Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC ---------***--------- THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
ĐỀ TÀI: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và ý nghĩa phương
pháp luận. Liên hệ với quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên. LỚP HP: 2293MLNP0221 NHÓM: 03
GVGD: TS. Đỗ Thị Phương Hoa HÀ NỘI, 12/2022 1 2
B Ả N PHÂN CÔNG NHI Ệ M Ụ V VÀ ĐÁNH GIÁ STT Họ tên Công việc Tự đánh giá ý Ghi thức, thái độ chú 35 Vũ Tuấn Dũng Phân công nhiệm vụ, Nhóm tổng hợp nội dung, trưởng kết luận đề tài 36 Đỗ Hoàng Khánh Thuyết trình Duy 37 Nguyễn Thị Thùy
Trả lời câu hỏi đề tài Duyên 38
Nguyễn Hương Giang Trả lời câu hỏi đề tài 39 Trần Thị Hương Làm powerpoint Giang thuyết trình 40 Trần Minh Giáp
Trả lời câu hỏi đề tài 41 Nguyễn Lưu Hà Làm powerpoint thuyết trình 42 Trần Thị Thu Hà
Trả lời câu hỏi đề tài 43 Nguyễn Thị Hạ Tổng hợp nội dung, làm phần mở đầu 44 Kiều Đình Hải
Trả lời câu hỏi đề tài 45 Nguyễn Thanh Thuyết trình Hằng U5 46 Nguyễn Thanh Hằng Làm powerpoint U1 thuyết trình 3 47 Lê Hoàng Hạnh Làm powerpoint thuyết trình 48 Nguyễn Thị Hạnh Làm powerpoint thuyết trình 49 Hoàng Thị Hậu Tổng hợp nội dung câu hỏi, lập bảng danh sách phân công công việc 50 Nguyễn Văn Hiếu Tổng hợp nội dung, Thư ký làm phần kết luận đề tài 51 Chu Thị Hoa
Trả lời câu hỏi đề tài
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC 4 BIÊN BẢN HỌP NHÓM
1. Thời gian, địa điểm
Thời gian: 21 giờ 00 phút , ngày 28 tháng 10 năm 2022
Địa điểm: Cuộc họp online trên Google Meet
2. Nội dung thảo luận
- Nhóm trưởng sẽ phân công các thành viên trong nhóm làm các nhiệm vụ để
phục vụ cho bài thảo luận.
3. Các ý kiến đóng góp, trao đổi
- Phân chia công việc hợp lý cho từng thành viên, mỗi người sẽ đảm nhận 1
công việc khác nhau để cho bài thảo luận được hoàn chỉnh hơn.
- Nhóm trưởng sẽ cho các thành viên tự do lựa chọn phần việc mà mình muốn đảm nhiệm.
- Cần tìm hiểu kĩ lưỡng về chủ đề mà cô giáo giao cho.
4. Kết luận của nhóm
- Tất cả các thành viên sẽ cố gắng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà nhóm
trưởng giao cho trước thời hạn.
- Đoàn kết cùng nhau để bài thảo luận đạt kết quả xuất sắc nhất, điểm cao nhất.
- Thuyết trình cần chú ý thời gian.
Nhóm trưởng Thư ký
Vũ Tuấn Dũng Nguyễn Văn Hiếu LỜI MỞ ĐẦU
- Tầm quan trọng của đề tài 5
Triết học là bộ môn khoa học, là những định hướng dẫn dắt, là hạt
nhân lý luận của thế giới, giúp con người xây dựng thế giới nhân văn, chủ
nghĩa. Triết học đóng vai trò định hướng sự hình thành, phát triển thế giới
quan của mỗi cá nhân.Những nguyên lý, kiến thức được cung cấp từ bộ môn
Triết học Mác-Lênin là những kiến thức khoa học cơ bản cần có trong nhận
thức và hành động của mỗi người.
Vì vậy, nhóm 3 chúng em xin được trình bày về đề tài: “Nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn và ý nghĩa phương pháp luận. Liên hệ với quá
trình học tập và rèn luyện của sinh viên.”

- Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
Mục đích: + Nhằm hiểu rõ hơn về nguyên tắc thông nhất giữa lý luận và
thực tiễn. Từ đó, vận dụng quy luật vào đời sống và học tập của sinh viên.
+ Nhằm mang đến những giờ thảo luận sôi nổi và trau dồi thêm
các kỹ năng làm việc nhóm, thuyết trình của mỗi người.
Nhiệm vụ của đề tài: Để thực hiện được mục tiêu của đề tài chúng em đã
triển khai bài tiểu luận thành 2 phần chính như sau:
+ Chương 1: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn- một số vấn đề lý luận
+ Chương 2: Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn vào quá trình học tập của sinh viên.
- Cách thức hoàn thành bài thảo luận: Để có thể hoàn thành bài tiểu luận
một cách đầy đủ nhất về nội dung và đúng thời gian quy định, nhóm chúng
em đã phân công nhau mỗi người một nhiệm vụ để cùng nhau tìm hiểu các
giáo trình, tài liệu có liên quan đến bộ môn Triết học Mác-Lênin. Cùng với
đó là sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt tình từ thầy cô và mọi người xung quanh đặc
biệt là cô giáo Đỗ Thị Phương Hoa - người đã cung cấp cho chúng em
những kiến thức quan trọng của bộ môn Triết học Mác - Lênin.
- Thái độ và ý thức của nhóm: Trong quá trình thực hiện đến khi hoàn
thành bài tiểu luận, các thành viên trong nhóm đều hoàn thành tốt nhiệm vụ
được giao và đúng thời gian quy định. Các thành viên trong nhóm luôn hỗ
trợ lẫn nhau trong việc thực hiện đề tài và mỗi thành viên đều đóng góp
những công sức của mình vào sự thành công của bài tiểu luận. 6
- Ý nghĩa của đề tài: Giúp chúng em hiểu hơn về nội dung nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Từ đó, chúng em có thể vận dụng
những kiến thức đã học được vào đời sống và học tập của bản thân. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn- một số vấn đề lý luận.
1. Khái niệm lý luận, thực tiễn. 1.1. Lý luận. 1.1.1. Khái niệm:
oLý luận là một bộ phận của triết học,nghiên cứu bản chất của nhận
thức, những hình thức, các giai đoạn của nhận thức; con đường để đạt đến chân lý...
oLý luận là một hệ thống các quan điểm phản ánh thực tiễn, được thể
hiện dưới dạng hệ thống những tri thức đã được khái quát, tạo ra
những quan niệm tương đối hoàn chỉnh về các mối liên hệ cơ bản và
các quy luật của hiện thực khách quan. Hay nói cách khách, lý luận là
hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn có
tác dụng chỉ đạo hoạt động thực tiễn.
oLý luận là sản phẩm cao cấp của nhận thức, là tri thức về bản chất,
quy luật của hiện thực khách quan.
1.1.2. Đặc trưng của lí luận:
oLý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao và tính logic chặt chẽ.
Bản thân của lý luận là hệ thống tri thức được khái quát từ kinh
nghiệm thực tiễn; thu được từ kinh nghiệm, từ quan sát và thực nghiệm khoa học. 7
oCơ sở của lý luận là những trí thức kinh nghiệm thực tiễn, không có
kinh nghiệm thực tiễn thì không có cơ sở để khái quát lý luận.
oLý luận phản ánh được bản chất của sự vật, hiện tượng; nó phản ánh
được mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng.
oLý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. 1.2. Thực tiễn. 1.2.1. Khái niệm:
oPhạm trù thực tiễn: là toàn bộ những hoạt động vật chất - cảm tính, có
tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội
phục vụ nhân loại tiến bộ.
oChủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng thực tiễn là hoạt động nhận
thức, hoạt động tinh thần. Các nhà tôn giáo cho hoạt động sáng tạo ra
vũ trụ của những lực lượng siêu nhiên là thực tiễn. Có nhà triết học
duy vật trước Mác cho rằng: hoạt động thực nghiệm khoa học là thực
tiễn. Đây là quan niệm đúng nhưng chưa đầy đủ.
oChủ nghĩa duy vật biện chứng cho
rằng thực tiễn là một phạm trù triết
học chỉ toàn bộ hoạt động vật chất - cảm tính có tính lịch sử xã hội
của con người nhằm mục đích cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ nhân loại tiến bộ.
