TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA HTTTKT&TMĐT ĐỀ TÀI
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và ý nghĩa của phương
pháp luận. Liên hệ với quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên. Nhóm thực hiện: Nhóm 5
Mã lớp học phần: 232 _ML NP 0221_21
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Liên Hà Nội – Năm 2024 Danh sách phân công ST TTên Công việc Đánh giá 1 Nguyễn Thị Duyên Thuyết trình 2 Nguyễn Diệu Vy 3
Lê Thị Phương Uyên
Làm word, kết luận, làm phần
1.1.3, đọc và chỉnh sửa lại nội dung 4 Hoàng Văn Định 5 Nguyễn Ngọc Dũng Làm ppt hoặc canva 6 Nguyễn Hữu Đạt 7 Phạm Bảo Châu Làm phần 1.1 Làm phần 1.2 Làm phần 2.1 8
Nguyễn Thị Hồng Ánh Làm phần 2.2 9 Tạ Quỳnh Anh Làm phần 2.3
10 Trịnh Nguyễn Tuấn Anh Làm phần 3.2.2 11 An Hoàng Duy Làm phần 3.2.1 12 Vi Thị Ngọc Diệp Làm phần 3.3
13 Đỗ Thị Thùy Dung Làm phần 3.1 Mục lục Mục l ục
..................................................................................................... .... .... .... .... .... 2 1 Mở đầ u
......................................................................................................................... . 4 1.Lý d o chọ n đề tài
...................................................................... .... .... .... .... .... .... ..... 4
2. Mục đích và nhiệm vụ nghi ên cứu ....... ........... .................... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... .. 5
3. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu ....... ........... ........... .......... ...... ... ... .. ... ... ... ... ... ... ... 5 4. Ph ương pháp nghi ên cứu
.................................................................... .... .... .... ..... 5 5. Kết cấu
................................................................................................................... 5
CHƯƠNG 1: PHẠM TRÙ LÝ LUẬN VÀ PH
ẠM TRÙ THỰC TIỄN .. ... ... .. .. .. .. . .. 7 1.1. Phạm trù lý l uận
................................................................................ .... .... .... .... 7
1.1.1. Khái niệm về lý luận
.................................................................................... 7 1.1.2
. Đặc trưng của lý luận
......................................................................... .... .... . 8
1.1.3. Hai cấp độ và các hình thức của nhận t hức lý luận. ......... ..... ... ... ... ... ... .. 10 1.2. Phạm trù thực tiễn
......................................................................................... .. 11 1.2.1
. Khái niệm về thự c tiễn
............................................................ .... .... .... .... .. 11 1.2.2
. Đặc trưng của th ực tiễn
................................................ .... .... .... .... .... .... .... 12
1.2.3. Các hình thức cơ bản của thực tiễn ....... ........... ........ ... ..... ... ... ... ... ... ... ... .. 15
CHƯƠNG 2: NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
..................................................................................................... .... .... .... .... ...... 17
2.1. Vai trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận ....... ........... ........... .... ... ... ... .. 17 2.2.
Vai trò của lý luận đối với thực tiễn
.................................................. .... .... .... . 19 2.3.
Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn
........................................................ .... 21
CHƯƠNG 3. VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC T
HỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN VÀO QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN .. ... ... ... ... ... ... ... .. .. 23
3.1. Thực trạng vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn vào quá
trình học tập của sinh viên ....... ........... ........... .......... ........ ... ... ... ... ... ..... ... ... ... . 23 3.2.
Mặt tích cực và mặt tiêu cực
.................................................................. .... ..... 24 3.2.1 . Mặt tích cự c
.......................................................................... .... .... .... .... ..... 24 3.2.2 . Mặt tiêu cự c
.......................................................................... .... .... .... .... ..... 25
3.3. Một số giải pháp nâng cao hơn nữa việc vận dụn
g nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn vào quá trình học tập của sinh viên ....... ........... ..... ... ... 28 KẾT LU ẬN
.................................................................................... .... .... .... .... .... ........ 32 DANH
MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
................................................. .... .... .... ..... 33 2 Mở đầu
1.Lý do chọn đề tài
Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của bất cứ hình
thái kinh tế nào. Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực tiễn, phương
pháp biện chứng... luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động
thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội. Nếu xuất phát từ một lập trường triết học đúng
đắn, con người có thể có được những cách giải quyết phù hợp
với các vấn dề do cuộ
c sống đặt ra. Việc chấp nhận hay không chấp nhận một
lập trường triết học nào đó sẽ
không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận một thế giới
quan nhất định, một cách lý giải nhất
định về thế giới, mà còn là sự chấp
nhận một cơ sở phương pháp luận nhất định chỉ
đạo cho hoạt động.
Ngay từ buổi đầu của lịch sử, con người phải lao động sản xuất tạo ra của cải vật
chất để tồn tại. Qua lao động mà kinh nghiệm được tích lũy phong phó, đó là cơ sở cho
việc khái quát lí luận. Phân công lao động phát triển, xã hội phân chia thành giai cấp
đối kháng, giai cấp thống trị có điều kiện vật chất để tách khái lao động chân tay để
chuyên nghiên cứu lí luận. Đó là cơ sở xã hội cho việc tách
rời giữa thực tiễn với lí luận đi đến đối lập chúng với nhau. Triết học Mác- Lênin
đã thực hiện sự thống nhất
trở lại lí luận với thực tiễn. Sự thống nhất này thực
hiện trên cơ sở phát triển cao cả của thực tiễn và lí luận. Quan điểm của triết
học Mác về sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn không chỉ ở chỗ vạch rõ
vai trò quyết định của thực tiễn đối với lí luận, coi thực tiễn là cơ sở,là tiêu chuẩn,
là mục đích quan trọng của lí luận với thực tiễn.
“Triết học là lẽ thường được nói bằng ngôn ngữ lớn”. Đây chính là câu nói
của vị tổng thống thứ 4 của Hoa Kỳ - James Madison khi phát biểu về triết học.
