Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÀI THẢO LUẬN NHÓM 7 LỚP: CH30AQLKT.N1
PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI
TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY
Hà Nội, tháng 10 năm 2024 DANH SÁCH NHÓM STT HỌ VÀ TÊN MÃ HỌC VIÊN ĐIỂM 47 Đào Linh Trang 24AM0110045 48 Hoàng Anh Tuấn 24AM0110047 49 Hoàng Thanh Tuấn 24AM0110048 50 Lê Anh Tuấn 24AM0110049 51 Hà Văn Tú 24AM0110050 52 Vũ Kiêm Văn 24AM0110052 53 Lưu Hồng Vân 24AM0110053 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................................1
Lý do chọn đề tài...................................................................................................................1
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................................................1
Mục tiêu nghiên cứu.............................................................................................................2
Phương pháp nghiên cứu.....................................................................................................3
CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN TỐ CON NGƯỜI..........................................5
1.1. Một số quan điểm về con người trong triết học Mác - Lênin....................................5
1.1.1. Khái niệm về con người theo triết học Mác - Lênin............................................5
1.1.2. Bản chất con người trong mối liên hệ với xã hội..................................................5
1.2. Quan niệm về nhân tố con người trong phát triển kinh tế.........................................8
1.2.1. Vai trò của con người trong quá trình phát triển kinh tế...................................8
1.2.2. Nhân tố con người và sự phát triển bền vững......................................................8
1.3. Chủ nghĩa xã hội và sự phát triển toàn diện của con người.......................................9
1.3.1. Định nghĩa chủ nghĩa xã hội và mục tiêu phát triển con người..........................9
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển con người trong xã hội.....................10
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG CÔNG
CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY TẠI VIỆT NAM
..................................................................11
2.1. Tổng quan về quá trình đổi mới và vai trò của con người.......................................11
2.1.1. Lịch sử và bối cảnh của công cuộc đổi mới........................................................11
2.1.2. Vai trò của con người trong việc thúc đẩy đổi mới............................................13
2.2. Đánh giá thực trạng phát huy nhân tố con người trong các lĩnh vực.....................15
2.2.1. Trong lĩnh vực kinh tế..........................................................................................15
a. Chất lượng nguồn nhân lực..........................................................................................15
b. Năng suất lao động.......................................................................................................15
c. Chính sách phát triển con người...................................................................................15
d. Cơ hội việc làm và môi trường làm việc.......................................................................16
e. Sự sáng tạo và đổi mới của con người..........................................................................16
2.2.2. Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.....................................................................16
a. Chất lượng giáo dục.....................................................................................................16
b. Khả năng tiếp cận giáo dục..........................................................................................17
c. Môi trường học tập và điều kiện giảng dạy..................................................................17
d. Đội ngũ giáo viên và chất lượng đào tạo......................................................................17
e. Phát huy sáng tạo và tư duy phản biện.........................................................................17
f. Giáo dục nghề nghiệp và kỹ năng thực tiễn...................................................................17
2.2.3. Trong lĩnh vực văn hóa và xã hội........................................................................18
a. Bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống.................................................................18
b. Giáo dục văn hóa và giá trị đạo đức xã hội.................................................................18
c. Mức độ tham gia của người dân vào các hoạt động văn hóa xã hội............................18
d. Chính sách hỗ trợ phát triển văn hóa xã hội................................................................19
e. Các giá trị văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa.........................................................19
2.3. Khó khăn và thách thức trong phát huy nhân tố con người trong công cuộc đổi
mới
........................................................................................................................................19
2.3.1. Về nhận thức và tư tưởng.....................................................................................19
2.3.2. Về cơ chế và chính sách........................................................................................20
2.3.3. Về trình độ, kỹ năng.............................................................................................21
2.3.4. Về điều kiện sống và làm việc..............................................................................22
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG CÔNG
CUỘC ĐỔI MỚI.....................................................................................................................23
3.1. Nâng cao nhận thức về vai trò của nhân tố con người.............................................23
3.1.1. Tuyên truyền giáo dục..........................................................................................23
3.1.2. Đào tạo kỹ năng mềm...........................................................................................23
3.2. Cải cách chính sách và cơ chế phát triển nhân lực...................................................24
3.2.1. Hoàn thiện cơ chế tuyển dụng và đãi ngộ...........................................................24
3.2.2. Khuyến khích khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo.................................................24
3.3. Cải thiện điều kiện sống và làm việc cho người lao động.........................................25
3.3.1. Xây dựng môi trường làm việc an toàn, lành mạnh..........................................25
3.3.2. Nâng cao chất lượng cuộc sống............................................................................26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3...................................................................................................27
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................28 PHẦN MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài
Việt Nam đã trải qua hơn ba thập kỷ đổi mới kể từ khi thực hiện chính sách
"Đổi Mới" năm 1986, với những thành tựu kinh tế - xã hội đáng kể. Trong quá trình
đó, nhân tố con người đã đóng vai trò cốt lõi, quyết định sự thành công của các chiến
lược phát triển kinh tế và cải cách xã hội. Việc lựa chọn đề tài này dựa trên những lý do quan trọng sau:
- Vai trò trung tâm của con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội: Con người
không chỉ là đối tượng thụ hưởng của các chính sách phát triển mà còn là chủ thể sáng
tạo và thực thi các chính sách đó. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách
mạng công nghiệp 4.0, nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yếu tố then chốt thúc
đẩy năng lực cạnh tranh và đổi mới sáng tạo.
- Những thách thức về nhân lực trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa: Việt
Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc phát triển nguồn nhân lực, như sự
thiếu hụt lao động có kỹ năng cao, năng lực quản lý và khả năng tiếp cận công nghệ
hiện đại. Việc nghiên cứu để đề xuất các giải pháp phát huy nhân tố con người nhằm
đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập là rất cần thiết.
- Nhân tố con người trong xây dựng xã hội văn minh, công bằng: Phát huy nhân
tố con người không chỉ tập trung vào phát triển kinh tế mà còn liên quan đến việc xây
dựng các giá trị văn hóa, đạo đức, và cải thiện chất lượng cuộc sống. Việc nghiên cứu
giúp khẳng định vai trò của con người trong việc duy trì và phát triển các giá trị truyền
thống trong quá trình hiện đại hóa.
