Nhập môn chủ nghĩa xã hội - Chủ nghĩa xã hội khoa học | Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh

Trong những năm 40 của thế kỷ 19, dưới sự tác động của Cách mạng Công nghiệp, Chủ nghĩa tư bản đã có sự phát triển quan trọng làm bộc lộ bản chất và những mâu thuẫn nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!

Thông tin:
17 trang 6 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Nhập môn chủ nghĩa xã hội - Chủ nghĩa xã hội khoa học | Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh

Trong những năm 40 của thế kỷ 19, dưới sự tác động của Cách mạng Công nghiệp, Chủ nghĩa tư bản đã có sự phát triển quan trọng làm bộc lộ bản chất và những mâu thuẫn nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!

131 66 lượt tải Tải xuống
LÝ XU KHANG Quản trị dịch vụ Du lịch và lữ hành
CHƯƠNG I: NHẬP MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Câu 1 : Điều kiện khách quan ra đời CNXHKH
a)Điều kiện kinh tế-xã hội
- Trong những năm 40 của thế kỷ 19, dưới sự tác động của Cách mạng Công nghiệp,
Chủ nghĩa tư bản đã có sự phát triển quan trọng làm bộc lộ bản chất và những mâu
thuẫn nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
- Sự phát triển quan trọng ở đây đó là chủ nghĩa tư bản hình thành chưa đầy 1 thế kỉ
nhưng nó đã tạo ra một khối lượng lực lượng sản xuất khổng lồ bằng tất cả các xã hội
trước cộng lại.
- Chính sự phát triển rất nhanh của lực lượng sản xuất đã tác động tới phương thức
sản xuất dẫn tới mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng
cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.
- Bằng chứng thể hiện một cách rõ nhất mâu thuẫn này chính là các cuộc khủng hoảng
kinh tế mang tính chu kì (1825, 1836, 1847, 1857) cho thấy mâu thuẫn ngày càng
nhanh hơn, gay gắt hơn.
- Nhiều cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh đã bắt đầu và từng bước có tổ chức
trên quy mô rộng khắp. Phong trào Hiến chương diễn ra trên 10 năm (1836-1848).
Phong trào công nhân dệt ở thành phố Xilêdi (1848). Đặt biệt phomg trào công nhân
dệt ở thành phố Lion nước Pháp diễn ra 1831 và 1834 đã có tính chính trị rõ nét.
- Điều kiện kinh tết - xã hội ấy không chỉ đặt ra yêu cầu đối với các nhà tư tưởng của
giai cấp công nhân mà còn là mãnh đất hiện thực cho sự ra đời một lý luận mới, tiến
bộ - chủ nghĩa xã hội khoa học.
b) Tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng lý luận
Tiền đề khoa học tự nhiên
Trong khoa học tự nhiên, những phát minh vạch thời đại trong vật lý học và sinh học
đã tạo ra bước phát triển đột phá có tính cách mạng:
- Học thuyết tiến hóa:
+ Trước khi các thuyết tiến hóa ra đời, việc hình thành nhận thức của con người dựa
trên thuyết duy tâm thần học, họ cho rằng thế giới này được tạo ra bởi 1 đấng sáng thế
nào đó. Khi thuyết tiến hóa ra đời đã bác bỏ quan niệm này.
+ Học thuyết tiến hóa là cơ sở KHTN chứng minh rằng giữa tất cả các loài đều được
tiến hóa từ các loài trước đó bằng con đường chọn lọc tự nhiên thông qua đặc tính
biến dị và di truyền.
+ Đây cũng chính là một bằng chứng khoa học để bác bỏ quan điểm duy tâm thần
học xây dựng quan điểm duy vật và là cơ sở để các nhà khoa học tiếp thu những nhận
thức mới, hiểu biết hơn về giới tự nhiên
- Học thuyết tế bào : đã bác bỏ phương pháp tư duy siêu hình để hình thành nên
phương pháp tư duy biện chứng khi xem xét sự phát triển của sự vật, hiện tượng trong
giới tự nhiên.