1.2.2. Đặc trưng các hình thức của thực tiễn:
oHoạt động sản xuất vật chất : Thực tiễn không phải là toàn bộ hoạt
động của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất, chứ không
phải là hoạt động tinh thần (hay còn gọi là hoạt động lý luận). Đó là
những hoạt động mà con người phải sử dụng công cụ vật chất, lực
lượng vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làm thay đổi 8
chúng. Ví dụ hoạt động sản xuất ra của cải vật chất như xây nhà, đắp đê, trồng lúa,v.v…
oHoạt động chính trị – xã hội: Thực tiễn là những hoạt động có tính
lịch sử - xã hội. Nghĩa là hoạt động thực tiễn là hoạt động của con
người, diễn ra trong xã hội với sự tham gia của đông đảo người, và
trải qua những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định. Trình độ và hình
thức của hoạt động thực tiễn có sự thay đổi qua các thời kỳ khác nhau của lịch sử xã hội.
oHoạt động thực nghiệm khoa học : Thực tiễn là hoạt động có tính mục
đích nhằm trực tiếp cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ con người tiến
bộ. Đặc trưng này nói lên tính mục đích, tính tự giác của hoạt động
thực tiễn. Trong hoạt động thực tiễn, con người phải sử dụng các
phương tiện, công cụ vật chất để tác động và tự nhiên, xã hội nhằm
cải tạo, biến đổi chúng cho phù hợp với mục đích, phục vụ cho nhu cầu của mình.
Trong ba loại trên, hoạt động sản xuất vật chất có vai trò quyết định
đối với các loại hoạt động thực tiễn. Còn hoạt động chính trị – xã hội
là hình thức cao nhất của thực tiễn. Hoạt động khoa học là loại hình
đặc biệt nhằm thu nhận kiến thức từ tự nhiên và xã hội. Ba hình thức
thực tiễn này liên hệ, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, trong đó sản xuất
vật chất đóng vai trò quyết định, hai hình thức kia có ảnh hưởng quan
trọng tới sản xuất vật chất.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn.
Thực tiễn và lý luận luôn thống nhất biện chứng với nhau, đòi hỏi có
nhau, nương tựa vào nhau, tác động qua lại với nhau. Nếu không có 9
thực tiễn thì không thể có lý luận và ngược lại, không có lý luận khoa
học thì cũng không thể có thực tiễn chân chính. Giữa lý luận và thực
tiễn có sự thống nhất biện chứng với nhau, bổ sung, thâm nhập,
chuyển hóa cho nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Trong mối quan hệ
với lý luận, thực tiễn quyết định lý luận. thực tiễn như thế nào thì lý
luận phản ánh như thế đó. Thực tiễn luôn vận động, biến đổi không
ngừng vì vậy lý luận cũng phải biến đổi theo. Trình độ lý luận càng
cao, nhận thức thực tiễn càng sâu sắc. Thực tiễn càng đa dạng phong
phú càng làm cho lý luận phát triển. Như Bác Hồ đã khẳng định:
“Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của
chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì
thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”.
2.1. Vai trò của thực tiễn đối với lý luận.
oThực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức, lý luận.
Thông qua và bằng hoạt động thực tiễn con người tác động vào sự vật,
làm cho sự vật bộc lộ thuộc tính, tính chất, quy luật. Trên cơ sở đó,
con người có hiểu biết về chúng. Nghĩa là thực tiễn cung cấp "vật
liệu" cho nhận thức. Không có thực tiễn thì không thể có nhận thức, không có lý luận.
Ví dụ: Việc đo đạt ruộng đất trong chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hi Lạp -
La Mã cổ đại là cơ sở cho định lý Talét, Pitago... ra đời.
Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức phải trả lời.
Nói cách khác, thực tiễn là người đặt hàng cho nhận thức giải quyết.
Trên cơ sở đó, nhận thức phát triển.