Thông thường khi nhắc đến triết, người ta thường nghĩ đến một môn học trìu
tượng, khó hình dung, không dễ để có thể hiểu được, tuy nhiên, thực chất triết
học luôn hiện hữu trong cuộc sống, phản ánh thế giới xung quanh và chính thế
giới con người. Triết học thông qua việc cho con người cái nhìn đa chiều về cuộc
sống, rèn luyện tư duy nhạy bén có chiều sâu đã khẳng định tầm quan trọng cũng
như vai trò của nó trong đời sống xã hội. 3
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA HTTTKT&TMĐT ĐỀ TÀI
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và ý nghĩa của phương
pháp luận. Liên hệ với quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên. Nhóm thực hiện: Nhóm 5
Mã lớp học phần: 232 _ML NP 0221_21
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Liên Hà Nội – Năm 2024 Danh sách phân công ST TTên Công việc Đánh giá 1 Nguyễn Thị Duyên Thuyết trình 2 Nguyễn Diệu Vy 3
Lê Thị Phương Uyên
Làm word, kết luận, làm phần
1.1.3, đọc và chỉnh sửa lại nội dung 4 Hoàng Văn Định 5 Nguyễn Ngọc Dũng Làm ppt hoặc canva 6 Nguyễn Hữu Đạt 7 Phạm Bảo Châu Làm phần 1.1 Làm phần 1.2 Làm phần 2.1 8
Nguyễn Thị Hồng Ánh Làm phần 2.2 9 Tạ Quỳnh Anh Làm phần 2.3
10 Trịnh Nguyễn Tuấn Anh Làm phần 3.2.2 11 An Hoàng Duy Làm phần 3.2.1 12 Vi Thị Ngọc Diệp Làm phần 3.3
13 Đỗ Thị Thùy Dung Làm phần 3.1 Mục lục Mục l ục
..................................................................................................... .... .... .... .... .... 2 1 Mở đầ u
......................................................................................................................... . 4 1.Lý d o chọ n đề tài
...................................................................... .... .... .... .... .... .... ..... 4
2. Mục đích và nhiệm vụ nghi ên cứu ....... ........... .................... ... ... ... ... ... ... ... ... ... ... .. 5
3. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu ....... ........... ........... .......... ...... ... ... .. ... ... ... ... ... ... ... 5 4. Ph ương pháp nghi ên cứu
.................................................................... .... .... .... ..... 5 5. Kết cấu
................................................................................................................... 5
CHƯƠNG 1: PHẠM TRÙ LÝ LUẬN VÀ PH
ẠM TRÙ THỰC TIỄN .. ... ... .. .. .. .. . .. 7 1.1. Phạm trù lý l uận
................................................................................ .... .... .... .... 7
1.1.1. Khái niệm về lý luận
.................................................................................... 7 1.1.2
. Đặc trưng của lý luận
......................................................................... .... .... . 8
1.1.3. Hai cấp độ và các hình thức của nhận t hức lý luận. ......... ..... ... ... ... ... ... .. 10 1.2. Phạm trù thực tiễn
......................................................................................... .. 11 1.2.1
. Khái niệm về thự c tiễn
............................................................ .... .... .... .... .. 11 1.2.2
. Đặc trưng của th ực tiễn
................................................ .... .... .... .... .... .... .... 12
1.2.3. Các hình thức cơ bản của thực tiễn ....... ........... ........ ... ..... ... ... ... ... ... ... ... .. 15
CHƯƠNG 2: NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
..................................................................................................... .... .... .... .... ...... 17
2.1. Vai trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận ....... ........... ........... .... ... ... ... .. 17 2.2.
Vai trò của lý luận đối với thực tiễn
.................................................. .... .... .... . 19 2.3.
Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn
........................................................ .... 21
CHƯƠNG 3. VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC T
HỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN VÀO QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN .. ... ... ... ... ... ... ... .. .. 23
3.1. Thực trạng vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn vào quá
trình học tập của sinh viên ....... ........... ........... .......... ........ ... ... ... ... ... ..... ... ... ... . 23 3.2.
Mặt tích cực và mặt tiêu cực
.................................................................. .... ..... 24 3.2.1 . Mặt tích cự c
.......................................................................... .... .... .... .... ..... 24 3.2.2 . Mặt tiêu cự c
.......................................................................... .... .... .... .... ..... 25
3.3. Một số giải pháp nâng cao hơn nữa việc vận dụn
g nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn vào quá trình học tập của sinh viên ....... ........... ..... ... ... 28 KẾT LU ẬN
.................................................................................... .... .... .... .... .... ........ 32 DANH
MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
................................................. .... .... .... ..... 33 2 Mở đầu
1.Lý do chọn đề tài
Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của bất cứ hình
thái kinh tế nào. Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và thực tiễn, phương
pháp biện chứng... luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động
thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội. Nếu xuất phát từ một lập trường triết học đúng
đắn, con người có thể có được những cách giải quyết phù hợp
với các vấn dề do cuộ
c sống đặt ra. Việc chấp nhận hay không chấp nhận một
lập trường triết học nào đó sẽ
không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận một thế giới
quan nhất định, một cách lý giải nhất
định về thế giới, mà còn là sự chấp
nhận một cơ sở phương pháp luận nhất định chỉ
đạo cho hoạt động.
Ngay từ buổi đầu của lịch sử, con người phải lao động sản xuất tạo ra của cải vật
chất để tồn tại. Qua lao động mà kinh nghiệm được tích lũy phong phó, đó là cơ sở cho
việc khái quát lí luận. Phân công lao động phát triển, xã hội phân chia thành giai cấp
đối kháng, giai cấp thống trị có điều kiện vật chất để tách khái lao động chân tay để
chuyên nghiên cứu lí luận. Đó là cơ sở xã hội cho việc tách
rời giữa thực tiễn với lí luận đi đến đối lập chúng với nhau. Triết học Mác- Lênin
đã thực hiện sự thống nhất
trở lại lí luận với thực tiễn. Sự thống nhất này thực
hiện trên cơ sở phát triển cao cả của thực tiễn và lí luận. Quan điểm của triết
học Mác về sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn không chỉ ở chỗ vạch rõ
vai trò quyết định của thực tiễn đối với lí luận, coi thực tiễn là cơ sở,là tiêu chuẩn,
là mục đích quan trọng của lí luận với thực tiễn.
“Triết học là lẽ thường được nói bằng ngôn ngữ lớn”. Đây chính là câu nói
của vị tổng thống thứ 4 của Hoa Kỳ - James Madison khi phát biểu về triết học.
