Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TRIẾT HỌC ------000------ BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC – LÊ NIN ĐỀ TÀI 3
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Thu Hà
Nhóm thực hiện: Nhóm 7 Lớp HP: 2330MLNP0221 Hà Nội, 2023 THÀNH VIÊN NHÓM STT HỌ VÀ TÊN MÃ SINH VIÊN GHI CHÚ 1 Vũ Thành Nam 22D108053 2 Nguyễn Thu Ngà 22D108054 3 Phạm Kim Ngân 22D108055 4 Bùi Thị Ngọc 22D108056 5 Nguyễn Thị Bích Ngọc 22D108057 6 Nguyễn Thị Minh Ngọc 22D108058 7 Trần Bảo Ngọc 22D211026 8 Trần Bích Ngọc 22D211027 9 Trần Hồng Ngọc 22D108059 10 Nguyễn An Nguyên 22D108060 11 Vũ Hương Nhài 22D108061 12 Đinh Ánh Tuyết 22D211044 1 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................ 3
NỘI DUNG........................................................................................................................ 4
Chương 1. BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN
XUẤT – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN.........................................................................4
1.1. Đặt vấn đề..........................................................................................................4
1.2. Giải quyết vấn đề...............................................................................................5
1.2.1. Khái niệm và kết cấu của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất..................5
1.2.1.1. Lực lượng sản xuất...................................................................................5
1.2.1.2. Quan hệ sản xuất.......................................................................................7
1.2.2. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất...........8 1.2.3.
Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật....................................................12
Chương 2. SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN
XUẤT VỚI QUAN HỆ SẢN XUẤT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN
NAY..............................................................................................................................14
2.1. Thực trạng vận dụng quy luật biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất của Đảng ta hiện nay..........................................................................................14
2.1.1. Thành tựu......................................................................................................15
2.1.2. Hạn chế.........................................................................................................16
2.2. Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế...............................................................16
2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa việc vận dụng quy luật biện chứng giữa
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của Đảng ta hiện nay....................................17
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................19 2 MỞ ĐẦU
Triết học Mác – Lênin đánh giá phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền
tảng, cơ bản của triết học nói chung và lý luận nhận thức nói riêng. Quan điểm đó đã tạo
nên một bước chuyển biến cách mạng trong triết học. Lý luận và thực tiễn là hai vấn đề
mà chắc hẳn chúng ta đều bắt gặp khá nhiều. Hai vấn đề này đã và đang thu hút sự quan
tâm và nghiên cứu của giới khoa học.
Sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn vừa là nhận thức luận, vừa là phương pháp luận
khoa học. Không thấy rõ sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đều là sai lầm trong nhận thức và hành động.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta hiện nay, vấn đề cải tạo thực tiễn nền kinh tế luôn thu hút nhiều sự quan tâm của nhiều
đối tượng. Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi
đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta tiến kịp
trình độ của các nước trong khu vực và trên thế giới về mọi mặt. Hoạt động nhận thức và
cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền kinh tế
ở nước ta là một vấn đề còn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay.