Ví dụ: dịch cúm H5N1 => nghiên cứu chế tạo vắc xin. 10
Thực tiễn còn là nơi rèn luyện giác quan cho con người. Chẳng hạn,
thông qua các hoạt động sản xuất, chiến đấu, sáng tạo nghệ thuật...
những cơ quan cảm giác như thính giác, thị giác... được rèn luyện =>
tạo cơ sở cho chủ thể nhận thức hiệu quả, đúng đắn hơn.
Thực tiễn còn là cơ sở chế tạo công cụ, máy móc cho con người nhận
thức hiệu quả hơn như kính thiên văn, máy vi tính... đều được sản
xuất, chế tạo trong sản xuất vật chất. Nhờ những công cụ máy móc
này mà con người nhận thức sự vật chính xác, đúng đắn hơn. Trên cơ
sở đó, thúc đẩy nhận thức phát triển.
oThực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận.
Nhận thức của con người bị chi phối bởi nhu cầu sống, nhu cầu tồn
tại. ngay từ khi xuất hiện trên trái đất, con người phải tìm hiểu thế giới
xung quanh để tồn tại. Nghĩa là, nhận thức của con người đã bị chi
phối bởi nhu cầu thực tiễn.
Những tri thức, kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa đích thực khi
được vận dụng vào thực tiễn phục vụ con người.
Nếu nhận thức không vì thực tiễn mà vì cá nhân, vì chủ nghĩa hình
thức, chủ nghĩa thành tích thì nhận thức sớm muộn sẽ mất phương hướng.
oThực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra sự đúng sai của nhận thức, lý luận.
Thông qua thực tiễn, con người mới "vật chất hóa" được tri thức,
"hiện thực hóa" được tư tưởng. Thông qua quá trình đó, con người có
thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm. Phải hiểu thực tiễn là tiêu
chuẩn chân lý một cách biện chứng, nghĩa là nó vừa có tính tuyệt đối,
vừa có tính tương đối. Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗ, thực tiễn ở
những giai đoạn lịch sử cụ thể là tiêu chuẩn khách quan duy nhất có
thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm. Tính tương đối thể hiện ở 11
chỗ, bản thân thực tiễn luôn vận động, biến đổi, phát triển. Cho nên,
khi thực tiễn đổi thay thì nhận thức cũng phải thay đổi cho phù hợp.
Nghĩa là những tri thức đã đạt được trước đây, hiện nay vẫn phải
được kiểm nghiệm thông qua thực tiễn.
2.2. Vai trò của lý luận đối với thực tiễn.
oLý luận có vai trò rất lớn đối với thực tiễn, tác động trở lại thực tiễn,
góp phần làm biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con người.
oLý luận là “kim chỉ nam” cho hành động, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo
thực tiễn. Lênin khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì cũng
không thể có phong trào cách mạng”. Nhờ những đặc trưng ưu trội so
với tri thức kinh nghiệm mà lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với
hoạt động thực tiễn của con người. Lý luận khoa học, thông qua hoạt
động thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giới khách
quan và biến đổi chính thực tiễn.
oLý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập hợp
quần chúng để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn rộng lớn của đông đảo quần chúng.
oLý luận khi thâm nhập vào quần chúng thì biến thành sức mạnh vật chất.
oLý luận có thể dự kiến được sự vận động của sự vật trong tương lai,
chỉ ra những phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn.
oLý luận khoa học làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động,
tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát. Vì vậy, Bác Hồ đã ví
“không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”.
oCung cấp cho con người những tri thức khoa học về tự nhiên, xã hội
và về bản thân con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Lý 12
luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp
những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”.
3. Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và nhận thức.
Trong Triết học Macxit và trong chủ nghĩa Mac-Lênin, sự thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn như một thuộc tính vốn có, một đòi hỏi nội tại. Nguyên tắc
này có ý nghĩa to lớn rong việc nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn.
Hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn thống nhất với nhau dưới nhiều
hình thức và trình độ biểu hiện khác nhau. Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, phản
ánh (khái quát) những vấn đề của đời sống sinh động. Nhưng thước đo tính cao
thấp của lý luận với thực tiễn biểu hiện trước hết ở chỗ lý luận đó phải hướng
hẳn về đời sống hiện thực, để giải quyết những vấn đề do chính sự phát triển
của thực tiễn đặt ra, và như vậy, lý luận góp phần thúc đẩy thực tiễn phát triển,
bởi vì ở bên ngoài sự thống nhất lý luận và thực tiễn, tự thân lý luận không thể
biến đổi được hiện thực, nói cách khác, hoạt động lý luận không có mục đích tự
thân mà vì phục vụ thục tiễn, để cải tạo thực tiễn.