- Sự cấp thiết của việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo: Để phát huy tối
đa tiềm năng con người, việc đầu tư vào giáo dục, đào tạo, và nâng cao trình độ lao
động là rất quan trọng. Đề tài sẽ tập trung phân tích các chính sách, chương trình đào
tạo và cải thiện hệ thống giáo dục để đáp ứng nhu cầu phát triển quốc gia.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhân tố con người trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội, bao gồm:
Nguồn nhân lực: Tập trung vào các nhóm đối tượng như công nhân, viên chức,
trí thức, và lao động trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, và công nghệ cao.
Chính sách phát triển nguồn nhân lực: Các chính sách, chương trình đào tạo và
phát triển nhân lực của Chính phủ và các cơ quan liên quan nhằm nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ đổi mới.
Giá trị văn hóa và đạo đức con người: Những yếu tố văn hóa, đạo đức trong xã
hội ảnh hưởng đến việc phát triển toàn diện con người, bao gồm giáo dục, đạo đức
nghề nghiệp, và ý thức xã hội. - Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tập trung vào quá trình phát triển nguồn nhân
lực từ khi Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986 cho đến nay, 1
đặc biệt là trong giai đoạn từ 2010 đến 2023 khi nền kinh tế Việt Nam có những
chuyển biến rõ rệt trong bối cảnh hội nhập và cách mạng công nghiệp 4.0.
Phạm vi không gian: Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc,
nhưng có thể phân tích cụ thể các vùng kinh tế trọng điểm (như Hà Nội, TP. Hồ Chí
Minh, các khu công nghiệp, vùng kinh tế đặc biệt) nơi có sự phát triển mạnh về nguồn
nhân lực và các chính sách liên quan. Ngoài ra, các vùng sâu, vùng xa, các khu vực có
điều kiện phát triển kinh tế hạn chế cũng sẽ được đề cập để đảm bảo cái nhìn toàn diện. Phạm vi nội dung:
Phân tích thực trạng: Nghiên cứu thực trạng phát triển nhân lực và các chính
sách liên quan, đánh giá chất lượng nguồn nhân lực trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội quan trọng.
Chính sách và giải pháp phát triển: Đề xuất các chính sách và giải pháp để phát
huy tối đa tiềm năng của nguồn nhân lực, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững
trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ vai trò của nhân tố con người trong công cuộc đổi mới của Việt Nam:
Phân tích và khẳng định nhân tố con người là yếu tố trung tâm và quan trọng
trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tìm hiểu các khía cạnh ảnh hưởng đến sự phát triển của nguồn nhân lực như
giáo dục, đào tạo, kỹ năng lao động, đạo đức nghề nghiệp và năng lực sáng tạo.
- Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn đổi mới:
Đánh giá thực trạng về chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam trong các lĩnh
vực trọng yếu (kinh tế, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, công nghệ).
Phân tích các chính sách và chương trình của Chính phủ liên quan đến phát
triển nhân lực, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến phát huy nhân tố con người:
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của con người,
bao gồm giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội, và các chính sách hỗ trợ phát triển nhân lực.
Phân tích vai trò của những giá trị truyền thống, đạo đức, và trách nhiệm xã hội
đối với việc hình thành và phát triển nhân tố con người.
- Đề xuất các giải pháp phát huy tối đa nhân tố con người trong thời kỳ đổi mới:
Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp
ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế.
Đề xuất cải tiến các chính sách giáo dục và đào tạo, phát triển kỹ năng và nâng
cao năng lực sáng tạo của người lao động.
- Đóng góp vào việc xây dựng chiến lược phát triển bền vững của đất nước: 2
Thông qua nghiên cứu, góp phần vào việc xây dựng các chính sách dài hạn
nhằm phát triển nhân lực chất lượng cao, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững và
toàn diện của Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế.
Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, các phương pháp nghiên cứu dưới
đây sẽ được áp dụng nhằm thu thập, phân tích và tổng hợp thông tin một cách khoa học và chính xác:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Mục tiêu: Tìm hiểu cơ sở lý luận về vai trò của nhân tố con người trong phát
triển kinh tế - xã hội, cũng như các chính sách phát triển nhân lực của Chính phủ Việt Nam. - Cách thực hiện:
Thu thập và nghiên cứu các tài liệu lý thuyết, sách báo, công trình nghiên cứu
liên quan đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực, đổi mới và các yếu tố văn hóa, đạo đức con người.
Xem xét các báo cáo, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Chính phủ Việt Nam về
chiến lược phát triển nhân lực và kinh tế - xã hội trong giai đoạn đổi mới.
Tổng hợp thông tin từ các nghiên cứu khoa học, luận án và các báo cáo chuyên đề có liên quan.
Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Mục tiêu: Phân tích sâu về thực trạng phát triển nhân lực trong công cuộc đổi
mới và tổng hợp những kết quả đã đạt được, từ đó đưa ra đánh giá và nhận định. - Cách thực hiện:
Phân tích số liệu từ các báo cáo của các cơ quan nhà nước về nguồn nhân lực,
chính sách giáo dục, đào tạo, và phát triển kỹ năng lao động.
Tổng hợp các kết quả từ các cuộc nghiên cứu thực tế để đưa ra cái nhìn toàn
diện về quá trình phát huy nhân tố con người. Phương pháp so sánh
- Mục tiêu: So sánh sự phát triển nguồn nhân lực giữa các giai đoạn khác nhau
và giữa các khu vực khác nhau, từ đó đánh giá sự tiến bộ và hiệu quả của các chính sách. - Cách thực hiện:
So sánh sự thay đổi về chất lượng nguồn nhân lực qua các giai đoạn trước và
sau khi thực hiện công cuộc đổi mới, tập trung vào các giai đoạn trọng điểm như từ năm 1986 đến nay.
Đánh giá sự khác biệt về phát triển nhân lực giữa các vùng miền (thành thị,
nông thôn, các vùng kinh tế trọng điểm) để xác định các yếu tố cần cải thiện và các yếu tố thành công.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3
- Mục tiêu: Thu thập thông tin thực tế từ các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp
về việc phát triển và sử dụng nguồn nhân lực. - Cách thực hiện:
Khảo sát: Tiến hành khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp, trường học, khu vực
hành chính công để thu thập ý kiến về các chương trình đào tạo, nâng cao tay nghề và phát triển con người.
