-
Thông tin
-
Quiz
Nhân cách và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển và hình thành nhân cách | Tiểu luận Tâm lí học đại cương
Khi xem xét hay đánh giá một con người, chúng ta thường hay nói đến “nhân cách” của người đó. Nó như là tiền đề để ta nhìn nhận giá trị, bản chất một con người. Khi nhận thức được bản chất của một người ta sẽ có cơ sở quyết định mối quan hệ với người đó. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
tâm lí học đại cương 22 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Nhân cách và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển và hình thành nhân cách | Tiểu luận Tâm lí học đại cương
Khi xem xét hay đánh giá một con người, chúng ta thường hay nói đến “nhân cách” của người đó. Nó như là tiền đề để ta nhìn nhận giá trị, bản chất một con người. Khi nhận thức được bản chất của một người ta sẽ có cơ sở quyết định mối quan hệ với người đó. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: tâm lí học đại cương 22 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
1
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
NHÂN CÁCH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN VÀ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH
SINH VIÊN : NGUYỄN XUÂN BÁCH MÃ SINH VIÊN : 2155230003
LỚP TÍN CHỈ : KT01001_K41.4
LỚP HÀNH CHÍNH : CÔNG TÁC DÂN VẬN K41 HÀ NỘI THÁNG 5 NĂM 2022 2
PHẦN MỞ ĐẦU.......................................................................................................3
NỘI DUNG...............................................................................................................3
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG..............................................................................3
1. Khái niệm con người.....................................................................................3
1.1. Quan điểm về con người trong triết học trước Mác...................................3
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người................................4
2. Khái niệm về nhân cách................................................................................5
3. Khái niệm về sự phát triển nhân cách...........................................................7
3.1. Khái niệm sự phát triển..............................................................................7
3.2. Sự phát triển nhân cách..............................................................................8
II. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
NHÂN CÁCH.......................................................................................................8
1. Bẩm sinh - di truyền và sự phát triển của nhân cách.....................................9
2. Môi trường và sự phát triển nhân cách........................................................11
3. Giáo dục và sự phát triển nhân cách............................................................14
4. Hoạt động của cá nhân và sự phát triển nhân cách......................................17
5. Giao tiếp và sự phát triển nhân cách...........................................................18
III. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY.....................................................................................................................19
KẾT LUẬN.............................................................................................................21
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................22 3 PHẦN MỞ ĐẦU
Khi xem xét hay đánh giá một con người, chúng ta thường hay nói đến “nhân
cách” của người đó. Nó như là tiền đề để ta nhìn nhận giá trị, bản chất một con
người. Khi nhận thức được bản chất của một người ta sẽ có cơ sở quyết định mối
quan hệ với người đó. Vì vậy sự hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách con
người là rất quan trọng và luôn được quan tâm trong xã hội. Tuy nhiên chúng ta
đều biết rằng nhân cách không phải ngay từ khi sinh ra đã có. Không ai nói đến
nhân cách với một đứa trẻ mới sinh. Nhân cách là cấu tạo mới do từng người tự
hình thành nên và phát triển trong quá trình sống, giao tiếp, học tập, lao động, hoạt
động xã hội, vui chơi… Nhân cách không có sẵn bằng cách bộc lộ dần dần các
xung động bản năng nguyên thuỷ mà một lúc nào đó bị kiềm chế, chèn ép. Theo
đó, nhân cách là đặc trưng xã hội, là “phẩm chất xã hội” của con người.
Tóm lại nhân cách được hình thành và phát triển do rất nhiều yếu tố, khi nghiên
cứu về nhân cách thì những nhân tố là vấn đề đầu tiên và then chốt cần phải nhắc
đến. Trong phạm vi bài tiểu luận này, em xin phân tích 4 yếu tố ảnh hưởng đến
việc hình thành và phát triển nhân cách đó là yếu tố di truyền, môi trường - hoàn
cảnh xã hội, nhân tố giáo dục, nhân tố hoạt động và nhân tố giao tiếp. NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1. Khái niệm con người
1.1. Quan điểm về con người trong triết học trước Mác.
Con người tồn tại là con người thần bí
Những người theo quan điểm này cho rằng, bản chất con người do "thiên mệnh"
chi phối và quyết định. Vì thế, họ xem con người là sản phẩm của Thượng đế sáng
tạo ra. Mọi số phận, niềm vui, nỗi buồn, sự may rủi của con người đều do Thượng
đế xếp đặt. Trí tuệ con người thấp hơn lý chí anh minh sáng suốt của Thượng đế.
Con người tồn tại là con người bản năng 4
Mặc dù xem con người là một thực thể có trí tuệ nhưng những người theo trường
phái này chưa nhận thức đầy đủ bản chất con người cả về mặt sinh học và về mặt
xã hội. Con người mới chỉ được nhấn mạnh về mặt cá thể mà xem nhẹ mặt xã hội.
Theo Phoiơbắc, con người là do sự vận động của thế giới vật chất tạo nên, là kết
quả của sự phát triển của thế giới tự nhiên. Con người và tự nhiên là thống nhất,
không thể tách rời. Phoiơbắc đề cao trí tuệ của con người với tính cách là những cá
thể người. Đó là những con người cá biệt, đa dạng, phong phú, không ai giống ai.
Quan điểm này dựa trên nền tảng duy vật, đề cao yếu tố tự nhiên, cảm tính, nhằm
giải phóng cá nhân con người.
Tuy nhiên, Phoiơbắc không thấy được bản chất xã hội trong đời sống con người,
tách con người khỏi những điều kiện lịch sử cụ thể.
Có thể khái quát rằng, các quan niệm về con người trong triết học trước Mác đều
xem xét con người một cách trừu tượng, tuyệt đối hoá mặt tinh thần hoặc thể xác
con người, tuyệt đối hoá mặt tự nhiên - sinh học mà không thấy mặt xã hội trong
đời sống con người. Tuy vậy, một số trường phái triết học vẫn đạt được một số
thành tựu trong việc phân tích, quan sát con người, đề cao lý tính, xác lập các giá
trị về nhân bản học để hướng con người tới tự do. Đó là những tiền đề có ý nghĩa
cho việc hình thành tư tưởng về con người của triết học mácxít.