Thực chất của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là phải quán triệt
được thực tiễn là cơ sở, là động lực, mục đích của lý luận, của nhận thức, là
tiêu chuẩn của chân lý (lý luận). Như trên đã nói, lý luận đích thực bao giờ
cũng bắt nguồn từ thực tiễn, do thực tiễn quy định. Thực tiễn quy định lý luận
thể hiện ở nhu cầu, nội dung, phương hướng phát triển của nhận thức, lý luận.
Thực tiễn biến đổi thì lý luận cũng biến đổi theo, nhưng lý luận cũng tác động
trở lại thực tiễn bằng cách soi đường, chỉ đạo, dẫn đắt thực tiễn. Trên cơ sở
nhận thức và vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn phải 13
chống bệnh kinh nghiệm. Bệnh kinh nghiệm là khuynh hướng tư tưởng tuyệt
đối hóa kinh nghiệm, coi thường lý luận khoa học, khuếch đại vai trò của thực
tiễn để hạ thấp vai trò lý luận và áp dụng máy móc những kinh nghiệm trước
vào thực tiễn hiện nay mặc dù nó đã thay đỏi, vi phạm quan điểm lịch sử cụ
thế. Đây chính là tư duy siêu hình, không thấy được sự vận động của lịch sử xã
hội dẫn đến xem thường lớp trẻ - những người được xem là ít kinh nghiệm thực
tiễn làm mất đi tính sáng tạo, chủ động của con người trong hoạt động thực
tiễn.Chúng ta coi trọng kinh nghiệm thực tiễn và không ngừng tích luỹ vốn
kinh nghiệm quý báu đó.Song chỉ dừng lại ở trình độ kinh nghiệm, thỏa mãn
với vốn kinh nghiệm của bản thân, coi kinh nghiệm là tất cả, tuyệt đối hóa kinh
nghiệm đồng thời coi nhẹ lý luận, ngại học tập, nghiên cứu lý luận, ít am hiểu
lý luận, không quan tâm tổng kết kinh nghiệm để đề xuất lý luận thì sẽ rơi vào
lối suy nghĩ giản đơn, tư duy áng chừng, đại khái, phiến diện thiếu tính lô gic,
tính hệ thống, do đó, trong hoạt động thực tiễn thì mò mẫm, tuỳ tiện, thiếu tính
đồng bộ về lý luận trong tất cả các lĩnh vực. Để khắc phục bệnh này thì không
được rời xa thực tiễn, phải bám sát thực tiễn, phải tăng cường học tập, nâng cao
trình độ lý luận, bổ sung lý luận thường xuyên để đáp ứng được với sự thay đổi của thực tiễn.
Mặt khác, thái độ thực sự coi trọng lý luận đòi hỏi phải ngăn ngừa bệnh
giáo điều. Bệnh giáo điều là khuynh hướng tư tưởng cường điệu vai trò lý luận,
coi nhẹ thực tiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử cụ thể,
áp dụng kinh nghiệm một cách rập khuôn máy móc. Nguyên nhân của bệnh
giáo điều là do hiểu lý luận một cách nông cạn, chưa nắm được bản chất của lý
luận, vận dụng lý luận chưa được kiểm nghiệm qua thực tiễn nên chỉ là những
lý luận thuần túy. Và mọt sách, sính lý luận đã thành đường mòn trong những
cán bộ do vận dụng sai lý luận vào thực tiễn, chỉ thấy cái chung mà không thấy
cái riêng, cái cụ thể. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ hàng loạt của các 14
nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô cũ và Đông Âu. Để khắc phục bệnh giáo điều,
cần quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Lý luận
luôn gắn với thực tiễn và phải vận dụng lý luận một cách sáng tạo vào thực
tiễn, kiểm tra trong thực tiễn và không ngừng phát triển trong thực tiễn.
