinh
viên đông nên các thầy cô không thể quan tâm đến từng người. Đồng thời học đại học
theo phương pháp tín chỉ, phương pháp này đòi hỏi sinh viên phải tự học là chủ yếu.
Điều này khiến cho nhiều sinh viên không tìm ra được phương pháp học tập phù hợp,
dần dần mất phương hướng dẫn đến chán nản, thậm chí là mặc kệ đến đâu thì đến.
Thứ ba: Do mải chơi. Nhiều sinh viên thường chỉ học khi kỳ thi gần kề còn
trong quá trình học thì chỉ mải mê vui chơi, không chịu học tập. Chính môi trường
mới với nhiều hoạt động vui chơi giải trí đã khiến một học sinh chăm chỉ, học giỏi
thành một sinh viên lười biếng với kết quả học tập ngày một tệ đi.
Thứ tư: Do mạng xã hội. Việc lướt Facebook, Tiktok, Instagram... dường như
chiếm gần hết thời gian của các sinh viên ngày nay. Sáng ngủ dậy vào Facebook
(Tiktok), đi chơi check in Facebook, chụp ảnh up Facebook, quay video đăng Tiktok,
trước khi học phải vào Facebook (Tiktok) cập nhật thông tin và ngồi vẩn vơ đến tận
khi đi ngủ. Theo thống kê sơ bộ hiện nay thời lượng sinh viên sử dụng MXH trung
bình là 5 giờ/ngày. Sinh viên sử dụng mọi lúc, mọi nơi, mọi thời điểm, thậm chí
nhiều sinh viên “nghiện” MXH. Trong đó, đa số sinh viên sử dụng MXH trong 15
khoảng thời gian 1 giờ mỗi ngày chiếm tỉ lệ 29.8%, tỷ lệ sử dụng MXH từ 2 đến 3
giờ mỗi ngày là 16.7%, đặc biệt có tới 4.8% sinh viên sử dụng MXH trên 5 giờ mỗi
ngày, thậm chí có 2.4% sinh viên ngoài các việc thiết yếu dành phần lớn thời gian
cho mạng xã hội. So với kết quả nghiên cứu của Tiffany A và cộng sự năm 2009,
sinh viên các trường đại học Hoa Kỳ sử dụng Facebook trung bình từ 10 đến 30
phút mỗi ngày, thấp hơn nhiều so với kết quả nghiên cứu thực trạng ở sinh viên ở
Việt Nam. Đây có thể coi là một điểm đáng lo ngại khi một bộ phận không nhỏ sinh
viên đang “nghiện” MXH. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, học tập cũng
như công việc và các hoạt động khác của sinh viên. Mạng xã hội đã trở thành một
trong những thứ không thể thiếu đối với sinh viên ngày nay.
Nguyên nhân sinh viên thiếu kỹ năng hoạt động nhóm và không đặt ra mục tiêu và kế hoạch học tập
Khi còn học phổ thông học sinh được học theo cách thầy cô đọc học trò chép
nên khi thay đổi môi trường học, thay đổi cách học các sinh viên bỡ ngỡ với việc làm
việc theo nhóm, tự mình lên kế hoạch học tập cho bản thân. Thêm nữa với tâm lý thời
gian còn nhiều học được đến đâu hay đến đó, và khi nào có đề cương học cũng không
muộn, sợ học sớm đến lúc thi sẽ quên kiến thức nên sinh viên dần dần ỷ lại, không
đặt ra mục tiêu và kế hoạch để thực hiện mục tiêu, một số bộ phận thì cho rằng đặt ra
mục tiêu và lập kế hạch tốn thời gian và chưa chắc đã hoàn thành được đúng như kế
hoạch nên không đặt ra mục tiêu, như lập kế hoạch nữa. ⅠⅠ
. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ
VÀ TIẾP TỤC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP VÀ RÈN LUYỆN CỦA
SINH VIÊN TRONG THỜI GIAN TỚI
1. Những phương hướng để khắc phục hạn chế và tiếp tục nâng cao chất lượng
học tập và rèn luyện của sinh viên trong thời gian tới
Hiện nay, nền giáo dục ở Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế so với các nước
phát triển trên thế giới. Việc đưa nền giáo dục nước nhà thoát khỏi tình trạng này đòi
hỏi sự nỗ lực hết mình của mỗi cá nhân. Với mục tiêu là đổi mới căn bản, toàn diện
nền giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng học tập và rèn luyện của sinh viên,
chúng ta cần đưa ra những phương hướng phù hợp cho sự phát triển của nền giáo dục
Việt Nam tương lai giúp nâng cao chất lượng sinh viên.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả của giáo dục và đào tạo
Phát triển nền giáo dục luôn là động lực quan trọng đẩy mạnh quá trình công
nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước, là yếu tố nền tảng để phát triển xã hội. Do đó, một
nền giáo dục phát triển bền vững cần có đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất đủ điều
kiện để hỗ trợ việc học tập và rèn luyện của sinh viên.