Sau khi nghiên cứu môn triết học Mác - Lênin, tôi tâm huyết với đề tài nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, vì vậy tôi lựa chọn nội dung:“Nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng nó vị trí của bản thân” để viết thu hoạch. 3 NỘI DUNG
Chương 1. BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN
XUẤT – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1. Đặt vấn đề
- Xã hội loài người muốn tồn tại và phát triển không thể không sản xuất ra của cải
vật chất mà trình độ phát triển của nó được biểu hiện chính bởi phương thức sản
xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Từ khi con người mới xuất hiện trên
hành tinh đã trải qua năm phương thức sản xuất. Đó là: Cộng sản nguyên thuỷ,
chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản chủ nghĩa. Tư duy nhận thức của
con người không dừng lại ở một chỗ mà theo thời gian ngày càng phát triển hoàn
thiện hơn, từ đó kéo theo sự thay đổi phát triển trong sản xuất. Lịch sử phát triển
của sản xuất trong xã hội loài người là lịch sử phát triển của các phương thức sản
xuất kế tiếp nhau. Phương thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, là cách thức sản xuất ra của cải vật chất mà
trong đó lực lượng sản xuất đạt đến một trình độ nhất định, thống nhất với quan hệ
sản xuất tương ứng với nó. Phương thức sản xuất vừa là hạt nhân đồng thời vừa là
động lực thúc đẩy và quy định mọi mặt của đời sống xã hội. Không thể thúc đẩy sự
tăng trưởng của nền kinh tế nếu không hiểu biết về cách thức sản xuất và không có
những biện pháp tối ưu tác động nhằm hoàn thiện phương thức sản xuất mà cụ thể
chính là hoàn thiện mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
- Tác động qua lại biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất đã được
Mac và Ăngghen khái quát thành quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và
lực lượng sản xuất. Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã khẳng định rằng lực lượng sản
xuất có vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất và và lực lượng sản xuất là
không thể tách rời, đây là quy luật chung của sự phát triển và là một trong những
quy luật quan trọng quy định sự tồn tại, phát triển và tiến bộ xã hội. Chính vì thế
mà không phải ngẫu nhiên việc nghiên cứu quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trong những nội dung
quan trọng của công cuộc đổi mới chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang tiến hành 4
hôm nay. Chúng ta đã có những bài học đắt giá, đó là sự sai lầm khi xây dựng
nhiều yếu tố của quan hệ sản xuất vượt trước so với lực lượng sản xuất mà chúng
ta hiện có. Đó là việc chỉ cho phép các hình thức sở hữu Nhà nước và sở hữu tập
thể tồn tại, trong khi các hình thức sở hữu khác đang còn có tác dụng mạnh mẽ đối
với lực lượng sản xuất thì lại bị ngăn cấm, không được phép phát triển. Việc đó đã
dẫn đến tình trạng sản xuất bị đình đốn, người lao động không làm việc hết mình,
xã hội không phát triển. Vậy phải giải quyết vấn đề này như thế nào ? Việc vận
dụng đúng đắn quy luật trên vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
hiện nay là vô cùng cần thiết.
1.2. Giải quyết vấn đề
1.2.1. Khái niệm và kết cấu của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
1.2.1.1. Lực lượng sản xuất
- Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo
ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của
giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội. Về cấu trúc, lực
lượng sản xuất được xem xét trên cả hai mặt, đó là mặt kinh tế - kỹ thuật (tư
liệu sản xuất) và mặt kinh tế - xã hội (người lao động). Lực lượng sản xuất
chính là sự kết hợp giữa “lao động sống” với “lao động vật hóa” tạo ra sức sản
xuất, là toàn bộ những năng lực thực tiễn dùng trong sản xuất của xã hội ở các
thời kỳ nhất định. Như vậy, lực lượng sản xuất là một hệ thống gồm các yếu tố
(người lao động và tư liệu sản xuất) cùng mối quan hệ (phương thức kết hợp),
tạo ra thuộc tính đặc biệt(sức sản xuất) để cải biến giới tự nhiên, sáng tạo ra
của cải vật chất theo mục đích của con người. Đây là sự thể hiện năng lực thực
tiễn cơ bản nhất- năng lực hoạt động sản xuất vật chất của con người. Người
lao động là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và năng lực
sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuất của xã hội.Người lao động là chủ