CHƯƠNG 2: Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
vào quá trình học tập của sinh viên.
1. Thực trạng vẫm dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn vào quá trình học tập của sinh viên.
1.1. Những thành tựu đạt được:
oPhần lớn sinh viên chăm chỉ, năng động, sáng tạo:
Trong học tập, sinh viên không ngừng tự đổi mới phương pháp học
cho lượng kiến thức học thu được là tối đa. Không chờ đợi, thụ động
dựa vào thầy cô, họ tự mình đọc sách, nghiên cứu, lấy thông tin, tài
liệu từ mọi nguồn có thể là là đọc trên thư viện hoặc trên intrernet.
Phần lớn sinh viên đều có khả năng thích nghi cao với mọi môi trường
sinh sống và học tập, họ không chỉ học tập trong một phạm vi hẹp ở
trường, lớp mà sinh viên còn luôn phát huy tinh thần học tập ở mọi
nơi, mọi lúc.Không chỉ lĩnh hội tri thức của nhân loại, sinh viên Việt
Nam còn tiếp thu những cái hay, cái đẹp trong mọi lĩnh vực khác như
văn hóa, nghệ thuật. Bằng sự năng động, sinh viên luôn tự cập nhật
thông tin, kiến thức, làm mới mình phù hợp với sự thay đổi và phát
triển của xã hội. Một số bộ phận sinh viên luôn thể hiện mình là
những con người táo bạo và tự tin. Sinh viên dám nghĩ, dám làm, dám
chịu thử thách. Các ý tưởng độc đáo không chỉ nằm trong suy nghĩ mà 15
luôn được thử nghiệm trong thực tế chính vì vậy mà qua 14 mùa thi
đấu robocon châu Á, các đại diện của Việt Nam đã 5 lần đem lại vinh
quang với những chiến thắng thuyết phục vào các năm2002, 2004,
2006, 2014, 2015. Có đôi khi thất bại, song họ không hề chùn bước.
Với họ, mỗi lần thất bại lại làm họ tự tin hơn với nhiều kinh
nghiệmtích lũy được. Ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu khoa
học của sinh viên được đánh giá cao về khả năng vận dụng vào thực
tiễn cuộc sống đó là một bước khởi sắc cho việc nghiên cứu khoa học của sinh viên Việt Nam.
oSinh viên đã đổi mới phương pháp học tập:
Sinh viên luôn nỗ lực trọng công việc học tập, luôn tiếp thu những
góp ý những phương pháp cách thức học hiệu quả từ thầy cô từ anh
chị và bạn bè để có được những cách thức học phù hợp với bản thân,
từ đó áp dụng phương pháp phù hợp nhất vào trong quá trình học tập,
thu được kết quả cao.Sinh viên ngày càng có những phương pháp học
tập và ôn thi hiệu quả, chuyển từ học cá nhân nhàm chán sang học
nhóm các thành viên trong nhóm sẽ cùng nhau giải quyết một vấn đề
quan điểm chung của cả nhóm sẽ là kiến thức hoàn chỉnh nhất phục
vụ quá trình học và ôn thi, hay như việc học thuộc lòng đã không còn
được ưa chuộng, đa số sinh viên chuyển sang học hiểu bản chất của
vấn đề. Hay học theo phương pháp lập sơ đồ đó là một cách sắp xếp
các thông tin theo một kiểu nào đó làm nổi bật đặc tính của sự vật,
hiện tượng, có sự so sánh, đối chiếu với một chuẩn nào đó. Lập sơ đồ
vàcách xử lý thông tin, đưa thông tin vào mối quan hệ, so sánh, đối
chiếu với các định mức, tiêu chuẩn cần thiết. Một phương pháp học 16
khác tập hiểu quả được khá nhiều sinh vên sử dụng đó là học bằng
phương pháp tiếp cận hệ thống, tiếp cận hệ thống là xem xét sự vật
trong một thể thống nhất với các yếu tố có quan hệ, ràng buộc lẫn
nhau, phụ thuộc nhau, ảnh hưởng đến nhau. Khi thay đổi một thành
phần, một yếu tố trong hệ thống thì các yếu tố khác cũng có sự thay
đổi, và còn rất nhiều huong pháp học tập khác nữa. Những đổi mới
trong phương pháp học tập đã tạo ra môi trường học tập ôn thi
hiệuquả hơn rất nhiều bên cạnh đó chất lượng học tập cung được nâng cao.