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người
Mỗi con người sinh ra trước hết là một thực thể tự nhiên. Con người chịu sự chi
phối của các qui luật tự nhiên phức tạp. mỗi con người lại sống trong xã hội, là sản
phẩm của nền văn minh. Sự phát triển của con người lại bị chi phối bởi các qui luật xã hội.
Con người có tính xã hội - lịch sử
Khác hẳn với những quan điểm trên đây, chủ nghĩa Mác-Lênin đã đưa ra quan
điểm rất khoa học về bản chất con người: “…bản chất con người không phải là cái
gì chung chung, trừu tượng, cố hữu của mỗi cá nhân riêng biệt, trong tính hiện
thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”. (R Marx
Luận cương về Feuerbach, 1775-1833) 5
Như vậy, theo quan niệm của Mác, bản chất con người có tính xã hội -lịch sử. Con
người là sản phẩm của những mối quan hệ xã hội mà người đó tham gia. Nói cách
khác, bản chất con người là nhu cầu, hứng thú, năng lực… của người đó được hình
thành và phát triển trong quá trình sống khi họ khi tham gia hoạt đông sản xuất,
tham gia đấu tranh xã hội, tham gia quá trình thiết lập và vận hành các mối quan
hệ xã hội, quan hệ giữa con người với con người.
Con nguời có tính tích cực hành động
Sống trong xã hội, con người vừa là khách thể, vừa là chủ thể trong các quan hệ xã
hội đó. Con người không chỉ chịu sự tác động của các mối quan hệ xã hội một cách
thụ động mà còn phát huy tính tích cực hành động của mình để tiếp thu theo chiều
hướng nhất định sự ảnh hưởng của các quan hệ đó bằng cách thiết lập, vận hành
các mối quan hệ xã hội và cải tạo nó.
Vì thế, thông qua các mối quan hệ xã hội, với tính tích cực hành động của mình,
con người đã cải tạo hoàn cảnh và cải tạo bản thân. Tính tích cực hành động của
con người biểu hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau: học tập, lao động sản xuất, chiến
đấu, tu dưỡng, rèn luyện bản thân.Tính tích cực hành động của con người phụ
thuộc vào sự phát triển của các quan hệ xã hội. Trong điều kiện của những quan hệ
xã hội tốt đẹp, tính tích cực hành động được phát huy đầy đủ về các mặt. Do vậy,
muốn phát huy tính hành động tích cực của con người, cần phải xây dựng các mối quan hệ xã hội tốt.
Trong thực tế, con người không chỉ chịu sự tác động của hoàn cảnh bên ngoài một
cách thụ động. Đứng trước hoàn cảnh con người lựa chọn một cách có ý thức
những yếu tố tích cực của hoàn cảnh, và ở mức độ cao hơn con người còn cải biến
hoàn cảnh làm cho nó phù hợp với yêu cầu phát triển của con người.
Như vậy, với tính tích cực hành động của mình, con người sáng tạo ra hoàn cảnh
và do đó hoàn cảnh ảnh hưởng trở lại đối với con người. Do vậy, con người sáng
tạo nên hoàn cảnh bao nhiêu thì hoàn cảnh tạo nên con người bấy nhiêu. 6
2. Khái niệm về nhân cách
Nhân cách là khái niệm được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng các tác
giả đều nhấn mạnh đến tính xã hội của con người, bao gồm những phẩm chất đặc
trưng tạo thành phẩm giá, cái có giá trị xã hội.
Vì vậy, nhân cách được hiểu là bộ mặt tâm lý đặc trưng của một cá nhân với tổ hợp
những phẩm chất phù hợp với những giá trị và chuẩn mực xã hội, được xã hội thừa nhận.
Nhân cách là hệ thống những phẩm giá của một người được đánh giá từ mối quan
hệ qua lại của người đó với những người khác, với tập thể, với xã hội và với thế
giới tự nhiên xung quanh trong mọi cái nhìn xuyên suốt quá khứ, hiện tại và tương
lai. Nhân cách là một thứ giá trị được xây dựng và hình thành trong toàn bộ thời
gian con người tồn tại trong xã hội, nó đặc trưng cho mỗi con người, thể hiện
những phẩm chất bên trong con người nhưng lại mang tính xã hội sâu sắc. Nhân
cách được hình thành và phát triển là nhờ những quan hệ xã hội mà trong đó cá
nhân đang lớn lên và đang biến đổi ấy bắt đầu quá trình hoạt động sống của mình.
Cũng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người, hàng loạt
đặc điểm, thuộc tính, thái độ … của họ được biến đổi và trở thành những dặc điểm,
thuộc tính mang tính người đích thực- tính xã hội – tính đạo đức. Khi nói đến nhân
cách, người ta thường nhấn mạnh đến những yếu tố quan trọng của nhân cách là
định hướng giá trị, bao gồm: Các giá trị tư tưởng, các giá trị đạo đức, các giá trị
nhân văn. Hệ thống các giá trị này được hình thành và củng cố bởi năng lực nhận
thức, kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân trong quá trình thể nghiệm lâu dài.
Nội dung của định hướng giá trị là niềm tin chính trị, thế giới quan, đạo đức của
con người cũng như những khát vọng sâu xa, những nguyên tắc sống của họ. Định
hướng giá trị luôn gắn liền với việc giải quyết những mâu thuẫn trong hệ động cơ,
trong cuộc đấu tranh giữa nghĩa vụ và sự ham muốn, giữa hành vi đạo đức và
những khích thích thực dụng. 7
Người Việt Nam ta, khi nói đến nhân cách thường quan niệm đó là sự thống nhất
biện chứng giữa các mặt đức và tài của con người. Sự hài hoà giữa đức và tài chính
là những đặc điểm có ý nghĩa xã hội, có giá trị xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có tài mà không có đức chỉ là người vô dụng.
Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Cho nên, việc tu dưỡng, rèn
luyện bản thân để trở thành nhân cách vừa có đức vừa có tài là hết sức quan trọng
đối với mỗi người, đặc biệt nó là nhiệm vụ hàng đầu của thanh niên, học sinh và sinh viên.
3. Khái niệm về sự phát triển nhân cách
3.1. Khái niệm sự phát triển
Triết học Mac - Lênin không những thừa nhận tính vật chất của thế giới mà còn
thừa nhận vật chất không ngừng biến đổi và phát triển theo quy luật. Quy luật của
thế giới khách quan là quy luật vận động và phát triển. Chỉ có thể giải thích các sự
vật và hiện tượng với điều kiện là xem chúng trong quá trình phát sinh và phát
triển. Nhưng nếu chỉ là thừa nhận sự phát triển của sự vật hiện tượng vẫn chưa đủ.
Điều cơ bản là cần tìm ra cho được tính chất và nguồn gốc của sự phát triển mới
nắm được bản chất của sự phát triển vì người ta có thể thừa nhận có sự vận động
mà vẫn có thể rơi vào quan điểm siêu hình.
Trong thực tế, người ta đã có nhiều cách hiểu khác nhau về sự phát triển:
Theo quan điểm siêu hình phát triển chỉ là sự tăng lên, giảm thuần túy về lượng,
không có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật; hoặc nếu có sự thay đổi nhất định
về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng khép kín, chứ không có
sự sinh thành ra cái mới với những chất mới. Những người theo quan điểm siêu
hình xem sự phát triển như là một quá trình tiến lên liên tục, không có bước quanh có, phức tạp.
Theo quan niệm biện chứng sự phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao.
Quá trình đó diễn ra dần dần, nhảy vọt đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ,
không phải lúc nào sự phát triển cũng diễn ra theo đường thẳng, mà rất quanh co,
phức tạp, thậm chí có những bước lùi tạm thời. Theo quan điểm biện chứng, sự 8
phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về
chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kì sự vật lặp lại dường
như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn.
Quan điểm biện chứng cũng khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật.
Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có
của sự vật, hiện tượng; là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực
và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật, hiện tượng cũ trong hình thái của
sự vật, hiện tượng mới.
3.2. Sự phát triển nhân cách
Sự phát triển nhân cách bao gồm các mặt phát triển về thể chất, về tâm lý và xã hội của cá nhân.
• Sự phát triển về mặt thể chất: Biểu hiện ở sự tăng trưởng về chiều cao, cân
nặng, cơ bắp và sự hoàn thiện của các giác quan.
• Sự phát triển về mặt tâm lý: Biểu hiện ở những biến đổi cơ bản trong các
quá trình nhận thức, tình cảm, ý chí, nhu cầu, thói quen…
• Sự phát triển về mặt xã hội: Biểu hiện ở tính tích cực, tự giác tham gia vào
các mặt khác nhau của đời sống xã hội cũng như những thay đổi trong việc cư xử
với mọi người xung quanh.
Như vậy, sự phát triển nhân cách cần được hiểu là một quá trình cải biến toàn bộ
các sức mạnh về thể chất và tinh thần, các sức mạnh về bản chất con người. Đó
không chỉ là những biến đổi về lượng mà còn là sự biến đổi về chất trong con người.
II. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
Nhân cách là một cấu tạo tâm lý mới được hình thành và phát triển trong quá trình
sống, hoạt động và giao tiếp của mỗi người. Như Lênin đã khẳng định: “Cùng với
dòng sữa mẹ, con đường hấp thụ tâm lý, đạo đức của xã hội mà nó là thành viên”. 9
Nhà tâm lý học nổi tiếng A. L. Leonchiep cũng đã chỉ rằng nhân cách cụ thể là
nhân cách con người sinh thành và phát triển theo con đương từ bên ngoài chuyển
vào nội tâm, từ các quan hệ với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật, nền văn hóa xã
hội do các thế hệ trước tạo ra, các quan hệ xã hội mà nó gắn bó. Trong quá trình
hình thành, nhân cách bị chi phối của nhiều yếu tố: di truyền, hoàn cảnh sống, giáo
dục, hoạt động, giao tiếp.
1. Bẩm sinh - di truyền và sự phát triển của nhân cách
Bẩm sinh di truyền là hai khái niệm khác nhau:
• Bẩm sinh là yếu tố có sẵn khi con người mới sinh ra (một số thuộc tính sinh
học có ngay từ khi đứa trẻ mới sinh).
• Di truyền là sự tái tạo ở trẻ em những thuộc tính sinh học đã có ở cha mẹ, là
sự truyền lại từ cha mẹ đến con cái những đặc điểm và những phẩm chất nhất định
đã được giữ lại trong hệ thống gen.
Bẩm sinh – di truyền là những đặc điểm giải phẫu sinh lí của hệ thần kinh và các
cơ quan cảm giác, vận động. Đối với mỗi cá thể khi ra đời đã nhận được một số
đặc điểm về cấu tạo và chức năng của cơ thể từ các thế hệ trước theo con đường di
truyền trong đó có các giác quan và não. Bất cứ một chức năng tâm lí nào mang
bản chất con người của nhân cách chỉ có thể được phát triển trong hoạt động của
bản thân đó và trong điều kiện của xã hội loài người. Thực tế mọi cơ thể bình
thường đều có thể phát triển tốt đẹp đời sống tinh thần của mình.
Những yếu tố bẩm sinh không phải là tất cả sản phẩm của di truyền. Nhưng yếu tố
di truyền có thể không xuất hiện ngay cùng một lúc với sự ra đời của con người mà
nó có thể phải chờ một thời gian hoặc một điều kiện nhất định mới xuất hiện.