Phỏng vấn chuyên gia: Thực hiện các cuộc phỏng vấn với các chuyên gia trong
lĩnh vực nhân lực, giáo dục, kinh tế để hiểu rõ hơn về tác động của các chính sách hiện
hành và đề xuất các giải pháp khả thi.
Phương pháp thống kê
- Mục tiêu: Phân tích dữ liệu số liệu thống kê để đánh giá thực trạng và tiềm
năng của nguồn nhân lực trong nền kinh tế Việt Nam. - Cách thực hiện:
Thu thập các dữ liệu thống kê từ Tổng cục Thống kê, Bộ Giáo dục và Đào tạo,
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về chất lượng nguồn nhân lực, tình hình việc
làm, đào tạo nghề, và phát triển kỹ năng.
Sử dụng các công cụ phân tích thống kê để rút ra các kết luận về xu hướng phát
triển nguồn nhân lực và hiệu quả của các chương trình đầu tư vào con người. 4
CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN TỐ CON NGƯỜI
1.1. Một số quan điểm về con người trong triết học Mác - Lênin
1.1.1. Khái niệm về con người theo triết học Mác - Lênin
Trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử xã hội và về con người,
triết học Mác - Lênin đã đem lại một quan niệm hoàn chỉnh về con người. Theo quan
điểm chung nhất, con người là thực thể sinh học xã hội.
Con người là một sinh vật có tính xã hội, vừa là sản phẩm cao nhất trong quá
trình tiến hóa của tự nhiên và lịch sử xã hội, vừa là chủ thể sáng tạo mọi thành tựu văn
hóa trên trái đất. Triết học Mác chỉ rõ hai mặt, hai yếu tố cơ bản cấu thành con người
là mặt sinh học và mặt xã hội. Con người có mặt tự nhiên , vật chất, nhục thể, sinh vật,
tộc loại… Đồng thời con người có mặt xã hội, tinh thần, ngôn ngữ, ý thức, tư duy, lao
động, giao tiếp đạo đức,… Hai mặt đó hợp thành một hệ thống năng động, phức tạp,
luôn luôn biến đổi, phát triển. Về vai trò của con người, triết học Mác - Lênin khẳng
định con người là chủ thể hoạt động thực tiễn. Bằng hoạt động thực tiễn, con người
sáng tạo ra mọi của cải vật chất, tinh thần, đồng thời sáng tạo ra cả bộ óc và tư duy của mình.
1.1.2. Bản chất con người trong mối liên hệ với xã hội
Trong tác phẩm Luận cương về Feuerbach, K.C.Mác chỉ ra hạn chế của
Feuerbach trong việc xem xét con người như là một cơ thể sinh vật có ý thức và tình
cảm, như tình yêu, tình bạn, không thấy mặt xã hội và hoạt động thực tiễn của con
người. K.C.Mác vạch rõ: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng
hòa những mối quan hệ xã hội” (Toàn tập, tập 3, tr.11).
Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng
thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội.
Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là giới tự nhiên. Cũng do
đó, bản tính tự nhiên của con người bao hàm trong nó tất cả bản tính sinh học, tính loài
của nó. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của
con người. Vì vậy, có thể nói: Giới tự nhiên là "thân thể vô cơ của con người"; con
người là một bộ phận của tự nhiên; là kết quả của quá trình phát triển và tiến hoá lâu
dài của môi trường tự nhiên.
Tuy nhiên, điều cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy
nhất quy định bản chất con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với
thế giới loài vật là phương diện xã hội của nó. Trong lịch sử đã có những quan niệm
khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người là động vật sử dụng công
cụ lao động, là "một động vật có tính xã hội", hoặc con người động vật có tư duy...
Những quan niệm trên đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong
bản chất xã hội của con người mà chưa nêu lên được nguồn gốc của bản chất xã hội ấy.
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con
người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước
hết là lao động sản xuất ra của cải vật chất. "Có thể phân biệt con người với súc vật, 5
bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con
người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra
những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con
người quy định. Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã
gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình".
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất; con người đã làm thay đổi, cải biến giới
tự nhiên: "Con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên".
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt
động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người. Thông
qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần,
phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan
hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con
người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của
con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống
nhất với nhau. Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với
môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hóa... quy định
phương diện sinh học của con người. Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành
và vận động trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm, khát vọng,
niềm tin, ý chí. Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người.
Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh
trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối quan hệ sinh
học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội
trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu
tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụ các giá trị tinh thần.
Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt
sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con
người là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã
hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật. Nhu cầu sinh học phải
được "nhân hóa" để mang giá trị văn minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội
không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học. Hai mặt trên thống nhất với nhau,
hoà quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên - xã hội.
Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội
Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người vượt lên
thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với
xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mối quan hệ đó, suy đến cùng,
đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản
chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người.
Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận
đề nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc: "Bản chất con người không phải 6
là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản
chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội".
Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều
kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một
điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định. Trong điều kiện lịch sử đó,
bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần
để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ. Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ
xã hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ
cá nhân, gia đình, xã hội...) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình.
Điều cần lưu ý là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ
nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người. Song, ở con người, mặt tự nhiên tồn tại
trong sự thống nhất với mặt xã hội; ngay cả việc thực hiện những nhu cầu sinh vật ở
con người cũng đã mang tính xã hội. Quan niệm bản chất con người là tổng hoà những
quan hệ xã hội mới giúp cho chúng ta nhận thức đúng đắn, tránh khỏi cách hiểu thô
thiển về mặt tự nhiên, cái sinh vật ở con người.
Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người.
Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh.
Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử - xã hội.
C.Mác đã khẳng định: "Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản
phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục... cái học thuyết ấy quên rằng chính những
con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo
dục". Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen cũng cho rằng: "Thú vật
cũng có một lịch sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và lịch sử phát triển dần dần
của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không phải do
chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì
điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng. Ngược
lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con
người lại càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu".
Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động
vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch
sử xã hội. Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên. Con người
thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thế giới tự
nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình.