1.2. Những hạn chế:
oSinh viên còn thụ động, lười học tập:
Việc thi đỗ vào trường đại học luôn là niềm vui, sự hãnh diện và tự
hào của sinh viên. Tuy nhiên, điều này dẫn đến một tình trạng thực tế
là sinh viên thường ngủ quên trên chiến thắng, nhất là ở năm thứ nhất,
khi mà các môn đại cương thường là những môn sở trường của các
bạn ở phổ thông. Kết quả khả quan của năm học thứ nhất dễ dẫn đến
suy nghĩ cho rằng các năm học sau sẽ chẳng có gì khó khăn. Điều đó
sẽ kéo theo việc học bị tuột dốc ở những năm tiếp theo. Việc ôn thi lại
và học trả nợ chiếm hết thời gian học những môn mới, và cứ như thế
trả nợ môn mới cộng dồn môn cũ đến một lúc việc học trở thành gánh
nặng cho các bạn, làm tiêu tan những đam mê, những hoài bão của
từng người đã vạch ra cho mình khi mới bước vào trường. Bên cạnh
đó, hầu hết sinh viên chưa hòa nhập được với môi trường và phương
pháp giảng dạy ở bậc đại học, khi mà giáo viên chỉ đóng vai trò là
người hướng dẫn, sinh viên mới là người chủ động trong việc tìm hiểu 17
và nắm bắt kiến thức, đối vơi sinh viên phương pháp dạy học truyền
thống đãgắn bó với sinh viên suốt 12 năm học phổ thông, ăn sâu vào
tư tưởng và không dễ gì từ bỏ. Điều này phát sinh ra một thực tế là
sinh viên vẫn rất thụ động trong việc tiếp nhận kiến thức và phụ thuộc
nhiều vào phương pháp giảng dạy của giảng viên; giảng viên cung cấp
kiến thức gì thì sinh viên nghe nấy, giảng viên yêu cầu gì thì sinh viên
làm nấy. Với tâm lý quen “đọc chép” sinh viên không có thói quen
đọc giáo trình và các tài liệu liên quan đến môn học đó khi ở nhà, mà
chỉ chờ đến khi giảng viên đọc thì chép, nếu giảng viên không đọc thì
sinh viên cũng không chép, chỉ ngồi nghe và không hỏi gì thêm, thưc
tế là kiến thức đọng lại trong đầu khi đó sẽ rất ít,thậm chí là không có
gì. Theo khảo sát ở trường Đại học Thành Đông Có đến 86,2% số
lượng sinh viên không có thói quen xem bài trước khi lên lớp. Khi
nghe giảng trên lớp có 72,4%số lượng sinh viên ghi chép ý chính, chủ yếu dựa vào nô … i dung giáo trình hoă …
c bài giảng in s†n để theo dõi. Đa
số sinh viên do chuẩn bị chưa kỹ nên vấn đề đă …
t câu hỏi trên lớp rất ít
xảy ra, qua khảo sát cho thấy có 63,8% số lượng sinh viên thỉnh
thoảng mới tham gia đă …
t câu hỏi. Điều này cho thấy sự thụ đô … ng của
sinh viên trong quá trình học và không có tính khám phá, năng đô … ng
sáng tạo trong khi nghe giảng trên lớp.