+ Phương pháp tư duy biện chứng cho thấy được sự thống nhất giữa các sinh vật
sống trên thế giới, nó không có gì khác biệt giữa thế giới thực vật và đồng vật. Bởi vì
giới sinh vật có chung 1 cấu tạo đầu tiên đó là tế bào, chỉ khác nhau ở cấu tạo của tế
bào. Học thuyết tế bào là một phát minh ảnh hưởng tới thế giới quan của các nhà khoa
học nói chung và là cơ sở, tiền đề để chuyển từ phương pháp tư duy siêu hình sang
phương pháp tư duy biện chứng
LÝ XU KHANG Quản trị dịch vụ Du lịch và lữ hành
- Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng : đã thể hiện sự thông nhất của thế
giới vật chất và bác bỏ những giới hạn của con người đối với thế giới vật chất. Như
vậy, thế giới này không có điểm đầu và cũng không có điểm cuối chỉ có những thời
điểm chúng ta nhận thức về thế giới vật chất này và những dạng biểu hiện cụ thể của
tgvc này mà thôi. Đây cũng là động lực cho các nhà khoa học tham gia ngày càng
nhiều, có các nghiên cứu về thế giới vật chất mà mình đang sống.
2
Tiền đề tư tưởng lý luận
Cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cũng có những thành tựu đáng
ghi nhận:
- Triết học cổ điển Đức (đại biểu Heghen và Phơbách).
+ Mác thừa kế phép biện chứng của Ph. Hêghen trên cơ sở loại bỏ các yêu tố duy tâm thần
bí trong hệ thống triết học của Ph. Hêghen, đồng thời thừa kế các quan điểm duy vật tiến bộ
của Phoiơbắc để xây dựng phép biện chứng duy vật.
- Kinh tế chính trị học cổ điển Anh (Đại biểu là Adam Smit và D. Ricado).
+ Trong tư tưởng của các nhà không tưởng, kinh tế chính trị cổ điển Anh thì Mác đã kế thừa
được hạt nhân hợp lý, đó chính là giá trị thặng dư.
+ Qua nghiên cứu giá trị thặng dư thì Mác đã chỉ ra nguyên nhân làm nên sự giàu có của
giai cấp tư sản và cũng chỉ ra được hình thức bóc lột của gia cấp tư sản đối với giai cấp công
nhân là bóc lột giá trị thặng dư. Từ đó Mác có cơ sở để khẳng định rằng trong các giai cấp đối
lập với giai cấp tư sản thì giai cấp công dân là giai cấp cách mạng.
- Chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán Pháp (Đại biểu là XanhXimong và Phurie,. . . )
+ Là nguồn gốc lý luận trực tiếp cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học và sự ra đời
này đã đóng góp nhiều giá trị tích cực: Phê phán chế độ phong kiến, chủ nghĩa tư bản sâu sắc,
toàn diện, Đưa ra nhiều luận điểm có giá trị về mô hình xã hội trong tương lai, thức tỉnh tinh
thần đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại chủ nghĩa tư bản.
+ Bên cạnh đó cũng có nhiều hạn chế như chưa phát hiện ra quy luật vận động nội tại của
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, chưa phát hiện ra được lực lượng giai cấp tiên phong
đóng vai trò lãnh đạo trong quá trình chuyển biến cách mạng từ xã hội cũ sang xã hội mới.
+ Chính những hạn chế này đã đặt ra yêu cầu cho Mác phải đi giải quyết, khắc phục. Và
việc Mác khắc phục chủ nghĩa xã hội không tưởng đầu thế kỷ XIX cũng chính là cơ sở ra đời
lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học.
Kết luận: Chính những tiền đề khoa học tự nhiên và tiền đề tư tưởng lý luận là những vấn đề
thực tiễn đặt ra để Mác - Ăngghen kế thừa, cải tạo có sự chọn lọc và phát triển lên học thuyết
của mình, cho ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học sau này.