Đội ngũ giảng viên là những người trực tiếp truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm
và dẫn dắt sinh viên trong quá trình không ngừng hoàn thiện bản thân. Điều này yêu
cầu Nhà trường quan tâm bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ giảng viên đạt chuẩn các yêu
cầu về trình độ học vấn, năng lực sư phạm và kinh nghiệm thực tiễn. Trong đó, chú 16
trọng tuyển chọn những giảng viên có phẩm chất đạo đức, năng lực để định hướng
đào tạo và học hỏi kinh nghiệm giảng dạy.
Cơ sở vật chất là những phương tiện giúp giảng viên nâng cao chất lượng giảng
dạy, đồng thời giúp học sinh nâng cao khả năng lĩnh hội kiến thức, hoàn thiện các kĩ
năng cần thiết trong suốt quá trình học tập của bản thân. Đây là những công cụ vật
chất hóa phương pháp dạy học. Các phòng bộ môn với các trang thiết bị hiện đại,
cùng sự xuất hiện của mạng internet, máy tính điện tử, các phần mềm thí nghiệm,...
đã góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy và học. Nhờ
đó, hoạt động dạy và học trở nên đa dạng, hấp dẫn hơn giúp sinh viên hiểu sâu sắc
nội dung vấn đề, qua đó, có thể tiến hành tìm hiểu, tham gia nghiên cứu khoa học chuyên sâu.
Đẩy mạnh thực hiện các chương trình, cuộc thi
Với mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, các cơ quan ban nghành
có liên quan cần đẩy mạnh và mở rộng thực hiện các chương trình, cuộc thi để rèn
luyện những kỹ năng cần thiết cho sinh viên. Các cuộc thi phải xây dựng được mục
tiêu, nội dung cụ thể, phù hợp với yêu cầu gắn liền lý thuyết và thực hành. Các cuộc
thi là rất cần thiết giúp xác định được hạn chế của Nhà trường trong chương trình
giảng dạy. Tham gia các chương trình, cuộc thi đưa sinh viên tìm ra những điểm yếu
của bản thân, từ đó, tìm hướng khắc phục chính xác và kịp thời. Qua các cuộc thi,
sinh viên có thể giao lưu, học hỏi, sẽ có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn, củng cố cả
về kiến thức và kinh nghiệm.
Đồng thời, thực hiện khen thưởng đúng người, đúng thành tích đạt được khiến
cho khen thưởng trở thành động lực biểu dương, thể hiện sự ghi nhận những thành
quả từng cá nhân, tập thể đã đạt được. Từ đó, khuyến khích sinh viên tham gia, cổ vũ
tinh thần sáng tạo, học hỏi và trao đổi trong không khí cạnh tranh lành mạnh, hướng
đến mục tiêu phát triển và hoàn thiện bản thân.
Đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin
Trong thời đại công nghệ phát triển như hiện nay, việc xây dựng nền giáo dục
trên nền tảng số là vô cùng quan trọng. Các kho học liệu số chia sẻ dùng chung như
bài giảng điện tử, sách giáo khoa điện tử, hệ thống ngân hàng câu hỏi,... đã thúc đẩy
đổi mới sáng tạo trong dạy và học, nâng cao chất lượng của nền giáo dục. Các trường
đại học thử nghiệm nền tảng dùng chung giải quyết đa số thủ tục hành chính, tạo môi
trường làm việc và tương tác trực tuyến cho các đối tượng trong quá trình dạy và học.
Nhờ đó, góp phần giúp sinh viên thích ứng và tạo được thói quen làm việc trên nền tảng số.
Ứng dụng công nghệ thông tin là cần thiết cho cả giảng viên và sinh viên. Các
giảng viên sử dụng phần mềm soạn thảo văn bản để soạn giáo trình giúp tiết kiệm
thời gian và công sức hơn. Người học cũng có thể dễ dàng tiếp thu kiến thức, dễ dàng
trao đổi hơn với các bài giảng sinh động với hình ảnh bắt mắt. Bên cạnh đó, các kỹ
năng tin học văn phòng cũng vô cùng quan trọng đối với sinh viên – một điều kiện 17
bắt buộc để tìm được một công việc tốt sau khi ra trường. Nhà trường và các sinh
viên cần chú trọng vào việc bồi dưỡng những kỹ năng thiết yếu này.
Tăng cường hội nhập quốc tế trong giáo dục
Chủ động mở rộng hợp tác song phương và đa phương. Tăng cường hợp tác với
các cơ sở giáo dục và đào tạo từ các quốc gia khác, đẩy mạnh thiết lập liên kết đào
tạo với các cơ sở giáo dục đại học nổi tiếng nằm trong các bảng xếp hạng uy tín của
thế giới. Cần đẩy mạnh hơn nữa việc triển khai xây dựng các chương trình quốc tế
trong trường đại học, tiếp cận và cập nhật các hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng
hội nhập quốc tế. Đồng thời, tiến hành tiếp thu và học hỏi các phương pháp dạy và
học của các nước có nền giáo dục phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc... để nâng
cao chất lượng nền giáo dục quốc gia.
Gần đây, ngày 25/10/2022, Hội đồng Anh tại Việt Nam đã khởi động chương
trình thăm và làm việc tại Vương quốc Anh nhằm tạo điều kiện thúc đẩy hợp tác giáo
dục đại học giữa Chính phủ Việt Nam và Vương quốc Anh. Từ đó, giúp phát triển và
nâng cao hệ thống giáo dục đại học tại Việt Nam.
Cùng với đó, cần mở rộng thu hút sinh viên quốc tế đến học tập và rèn luyện;
các nhà khoa học, giáo sư, giảng viên uy tín đến nghiên cứu khoa học, giảng dạy và
làm việc ở Việt Nam. Ngược lại, cử các sinh viên, giảng viên phù hợp tiêu chuẩn đến
các nước để học hỏi và tích lũy kinh nghiệm từ những nền văn hóa khác nhau. Như
vậy, sinh viên vừa có thể tiếp thu kiến thức, vừa có thể bồi dưỡng cho bản thân những
kỹ năng cần thiết, giúp nâng cao chất lượng quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên.
2. Những giải pháp để nâng cao hiệu quả của quá trình học tập và rèn luyện của
sinh viên trong thời gian tới
Để không ngừng nâng cao chất lượng sinh viên trong quá trình học tập và rèn
luyện, nâng cao chất lượng đào tạo của các trường đại học trong thời gian tới, các cơ
quan ban ngành có liên quan cần thực hiện đồng bộ những giải pháp sau:
Tăng cường chỉ đạo trong việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn trong quá trình giảng dạy
Để đảm bảo quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên diễn ra một cách hiệu
quả, trước hết, cần có sự chỉ đạo đúng đắn của các cơ quan đứng đầu. Các cơ quan
chức năng cần kịp thời thông tin những chủ trương, phương hướng hành động trước
những vấn đề thực tiễn đề ra. Nhà trường lãnh đạo các phòng, ban, đội ngũ cán bộ
quản lý vận dụng nguyên tắc vào các hoạt động thực tế, kết hợp lý luận với thực tiễn
trong quá trình giáo dục và đào tạo.