Ngoài ra số liê …u thống kê còn cho thấy sinh viên ít chịu đọc lại những nô …
i dung đã học, số liê …
u khảo sát cho thấy có 77,6% số lượng sinh viên xác nhâ …
n là thỉnh thoảng mới đọc lại nô … i dung đã học. Có 48,3%
số lượng sinh viên cho rằng tìm hiểu kiến thức bên ngoài giáo trình,
sách chuyên môn để bổ sung trong quá trình học là quan trọng và cần
phải thường xuyên thu thâ … p. Truy câ …
p bổ sung kiến thức chuyên môn
từ nguồn Internet vẫn là chủ yếu, có đến 63,8% số lượng sinh viên 18
đồng ý với quan điểm này.Bài vở thường bị các bạn để tồn ứ đến khi
gần thi mới lấy ra ôn tập lại; khi đó khối lượng kiến thức thì nhiều mà
thời gian ôn tập thì ngắn ngủi, hậu quả là các bạn phải học đêm học
ngày, ảnh hưởng tới giờ giấc nghỉ ngơi,sinh hoạt; điểm bài thi hiếm
khi đạt được như mong đợi. Đôi khi vì lười mà lại mong muốn đạt
được điểm số cao nhiều sinh viên đã lựa chọn cách quay bài đây là
một điều hết sưc đáng buồn, những tập đề cương những quyển vở ghi
được photo hết sức nhỏ và được giấu ở những chỗ kín đáo khó phát
hiện, khi giám thị lơ là lập tức chúng sẽ được sử dụng, không ít sinh
viên đã bị lập biên bản bị đình chỉ thi nhưng số khác vẫn nhởn nhơ
sau khi quay bài xong các tệp “phao” được xả mọi mơi mọi chỗ và khi
ngựa đã quen đường cũ sinh viên lại có tâm lý không cần học vẫn đạt
điểm cao và việc quay cóp lại tiếp tục diễn ra trong các kỳ thi tiếp
theo. Hiện nay, phương pháp học nhóm đang là một phương pháp học
tập phổ biến ở các lớp. Lợi ích của học nhóm là không thể phủ nhận,
ông bà ta có câu “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên
hòn núi cao”, nhờ học nhóm sinh viên có thể cùng học tập và chia sẻ
kiến thức cho nhau để cùng nhau tiến bộ. Tuy nhiên, tồn tại một thực
trạng là việc hình thành nhóm xuất phát từ yêu cầu của giảng viên
nhiều hơn là từ nhu cầu và ý thức tự giác của sinh viên. Do đó hiệu
quả của phương pháp học tập này đã giảm đi nhiều.
oSinh viên chưa đặt ra mục tiêu cũng như kế hoạch học tập:
Không chỉ trong học tập mà bất kể trong mọi công việc để đạt được
kết quả cao nhất đòi hỏi mỗi người phải xác định mục tiêu và lập một
kế hoạch cụ thể để thực hiện mục tiêu đó, thế nhưng lại có một bộ 19
phận sinh viên sống không có lí tưởng, không có mục tiêu và đôi khi
đã xác định được mục tiêu học tập nhưng lại không có động lực và
không biết lập một kế hoạch cụ thể để thực hiện mục tiêu đặt ra, chính
vì vậy mà kết quả học tập chưa cao.
2. Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế.
Khi nhận thức được nguyên tắc thống nhất và lý luận, áp dụng vào
trong việc học đem lại những thành tựu bởi:
oKhi bản thân mỗi sinh viên nhận thức được đúng đắn vài trò to lớn
của việc học đối với cuộc sống tương lai , từ đó cũng sẽ tạo thành
động lực thúc đẩy giúp các bạn tự mình rèn luyện, học tập, thay đổi,
áp dụng những thói quen tốt bản thân.
oSự nỗ lực không ngừng của bản thân .
oLà khi các bạn nhìn nhận thực tiễn được tầm quan trọng của việc đổi
mới phương pháp trong học. Thực tiễn là cách thức tập trên đại học
hoàn toàn thay đổi so với THPT vì vậy thực tiễn đồi hỏi các học sinh
phải có sự thay đổi trong phương pháp học tập, để mang lại hiểu qủa
cao nhất. Từ sự lắng nghe, tiếp thu những góp ý, những phương pháp,
cách thức học hay được thầy cô, bạn bè chia sẻ. Và dựa vào đó bản
thân mỗi sinh viên xây dựng riêng cho mình một cách thức phù hợp
nhất với mình để tạo hiểu quả cao trong việc học.
oNhận thức và loại bỏ được các phương pháp học tập ôn thi không còn hiệu quả.
Chuyển từ cách học cá nhân – tẻ nhạt, nhàm chán, chuyển sang hình
thức học nhóm với bạn bè. Điều này không chỉ giúp các bạn sinh viên 20