thể sáng tạo, đồng thời là chủ thể tiêu dùng mọi của cải vật chất xã hội. Đây là
nguồn lực cơ bản, vô tận và đặc biệt của sản xuất. Ngày nay, trong nền sản
xuất xã hội, tỷ trọng lao động cơ bắp đang có xu thế giảm, trong đó lao động
có trí tuệ và lao động trí tuệ ngày càng tăng lên. 5
- Tư liệu sản xuất là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất,bao gồm tư
liệu lao động và đối tượng lao động. Đối tượng lao động là những yếu tố vật
chất của sản xuất mà lao động con người dùng tư liệu lao động tác động lên,
nhằm biến đổi chúng cho phù hợp với mục đích sử dụng của con người. Tư
liệu lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dựa vào đó
để tác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao động thành
sản phẩm đáp ứng yêu cầu sản xuất của con người. Tư liệu lao động gồm công
cụ lao động và phương tiện lao động.Phương tiện lao động là những yếu tố vật
chất của sản xuất, cùng với công cụ lao động mà con người sử dụng để tác
động lên đối tượng lao động trong quá trình sản xuất vật chất. Công cụ lao
động là những phương tiện vật chất mà con người trực tiếp sử dụng để tác
động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng nhằm tạo ra của cải vật chất
phục vụ nhu cầu con người và xã hội. Công cụ lao động là yếu tố vật chất
"trung gian","truyền dẫn" giữa người lao động và đối tượng lao động trong tiến
hành sản xuất. Đây chính là "khách quan" của bộ óc, là tri thức được vật thể
hóa con người sáng tạo ra và được con người sử dụng làm phương tiện vật chất
của quá trình sản xuất. Công cụ lao động giữa vai trò quyết định đến năng suất
lao động và chất lượng sản phẩm. Ngày nay, trong điều kiện cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ hiện đại đang phát triển, công cụ lao động được tin học
hoá, tự động hóa và trí tuệ hoá càng có vai trò đặc biệt quan trọng. Công cụ lao
động là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất, là nguyên
nhân sâu xa của mọi biến đổi kinh tế xã hội trong lịch sử; là thước đo trình độ
tác động, cải biến tự nhiên của con người và tiêu chuẩn để phân biệt các thời
đại kinh tế khác nhau. Chính vì vậy, C.Mác khẳng định: “Những thời đại kinh
tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản
xuất bằng cách nào với nh[ng tư liệu lao động nào”. Đặc trưng chủ yếu của
lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa người lao động và công cụ lao động.
Trong lực lượng sản xuất, người lao động là nhân tố hàng đầu giữ vai trò quyết
định. Sở dĩ như vậy là vì người lao động là chủ thể sáng tạo và sử dụng công
cụ lao động. Suy đến cùng, các tư liệu sản xuất chỉ là sản phẩm lao động của 6
con người, đồng thời giá trị và hiệu quả thực tế của các tư liệu sản xuất phụ
thuộc vào trình độ sử dụng của người lao động. Hơn nữa, trong quá trình sản
xuất, nếu như công cụ lao động bị hao phí và di chuyển dần giá trị vào sản
phẩm, thì người lao động do bản chất sáng tạo của mình, trong quá trình lao
động họ không chỉ sáng tạo ra giá giá trị đủ bù đắp hao phí lao động, mà còn
sáng tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bỏ ra ban đầu. Người lao động là nguồn
gốc của mọi sáng tạo trong sản xuất vật chất, nguồn gốc của sự phát triển sản
xuất. Cùng với người lao động, công cụ lao động là yếu tố cơ bản,quan trọng
không thể thiếu được, đặc biệt, trình độ phát triển của công cụ lao động là một
nhân tố quyết định năng suất lao động xã hội. Lực lượng sản xuất là kết quả
năng lực thực tiễn của con người, nhưng bản thân năng lực thực tiễn này bị
quy định bởi những điều kiện khách quan mà trong đó con người sống và hoạt
động. Vì vậy, lực lượng sản xuất luôn có tính khách quan. Tuy nhiên, quá trình
phát triển lực lượng sản xuất là kết quả của sự thống nhất biện chứng giữa khách quan và chủ quan.
1.2.1.2. Quan hệ sản xuất.
- Trong quá trình sản xuất con người cần phải có mối quan hệ xã hội với
nhau. Tổng thể các mối quan hệ đó được gọi là mối quan hệ sản xuất. Quan
hệ sản xuất là toàn bộ những quan hệ giữa người với người trong quá trình
sản xuất và tái sản xuất vật chất của xã hội: sản xuất – phân phối – trao - đổi
– tiêu dùng. Tổng thể các quan hệ xã hội này có thể được phân tích trên 3 yếu tố cơ bản:
- Thứ nhất, quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất tức là quan hệ giữa con
người đối với tư liệu sản xuất, nói cách khác tư liệu sản xuất thuộc về ai.
Đây là quan hệ có ý nghĩa quyết định đối với các mặt quan hệ khác.