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình. Con
người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản
thân con người. Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con
người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội. Trên cơ sở nắm
bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất và tinh thần,
thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con
người đặt ra. Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã
hội, và do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người.
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn
phát triển nhất định của xã hội. Do vậy, bản chất con người, trong mối quan hệ với
điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp. 7
Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là hệ thống mở, tương
ứng với điều kiện tồn tại của con người. Mặc dù là "tổng hoà các quan hệ xã hội", con
người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo. Thông
qua đó, bản chất con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp. Có thể nói rằng, mỗi
sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trùng khớp)
với sự vận động và biến đổi của bản chất con người.
1.2. Quan niệm về nhân tố con người trong phát triển kinh tế
Nhân tố con người là một phạm trù triết học xã hội dùng để chỉ hệ thống các
yếu tố, các đặc trưng quy định vai trò của chủ thể tích cực, sáng tạo của con người, bao
gồm một chỉnh thể thống nhất giữa mặt hoạt động và tổng hòa các đặc trưng về phẩm
chất, năng lưc của con người được huy động vào quá trình biến đôi tự nhiên và xã hội
vì lợi ích của xã hội, nhân loại và của chính bản thân con người.
1.2.1. Vai trò của con người trong quá trình phát triển kinh tế
Nguồn lực con người là tổng thể những tiềm năng, những năng lực của mỗi cá
nhân và cộng đồng đã, đang và sẽ tạo ra sức mạnh để thúc đẩy xã hội phát triển.
Nguồn lực này bao gồm cả số lượng và chất lượng nguồn nhân lực.
Cấu trúc về số lượng, chất lượng nguồn lực được thể hiện ở nhiều mặt như trình
độ, phẩm chất, kỹ năng, đạo đức, trí tuệ, khả năng hiểu biết quyết định các vấn đề, bản
lĩnh, lối sống trong cuộc sống và công việc, tư tưởng, văn hóa của mỗi người trong xã
hội. Về số lượng nguồn lực con người được xác định bởi quy mô dân số của mỗi quốc
gia; bởi cơ cấu độ tuổi lao động, giới tính, sự phân bổ dân cư giữa thành thị, nông thôn và các vực khác.
Nguồn lực con người thể hiện vai trò quan trọng trong mối quan hệ với những
nguồn lực khác để cùng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Mác - Lênin cho rằng, con
người là sản phẩm của tự nhiên và của xã hội, con người là yếu tố quan trọng nhất
trong lực lượng sản xuất góp phần vào phát triển xã hội. Đảng ta cũng đã chỉ rõ: Con
người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, chỉ có
con người mới hoàn thành được các mục tiêu đề ra.
Vai trò của nguồn lực con người được đặt ở vị trí trung tâm cùng với các nguồn
lực khác như tài nguyên, vốn vật lực khác. Chúng tác động khơi dậy và phát huy tiềm
năng của các nguồn lực khác. Vì vậy, đối với bất kỳ sự phát triển nào thì nguồn lực
con người luôn được coi trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
Phát huy nguồn lực con người có vai trò quan trọng đối với mỗi quốc gia. Việc
nhận thức được con người là nguồn lực trung tâm của sự phát triển có tác động mạnh
mẽ đến phát triển các nguồn lực khác trong xã hội, để từ đó ở mỗi cấp độ quản lý từ vĩ
mô đến vi mô đồng bộ đưa ra các giải pháp phù hợp để phát triển nguồn lực này. Các
cơ quan quản lý từ giáo dục đào tạo, kinh tế, tài chính, nông nghiệp, lao động đều phải
vào cuộc tích cực để mang lại nguồn lực chất lượng phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội.
1.2.2. Nhân tố con người và sự phát triển bền vững
Sự phát triển bền vững là khái niệm phản ánh mục tiêu của con người trong việc
xây dựng một xã hội có khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến
khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Nó bao gồm ba yếu tố chính: phát
triển kinh tế, bảo vệ môi trường và phát triển xã hội. Trong đó, con người là nhân tố 8
trung tâm, đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy và thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.
Quan điểm con người là trung tâm của sự phát triển đã trở thành định hướng
chiến lược, triết lý hành động xuyên suốt quá trình phát triển của đất nước ta. Có thể
nói, trải qua các thời kỳ khác nhau, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra nhiều quan
điểm và giải pháp phát huy nhân tố con người, nhằm khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo,
lòng tự tôn tự hào dân tộc, nhân cách cao đẹp của con người Việt Nam để xây dựng và
phát triển đất nước. Nghị quyết các kỳ đại hội của Đảng đều khẳng định: Con người là
vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ
ta… Phát triển con người - nhân tố quyết định sự phát triển xã hội, thể hiện trong quan
điểm của Đảng tại Đại hội XIII là sự minh chứng sâu sắc cho quan điểm mang tính
chiến lược: Tất cả do con người, tất cả vì con người, con người vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự phát triển.
Về tư tưởng trồng người trong tình hình mới, Nghị quyết Đại hội XIII nhấn
mạnh: "Xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn
mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ
mới". Nghị quyết khẳng định: "Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh,
hạnh phúc, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân tộc để xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung
tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn
hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững"
1.3. Chủ nghĩa xã hội và sự phát triển toàn diện của con người
1.3.1. Định nghĩa chủ nghĩa xã hội và mục tiêu phát triển con người
- Chủ nghĩa xã hội là một hệ tư tưởng và một phong trào chính trị nhằm xây
dựng một xã hội mà ở đó mọi người đều bình đẳng về kinh tế và xã hội. Trong xã hội
xã hội chủ nghĩa, tài sản tư nhân được hạn chế hoặc loại bỏ, và các phương tiện sản
xuất được sở hữu chung bởi cộng đồng.
- Chủ nghĩa xã hội được hình thành từ thế kỷ 19, dựa trên học thuyết của Karl
Marx và Friedrich Engels. Marx và Engels tin rằng chủ nghĩa xã hội là một hệ thống
thay thế cho chủ nghĩa tư bản với sự công bằng và bình đẳng hơn.
- Chủ nghĩa xã hội đã được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau, với nhiều
mức độ thành công khác nhau. Một số ví dụ về các quốc gia xã hội chủ nghĩa bao gồm
Liên Xô, Trung Quốc, Cuba, và Việt Nam.