Lý luận của chủ nghĩa Mac - Lê nin không những không phủ nhận vai trò của yếu
tố bẩm sinh di truyền đối với sự phát triển nhân cách của con người mà coi đó là
điều kiện đầu tiên của lịch sử phát triển con người. Vấn đề di truyền những tư chất
là tiền đề cho những năng lực, phẩm chất về một lĩnh vực hoạt động nào đó (như
nghệ thuật, kiến trúc…) là một vấn đề quan trọng trong lĩnh vực giáo dục. Di
truyền tạo ra sức sống trong bản chất tự nhiên của con người, tạo ra khả năng cho
người đó hoạt động có kết quả trong lĩnh vực nhất định. Cần nhấn mạnh rằng yếu 10
tố bẩm sinh - di truyền là tiền đề vật chất cho sự phát triển nhân cách con người
chứ không phải là nguyên nhân, là quyết định cho sự phát triển con người. Bởi lẽ,
những yếu tố bẩm sinh - di truyền chỉ được phát huy trong những điều kiện xã hội
nhất định mà thôi. Nếu không có điều kiện xã hội thích hợp thì những tiền đề vật
chất này sẽ dần dần mai một không phát huy được tác dụng.
Thực tế đã chứng minh con ngưòi có thể mất hết những nét tự nhiên bẩm sinh của
loài người nếu phải sống tách khỏi loài người, người có năng khiếu âm nhạc tốt
chưa đủ để trở thành nhạc sỹ, người có giọng hát hay chưa đủ để trở thành danh ca.
Những yếu tố bẩm sinh di truyền đó chỉ có thể được phát huy trong điều kiện con người được giáo dục.
Như vậy, yếu tố bẩm sinh - di truyền không quyết định sự hình thành và phát triển
nhân cách con người. Nhân cách của con người chịu ảnh hưởng của những điều
kiện xã hội nhất định, những mối quan hệ xã hội nhất định, trong những điều kiện
giáo dục nhất định. Yếu tố bẩm sinh - di truyền không phải là những yếu tố cố hữu
mà là những yếu tố có thể thay đổi được dưới sự tác động của môi trường giáo dục.
Những yếu tố bẩm sinh - di truyền được hình thành trong hoạt động của các thế hệ
trước, được củng cố nhiều lần và đã trở nên vững chắc đến một mức độ nào đó rồi
có thể truyền lại cho thế hệ sau. Nếu điều kiện thích hợp nó sẽ hình thành dễ dàng
và được phát huy. Ngược lại, nếu điều kiện thay đổi không thích hợp, những yếu tố này sẽ biến dạng đi.
Ta thấy những hiện tượng kế thừa tài năng trong một số gia đình nghĩa là sự xuất
hiện liên tục nhiều người có tài qua nhiều thế hệ, phần lớn không chỉ là do sự di
truyền những tư chất nhất định, mà còn do trong những gia đình đó, trẻ em được
giáo dục trong bầu không khí hào hứng, say mê đối với một loại hình hoạt động
nhất định và được lôi cuốn tham gia rất sớm vào những hoạt động đó.
Điều kiện xã hội là nhân tố quyết định sự phát triển những yếu tố bẩm sinh - di
truyền có sẵn, đồng thời làm nảy nở những tài năng mới của con người. Nếu trong
điều kiện xã hội thích hợp, các yếu tố bẩm sinh - di truyền của con người chẳng
những được phát huy mà còn được nảy sinh và phát triển những năng khiếu mới,
tài năng mới. Ngược lại, nếu trong điều kiện xã hội không phù hợp, trong mối quan 11
hệ xã hội không tốt đẹp thì chẳng những con người không nảy sinh, phát triển
những năng khiếu, tài năng mới mà ngay cả những yếu tố bẩm sinh - di truyền tốt
cũng bị thui chột không phát huy được. Do đó, tuyệt đối hoá hoặc đánh giá quá cao
ảnh hưởng của nhân tố bẩm sinh - di truyền trong sự phát triển con người, nhất là
trong sự hình thành và phát triển nhân cách là sai lầm về mặt nhận thức của thuyết
“Định mệnh do di truyền” dẫn đến phủ nhận khả năng biến đổi bản chất của con
người, của hoàn cảnh cách mạng và của nền giáo dục cách mạng. Tuy nhiên, nếu
xem nhẹ yếu tố bẩm sinh di truyền thì chúng ta đã bỏ qua một tiền đề quan trọng
cho sự phát triển nhân cách.
Vì vậy, cần chú ý đúng mức đến vai trò của bẩm sinh - di truyền trong sự hình
thành và phát triển nhân cách.
Ví dụ: Tại sao lại có từ “con nhà nòi”, ví dụ trong gia đình nhiều người giỏi về
âm nhạc thì đứa trẻ cũng sẽ có thiên hướng âm nhạc? Đó cũng là quá trình hình
thành nhân cách theo bẩm sinh di truyền. Nếu như trong gia đình, cha và mẹ đều
là người tài giỏi thì đó là yếu tố giúp con mình noi theo.
Một em học sinh được kế thừa yếu tố di truyền của mẹ là đàn giỏi thì đó chỉ là
tiền đề cơ sở, nếu không tạo điều kiện cho em học đàn để phát huy năng khiếu, và
bản thân em đó cũng không tích cực học tập thì cũng sẽ không trở thành một
người đàn giỏi được.
2. Môi trường và sự phát triển nhân cách
Trong giáo dục học, môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện
tự nhiên và xã hội xung quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của con
người. Môi trường được chia thành hai loại:
Môi trường tự nhiên: bao gồm các điều kiện tự nhiên, hệ sinh thái phục vụ cho
hoạt động học tập, lao động sản xuất, rèn luyện thể chất và vui chơi giải trí của con người.