Thông thường khi nhắc đến triết, người ta thường nghĩ đến một môn học trìu
tượng, khó hình dung, không dễ để có thể hiểu được, tuy nhiên, thực chất triết
học luôn hiện hữu trong cuộc sống, phản ánh thế giới xung quanh và chính thế
giới con người. Triết học thông qua việc cho con người cái nhìn đa chiều về cuộc
sống, rèn luyện tư duy nhạy bén có chiều sâu đã khẳng định tầm quan trọng cũng
như vai trò của nó trong đời sống xã hội. 3
Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, việc học tập và nghiên
cứu là một trong những nhiệm vụ cấp thiết được đặt lên hàng đầu, đặc biệt là học
sinh, sinh viên. Sinh viên cần phải học lý thuyết trong sách, giáo trình cũng như
cần phải áp dụng những lý thuyết đó vào cuộc sống thực tiễn thông qua các dự
án, bài tập thực hành, thực tập. Qua đó sinh viên hiểu rõ hơn về lý thuyết, nắm
bắt được những quy luật, nguyên lý trong lý thuyết, và cũng biết cách vận dụng vào thực tế.
Nghiên cứu này là vấn đề hết sức thiết thực và quan trọng đối với việc
nghiên cứu lý luận Mác-Lenin nói chung và đối với quá trình học tập và phát
triển của sinh viên nói riêng. Vì vậy nhóm chúng em quyết định chọn đề tài
“Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và ý nghĩa của phương pháp
luận. Liên hệ với
quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên ” . Để nghiên cứu, từ
đó đưa ra cái nhìn tổng quát cho sinh viên Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Nêu
rõ nội dung cơ bản của n guyên
tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
và ý nghĩa của phương pháp
luận, từ đó liên hệ với quá trình học tập và rèn
luyện của sinh viên.
3. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu Với đề tài “ Nguyên
tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và ý nghĩa của phương
pháp luận. Liên hệ với quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên. ” Là
một đề tài với phạm vi lớn là sinh viên tại Việt Nam, chính vì do thời gian và
nguồn tài liệu có hạn nên bài nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức một bài tiểu luận của
Mácxít nói riêng và chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu Duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, đặc biệt coi trọng và sử dụng chủ yếu phương pháp logic lịch
sử, phân tích, tổng hợp, so sánh. 5. Kết cấu Ngoài
phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài
nghiên cứu gồm có 3 chương, 8 tiết. Cụ thể: 4
Chương 1: Phạm trù lý luận và phạm trù thực tiễn.
Chương 2: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Chương
3: Vận dụng nguyên tắc thống nhất lý luận và thực tiễn vào quá
trình học tập của sinh viên. 5
CHƯƠNG 1: PHẠM TRÙ LÝ LUẬN VÀ PHẠM TRÙ THỰC TIỄN
Phạm trù triết học là hình thức hoạt động trí óc phổ biến của con người, là
những mô hình tư tưởng phản ánh những thuộc tính và mối liên hệ vốn có ở tất
cả các đối tượng hiện thực. 1.1. Phạm trù lý luận
1.1.1. Khái niệm về lý luận
Lý luận là một nấc thang của nhận thức của sự phản ánh hiện thực khách quan c
ao nhưng tất yếu sẽ đạt đến trong hành trình nhận thức của con người. L ý
luận là một hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những
mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan. Trong hệ
thống tạo nên lý luận: khái niệm, phạm trù, nguyên lý và quy luật thì quy luật là
hạt nhân của lý luận, là sản phẩm của quá trình nhận thức nên bản chất của lý
luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Trên thực tế, C.Mác và Ph.Ăngghen chưa đưa ra quan niệm về lý luận.
Còn “lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin là sự tổng kết kinh nghiệm của phong
trào công nhân từ trước đến nay của tất cả các
nước”. Theo Lênin: “Nhận thức lý
luận phải trình bày khách thể trong tính tất’ yếu của nó, trong những quan hệ
toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó, tự nó và vì nó”. Luận
điểm đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản của lý luận cả về quá trình và kết quả của
nó. Lý luận phải hướng đến, nắm được cái bên trong, tất yếu, nhũng quan hệ
toàn diện và mâu thuẫn của khách thể, đồng thời phải “trình bày”, thể hiện được
những cái đã nắm được ấy dưới hình thức những quan điếm hoặc hệ thống lý
luận. Từ luận điểm của Lênin, cũng như từ việc xem xét những hình thức quan niệm,
hoạt động lý luận khác nhau, có
thể xác định bản chất (định nghĩa) lý luận
như sau: Lý luận là nhận thức cái bên trong, tất yếu của đối tượng và biểu hiện
nhận thức ấy dưới hình thức các khái niệm, phạm trù, quy luật. Vận
dụng và sáng tạo, Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong các bài viết, bài nói
chuyện của mình đã đưa ra một số quan niệm về lý luận với những cách diễn đạt
khác nhau. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Hồ Chí Minh chỉ dẫn: “Lý
luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, 6
xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng
minh với thực tế”. Đồng thời, theo Người, “kinh nghiệm từ trước và kinh nghiệm
hiện nay gom góp, phân tích và kết luận những kinh nghiệm đó thành ra lý luận”.
Hay trong “Diễn văn Khai mạc lớp học lý luận” khóa I của trường Nguyễn Ái
Quốc (nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) ngày 7-9-1957, Hồ Chí
Minh quan niệm “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là
tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”.
1.1.2. Đặc trưng của lý luận
Thứ nhất, nếu tri thức kinh nghiệm còn rời rạc, đã có tính hệ thống nhưng
tính hệ thống chưa chặt chẽ, có tính khái quát nhưng chưa cao, chưa sâu sắc; tính
khái quát của tri thức kinh nghiệm còn ở trình độ thấp, tính lô-gích còn hạn chế,
mới chỉ đem lại sự hiểu biết về từng mặt riêng lẻ, bề ngoài của sự vật như
Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có
thể chứng minh được đầy đủ tính tất yêu” thì lý luận lại khác hoàn toàn. Lý luận
có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính logic chặt chẽ bởi ngay từ khái niệm đã
khẳng định bản thân lý luận là hệ thống tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn.