- Thuật ngữ “phát triển con người” được sử dụng từ lâu trong các ngôn ngữ
khác nhau. Nhưng đến năm
1990, khái niệm “phát triển con người” (Human
Development) mới xuất hiện trong báo cáo về phát triển con người (HDR) được
Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) công bố. Theo UNDP “Của cải
đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó. Và mục đích của phát triển
là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống lâu
dài, khoẻ mạnh và sáng tạo” . Phát triển con người - là quan điểm về phát triển, trong
đó lấy con người làm trung tâm. Đó là phát triển của con người, vì con người và do con người. 9
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển con người trong xã hội
- Yếu tố kinh tế: Kinh tế là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự phát triển
con người, vì nó quyết định khả năng tiếp cận các nguồn lực và dịch vụ cần thiết cho cuộc sống.
+ Thu nhập và mức sống: Những người có thu nhập cao hơn có cơ hội tốt hơn
trong việc tiếp cận giáo dục, chăm sóc y tế, và các dịch vụ xã hội, từ đó phát triển toàn diện hơn.
+ Chính sách kinh tế: Các chính sách kinh tế của chính phủ như phúc lợi xã hội,
an sinh xã hội, và đầu tư vào cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao
chất lượng cuộc sống và tạo điều kiện cho sự phát triển.
- Yếu tố giáo dục: Giáo dục là nền tảng để phát triển trí tuệ, kỹ năng và khả
năng của con người. Một hệ thống giáo dục chất lượng cao tạo điều kiện cho sự phát
triển toàn diện của cá nhân.
+ Chất lượng và khả năng tiếp cận giáo dục: Những người có cơ hội tiếp cận
giáo dục tốt sẽ phát triển năng lực trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp và có cơ hội thăng tiến trong xã hội.
+ Giáo dục bình đẳng: Đảm bảo rằng mọi người dân, bất kể giới tính, địa vị hay
dân tộc, đều có quyền bình đẳng trong việc tiếp cận giáo dục.
- Yếu tố y tế: Sức khỏe là điều kiện tiên quyết để con người có thể phát triển
toàn diện cả về thể chất, trí tuệ và tinh thần.
+ Dịch vụ chăm sóc y tế: Tiếp cận với dịch vụ y tế chất lượng cao giúp bảo vệ
sức khỏe, kéo dài tuổi thọ và cải thiện chất lượng cuộc sống.
+ Chất lượng dinh dưỡng và điều kiện sống: Một chế độ dinh dưỡng tốt và môi
trường sống sạch sẽ, an toàn ảnh hưởng lớn đến sự phát triển thể chất và tinh thần của
con người, đặc biệt là trẻ em.
- Yếu tố xã hội: Các mối quan hệ xã hội, gia đình và cộng đồng là các yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển tinh thần và cảm xúc của con người.
+ Gia đình: Gia đình là môi trường đầu tiên ảnh hưởng đến quá trình hình thành
nhân cách và phát triển của con người, cung cấp sự hỗ trợ về mặt tinh thần và giáo dục.
+ Cộng đồng: Một cộng đồng an toàn, đoàn kết, và hỗ trợ lẫn nhau giúp con
người phát triển trong một môi trường lành mạnh và bền vững.
- Yếu tố văn hoá: Văn hóa ảnh hưởng đến các giá trị, thái độ và cách con người
nhìn nhận về cuộc sống và phát triển bản thân.
+ Giá trị văn hóa: Các giá trị như sự chăm chỉ, tôn trọng và đạo đức cá nhân
giúp hình thành nhân cách và tạo điều kiện cho con người phát triển bền vững.
+ Truyền thống và phong tục: Một số yếu tố văn hóa có thể khuyến khích hoặc
kìm hãm sự phát triển cá nhân, như quyền bình đẳng giới hay các quy tắc bảo thủ về xã hội và gia đình.
- Yếu tố chính trị: Hệ thống chính trị và chính sách của nhà nước có thể tạo điều
kiện hoặc kìm hãm sự phát triển của con người. 10
+ Quyền con người và tự do: Mức độ tôn trọng các quyền tự do cá nhân và
quyền con người như tự do ngôn luận, quyền được học hành, và quyền làm việc ảnh
hưởng lớn đến cơ hội phát triển của mỗi cá nhân.
+ Chính sách phát triển: Chính sách xã hội về giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội và
bảo vệ môi trường góp phần tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển con người.
- Yếu tố môi trường: Môi trường tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
cuộc sống và khả năng phát triển của con người.
+ Chất lượng môi trường sống: Ô nhiễm không khí, nước, và đất ảnh hưởng
tiêu cực đến sức khỏe và sự phát triển thể chất. Một môi trường sống an toàn và lành
mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững.
+ Biến đổi khí hậu: Các tác động của biến đổi khí hậu như thiên tai, sự thay đổi
nhiệt độ, và mực nước biển dâng cũng ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tài nguyên và
điều kiện sống của con người.
- Yếu tố công nghệ: Công nghệ là một động lực mạnh mẽ giúp cải thiện chất
lượng cuộc sống và phát triển con người
+ Tiếp cận công nghệ: Công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền
thông, giúp con người dễ dàng học hỏi, tiếp cận thông tin, và làm việc hiệu quả hơn.
+ Ứng dụng công nghệ: Các tiến bộ trong y tế, giáo dục, và sản xuất công
nghiệp nhờ công nghệ giúp cải thiện chất lượng dịch vụ, tăng cường sức khỏe và nâng cao trình độ dân trí.