- Thứ hai, quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, kinh doanh, tức là quan
hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi của cải vật chất như phân
công chuyên môn hoá và hợp tác hóa lao động, quan hệ giữa người quản lý
với công nhân. Trong thực tế, thích ứng với một kiểu sở hữu là một chế độ 7
tổ chức và quản lý nhất định. Mặc dù phụ thuộc vào quan hệ sở hữu nhưng
tổ chức và quản lý sản xuất có tác dụng rất lớn đối với quá trình sản xuất và
với các mặt quan hệ khác của quan hệ sản xuất. Chính quan hệ về tổ chức
và quản lý sản xuất là nhân tố tham gia quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc
độ và hiệu quả của nền kinh tế.
- Thứ ba, quan hệ phân phối sản phẩm lao động: tuy quan hệ này phụ thuộc
vào quan hệ sở hữu và vào trình độ tổ chức quản lý sản xuất nhưng đến lượt
mình thông qua tổ chức và quản lý, nó trở thành chất xúc tác quan trọng đặc
biệt đối với sự tăng trưởng kinh tế. Ba mặt quan hệ nói trên là một thể thống
nhất hữu cơ, quan hệ chặt chế với nhau và cùng một mục tiêu chung là sử
dụng hợp lý và có hiệu quả tư liệu sản xuất để làm cho chúng không ngừng
được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, nâng cao phúc lợi người
lao động. Vì vậy không nên tuyệt đối hoá bất kỳ một mặt quan hệ nào mà
phải chú ý đến tính đồng bộ của cả ba mặt quan hệ trong quan hệ sản xuất.
- Như vậy tính vật chất của quan hệ sản xuất thể hiện ở chỗ nó tồn tại khách
quan độc lập hoàn toàn với ý thức của con người. Mác đã chỉ ra rằng trong
sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất
định, tất yếu không phụ thuộc vào ý muốn của họ. Tức là những quan hệ sản
xuất này phù hợp với trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản
xuất vật chất của họ. Vì vậy con người không thể tuỳ tiện lựa chọn quan hệ
sản xuất riêng cho mình, bởi vì chúng luôn luôn là kết quả phát triển tất yếu
khách quan của một lực lượng sản xuất hiện có tương ứng với nó.
1.2.2. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
- Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất quy định
sự vận động, phát triển của các phương thức sản xuất trong lịch sử. Lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của một phương thức sản xuất có tác
động biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, còn
quan hệ sản xuất tác động trở lại to lớn đối với lực lượng sản xuất. Nếu quan hệ
sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển, ngược lại, nếu không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát 8
triển của lực lượng sản xuất.Đây là quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển xã hội.
- Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất .
oSự vận động và phát triển của phương thức sản xuất bắt đầu từ sự biến
đổi của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất là nội dung của quá trình
sản xuất có tính năng động, cách mạng, thường xuyên vận động và phát
triển; quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất có tính
khẳng định tương đối. Trong sự vận động của mâu thuẫn biện chứng
đó,lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất. Cơ sở khách quan
quy định sự vận động, phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất là
biện chứng giữa sản xuất và nhu cầu con người; do tính năng động và
cách mạng của sự phát triển công cụ lao động; do vai trò của người lao
động là chủ thể sáng tạo, là lực lượng sản xuất hàng đầu; do tính kế thừa
khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất trong tiến trình lịch sử.
oSự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất là đòi hỏi khách quan của nền sản xuất. Lực lượng sản xuất vận
động, phát triển không ngừng sẽ mâu thuẫn với tính “đứng im”tương đối
của quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất tư chỗ là “hình thức phù hợp”,
“tạo địa bàn” phát triển của lực lượng sản xuất trở thành “xiềng xích”
kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đòi hỏi tất yếu của nền
sản xuất xã hội là phải xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản
xuất mới phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đã phát triển.
C.Mác đã nêu tư tưởng về vai trò của sự phát triển lực lượng sản xuất
đối với việc thay đổi các quan hệ xã hội: “Những quan hệ xã hội đều gắn
liền mật thiết với những lực lượng sản xuất. Do có những lực lượng sản
xuấtmới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình, và do thay
đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi
tất cả nhưng quan hệ xã hội của mình. Cái cối xay quay bằng tay đưa lại
xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có
nhà tư bản công nghiệp”. 9
oLực lượng sản xuất quyết định sự ra đời của một kiểu quan hệ sản xuất
mới trong lịch sử, quyết định đến nội dung và tính chất của quan hệ sản
xuất. Con người bằng năng lực nhận thức và thực tiễn, phát hiện và giải
quyết mâu thuẫn, thiết lập sự phù hợp mới làm cho quá trình sản xuất
phát triển đạt tới một nấc thang cao hơn.
- Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
oDo quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất có tính
độc lập tương đối nên tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản
xuất. Vai trò của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất được thực
hiện thông qua sự phù hợp biện chứng giữa quan hệ sản xuất với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất.
oSự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất là đòi hỏi khách quan của nền sản xuất. Sự phù hợp của quan hệ
sản xuất với lực lượng sản xuất là một trạng thái trong đó quan hệ sản
xuất là “hình thức phát triển” của lực lượng sản xuất và “tạo địa bàn đầy
đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển. Sự phù hợp bao gồm sự kết hợp
đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất; sự kết hợp đúng
đắn giữa các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất; sự kết hợp đúng đắn
giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất. Sự phù hợp bao gồm cả
việc tạo điều kiện tối ưu cho việc sử dụng và kết hợp giữa người lao
động và tư liệu sản xuất; tạo điều kiện hợp lý cho người lao động sáng
tạo trong sản xuất và hưởng thụ thành quả vật chất, tinh thần của lao động.
oNếu quan hệ sản xuất “đi sau” hay “vượt trước” trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất đều là không phù hợp. Sự phù hợp không có nghĩa là
đồng nhất tuyệt đối mà chỉ là tương đối, trong đó chứa đựng cả sự khác biệt.
oSự phù hợp diễn ra trong sự vận động phát triển, là một quá trình thường
xuyên nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn. Sự phù hợp của
quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất quy định mục đích, xu hướng 10
phát triển của nền sản xuất xã hội; hình thành hệ thống động lực thúc
đẩy sản xuất phát triển; đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền sản xuất.
oSự tác động của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất diễn ra theo
hai chiều hướng, đó là thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực
lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất thì
nền sản xuất phát triển đúng hướng, quy mô sản xuất được mở rộng;
những thành tựu khoa học công nghệ được áp dụng nhanh chóng; người
lao động nhiệt kiện nhất định.
oTrạng thái vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất diễn ra là tư phù hợp đến không phù hợp, rồi đến sự
phù hợp mới ở trình độ cao hơn. Con người bằng năng lực nhận thức và
thực tiễn, phát hiện và giải quyết mâu thuẫn, thiết lập sự phù hợp mới
làm cho quá trình sản xuất phát triển đạt tới một nấc thang cao hơn.
C.Mác khẳng định: "Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các
lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản
xuất hiện có... trong đó từ trước tới nay các lực lượng sản xuất vẫn phát
triển. Tư chỗ là các hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những
quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi
đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội".
oQuy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử
nhân loại. Sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ
sản xuất làm cho lịch sử xã hội loài người là lịch sử kế tiếp nhau của các
phương thức sản xuất, tư phương thức sản xuất cộng sản nguyên thuI
qua phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ, phương thức sản xuất phong
kiến,phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và đang phát triển đến
phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.
oTrong xã hội xã hội chủ nghĩa, do những điều kiện khách quan và chủ
quan quy định, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển 11
của lực lượng sản xuất có những đặc điểm tác động riêng. Sự phù hợp
giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đòi
hỏi tất yếu thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu.Phương
thức sản xuất xã hội chủ nghĩa dần dần loại trừ đối kháng xã hội.Sự phù
hợp không diễn ra “tự động”, đòi hỏi trình độ tự giác cao trong nhận
thức và vận dụng quy luật. Quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất trong xã hội xã hội chủ nghĩa có thể bị “biến dạng"
do nhận thức và vận dụng không đúng quy luật.
1.2.3. Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật
- Qua cơ sở lý luận của vấn đề biện chứng về lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất ta cũng thấy được đây, mối quan hệ giữa chúng là mối quan hệ thống nhất
biện chứng và mối quan hệ thống nhất có bao hàm khả năng chuyển hoá thành
các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn. Qua hai mối quan hệ đỏ thì chủ nghĩa
duy vật lịch sử Mác-Lênin về vấn đề biện chứng giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất đã có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với xã hội.
- Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là một
trong những nguyên lý cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là quan hệ
cơ bản của toàn xã hội, quyết định sự vận động phát triển của lịch sử xã hội loài người.
- Về mối quan hệ thống nhất biện chứng thì trong một giai đoạn lịch sử nào đi
nữa quá trình sản xuất luôn có hai mặt cơ bản đó là lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất. Hai mặt này luôn phối hợp và tác động qua lại lẫn nhau,trong đó
lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, quan hệ sản xuất
là hình thức xã hội của quá trình đó. Đó là về mặt cơ sở lý luận còn về ý nghĩa
trong cuộc sống thì mối quan hệ này sẽ làm cho cuộc sống thay đổi theo một
hướng nào đó. Trong đời sống ta luôn phải song song cùng nhau phát triển cả
hai mặt lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, vì mỗi lực lượng sản xuất ở
một thời kỳ lịch sử nhất định điều yêu cầu phải có quan hệ sản xuất phù hợp
với nó và ngược với mỗi hình thái kinh tế xã hội luôn luôn có khả năng tác
động trở lại nội dung vật chất để làm cho quá trình sản xuất phát triển hay là 12
suy thoái đều do sự phù hợp và tác động của quan hệ sản xuất gây ra. Ví dụ
trong đời sống với sự thay đổi của công cụ lao động, chuyển từ lao động từ
dụng cụ thô sơ sang nhưng công cụ hiện đại, tiên tiến làm cho quan hệ sản xuất
mới phải hình thành để cho phù hợp với lực lượng sản xuất hiện tại, thực tế như
là từ thời xưa cha ông chúng ra với nghề trồng lúa nước thì chỉ với công cụ lao
động là cày, bừa,… nhưng đến hiện tại vì muốn phát triển,giảng sự cực nhọc và
sức người thì họ bắt đầu cải tiến các công cụ thô sơ bằng các loại máy liên hợp,
máy cày,…từ sự thay đổi đó thì quan hệ sản xuất mới cũng được hình thành để
phù hợp với đời sống của họ. Đó chỉ là sự tác động của lực lượng sản xuất đến
quan hệ sản xuất, còn sự tác động của quan hệ sản xuất đến lực lượng sản xuất
sẽ làm cho quá trình đó diễn ra theo một cách tích cực hay tiêu cực thì do quan
hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có phù hợp hay không phù hợp với nhau.
- Mối quan hệ thống nhất có bao hàm khả năng chuyển hoá thành các mặt đối lập
và phát sinh mâu thuẫn thì lại là lúc này lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
đã ở trong một trạng thái ổn định. Với tính ổn định, phù hợp của quan hệ sản
xuất càng cao thì lực lượng sản xuất càng có khả năng phát triển,nhưng tính
phát triển của lực lượng sản xuất lại tạo ra khả năng phá vỡ sự thống nhất của
nhưng quan hệ sản xuất từ trước đến nay với vai trò là hình thức kinh tế xã hội
cho sự phát triển của có. Như vậy lúc này hình thức kinh tế xã hội đã kìm hãm
đi sự phát triển của lực lượng sản xuất. Từ ví dụ thực tế ở trên ta có thể thấy
được nếu công cụ lao động phát triển theo hướng đi lên,theo hướng công
nghiệp hoá hiện đại hoá thì ở đây hình thái kinh tế xã hội hiện tại không đáp
ứng được nhu cầu gây ra sự kìm hãm, sự kìm hãm đó sẽ dẫn tới cách cuộc cách
mạng xã hội để thay đổi mối quan hệ sản xuất củ thành mối quan hệ sản xuất
mới. Như thực tế, đến khi công cụ lao động bằng tay như cày, bừa, cuốc,…
phát triển đến một công cụ lao động bằng máy thì quan hệ sản xuất củ đã kìm
hãm lại làm cho các mối quan hệ sản xuất bất ổn, nên phải thay thế quan hệ sản
xuất mới để phù hợp nhu cầu trong quá trình sản xuất.