Ví dụ như: Hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa tư bản trong tác phẩm
"Tư bản" của Karl Marx được đúc kết từ những kinh nghiệm thực tiễn dựa trên
thực trạng bóc lột giai cấp vô sản, mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp tư sản và giai
cấp vô sản trong các cuộc đấu tranh giai cấp, sự bất mãn ngày càng tăng của giai
cấp vô sản với chế độ tư bản chủ nghĩa,... . Hệ thống này bao gồm các khái niệm
như giá trị thặng dư, giai cấp tư sản, giai cấp vô sản, sự bóc lột, ..., được liên kết
chặt chẽ với nhau để giải thích bản chất và quy luật vận động của chủ nghĩa tư bản.
Thứ hai, tuy vượt trội hơn so với tri thức kinh nghiệm nhưng về bản chất thì
cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn. Không có tri thức kinh
nghiệm thực tiễn thì không có cơ sở để khái quát thành lý luận. Tuy nhiên, không
phải mọi tri thức kinh nghiệm đều có thể khái quát trở thành lý luận: những tri
thức kinh nghiệm thông thường, vụn vặt, cục bộ không thể khái quát thành lý luận. 7
Ví dụ như: Dựa trên quan sát và nghiên cứu về tác hại của thuốc lá đối với
sức khỏe con người, bao gồm các bệnh về phổi, tim mạch, ung thư, hen suyễn,
loãng xương,.. ta mới có lý luận về tác hại của thu
ốc lá tới sức khỏe con người.
Thứ ba, lý luận có thể phản ánh được bản chất sự vật, hiện tượng. Bởi vì, lý
luận phản ánh được mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của sự
vật, hiện tượng. Khác với kinh nghiệm - mới phản ánh được từng mặt riêng lẻ, bề
ngoài, thậm chí còn mang tính ngẫu nhiên của sự vật.
Ví dụ như: Lý luận về sự vận động của Trái đất. Về bản chất thì Trái đất tự
quay quanh trục và quay quanh Mặt Trời tạo nên mối quan hệ mật thiết với
nhau: gây ra các hiện tượng như ngày đêm, mùa. Về quy luật: chuyển động của
Trái đất tuân theo các quy luật vật lý, như định luật vạn vật hấp dẫn, định luật
bảo toàn năng lượng,...Trong khi kinh nghiệm chỉ mang lại cho con người cảm
nhận sự thay đổi về mùa hay sự dịch chuyển của các vật thể trên trời như sao,
trăng hay mặt trời mà không hề biết nguyên nhân, cách vận hành mà chỉ mang tính ngẫu nhiên.
Về nội dung phản ánh: Lý luận phản ánh cái bên trong, cái tất yếu của đối
tượng. Cái bên trong, tất yếu này có thể là cái chung, cái bản chất, cái căn bản,
cái quy luật của đối tượng, lý luận có thể phản ánh cái bên trong, cái tất yếu của
sự vật trong tính chỉnh thể, toàn vẹn của nó, nhưng cũng có thể chỉ phản ánh cái
bên trong, tất yếu của từng mặt nào đó của đối tượng.
Về hình thức phản ánh: Lý luận biểu hiện, “trình bày” đối tượng trong hình
thức những khái niệm, phạm trù, quy luật hoặc hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật.
Lý luận có tính chất trừu tượng hoá, khái quát hoá, tổng họp và những tính chât
này hình thành trên cơ sở của phân tích, so sánh. Tính chất này thể hiện không
chỉ trong quá trình hoạt động, mà cả trong kết quả của hoạt động lý luận và nó
thể hiện rõ ở việc chủ thể sử dụng những công cụ là các phạm trù, khái niệm, quy
luật trong hoạt động nhận thức.
Do những tính chất trên mà hoạt động lý luận có một tính chất nổi bật khác
là tính gián tiếp đối với đối tượng nhận thức. 8
Xét về mặt tâm lý, có thể thấy chủ thể lý luận là người hoạt động tự giác và
tích cực, chủ động nắm bắt đổi tượng. Vì thế, lý luận biểu hiện rõ tính chủ thể của con người.
Ngôn ngữ lý luận mang tính chung.
Lý luận còn mang tính khuynh hướng. Có lý luận tiên tiến, cách mạng, có lý
luận bảo thủ, phản cách mạng, có lý luận giáo điều, chiết trung, nguỵ biện, duy
lý, phi duy lý, duy khoa học, có lý luận khoa học và không khoa học, phản khoa
học v.v. Tuy nhiên, tính khuynh hướng của lý luận không phải là quá trình tự
thân của lý luận, mà do thực tiễn quy định.
Tóm lại, lý luận là một công cụ tư tưởng sắc bén, lý luận giúp con người
nhận thức đúng đắn về thế giới và bản thân, từ đó định hướng hành động và đạt
được mục tiêu đề ra. Nó đóng vai trò cầu nối giữa chủ thể nhận thức và chủ thể
tự nhiên, giúp con người hiểu được bản chất của các hiện tượng khách quan và
tác động, cải tạo thế giới một cách hiệu quả. Tuy nhiên, lý luận cũng có tính
tương đối và biến đổi, cần được cập nhật và hoàn thiện theo thời gian.
1.1.3. Hai cấp độ và các hình thức của nhận thức lý luận.
Cấp độ 1 . Cấp độ này là lý luận, lý thuyết, quan điểm của các lĩnh vực nhận
thức cụ thể, như kinh tế học, luật học, xã hội học, lịch sử, nghệ thuật học hoặc các
lĩnh vực nhận thức của khoa học tự nhiên. Trong mỗi lĩnh vực ấy lại có thể phân
chia thành các cấp độ khác nhau nữa, như kinh tế học đại cương và các lý luận
kinh tế ngành, sinh học đại cương và các lý luận thuộc các ngành sinh học cụ thể.v.v. Cấp độ 2 .