Chương này đã cung cấp những nền tảng lý luận quan trọng về con người, từ
góc độ triết học Mác - Lênin cho đến quan điểm về vai trò của nhân tố con người trong
phát triển kinh tế và xã hội. Triết học Mác - Lênin khẳng định rằng con người là một
thực thể xã hội, được định hình và phát triển thông qua quá trình lao động và các mối
quan hệ xã hội. Trong sự phát triển kinh tế, nhân tố con người đóng vai trò quyết định,
không chỉ là lực lượng sản xuất trực tiếp mà còn là nguồn lực sáng tạo giúp định hình
và phát triển bền vững nền kinh tế. Chính sự phát triển con người toàn diện sẽ tạo nền
tảng vững chắc cho phát triển xã hội hài hòa và bền vững. Cuối cùng, trong bối cảnh
xây dựng chủ nghĩa xã hội, mục tiêu phát triển toàn diện con người luôn được đặt lên
hàng đầu, với mong muốn tạo ra một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY TẠI VIỆT NAM
2.1. Tổng quan về quá trình đổi mới và vai trò của con người
2.1.1. Lịch sử và bối cảnh của công cuộc đổi mới
a. Bối cảnh trước Đổi mới (trước năm 1986)
Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1975, Việt Nam đã trải qua nhiều khó
khăn trong quá trình khôi phục và phát triển kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam thời kỳ này
vận hành theo mô hình kế hoạch hóa tập trung, với chủ trương công nghiệp hóa và
phát triển dựa trên các kế hoạch nhà nước. Tuy nhiên, mô hình này đã không phù hợp
với điều kiện thực tế của đất nước sau chiến tranh, và Việt Nam gặp nhiều thách thức lớn như: 11
- Khủng hoảng kinh tế: Nền kinh tế bị đình trệ, lạm phát tăng cao, thiếu lương
thực, thực phẩm và hàng hóa tiêu dùng. Đặc biệt trong giai đoạn cuối thập niên 70 và
đầu thập niên 80, Việt Nam đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung, sản xuất trì
trệ và đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
- Quan hệ quốc tế: Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, Việt Nam phải đối mặt
với sự bao vây cấm vận kinh tế từ nhiều quốc gia phương Tây, đặc biệt là từ Hoa Kỳ.
Các nguồn viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa cũng giảm sút do những biến động
chính trị quốc tế, làm trầm trọng thêm tình hình.
Những yếu tố này đặt ra yêu cầu phải có sự thay đổi căn bản trong tư duy và cách tiếp
cận phát triển kinh tế - xã hội.
b. Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) - Bước ngoặt của Đổi mới
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra vào
tháng 12 năm 1986 được xem là cột mốc lịch sử, mở ra công cuộc Đổi mới. Tại Đại
hội này, Đảng Cộng sản Việt Nam thừa nhận những yếu kém của nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung và kêu gọi cải cách mạnh mẽ.
- Tư tưởng chủ đạo của Đổi mới: Đại hội VI chủ trương chuyển đổi từ nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
trong đó nhà nước vẫn giữ vai trò điều tiết nhưng có sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế tư nhân.
- Khẩu hiệu “Đổi mới”: Cụm từ "Đổi mới" thể hiện quyết tâm cải cách toàn
diện, từ lĩnh vực kinh tế đến chính trị, văn hóa và xã hội. Tinh thần chủ yếu là "đổi
mới nhưng không đổi màu" - nghĩa là cải cách về kinh tế nhưng vẫn giữ vững hệ tư
tưởng xã hội chủ nghĩa.
c. Thành tựu của công cuộc Đổi mới:
Kể từ sau năm 1986, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong các lĩnh vực:
- Kinh tế: Tăng trưởng kinh tế: Nền kinh tế Việt Nam đã có sự bứt phá mạnh
mẽ từ nền tảng khó khăn, đạt mức tăng trưởng GDP ấn tượng qua các năm. Việc
chuyển đổi sang kinh tế thị trường giúp Việt Nam thu hút được nhiều vốn đầu tư nước
ngoài, đẩy mạnh xuất khẩu và phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn.
Giảm đói nghèo: Tỷ lệ nghèo đói giảm mạnh qua các năm, từ hơn 70% vào thập
niên 1980 xuống còn dưới 10% vào cuối thập niên 2010. Thành tựu này được cộng
đồng quốc tế đánh giá cao.
Cải cách nông nghiệp: Một trong những chính sách quan trọng là Khoán 10
(năm 1988), trao quyền sử dụng đất lâu dài cho người dân, giúp nâng cao năng suất
nông nghiệp và Việt Nam từ một nước thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
- Xã hội: Cải thiện đời sống: Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được
cải thiện rõ rệt, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn và các nhóm dân tộc thiểu số. Hệ
thống y tế, giáo dục Việt Nam đã đạt được những bước tiến lớn trong việc cải thiện hệ
thống y tế và giáo dục. Tỷ lệ biết chữ cao, hệ thống chăm sóc sức khỏe được cải thiện,
và tuổi thọ trung bình của người dân tăng lên. 12
- Ngoại giao: Hội nhập quốc tế: Đổi mới cũng mở ra cánh cửa cho Việt Nam
hội nhập sâu rộng hơn vào cộng đồng quốc tế. Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995,
bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ và thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước
trên thế giới. Sự hội nhập kinh tế quốc tế được thể hiện qua việc gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 và tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do
quan trọng như CPTPP và EVFTA.
d. Thách thức của công cuộc Đổi mới trong bối cảnh hiện nay
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, Việt Nam vẫn đang đối diện với một số thách
thức lớn trong bối cảnh hiện nay:
- Chất lượng tăng trưởng: Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào các ngành thâm
dụng lao động và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Điều này đặt ra thách thức trong
việc chuyển dịch sang các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao và ứng dụng khoa
học công nghệ hiện đại.
- Bất bình đẳng: Khoảng cách giàu nghèo giữa các khu vực đô thị và nông thôn,
giữa các nhóm xã hội khác nhau đang gia tăng, gây ra áp lực cho chính sách an sinh xã hội.
- Biến đổi khí hậu: Việt Nam nằm trong nhóm các nước chịu ảnh hưởng nặng
nề nhất từ biến đổi khí hậu, đe dọa đời sống và phát triển kinh tế, đặc biệt là ở các khu
vực đồng bằng và ven biển.
- Cải cách thể chế: Hệ thống quản lý nhà nước cần phải tiếp tục cải cách để
nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và phòng chống tham nhũng.