Những điều kiện tự nhiên quy định đặc điểm của phương thức hoạt động của con
người trong tự nhiên và một số nét riêng trong phạm vi sáng tạo nghệ thuật. Qua
đó quy định các giá trị vật chất và tinh thần ở một mức độ nhất định. Hay có thể 12
nói tâm lý dân tộc mang dấu ấn của hoàn cảnh tự nhiên thông qua khâu trung gian
là phương thức sống. Ngay cả nhiều phong tục tập quán suy cho cùng cũng đều có
nguồn gốc từ điều kiện và hoàn cảnh sống tự nhiên. Nhân cách như là một thành
viên xã hội chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên thông qua những giá trị vật chất
và tinh thần, qua phong tục tập quán của dân tộc, của địa phương, của nghề nghiệp
- những cái vốn có liên hệ với điều kiện tự nhiên ấy và qua phương thức sống của chính bản thân nó.
Môi trường xã hội: bao gồm môi trường chính trị, môi trường kinh tế- sản xuất,
môi trường sinh hoạt xã hội và môi trường văn hoá.
Môi trường xã hội là toàn các mối quan hệ xã hội mà con người sống và tiếp xúc.
Nó có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý nhân cách. Vì nếu không có sự tiếp xúc
với con người thì cá thể lớn lên và phát triển trong trạng thái động vật, nó không
thể trở thành một con người, một nhân cách. Có nghĩa là đứa trẻ muốn hình thành
nhân cách phải có sự tiếp xúc với người lớn để nắm vững tri thức, kinh nghiệm
lịch sử xã hội, để được chuẩn bị bước vào cuộc sống và lao động trong văn hóa của
thời đại. có thể nói nhân cách là một sản phẩm của xã hội.
Quan hệ sản xuất quy định nội dung của nhiều nét tâm lý cơ bản của nhân cách.
Ngoài ra tâm lý nhân cách phụ thuộc vào quan hệ chính trị và pháp luật. Vị trí giai
cấp của cá nhân sẽ kích thích tính tích cực của nó ở mức độ này mức độ khác trong vai trò xã hội.
Sự hình thành và phát triển nhân cách chỉ có thể được thực hiện trong một môi
trường nhất định. Môi trường góp phần tạo nên mục đích, động cơ, phương tiện và
điều kiện cho hoạt động, giao lưu của cá nhân mà nhờ đó cá nhân chiếm lĩnh các
kinh nghiệm xã hội loài người để hình thành và phát triển nhân cách của mình. Tuy
nhiên, tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường đến sự hình thành và phát
triển nhân cách còn tuỳ thuộc vào thái độ, quan điểm của cá nhân đối với ảnh
hưởng đó, đặc biệt là tuỳ thuộc vào khả năng và mức độ của cá nhân tham gia cải
tạo môi trường. Như vậy, cần chú ý đến hai mặt trong tác động qua lại giữa nhân cách và môi trường: 13
• Tính chất tác động của hoàn cảnh đã phản ánh vào nhân cách
• Sự tham gia của nhân cách tác động đến hoàn cảnh nhằm làm cho hoàn cảnh
đó phục vụ lợi ích của mình.
Muốn cho hoàn cảnh phát huy tác dụng mạnh mẽ và làm cho nhân cách con người
được phát triển tốt đẹp về nhiều mặt, hoàn cảnh phải có tính chất phong phú. Hoàn
cảnh càng phong phú chừng nào con người càng được phát triển triển đầy đủ, nhịp
nhàng chừng ấy. Bởi vậy, tạo ra các quan hệ xã hội tốt đẹp, phong phú là cơ sở
khoa học cho việc hình thành những phẩm chất đạo đức, những tư tưởng, những
tình cảm tốt đẹp trong nhân cách con người. Với ý nghĩa ấy, Mác và Anghen đã
vạch rõ: “Sự phong phú thực sự về mặt tinh thần cá nhân hoàn toàn phục thuộc vào
sự phong phú của quan hệ hiện thực của họ”.
Để đảm bảo sự phát triển nhân cách cho con người, ngoài việc đảm bảo tính phong
phú của hoàn cảnh cần phải phát huy tính năng động của con người đối với hoàn
cảnh. Con người không bị động trước môi trường, ngược lại con người luôn luôn
phát huy tính năng động của mình trong môi trường. Tính năng động ấy được thể
hiện ở chỗ con người tiếp thu hoàn cảnh một cách có ý thức, có lựa chọn những cái
hay, cái tốt trong hoàn cảnh sao cho phù hợp với sự phát triển của mình. Tính năng
động ấy còn thể hiện ở khía cạnh con người không xoay lưng với môi trường. ở
mức độ cao hơn, tính năng động của con người còn biểu hiện ở khía cạnh con
người tham gia cải tạo môi trường và cũng chính là con người đã trực tiếp cải tạo
bản thân, hoàn thiện nhân cách của chính mình. Song, điều hết sức chú ý là môi
trường chỉ có thể phát huy tác dụng khi con người đã xác định được nhu cầu của
mình trong môi trường. Tức là con người đã chuyển hoá cái khách quan thành cái
chủ quan của mình. Coi khách quan trở thành động lực bên trong của con người
thúc đẩy con người hoà nhập vào hoàn cảnh, tiếp nhận tác động của môi trường,
cải tạo môi trường đồng thời cải tạo bản thân.
Việc phát huy tính năng động của con nguời đối với môi trường có ý nghĩa cách
mạng to lớn về mặt chính trị cũng như về mặt giáo dục. Về chính trị, nó đòi hỏi
phải thay đổi những quan hệ xã hội không phù hợp với quy luật phát triển của lịch 14
sử. Về giáo dục, nó đòi hỏi con người phải tham gia cải tạo bộ máy tự nhiên, bộ
mặt xã hội thông qua thực tiễn lao động sản xuất và đấu tranh giai cấp.