Đây là cấp độ cao hơn, nó là những hệ thống quan điểm triết học,
chính trị, xã hội dùng để định hướng, tổ chức hoạt động của các tầng lớp, giai
cấp, các tập đoàn, thậm chí cho cả một chế độ, một cộng đồng xã hội. Trong cấp
độ này, cũng có sự phân chia, chang hạn cấp độ lý luận triết học và lý luận chính
trị, xã hội v.v. Theo Hêghen, “phép biện chứng là sự vận động của lý tính cao cấp”. Ý
kiến của ông cho thấy lý luận triết học là một thành tố của lý luận ở cấp
độ hai và trong cấp độ ấy triết học còn thể hiện như một yếu tố cao hơn cả. 9
Sự phân chia những cấp độ khác nhau của lý luận, một mặt căn cứ vào
phạm vi đối tượng, những lĩnh vực đối tượng mà lý luận quan tâm, phản ánh,
mặt khác căn cứ vào mức độ, trình độ trừu tượng, khái quát và tổng hợp của tư
duy (khả năng, năng lực nhận thức) của mỗi lĩnh vực nhận thức, đồng thời căn cứ
vào vai trò, tác dụng của mỗi lĩnh vực nhận thức lý luận đối với nhận thức và thực tiễn.
Những hình thức lý luận. Có thể
nói, có bao nhiêu lĩnh vực hoạt động lý luận
thì có bẩy nhiêu các hình thức lý luận. Thí dụ, trong triết học có triết học chung
và các triết học cụ thể, trong sinh vật học có “Sinh học đại cương và các lĩnh vực
cụ thể của sinh học v.v.
1.2. Phạm trù thực tiễn
1.2.1. Khái niệm về thực tiễn
Trong lịch sử triết học có rất nhiều quan niệm được đưa ra về phạm trù
thực tiễn. Theo tiếng Hy Lạp cổ thực tiễn là “Practica” với ý nghĩa là hoạt động
tích cực. Các nhà triết học tôn giáo cho rằng hoạt động thực tiễn là hoạt động
sáng tạo ra vũ trụ của thượng đế, của những lực lượng siêu nhiên. Các nhà triết
học duy tâm lại tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần, gạt bỏ vai trò của thực tiễn trong
đời sống xã hội mà nhận định rằng: hoạt động thực tiễn là hoạt động của nhận
thức, hoạt động của ý thức, của tinh thần: nhà triết học duy tâm người Đức, Hê-
ghen cho rằng: “hoạt động có ý chí của ý niệm”, hoạt động của tinh thần thế giới
“tha hóa” thành giới tự nhiên, xã hội, lịch sử, con người là thực tiễn - tức hoạt
động tinh thần là hoạt động thực tiễn. Mà điều này được V.I.Lênin viết trong
“Bút ký triết học”: “Đối với Hê-ghen, hành động, thực tiễn là một “suy lý” lô-
gích, một hình tượng lô-gích” (“Suy lý lô-gích” là hoạt động tư duy, hoạt động
tinh thần nói chung).
Triết học duy vật trước triết học duy vật biện chứng thì có nhiều đóng góp
nhưng vẫn có khuyết điểm : “ Sự vật, hiện tượng, cái cảm giác được chỉ được
nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được
nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn.” Do vậy, chủ nghĩa
duy vật của họ còn mang tính trực quan. Nhà triết học duy vật người Pháp thế kỷ 10
XVIII, Điđờrô (1713-1784) đã thấy được vai trò to lớn của thực nghiệm khoa học
đối với nhận thức và coi thực nghiệm khoa học là thực tiễn. Đây là quan niệm
đúng, nhưng chưa đầy đủ, chưa thực sự khoa học, chưa bao quát hết các hình
thức của hoạt động thực tiễn. Nhà triết học duy vật lỗi lạc trước Mác người Đức
là Phoiơbắc cũng “chỉ coi hoạt động lý luận là hoạt động đích thực của con người,
còn thực tiễn chỉ được ông xem xét và xác định trong hình thức biểu hiện Do Thái
bẩn thỉu của nó mà thôi”.
Kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phục những hạn chế trong quan điểm
thực tiễn của các nhà triết học trước đó trong lịch sử,
triết học Mác-Lênin đã
đưa ra mộ quan điểm về thực tiễn vô cùng đúng đắn và đầy đủ: “Thực tiễn là
toàn bộ những hoạt động vật chất-tình cảm, có tính lịch sử-xã hội của con người
nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ nhân loại tiến bộ”.
1.2.2. Đặc trưng của thực tiễn
Theo triết học Mác - Lênin, thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục
đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và
bản thân con người.
Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng cơ bản, không chỉ
của lý luận nhận thức Mác-xít mà còn của toàn bộ triết học Mác – Lênin nói
chung. Hoạt động thực tiễn là quá trình con người sử dụng công cụ phương tiện
vật chất, sức mạnh vật chất tác động vào tự nhiên xã hội để cải tạo làm biến đổi
cho phù hợp với nhu cầu của mình. Hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác
giữa chủ thể và khách thể trong đó chủ thể hướng vào việc cải tạo khách thể trên
cơ sở đó nhận thức khách thể, vì vậy có thể thực tiễn bao gồm những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, thực tiễn là những hoạt động vật chất- cảm tính của con người:
Con người có thể quan sát trực quan các hoạt động vật chất này và sử dụng các
công cụ vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để biến đổi được thế giới
khách quan phục vụ cho mình.
Ví dụ như: Trong nông nghiệp, con người sử dụng các công cụ như cày,
cuốc, dao, liềm để cày bừa, gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch cây trồng để biến 11
đổi môi trường tự nhiên thành những cánh đồng, tạo ra nguồn lương thực phục
vụ nhu cầu con người. Trong giáo dục, con người sử dụng sách vở, giáo cụ,
phương tiện truyền thông để truyền đạt kiến thức, kỹ năng cho thế hệ sau để
nâng cao trình độ học vấn, phát triển nguồn nhân lực cho xã hội.
Thứ hai, thực tiễn là các hoạt động mang tính lịch sử- xã hội của con
người: Thực tiễn là hoạt động chỉ diễn ra trong xã hội với sự tham gia đông đảo
người trong xã hội. Trong hoạt động thực tiễn con người truyền lại cho nhau
những kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác Hoạt động thực tiễn bị giới
hạn bởi những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể và có trải qua những giai đoạn lịch
sử phát triển của nó.