2.1.2. Vai trò của con người trong việc thúc đẩy đổi mới
Trong công cuộc đổi mới và phát triển của Việt Nam, con người được coi là
nhân tố trung tâm, đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy các tiến trình kinh tế, xã
hội, và văn hóa. Đổi mới không chỉ nằm ở việc thay đổi mô hình quản lý hay cơ chế
vận hành của hệ thống kinh tế, mà còn là sự thay đổi tư duy, thái độ, và kỹ năng của
mỗi cá nhân và cộng đồng. Dưới đây là các khía cạnh chính trong vai trò của con
người trong việc thúc đẩy đổi mới tại Việt Nam:
a. Nguồn nhân lực chất lượng cao
- Phát triển kinh tế dựa trên tri thức: Trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi từ
thâm dụng lao động sang sử dụng công nghệ và tri thức, con người - đặc biệt là nguồn
nhân lực chất lượng cao - đóng vai trò then chốt. Sự phát triển của các ngành công
nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, và kinh tế số đều phụ thuộc vào trình độ học vấn, kỹ năng
công nghệ và năng lực sáng tạo của lực lượng lao động.
- Vai trò của các chuyên gia và trí thức: Đội ngũ trí thức, các nhà khoa học, nhà
nghiên cứu và chuyên gia trong các lĩnh vực đang đóng vai trò thúc đẩy sự chuyển đổi
này bằng cách phát triển các công nghệ mới, xây dựng các chiến lược kinh doanh sáng
tạo và nâng cao năng suất lao động.
b. Sự sáng tạo và khả năng đổi mới
- Đổi mới trong sản xuất và kinh doanh: Sự sáng tạo của con người được thể
hiện rõ rệt trong quá trình cải tiến sản xuất và kinh doanh. Người lao động và các
doanh nhân liên tục tìm kiếm những phương pháp mới, sản phẩm mới và quy trình sản 13
xuất mới để nâng cao hiệu quả và cạnh tranh. Điều này thúc đẩy sự phát triển bền
vững và khả năng thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế thị trường.
- Khởi nghiệp: Phong trào khởi nghiệp đang lan rộng tại Việt Nam, đặc biệt là
trong giới trẻ. Các doanh nghiệp khởi nghiệp không chỉ mang lại cơ hội việc làm mà
còn thúc đẩy đổi mới công nghệ và hình thành các ngành công nghiệp mới.
c. Giáo dục và đào tạo
- Giáo dục đào tạo nguồn nhân lực chất lượng: Hệ thống giáo dục và đào tạo
đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là trong việc
cung cấp kiến thức, kỹ năng và tư duy đổi mới cho thế hệ trẻ. Chính phủ đã có nhiều
nỗ lực trong việc cải cách giáo dục nhằm thúc đẩy phát triển các kỹ năng mềm, sáng
tạo và khả năng giải quyết vấn đề.
- Chuyển đổi phương thức giáo dục: Phương thức giáo dục cũng đang chuyển
từ phương pháp truyền thống sang những phương pháp tiên tiến, lấy người học làm
trung tâm, khuyến khích tư duy phản biện và sáng tạo. Điều này giúp tạo ra một thế hệ
người lao động năng động và có tư duy đổi mới.
d. Đóng góp trong khoa học và công nghệ
- Nghiên cứu và phát triển (R&D): Các nhà khoa học, kỹ sư, và các nhà nghiên
cứu tại Việt Nam đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các công
nghệ tiên tiến, từ các ứng dụng công nghệ thông tin đến công nghệ sinh học, giúp thúc
đẩy sự đổi mới trong các ngành sản xuất và dịch vụ.
- Công nghệ và số hóa: Con người là động lực đằng sau sự phát triển của công
nghệ và chuyển đổi số, từ đó tạo ra những bước tiến lớn trong việc nâng cao hiệu suất
kinh doanh, sản xuất và quản lý. Ứng dụng công nghệ trong đời sống, như việc phát
triển các ứng dụng dịch vụ công trực tuyến, thương mại điện tử và thanh toán kỹ thuật
số, đều là kết quả của sự sáng tạo và đổi mới của con người.
e. Tinh thần dám nghĩ dám làm
- Khả năng thích ứng và đổi mới tư duy: Để đổi mới thành công, con người cần
có tinh thần dám nghĩ, dám làm và không ngừng thích nghi với những thách thức mới.
Trong bối cảnh kinh tế thị trường toàn cầu hóa và biến động mạnh mẽ như hiện nay,
khả năng thích ứng của con người trở thành yếu tố quan trọng giúp Việt Nam vươn lên
trong sự cạnh tranh quốc tế.
- Vai trò của giới trẻ: Giới trẻ đóng vai trò rất quan trọng trong công cuộc đổi
mới, bởi họ là thế hệ năng động, sáng tạo và có khả năng tiếp thu nhanh chóng các
công nghệ và tri thức mới. Tinh thần dám nghĩ dám làm, dám đổi mới của lớp trẻ đang
là nguồn lực mạnh mẽ giúp thúc đẩy quá trình hiện đại hóa đất nước.
g. Vai trò của các nhà lãnh đạo và quản lý
- Lãnh đạo đổi mới: Các nhà lãnh đạo trong hệ thống quản lý nhà nước, doanh
nghiệp, và các tổ chức xã hội là những người định hướng và tạo động lực cho quá trình
đổi mới. Họ đóng vai trò tiên phong trong việc đề xuất, thực hiện và giám sát các
chính sách, chiến lược phát triển.
- Cải cách hành chính: Đổi mới không thể thành công nếu không có sự thay đổi
trong cơ chế quản lý và điều hành. Con người trong bộ máy lãnh đạo cần có tư duy đổi 14
mới, cải cách hệ thống quản lý hành chính để tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển và sáng tạo.
h. Xây dựng văn hóa đổi mới
- Văn hóa học hỏi và chia sẻ: Văn hóa đổi mới không chỉ là sự thay đổi trong tư
duy mà còn là tinh thần học hỏi liên tục và chia sẻ kiến thức, kỹ năng giữa các cá
nhân, tổ chức và cộng đồng. Việc xây dựng một xã hội biết tôn trọng tri thức, sáng tạo
và cởi mở với sự đổi mới là nền tảng quan trọng để thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đất nước.
- Khuyến khích đổi mới trong các lĩnh vực xã hội: Đổi mới không chỉ gói gọn
trong lĩnh vực kinh tế mà còn lan tỏa đến mọi lĩnh vực của xã hội, từ văn hóa, nghệ
thuật đến giáo dục và quản lý xã hội. Điều này giúp tạo nên một xã hội cởi mở, năng
động và khuyến khích sáng tạo.