Ví dụ: Trường hợp cô Kamala được chó sói nuôi từ nhỏ. Khi được đưa ra khỏi
rừng, cô đã 12 tuổi. Bình thường, cô ngủ trong xó nhà, đêm đến thì tỉnh táo và đôi
khi sủa lên như chó rừng. Cô đi lại bằng hai chân, nhưng khi bị đuổi thì chạy bằng
bốn chi khá nhanh. Người ta dạy nói cho Kamala trong bốn năm, nhưng cô chỉ nói
được hai từ. Cô không thể thành người và chết ở tuổi 18. Người ta đã được biết
trên 30 trường hợp như vậy.
Hoàn cảnh là môi trường nhỏ có tác động trực tiếp, mạnh mẽ đến sự hình thành
phát triển nhân cách cá nhân. Trong đó môi trường xã hội có ý nghĩa quan trọng
đối với sự hình thành phát triển nhân cách.
3. Giáo dục và sự phát triển nhân cách
Giáo dục đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển nhân cách con người. Trong các
yếu tố có ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách con người, giáo dục là yếu tố có
ảnh hưởng sâu sắc nhất, mạnh mẽ nhất đến phương hướng, nội dung, mức độ của
sự phát triển. Giáo dục can thiệp vào điều chỉnh những yếu tố khác (bẩm sinh- di
truyền, môi trường và hoạt động của cá nhân), làm cho những yếu tố đó phát huy
tác dụng cao nhất với sự phát triển nhân cách con người.
Đối với bẩm sinh di truyền, giáo dục phát hiện ra những tư chất tốt, những tài năng
sẵn có làm cho những tư chất ấy, những tài năng ấy phát triển. Giáo dục còn làm
nảy nở ở con người những tài năng mới, giáo dục sửa chữa, loại trừ những hậu quả
do bẩm sinh- di truyền để lại (sửa tật nói ngọng, nói lắp…).
Môi trường xã hội ngoài những ảnh hưởng tích cực còn gây ra những tiêu cực tự
phát có tác động xấu đến sự hình thành và phát triển nhân cách. Giáo dục có thể
uốn nắn những phẩm chất tâm lý xấu và làm cho nó phát triển theo chiều hướng
mong muốn của xã hội. Đó chính là hiệu quả của công tác giáo dục lại đối với trẻ
em hư hoặc những người phạm pháp. 15
Đối với hoạt động cá nhân, giáo dục động viên tích cực hoạt động, xác định được
động cơ của hoạt động, hướng dẫn cách thức hoạt động làm cho hoạt động thu
được hiệu quả cao nhất.
Muốn cho giáo dục đạt hiệu quả cao cần phải có hai điều kiện:
Một là: Giáo dục phải đảm bảo tính tư tưởng, tính khoa học. Giáo dục phải luôn có
khuynh hướng tư tưởng rõ ràng, phải phát huy đầy đủ những mặt có lợi cho sự phát
triển nhân cách con người và sự phát triển của xã hội. Giáo dục phải dựa vào
những quy luật về sự phát triển tâm sinh lý của con người nhằm đề ra những quy
tắc và phương pháp giáo dục thích hợp.
Hai là: Giáo dục phải phát huy tính tích cực của đối tượng. Mức độ ảnh hưởng của
giáo dục phụ thuộc vào thái độ của đối tượng. Nếu con người từ chối ảnh hưởng
của giáo dục thì sẽ không đem lại hiệu quả gì. Ngược lại, nếu con người tự giác
tiếp thu những ảnh hưởng tích cực của giáo dục, giáo dục sẽ gây nên những ảnh
hưởng sâu sắc đến sự phát triển nhân cách của con người.
Thực chất, trong sự phát triển nhân cách con người, giáo dục là quá trình khám phá
và giải quyết những mâu thuẫn diễn ra trong quá trình phát triển (mâu thuẫn nảy
sinh trong quá trình phát triển nhân cách con người). Trong quá trình đó, nhà giáo
dục phải thấy được những mâu thuẫn cơ bản này. Đó là:
• Mâu thuẫn giữa khả năng và nhu cầu mới. Đây là mâu thuẫn giữa những
trình độ vốn có của con người với nhu cầu tri thức mới, nhu cầu giải quyết những
khó khăn mới do thực tiễn đặt ra. Mâu thuẫn này luôn luôn xuất hiện trong quá
trình phát triển con người.
• Mâu thuẫn giữa tồn tại và ý thức (còn gọi là mâu thuẫn giữa nội dung và
hình thức). Đây là mâu thuẫn giữa tồn tại khách quan và năng lực phản ánh tồn tại khách quan đó.
Quá trình phát triển nhân cách con người là quá trình rất phức tạp. Nhà giáo dục
phải biết triển khai và giải quyết những mâu thuẫn trong quá trình đó.
Giáo dục là sự dẫn dắt của thế hệ trước đối với thế hệ sau, một sự dẫn dắt có mục
đích, có kế hoạch, có phương pháp. Giáo dục là con đường ngắn nhất giúp thế hệ 16
trẻ phát triển, bỏ qua những mò mẫm, vấp váp không cần thiết trong cuộc đời một con người.
Trong các môi trường giáo dục: gia đình, nhà trường, xã hội chúng ta đèu nhận
thấy vai trò quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển nhân cách. Giáo dục
trong nhà trường là hình thức giáo dục chuyên nghiệp, bao gồm đội ngũ các nhà sư
phạm được đào tạo, nội dung chương trình giáo dục có chọn lọc, phương pháp giáo
dục được thiết kế phù hợp cho mọi lứa tuổi, có phương tiện kỹ thuật phục vụ cho
giáo dục. Mục đích giáo dục của nhà trường phù hợp với xu thế phát triển xã hội
và thời đại. Giáo dục gia đình được tiến hành trong cả cuộc đời một con người. Với
đặc điểm chủ yếu là quan hệ tình cảm huyết thống, giáo dục gia đình được xây
dung trên cơ sở tình cảm bền chặt, có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của mỗi
con người. Nề nếp gia phong, truyền thống gia đình được coi như một yếu tố giáo
dục quan trọng. Còn giáo dục xã hội là giáo dục của toàn xã hội với thể chế chính
trị, pháp luật, truyền thống văn hoá, đạo đức…được thực hiện qua hệ thống tổ chức
nhà nước, qua các phương tiện truyền thông đại chúng, qua hoạt động của các đoàn
thể…Sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa ba lực lượng giáo dục: nhà trường, gia
đình và xã hội sẽ giúp cho giáo dục con người đạt kết quả.