Ví dụ như: Phong trào giải phóng dân tộc của những người dân Việt Nam
cùng chung lòng yêu nước, cùng chung lí tưởng giành độc lập dân tộc, tự do, dân
chủ với những bài học kinh nghiệm về cách đánh, cách triển khai của kháng
chiến. Tuy bị hạn chế bởi lực lượng hùng mạnh của kẻ xâm lược, công cụ kháng
chiến thô sơ của dân ta hay trình độ ngôn ngữ và kiến thức còn thiếu về phe
địch,...Cụ thể hơn, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, với sự tham gia của toàn bộ
nhân dân cả nước ta áp dụng cách đánh du kích, đánh vận động, đánh trận địa;
đánh phân tán, đánh tập trung hiệp đồng binh chủng; đánh nhỏ, đánh vừa, đánh
lớn…kết hợp chính trị - quân sự - ngoại giao,...Nhưng với lực lượng đông đảo của
người Mỹ và bè lũ tay sai, cũng như những cỗ máy chiến tranh khủng bố mà lần
đầu những người dân Việt Nam được trông thấy - hầu như chẳng có một tài liệu
nào để nghiên cứu và từ ngữ cũng quá chuyên môn gây khó hiểu trong quá trình
nghiên cứu gây cản trở rất nhiều trong việc kháng chiến bảo vệ quê hương.
Thứ ba, thực tiễn là những hành động có tính mục đích nhằm cải tạo tự
nhiên và xã hội phục vụ con người. Nếu cắt theo chiều dọc, thực tiễn bao gồm
mục đích, phương tiện và kết quả. Kết quả của hoạt động thực tiễn phụ thuộc vào
nhiều nhân tố nhưng trước hết là phụ thuộc vào mục đích đặt ra và phương tiện
con người sử dụng để đạt được mục đích đó.
Ví dụ như: Với mục đích để nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng, tăng
sức chống chịu sâu bệnh, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu, nhóm nghiên
cứu lúa Sóc Trăng đã miệt mài nghiên cứu, lai tạo,... và cuối cùng, kết quả thu 12
được là giống lúa mới là thế hệ mới nhất của dòng lúa thơm nổi tiếng thế giới -
Giống lúa ST25 (còn được gọi là gạo thơm Sóc Trăng), không chỉ giúp đem lại lợi
nhuận và tạo nguồn thu nhập ổn định cho bà con nông dân mà còn tiết kiệm thời
gian, công sức và chi phí phun thuốc bảo vệ thực vật, tạo nên dấu ấn đáng nhớ
khi chất lượng gạo Việt Nam được cả thế giới công nhận và đưa ngành nông
nghiệp của nước ta lên một tầm cao mới.
Dù xem xét theo chiều dọc hay chiều ngang thì thực tiễn là hoạt động thể
hiện tính mục đích, tính tự giác cao của con người, chủ động tác động làm biến
đổi tự nhiên, xã hội, phục vụ con người, khác với những hoạt động mang tính bản
năng thụ động của động vật, nhằm thích nghi với hoàn cảnh. Rõ ràng, thực tiễn
là hoạt động cơ bản, phổ biến của con người và xã hội loài người, là phương thức
cơ bản của mối quan hệ giữa con người với thế giới. Nghĩa là, con người quan hệ
với thế giới bằng và thông qua thực tiễn. Không có thực tiễn thì bản thân con
người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển.
Trong khi phê phán, chỉ ra những khuyết điểm của chủ nghĩa duy vật cũ,
kể cả chủ nghĩa duy vật của Phơ-bách, Mác đã chỉ ra khá rõ ràng và toàn diện
những đặc trưng của thực tiễn. Theo ông, thực tiễn là một quan hệ chủ thể-khách
thể, nó vừa là hoạt động khách quan, cảm tính, vừa có tính phê phán-cách mạng, đồng
thời là thực chất của mọi đời sống xã hội. Trong Bút
ký triết học , Lênin
nhận định: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận), vì nó có ưu điểm không
những của tính phổ biến, mà còn của tính hiện thực trực tiếp”. Kết họp những
luận điểm, nhận định đó của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, có thể chỉ ra nhũng
đặc trưng của thực tiễn như sau: a) Thực tiễn là hoạt động của con người, vì vậy
nó là một quan hệ chủ thể – khách thể; b) Thực tiễn là hoạt động khách quan, cảm tính, hoạt động vật
chất phổ biến . Thực tiễn phân biệt, đổi lập với hoạt động
nhận thức, tinh thần, tức là những quá trình diễn ra thuần tuý trong bộ óc người,
hoặc những hoạt động chủ yếu nhằm tạo ra và khẳng định những giá trị tinh thần.
Sự phân biệt, đối lập với hoạt động lý luận, nhận thức của thực tiễn là ở tính
vật chất phổ biến , xem như đặc trưng cơ bản nổi bật của nó. Tính vật chất
của thực tiễn bao trùm toàn bộ quá trình hoạt động, thể hiện rõ ở nhu cầu, mục
đích cuối cùng, ở các phương tiện và đặc biệt ở sản phẩm cuối cùng mà nó tạo ra; 13
c) Thực tiễn là hoạt động biến đổi (không phải chỉ là cải biến) hin thực; d) Thực
tiễn là hoạt động căn bản, nền tảng của mọi hoạt động của con người và xã hội; e)
Thực tiễn là hoạt động có tính xã hội và lịch sử.
Cần nhấn mạnh thêm là không nên nói thực tiễn là “hoạt động vật chất” thuần
túy, bởi vì nói như vậy sẽ không phân biệt được hoạt động đặc thù của con người
với hoạt động của con vật. Đối với con người thì không có hoạt động nào là hoạt
động vật chất thuần tuý.
Ngay cả những hoạt động vật chất nhất, sinh vật nhất của con người cũng
bao hàm quá trình có ý thức trong đó rồi. Cho nên, ở con người, thực tiễn cũng là
hoạt động có ý thức. Nhưng để phân biệt thực tiễn với hoạt động lý luận, hoạt động
tinh thần nói chung, cần chỉ ra đặc tính cơ bản của nó là tính vật chất phổ biến
, tức là phải quan niệm thực tiễn với tư cách là hoạt động
vật chất phổ biến . Thực tiễn có tính khuynh hướng và
tính khuynh hướng này thường do
những lợi ích của những tập đoàn xã hội nhất định quy định. Vì vậy, thực tiễn có
thể tiến bộ, cách mạng, nhưng cũng có thể bảo thủ, phản tiến bộ, phản cách
mạng; thực tiễn có thể mang tính chất nhân đạo, nhân văn chủ nghĩa, cũng có thể
mang tính chất vô nhân đạo, phi nhân văn, phi nhân tính v.v.