2.2. Đánh giá thực trạng phát huy nhân tố con người trong các lĩnh vực
2.2.1. Trong lĩnh vực kinh tế
Nhân tố con người đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của kinh tế mỗi
quốc gia. Để đánh giá thực trạng phát huy nhân tố này, chúng ta cần xem xét các yếu
tố như năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực, chính sách kinh tế, và sự đóng
góp của con người trong các lĩnh vực khác nhau. Dưới đây là một cái nhìn tổng quan
về thực trạng phát huy nhân tố con người trong kinh tế hiện nay.
a. Chất lượng nguồn nhân lực
Thực trạng: Nguồn nhân lực ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát
triển, vẫn đang đối mặt với vấn đề chất lượng, bao gồm trình độ học vấn, kỹ năng
chuyên môn, và khả năng sáng tạo. Mặc dù có những tiến bộ trong đào tạo và phát
triển con người, nhiều nơi vẫn còn thiếu hụt lực lượng lao động có kỹ năng cao, ảnh
hưởng đến năng suất và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.
Đánh giá: Các quốc gia phát triển đã chú trọng mạnh mẽ đến việc đào tạo nhân
lực chất lượng cao, cải thiện kỹ năng và nâng cao năng lực sáng tạo. Tuy nhiên, ở một
số nước, chất lượng giáo dục và đào tạo nghề vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu của thị
trường lao động hiện đại. b. Năng suất lao động
Thực trạng: Năng suất lao động là một chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ
phát huy của nhân tố con người. Ở các nước phát triển, năng suất lao động tăng trưởng
ổn định nhờ vào công nghệ và quản lý hiện đại. Tuy nhiên, tại nhiều nước đang phát
triển, năng suất lao động vẫn thấp, do việc ứng dụng công nghệ chưa cao, kỹ năng lao
động chưa đủ đáp ứng nhu cầu.
Đánh giá: Các chính sách hỗ trợ nâng cao năng suất lao động thông qua đào
tạo, đầu tư vào công nghệ và cải thiện điều kiện làm việc là cần thiết. Các nước cần cải
thiện cả về cơ sở hạ tầng và chính sách hỗ trợ nguồn nhân lực để đạt được mức tăng trưởng bền vững.
c. Chính sách phát triển con người
Thực trạng: Chính sách phát triển con người tại các quốc gia khác nhau có
mức độ khác biệt. Các chính sách giáo dục, chăm sóc sức khỏe, và phúc lợi xã hội ảnh 15
hưởng lớn đến việc phát huy tối đa tiềm năng của nhân tố con người. Một số nước đã
áp dụng các chính sách hiệu quả, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và kỹ năng lao
động, nhưng ở một số nước khác, chính sách này còn yếu kém, dẫn đến sự phân hóa về
cơ hội tiếp cận nguồn lực phát triển.
Đánh giá: Cần có sự đồng bộ giữa các chính sách phát triển nguồn nhân lực với
chiến lược phát triển kinh tế. Các chính sách hỗ trợ đào tạo, khuyến khích nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ là nền tảng để con người đóng góp hiệu quả hơn vào
sự phát triển của kinh tế.
d. Cơ hội việc làm và môi trường làm việc
Thực trạng: Ở các quốc gia phát triển, cơ hội việc làm và điều kiện làm việc
tốt hơn nhờ vào hệ thống phúc lợi xã hội, quản lý lao động tốt và chính sách việc làm
tiên tiến. Tuy nhiên, ở nhiều nước đang phát triển, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc
làm là một thách thức lớn. Lao động trong khu vực phi chính thức vẫn chiếm tỷ lệ cao,
điều kiện làm việc không đảm bảo, lương thấp và ít cơ hội thăng tiến.
Đánh giá: Việc tạo ra nhiều cơ hội việc làm chất lượng, giảm thiểu lao động
phi chính thức và cải thiện điều kiện làm việc là điều cần thiết để tối ưu hóa tiềm năng
của nguồn nhân lực. Các chính sách cần tập trung vào việc tạo ra việc làm bền vững và
tăng cường bảo vệ quyền lợi người lao động.
e. Sự sáng tạo và đổi mới của con người
Thực trạng: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, sự
sáng tạo và đổi mới đang trở thành yếu tố then chốt trong việc phát triển kinh tế. Ở các
nước phát triển, con người đã được khuyến khích sáng tạo thông qua các chương trình
hỗ trợ nghiên cứu, phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp (startup), và các chính sách
thúc đẩy đổi mới. Tuy nhiên, nhiều nước đang phát triển vẫn chưa phát huy hết tiềm
năng sáng tạo của con người do hạn chế về tài nguyên và chính sách khuyến khích.
Đánh giá: Việc đầu tư vào giáo dục, công nghệ và nghiên cứu phát triển là cách
hiệu quả để khai thác tiềm năng sáng tạo của con người. Đồng thời, chính phủ cần có
những chính sách hỗ trợ cụ thể cho các doanh nghiệp nhỏ và khởi nghiệp, tạo ra môi
trường thuận lợi cho đổi mới và sáng tạo.
2.2.2. Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Giáo dục và đào tạo là nền tảng quan trọng để phát huy tối đa tiềm năng của
nhân tố con người, tạo ra những cá nhân có kiến thức, kỹ năng và tư duy để đóng góp
vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Để đánh giá thực trạng phát huy nhân tố con người
trong lĩnh vực này, ta cần xem xét một số yếu tố như chất lượng giáo dục, khả năng
tiếp cận, môi trường học tập, và chính sách đào tạo.
a. Chất lượng giáo dục
Thực trạng: Ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển, chất lượng giáo
dục đã đạt được những thành tựu đáng kể, với chương trình giảng dạy hiện đại, đội
ngũ giáo viên có trình độ cao, và cơ sở vật chất đầy đủ. Tuy nhiên, ở nhiều nước đang
phát triển, hệ thống giáo dục vẫn còn đối mặt với các thách thức như chương trình
giảng dạy lạc hậu, thiếu giáo viên chất lượng, và cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng nhu cầu.
Đánh giá: Cải thiện chất lượng giáo dục là yếu tố then chốt để phát huy tối đa
tiềm năng của con người. Điều này đòi hỏi sự đổi mới liên tục trong chương trình 16