Nâng cao năng lực giảng dạy của đội ngũ giảng viên
Tăng cường bồi dưỡng, nâng cao trình độ của đội ngũ giảng viên một cách toàn
diện bằng nhiều hình thức như: bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm của giảng viên, cập
nhật kiến thức mới, trọng tâm trong các môn học để không bị lạc hậu về kiến thức.
Giảng viên phải nắm vững kiến thức lý luận trong toàn bộ bài giảng mà mình đảm 18
nhiệm và hiểu đúng, hiểu rõ nội dung kiến thức thực tiễn để đưa nội dung đó vào bài giảng hợp lý.
Tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, thực hiện tốt các phương pháp
giảng dạy mang lại hiệu quả cao
Giảng viên cần kết hợp nhiều phương pháp giảng dạy. Tùy vào từng môn học,
từng chương cụ thể mà áp dụng những phương pháp dạy học khác nhau. Tăng cường
kết hợp các phương pháp dạy học tích cực như thuyết trình, đặt câu hỏi và trả lời,
thảo luận nhóm,... khắc phục lối dạy truyền thống nặng về kiến thức, không phát huy
được tính chủ động tư duy và sáng tạo của sinh viên. Việc vận dụng hợp lý các
phương pháp giảng dạy sẽ giúp nâng cao chất lượng bài giảng, sinh viên tiếp thu tốt
hơn trong quá trình học tập và rèn luyện của bản thân.
Nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết cho quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên
Nhà trường cần chú trọng nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất chuẩn quy định: xây
dựng các phòng học chuyên dùng cho các bộ môn cần thiết, đầu tư các thiết bị hỗ trợ
phục vụ giảng dạy và học tập,... Bên cạnh đó, khuyến khích giảng viên, học viên khai
thác hiệu quả các trang thiết bị và các phương tiện kỹ thuật số trong công tác giảng dạy và học tập.
Tổ chức nhiều chương trình, cuộc thi kết hợp cả lý thuyết và thực hành
Các cơ quan ban ngành nên tổ chức nhiều chương trình, cuộc thi cho sinh viên
bồi dưỡng các kỹ năng cần thiết ngoài việc học tập trên lớp như rèn luyện tư duy sắc
bén, nhanh nhạy, tinh thần trách nhiệm, kỹ năng thuyết trình,... Bên tổ chức chương
trình cần đưa ra mục tiêu rõ ràng, nội dung cụ thể, công bằng trong suốt quá trình
triển khai chương trình và có mức phần thưởng hợp lý cho thành tích mà sinh viên
đạt được để khích lệ tinh thần chủ động tham gia của sinh viên.
Đẩy mạnh việc nắm bắt và sử dụng thành thạo công nghệ thông tin đối với sinh viên
Trong quá trình học tập và rèn luyện, công nghệ thông tin là kiến thức không thể
thiếu đối với sinh viên. Nhà trường cần chú trọng vào việc đào tạo, bồi dưỡng kỹ
năng thiết yếu này cho học viên để tránh bỡ ngỡ khi ra trường xin việc sau này.
Khuyến khích sinh viên rèn luyện kỹ năng thường xuyên bởi việc làm các bài tiểu
luận, thảo luận nhóm với các yêu cầu làm bằng phần mềm Word, Powerpoint,...
Tăng cường hội nhập quốc tế trong quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên
Tiến hành những dự án trao đổi sinh viên giữa các trường đại học trong nước và
quốc tế. Qua đó, đề cao được năng lực thích nghi của sinh viên. Đồng thời, nuôi
dưỡng tính chủ động của sinh viên, giúp quá trình học tập và rèn luyện diễn ra thuận lợi hơn.
Bên cạnh những giải pháp trên, việc nâng cao chất lượng của quá trình học tập
và rèn luyện vẫn chủ yếu dựa vào bản thân sinh viên, nên mỗi cá nhân cần đề ra 19