Như vậy, giáo dục vạch ra đường hướng cho qua trình phát triển nhân cách, thúc
đẩy quá trình đó. Tuy nhiên, giáo dục không chỉ là sự tác động một chiều của
những người làm công tác giáo dục mà còn bao gồm cả hoạt động tích cực, đa
dạng của người được giáo dục. Do đó, cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo
dục và tự giáo dục. Có như vậy thì giáo dục mới có tác động thực sự đến sự hình
thành và phát triển nhân cách.
Hay nói một cách khác, thành công trong công tác giáo dục chính là làm cho người
được giáo dục ý thức được và chấp nhận những yêu cầu của nhà giáo dục và của
tập thể, làm cho họ biết tự đề ra cho mình những kế hoạch, những mục tiêu phấn
đấu trong cuộc sống và tự bồi dưỡng, tự rèn luyện những phẩm chất và năng lực
mới cho bản thân. Họ phải biết biến yêu cầu của nhà giáo dục thành yêu cầu của
bản thân, thành hoạt động sống hàng ngày của chính mình. 17
Ví dụ: giáo dục trẻ em bị khuyết tật có thể được phục hồi những chức năng đã
mất, hoặc có thể phát triển tài năng và trí tuệ một cách bình thường.
Giáo dục có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lý xấu do tác động tự phát của môi
trường gây nên và làm cho nó phát triển theo chiều hướng mong muốn của xã hội.
Chẳng hạn như giáo dục trẻ em hư hoặc cải tạo lao động đối với người phạm pháp.
4. Hoạt động của cá nhân và sự phát triển nhân cách
Hoạt động của cá nhân là yếu tố quyết định trực tiếp đến sự hình thành và phát
triển nhân cách con người.
Hoạt động là sự tác động qua lại có định hướng giữa con người với thế giới xung
quanh, hướng tới biến đổi nó nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Con đường tác
động có mục đích, tự giác của xã hội bằng giáo dục đến thế hệ trẻ sẽ không có hiêu
quả nêu như bản thân cá nhân học sinh không tiếp nhận, không hương ứng những
tác động đó, không trực tiếp tham gia vào các hoạt động nhằm phát triển tâm lý,
hình thành nhân cách. Bởi vạy, hoạt động chủ đạo đóng vai trò chủ yếu trong sự
hình thành và phát triển nhân cách so với các loại hoạt động khác của cá nhân.
Hoạt động là điều kiện để nhận thức, cải tạo thế giới và bản thân mình. Trong quá
trình hoạt động, con người khám phá ra những điều mới lạ, tìm ra được bản chất
của sự vật, hiện tượng. Trên cơ sở đó, con người có thể thúc đẩy sự phát triển nhân cách của mình.
Để tham gia hoạt động, con người bao giờ cũng phải xác định động cơ hoạt động.
Việc xác định động cơ hoạt động có tầm quan trọng đặc biệt. Động cơ càng đúng
đắn, tác dụng của hoạt động càng mạnh mẽ và sâu sắc. Để xác định động cơ hoạt
động, con người phải qua quá trình đấu tranh động cơ. Trong quá trình ấy diễn ra
sự đấu tranh giữa lý trí và tình cảm. Đây là dịp thuận lợi để rèn luyện ý chí, để phát
huy năng lực kìm chế, tự giáo dục.
Trong quá trình lựa chọn động cơ, ý thức xã hội chủ nghĩa, trình độ giác ngộ chính
trị đóng vai trò rất quan trọng. Khi động cơ hoạt động đã được xác định, con người
cần tìm kiếm phương thức hoạt động. Phương thức hoạt động đúng đắn, khoa học 18
sẽ làm cho hoạt động của con người ngày càng hoàn hảo, nó thúc đẩy sự phát triển
nhân cách con người. Cụ thể là việc lựa chọn các phương tiện hoạt động thích hợp
sẽ làm cho quá trình hoạt động mang lại hiệu quả cao, có tác dụng thúc đẩy sự phát
triển của hiện thực nhanh chóng và đúng hướng.
Tất cả các quá trình trên đều có ảnh hưởng lớn đến năng lực và phẩm chất của con
người nhằm thúc đẩy sự phát triển nhân cách. Mặt khác, trong mỗi hoạt động luôn
có sự thay đổi về nội dung, yêu cầu, cách thức để theo kịp sự phát triển và góp
phần thúc đẩy sự phát triển. Do vậy, đòi hỏi con người cũng luôn thay đổi về mọi
mặt để có khả năng thích nghi với những thay đổi trong mỗi hoạt động. Bởi thế,
nhân cách con người cũng không ngừng phát triển theo sự thay đổi, phát triển của
hoạt động. Hoạt động càng phong phú, đa dạng thì nhân cách của con nguời càng hoàn thiện.
Tóm lại, sự phát triển nhân cách con người là toàn bộ sự phát triển, hoàn thiện về
thể chất và tinh thần, nó bị chi phối bởi hàng loạt những yếu tố chủ quan và khách
quan. Các yếu tố bẩm sinh - di truyền, môi trường, giáo dục và hoạt động cá nhân
có quan hệ biện chứng với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát huy tác dụng hợp lý
trong quá trình hình thành nhân cách con người.
Ví dụ: Cách dễ nhất để kết hợp cả việc học và chơi với nhau là nên thông qua
những hoạt động hàng ngày của trẻ em.