- Nhìn chung thì qua hai môi quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất thì Đãng và Nhà nước ta đã vận dụng triệt để ý nghĩa của nó. Để đưa nước 13
ra từ một nước chưa phát triển lên một thành một đất nước đang phát triển khá
nhanh. Ở nước ta, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được
Đảng ta xác định từ Đại hội VII: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa” và được tiếp tục khẳng định qua các
Đại hội VIII, IX và X. Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: “Nếu Công
nghiệp hoá, Hiện đại hoá tạo nên lực lượng sản xuất cần thiết cho chế độ mới
thì việc phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần chính là để xây dựng
hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp. Quan điểm “Giáo dục và đào tạo là quốc
sách hàng đầu” được đưa ra lần đầu tiên trong Nghị quyết số04NQ/TW Hội
nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ương Đảng (khóa VII) về tiếp tục đổi mới
sự nghiệp giáo dục và đào tạo, ngày 14/01/1993.
Chương 2. SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN
XUẤT VỚI QUAN HỆ SẢN XUẤT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Thực trạng vận dụng quy luật biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của Đảng ta hiện nay
- Thời kỳ trước đổi mới, do nhận thức và hành động giản đơn, chủ quan, duy ý chí,
không xuất phát từ thực tiễn khách quan nên nhiều quy luật của thời kỳ quá độ,
trong đó có quy luật về quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của
lực lực lượng sản xuất chưa được Đảng ta nhận thức và vận dụng đúng đắn trong
thực tiễn dẫn đến khủng hoảng kinh tế- xã hội. Từ 1986 đến nay, Đảng ta đã có
nhận thức mới về các quy luật khách quan của thời kỳ quá độ; từng bước làm rõ
các đặc trưng, đặc điểm các mối quan hệ của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, trong đó có quan hệ “giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn
thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN”.
- Cụ thể, trong sự nghiệp đổi mới từ năm 1986 đến nay, Đảng lấy nhiệm vụ phát
triển kinh tế làm trung tâm. Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN. 14
Có rất nhiều quy luật, đặc trưng, đặc điểm các mối quan hệ của nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN tiếp tục được nhận thức và xử lý trong thực tế dựa trên
cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn. Quy luật và cũng là quan hệ giữa
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất vẫn là vấn đề cơ bản chỉ đạo trong khi đề ra
các chính sách kinh tế. Đảng và Nhà nước tập trung phát triển mạnh mẽ lực lượng
sản xuất theo đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa được đề ra từ Nghị quyết
Trung ương 7 khóa VII (1994), và từ 1996, Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ đề ra
cho chặng đường đầu tiên chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Đặt chiến lược phát triển khoa học và công nghệ, chiến lược giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu tại Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII
(1996). Lực lượng sản xuất đã phát triển đáng kể và đang phấn đấu đến năm 2030,
Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Việc phát triển
công nghệ thông tin và nhất là ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công
nghiệp 4.0, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, cho phép phát triển lực lượng sản xuất với
quy mô lớn, chất lượng, hiệu quả cao hơn. 2.1.1. Thành tựu
- Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhìn tổng thể 30 năm qua đất nước
ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong đó, có thành tựu về nhận thức và vận
dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất ở nước ta. Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội
nhập quốc tế, việc nhanh chóng phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với từng
bước hoàn thiện quan hệ sản xuất để phát triển kinh tế - xã hội , khắc phục
nguy cơ tụt hậu xa về kinh tế đang càng là một yêu cầu cấp thiết .
- Doanh nghiệp và hàng hoá dịch vụ chủ động hội nhập quốc một cách tích
cực, lĩnh hội những thành tựu về khoa học công nghệ. Bên cạnh đó, về mặt
tổ chức quản lý chúng ta đã xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu
bao cấp và chuyển sang cơ chế thị trường, quá trình sản xuất kinh doanh
đều tuân theo các quy luật của thị trường và do thị trường điều chứ không 15
dựa vào ý muốn chủ quan để thay cho các quy luật của thị trường. Về mặt
phân phối, từ khi đổi mới hiện nay, nước ta đã thực hiện nhiều hình thức
phân phối trong đó lấy phân phối theo lao động làm cơ bản từ đó đẩy mạnh
phát triển lực lượng sản xuất, từng bước cải tạo quan hệ sản xuất dẫn tới
quan hệ sản xuấtdần dần phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất làm cho kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được nâng
cao, mức sống của nhân dân ngày càng được cải thiện. 2.1.2. Hạn chế
- Đối với những người sản xuất nhỏ (nông dân, thợ thủ công, buôn bán nhỏ)
thì tư hữu về tư liệu sản xuất là phương thức kết hợp tốt nhất giữa sức lao
động và tư liệu sản xuất. Việc tiến hành tập thể nhanh chóng tư liệu sản
xuất dưới hình thức cá nhân bị tập trung dưới hình thức sở hữu công cộng,
người lao động bị tách khỏi tư liệu sản xuất, không làm chủ được quá trình
sản xuất, phụ thuộc vào lãnh đạo HTX, họ cũng không phải là chủ thể sở
hữu thực sự dấn đến tư liệu sản xuất trở thành vô chủ, gây thiệt hại cho tập thể.