1.2.3. Các hình thức cơ bản của thực tiễn
Thực tiễn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, á những lĩnh vực khác
nhau, nhưng gồm những hình thức cơ bản: Hoạt động sản xuất vật chất; hoạt
động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học. Hoạt
động sản xuất vật chất: Là hình thức thực tiễn có sớm nhất, cơ bản
nhất và cũng là quan trọng nhất. Nó biểu hiện mối quan hệ của con người với tự
nhiên và là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội loài người. Sản
xuất vật chất cũng là cơ sở của các hình thức thực tiễn khác cũng như tất cả các
hoạt động sống khác của con người.
Ví dụ: Hoạt động gặt lúa của nông dân, lao động của các công nhân trong
nhà máy, xi nghiệp… 14
Hoạt động chính trị-xã hội:
Là hoạt động thực tiễn thể hiện tính tự giác cao
của con người nhằm biến đổi, cải tạo xã hội, phát triển các thiết chế xã hội, các
quan hệ xã hội,...tạo ra môi trường thuận lợi cho con người phát triển.
Ví dụ: Hoạt động bầu cử đại biểu Quốc hội, tiến hành Đại họi Đoàn Thanh
niên trường học, Hội nghị công đoàn. Hoạt
động thực nghiệm khoa học: Là hình thức đặc biệt của hoạt động
thực tiễn. Trong hoạt động thực nghiệm khoa học, con người chủ động tạo ra
những điều kiện không có sẵn trong tự nhiên cũng như xã hội để tiến hành thực
nghiệm khoa học theo mục đích mình đã đề ra. Ngày nay, khi cách mạng khoa
học công nghệ phát triển như vũ bão thì hình thức hoạt động thực tiễn này ngày
càng đóng vai trò quan trọng.
Ví dụ: Hoạt động nghiên cứu, làm thí nghiệm của các nhà khoa học để tìm
ra các vật liệu mới, nguồn năng lượng mới, vác-xin phòng ngừa dịch bệnh mới.
Cả 3 hình thức này có quan hệ biện chứng, tác động, ảnh hưởng qua lại
lẫn nhau. Hoạt động SẢN XUẤT VẬT CHẤT là loại hoạt động có vai trò quan
trọng nhất, đóng vai trò QUYẾT ĐỊNH đối với các hoạt động thực tiễn KHÁC.
Không có hoạt động sản xuất vật chất thì không thể có các hình thức thực tiễn
khác. Các hình thức thực tiễn khác, suy đến cùng cũng xuất phát từ thực tiễn sản
xuất vật chất và nhằm phục vụ thực tiễn sản xuất vật chất. NGƯỢC LẠI, hoạt
động chính trị – xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học có tác dụng kìm hãm
hoặc thúc đẩy hoạt động sản xuất vật chất phát triển. Chính sự tác động qua lại
lẫn nhau của các hình thức hoạt động cơ bản đó làm cho hoạt động thực tiễn vận
động, phát triển và ngày càng có vai trò quan trọng đối với hoạt động nhận thức.
Ngoài ba hình thức cơ bản trên, hoạt động thực tiễn còn có những hình thức không
cơ bản được thể hiện ở một số lĩnh vực khác nhau như giáo dục, y tế, nghệ
thuật, thể thao,v.v. 15
CHƯƠNG 2: NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Vai trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận
-Thực tiễn là cơ sở, động lực của lý luận
Bằng và thông qua hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới
khách quan, buộc chúng phải bộc lộ những thuộc tính, những quy luật để con
người nhận thức. Chính thực tiễn cung cấp những tài liệu, vật liệu cho nhận thức
của con người. Không có thực tiễn thì không có nhận thức, không có khoa học,
không có lý luận, bởi lẽ tri thức của con người xét đến cùng là được này sinh từ thực tiễn.
Thực tiễn luôn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của
nhận thức, vì thế nó luôn thúc đẩy cho sự ra đời của các ngành khoa học. Thực
tiễn rèn luyện các giác quan của con người, làm cho chúng phát triển tinh tế hơn,
hoàn thiện hơn, qua đó giúp quá trình nhận thức của con người tốt hơn. Vì vậy,
Ph.Ăngghen đã khẳng định: “chính việc người ta biến đổi tự nhiên... là cơ sở chủ
yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát
triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên”.
Hoạt động thực tiễn còn là cơ sở chế tạo ra các công cụ, phương tiện, máy
móc, mới hỗ trợ con người trong quá trình nhận thức, chẳng hạn kính hiển vi,
kính thiên văn, máy vi tính,..., đã mở rộng khả năng của các khí quan nhận thức
của con người. Như vậy, thực tiễn chính là nền tảng, cơ sở để nhận thức của con
người nảy sinh, tồn tại, phát triển. Không những vậy, thực tiễn còn là động lực
thúc đẩy nhận thức phát triển. Ví dụ: Xuất
phát từ nhu cầu của con người trong việc tính toán và xử lý thông tin
đã dẫn đến sự phát triển của máy tính. Việc cần phải thực hiện các phép
tính phức tạp, lưu trữ và truy xuất thông tin nhanh chóng đã đưa đến sự
cần thiết phải phát triển các công nghệ máy tính. Do đó Khoa học Máy tính
ra đời bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau phản ánh nhu cầu cụ thể của con 16
người trong việc xử lý thông tin và làm việc với máy tính để giải quyết các
vấn đề thực tế. Trước
khi phát triển kính hiển vi, con người chỉ có khả năng quan sát các
sinh vật và tế bào thông qua mắt thường, giới hạn về độ phân giải và khả
năng phóng đại. Tuy nhiên với sự ra đời của kính hiển vi, các nhà khoa học
và nhà nghiên cứu có khả năng quan sát và nghiên cứu các cấu trúc và tế
bào ở mức độ vô cùng nhỏ, khám phá và hiểu rõ hơn về các phản ứng sinh
học, các hiện tượng tự nhiên mà trước đây không quan sát được.