Trẻ có thể học được rất nhiều bài học thông qua việc phân loại quần áo như phân
biệt kích cỡ quần áo lớn nhỏ, màu sắc quần áo, kiểu quần áo. Ngược lại nếu trẻ
không tham gia vui chơi với bạn bè, không bắt chước những hành vi, cách xử sự
của người lớn, không học tập thì trẻ sẽ không thể phát triển đầy đủ những phẩm
chất và năng lực của nhân cách. Vì vậy, người lớn cần phải hướng dẫn, tổ chức và
lôi kéo trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động để giúp hình thành và phát triển nhân cách trẻ.
5. Giao tiếp và sự phát triển nhân cách
Nhà tâm lý học Xô Viết B. Ph. Lomov cho rằng “khi chúng ta nghiên cứu lối sống
của một cá nhân cụ thể, chúng ta không thể chỉ giới hạn ở sự phân tích xem nó làm 19
cái gì và như thế nào, mà còn phải nghiên cứu xem nó giao tiếp với ai và như thế
nào”. Vì thế cùng với hoạt động có đối tượng, giao tiếp có một vai trò quan trọng
cơ bản trong việc hình thành và phát triển nhân cách.
Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội loài người, là nhu cầu cơ bản
xuất hiện sớm nhất ở con người. Nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu cầu xã
hội cơ bản, xuất hiện sớm nhất ở con người. Thực tế chứng minh những trường
hợp do động vật nuôi đã mất bản tính người, mất nhân cách và chỉ còn lại những
điểm tâm lý, hành vi của con vật. Đã có nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng sự
giao tiếp quá hạn chế, nghèo nàn đã dẫn đến những hậu quả nặng nề là dễ mắc
bệnh “đói giao lưu do nằm viện lâu ngày” (hospitalism).
Nhờ giao tiếp, con người gia nhập vào các quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa xã
hội, chuẩn mực xã hội “tổng hòa các quan hệ xã hội” làm thành bản chất con
người, đồng thời thông qua giao tiếp con người đóng góp tài lực của mình vào kho
tàng chung của nhân loại, của xã hội. Trong giao tiếp con người không chỉ nhận
thức người khác, nhận thức các quan hệ xã hội mà còn nhận thức được chính bản
thân mình, tự đối chiếu so sánh mình với người khác, với chuẩn mực xã hội, tự
đánh giá bản thân mình như một nhân cách để hình thành một thái độ giá trị cảm
xúc nhất định đối với bản thân. Hay qua giao tiếp con người hình thành năng lực tự ý thức.
Ví dụ: Khi giao tiếp thì ta sẽ biết được cách thức giao tiếp của người đó. Từ đó
hình thành khả năng giao tiếp riêng cho bản thân mình. Khi mình giao tiếp với
nhiều đối tượng, với nhiều người thì ta sẽ rút ra được nhiều kinh nghiệm cho việc giao tiếp của mình.
Vai trò của giao tiếp trong nhóm và tập thể:
Nhóm: là một tập hợp người được thống nhất lại theo những mục đích chung.
Tập thể: là một nhóm người, một bộ phận của xã hội được thống nhất theo những
mục đích chung, phục tùng các mục đích của xã hội.
Vì vậy, vận dụng nguyên tắc giáo dục trong tập thể và bằng tập thể có ý nghĩa quan
trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách. 20
III. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trong thực tế, 5 yếu tố trên không tác động một cách riêng rẽ mà chúng cùng tác
động vào sự hình thành và phát triển nhân cách. Hoàn thiện nhân cách vừa là nhu
cầu của cá nhân, vừa là yêu cầu khách quan của xã hội. Nhận thấy được tầm quan
trọng của tâm lý nhân cách nên ngày nay vấn đề giáo dục, bồi dưỡng tâm lý nhân
cách rất được gia đình, nhà trường và xã hội quan tâm, chú trọng, vì trẻ em ngay từ
khi còn nhỏ đã bắt đầu hình thành nhân cách.
Liên hệ với đất nước ta, đất nước ta đang trong quá trình đổi mới kinh tế, phát triển
công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Trong những năm qua, chúng ta đã đạt được
những thành tựu đáng kể trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó tác động
đến mỗi thành viên trong xã hội, làm phong phú đa dạng thêm đồng thời cũng
phức tạp thêm lối sống của mỗi người, đặc biệt ảnh hưởng đến sự hình thành và
phát triển nhân cách của lớp trẻ.
Thực tiễn cho thấy trong mấy năm gần đây, thang giá trị của xã hội đang có sự thay
đổi nhanh chóng. Chính sự thay đổi một số giá trị dẫn đến sự thay đổi đặc điểm
nhân cách của tuổi trẻ Việt Nam trong thời kỳ mới. Định hướng giá trị là yếu tố
quan trọng nhất của cấu trúc bên trong nhân cách. Chúng ta đang trong quá trình
vận động và chuyển đổi trên mọi lĩnh vực.
Vì vậy, không thể không có sự chuyển đổi thang giá trị, biểu định hướng giá trị
trong việc kế thừa và duy trì các giá trị truyền thống và hình thành những giá trị
chuẩn mực mới, tiếp cận thời đại. Những giá trị truyền thống gia đình, tình nghĩa,
đề cao cái tâm, chữ tín và đạo hiếu, lễ nghĩa vẫn được duy trì nhằm hạn chế, khắc
phục tính ích kỷ, thờ ơ thậm chí là lạnh lùng của một số người dưới tác động của cơ chế thị trường.
Tính cộng đồng vẫn được quan tâm nhưng bên cạnh đó một số giá trị phẩm chất cá
nhân ngày càng được đề cao như: Học vấn, sức khoẻ, sáng tạo, tự lập, tự trọng,
tinh thần khám phá, chí tiến thủ, … Mục tiêu, yêu cầu của mô hình nhân cách tuổi