- Kinh tế quốc doanh thiết lập tràn lan trong tất cả các ngành. Về pháp lý tư
liệu sản xuất cũng thuộc sở hữu toàn dân, người lao động là chủ sở hữu có
quyền sở hữu chi phối, định đoạt tư liệu sản xuất và sản phẩm làm ra nhưng
thực tế thì người lao động chỉ là người làm công ăn lương, chế độ lương lại
không hợp lý không phản ánh đúng số lượng & chất lượng lao động của
từng cá nhân đã đóng góp. Do đó chế độ công hữu về tư liệu sản xuất cùng
với ông chủ của nó trở thành hình thức, vô chủ, chính quyền (bộ, ngành chủ
quản) là đại diện của chủ sở hữu là người có quyền chi phối, đơn vị kinh tế
mất dần tính chủ động, sáng tạo, mất động lực lợi ích, sản xuất kinh doanh
kém hiệu quả nhưng lại không ai chịu trách nhiệm, không có cơ chế giàng
buộc trách nhiệm, nên người lao động thờ ơ với kết quả hoạt động của mình. 16
2.2. Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế
- Thành tựu: Để thực hiện điều đó, Đảng và Nhà nước ta đã, đang và sẽ phải
tiếp tục thống nhất nhận thức về kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, nền
kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường.
Đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai
đoạn phát triển của đất nước; xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và
hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Xác lập nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa Việt nam “có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất, có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh
tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một
động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh
tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật” ; thị trường đóng vai trò
chủ yếu trong huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực phát triển, là
động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được
phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị
trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế
kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử
dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định
hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi
trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính
sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế xã hội. - Hạn chế:
Có nhiều quy luật của thời kỳ quá độ chưa được nhận thức và vận
dụng đúng đắn, không thúc đẩy mà còn tác động tiêu cực đến sự phát triển,
trong đó có quy luật về quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất. Trong khi lực lượng sản xuất còn rất kém phát
triển do điểm xuất phát của Việt Nam ở trình độ rất thấp, lại tập trung xây
dựng hoàn thiện quan hệ sản xuất ở trình độ cao, muốn dùng quan hệ sản 17
xuất tiên tiến để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Đó là nhận
thức và hành động không đúng, nếu không nói là làm trái quy luật.
2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa việc vận dụng quy luật biện chứng giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của Đảng ta hiện nay
- Nâng cao trình độ người lao động bằng cách phát triển giáo dục đào tạo
đặc biệt là đào tạo nghề. Nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục đào tạo
nghề, nhằm đẩy mạnh phát triển nguồn lao động cả về số lượng và chất lượng.
- Hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để hoàn
thiện quan hệ sản xuất.
- Tăng cường những bước cơ bản về cơ sở vật chất cho khoa học – công
nghệ, tập trung xây dựng một số phòng thí nghiệm đạt trình độ tiên tiến
trong khu vực trên các lĩnh vực công nghệ trọng điểm như công nghệ thông
tin, công nghệ sinh học, hóa dầu….
- Về quản lý, trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải có sự
quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý
nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, kế hoạch, chính sách đồng thời sử
dụng cơ chế thị trường, các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý kinh
tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy tính
tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực 18 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tạp chí điện tử Lý luận Chính trị
2. Trường chính trị tỉnh Thanh Hóa 3. Luật Dương Gia 19