-Thực tiễn là mục đích của lý luận:
Nhận thức của con người ngay từ khi mới xuất hiện trên trái đất đã bị quy
định bởi những nhu cầu thực tiễn, bởi lẽ, muốn sống, muốn tồn tại, con người
phải sản xuất và cải tạo xã hội. Chính nhu cầu sản xuất vật chất và cải tạo xã hội
buộc con người phải nhận thức thế giới xung quanh. Nhận thức của con người là
nhằm phục vụ thực tiễn, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn chứ không phải để
trang trí hay phục vụ cho những ý tưởng viển vông. Nếu không vì thực tiễn, nhận
thức sẽ mất phương hướng, bế tắc. Mọi tri thức khoa học-kết quả của nhận thức
chỉ có ý nghĩa khi được áp dụng vào đời sống thực tiễn một cách trực tiếp hay
gián tiếp để phục vụ con người. Ví dụ: Khám
phá và giải mã bản đồ gen người là thành tựu ra đời từ mục đích
chữa trị những căn bệnh nan y và từ mục đích tìm hiểu, khai thác những
tiềm năng bí ẩn của con người. Để
chống lại dịch bệnh Covid-19 với nhiều biến chủng phức tạp, nhiều
nước đã cố gắng sản xuất các loại vaccine để có thể chống lại dịch bệnh này. Để
giảm thiểu ô nhiễm tiếng ồn, con người đã tạo ra các loại vật liệu cách
âm, cửa cách âm, tường cách âm,....
-Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý:
Tri thức của con người là kết quả của quá trình nhận thức, tri thức đó có
thể phản ánh đúng hoặc không đúng hiện thực. Không thể lấy tri thức để kiểm 17
tra tri thức, cũng không thể lấy sự hiển nhiên, hay sự tán thành của số đông hoặc
sự có lợi, có ích để kiểm tra sự đúng, sai của tri thức. Theo triết học Mác-Lênin,
thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để kiểm tra chân lý. Dựa vào thực
tiễn, người ta có thể chứng minh, kiểm nghiệm chân lý bởi chỉ có thực tiễn mới có
thể vật chất hóa được tri thức, hiện thực hóa được tư tưởng, qua đó mới khẳng
định được chân lý hoặc phủ định một sai lầm nào đó.
Có nhiều hình thức thực tiễn khác nhau, do vậy cũng có nhiều hình thức
kiểm tra chân lý khác nhau, có thể bằng thực nghiệm khoa học, có thể áp dụng lý
luận xã hội vào quá trình cải biến xã hội,.. Tuy nhiên thực tiễn là tiêu chuẩn của
chân lý vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính chất tương đối. Tính tuyệt đối của thực
tiễn với tư cách là tiêu chuẩn chân lý thể hiện ở chỗ, thực tiễn là tiêu chuẩn khách
quan duy nhất để kiểm tra chân lý. Trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, thực tiễn
sẽ chứng minh được chân lý, bác bỏ được sai lầm. Tính tương đối của thực tiễn
với tư cách là tiêu chuẩn chân lý thể hiện ở chỗ, thực tiễn có quá trình vận động,
biến đổi, phát triển, do đó “không bao giờ có thể xác nhận hoặc bác bỏ một cách
hoàn toàn một biểu tượng nào đó của con người, dù biểu tượng ấy là thế nào
chăng nữa”. Vì vậy, nếu xem xét thực tiễn trong không gian càng rộng, trong thời
gian càng dài, trong chỉnh thể thì càng rõ đâu là chân lý, đâu là sai lầm. Triết học
Mác-Lênin yêu cầu quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ
nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức và khẳng định: “con người chứng minh
bằng thực tiễn của mình sự đúng đắn khách quan của những ý niệm, khái niệm,
tri thức của mình, của khoa học”.
Từ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, chúng ta nhận thấy cần phải
quán triệt quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hoạt động. Quan điểm thực
tiễn yêu cầu nhận thức sự vật phải gắn với nhu cầu thực tiễn; phải lấy thực tiễn
làm tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của kết quả nhận thức; tăng cường tổng kết
thực tiễn để rút ra những kết luận góp phần bổ sung, hoàn thiện, phát triển nhận thức lý luận. Ví dụ:
Trái đất quay quanh mặt trời
Phát minh ra định luật về sức cản của không khí 18
Nước ở nhiệt độ 0 độ C thì ở thể rắn và ở n
hiệt độ 100 độ C thì bay hơi
2.2. Vai trò của lý luận đối với thực tiễn -
Lý luận là “kim chỉ nam” soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo hoạt động thực tiễn:
Bởi vì lý luận nắm bắt được quy luật vận động và phát triển của hiện thực.
Do đó, lý luận giúp cho việc xác định được mục tiêu, phương hướng, làm cho hoạt
động trở nên chủ động, tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát và điều
chỉnh hoạt động theo đúng mục tiêu đã xác định và vạch ra phương hướng mới
cho sự phát triển của thực tiễn.
Lý luận được hình thành và phát triển trên nền tảng thực tiễn nhưng lý luận có
sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức
về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”. Lý luận hình thành là
kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và khó khăn của con người trên cơ sở
hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn tuy đa dạng nhưng không có tính quy
luật. Thông qua kết quả hoạt động thực tiễn, kể cả thành công cũng như thất bại,
con người phân tích cấu trúc, tính chất và các mối quan hệ của các yếu tố, điều
kiện trong các hình thức thực tiễn từ đó tính quy luật của thực tiễn được khái
quát dưới hình thức lý luận. Ví dụ: Khi
áp dụng lý thuyết cung-cầu vào thực tiễn, các nhà hoạch định chính
sách kinh tế có thể: Dự đoán và
giải thích các biến động về giá cả, sản lượng của các mặt
hàng trên thị trường. Đề
xuất các chính sách can thiệp thích hợp như điều chỉnh thuế, lãi
suất để ổn định thị trường Đánh
giá tác động của các chính sách kinh tế đối với cung cầu và để
đề xuất những điều chỉnh cần thiết. Lý
thuyết về sự lây lan của bệnh truyền nhiễm khi áp dụng vào thực tiễn giúp: Cung
cấp các khái niệm và mô hình về cơ chế lây lan => Phân tích
và dự đoán sự lây lan của bệnh 19