Câu 2: Chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán TK XIX
Hoàn cảnh ra đời của CNXH không tưởng
Hoàn cảnh ra đời
Tiền đề về tư tưởng kinh tế
- Năm 1848 cách mạng tư sản Pháp thành công; cuộc cách mạng công nghiệp phát triển
mạnh mẽ ở các nước Tây Âu vào thế kỷ XVIII đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
- Máy móc công nghiệp được cải tiến và chế tạo ngày một tăng lên và hoàn thiện hơn, làm
cho năng suất lao động tăng nhanh chưa từng có. Lao động thủ công được thay thế dần bằng
máy móc.
Tiền đề về chính trị - xã hội
- Khi lực lượng sản xuất phát triển làm cho xã hội phân chia thành giai cấp rõ rệt: Bao gồm
giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Do đó xuất hiện đấu tranh giai cấp, và nó được chuyển dần
từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác (có ý thức và có tổ chức hơn).
Đặc điểm chung của kinh tế chính trị chủ nghĩa xã hội không tưởng.
2
+ Chủ nghĩa xã hội không tưởng là học thuyết kinh tế thể hiện sự phản kháng của giai cấp
cấp công nhân và nhân dân lao động chống lại chế độ tư bản chủ nghĩa và tìm đường xây
dựng xã hội mới tốt đẹp hơn.
+ Đặc điểm chung là phê phán chủ nghĩa tư bản theo quan điểm kinh tế chứ không theo
quan điểm đạo đức, luận lý. Chỉ rõ chủ nghĩa tư bản là một giai đoạn phát triển của lịch sử,
nhưng chưa phải là chế độ xã hội tốt đẹp nhất của loài người. Vạch rõ mâu thuẫn của chủ
nghĩa tư bản, sự kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển và cần phải thay thế bằng xã hội mới.
Tuy nhiên con đường họ đề xuất xây dựng xã hội mới có tính chất không tưởng (chỉ dừng lại
ở tính ước muốn, không có cơ sở khoa học để thực hiện, đặc biệt chưa thấy vai trò của giai
cấp công nhân).
Những đại biểu điển hình: Saint Simon, Charles Fourier, Robert Owen.
Giá trị của tác phẩm tuyên ngôn cộng sản.
Tác phẩm tuyên ngôn của Đảng Cộng sản mang lại một số giá trị quan trọng như sau:
+ Hướng dẫn lý tưởng và mục tiêu: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản thường đề xuất mục
tiêu lý tưởng cho xã hội, như công bằng xã hội, tự do và bình đẳng. Nó cung cấp một phương
châm hành động cho các thành viên và người ủng hộ của Đảng.
+ Tạo ra lòng tin và đồng thuận: Tuyên ngôn có thể giúp tạo ra lòng tin và sự đồng thuận
trong cộng đồng của Đảng, khi nó đặt ra mục tiêu và giá trị mà mọi người có thể đồng lòng
theo đuổi.
+ Phê phán và hướng dẫn chính trị: Tuyên ngôn thường chứa đựng các phê phán về tình
trạng xã hội hiện tại và hướng dẫn về hành động chính trị cụ thể để thúc đẩy sự thay đổi xã
hội.
+ Tổ chức và đào tạo: Tuyên ngôn có thể được sử dụng để tổ chức và đào tạo các thành viên
của Đảng, giúp họ hiểu rõ hơn về các nguyên tắc và mục tiêu của Đảng.
+ Thúc đẩy sự đoàn kết: Tuyên ngôn thường đề cập đến sự đoàn kết giữa các giai cấp lao
động và những người bị bóc lột, thúc đẩy tinh thần đoàn kết và sự đồng lòng trong cuộc đấu
tranh cho mục tiêu chung.
CHƯƠNG II : SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN
-Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là gì?
+Sứ mệnh lịch sử tổng quát của giai cấp công nhân thông qua chính đảng tiền phong, giai
cấp công nhân tổ chức, lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh xóa bỏ các chế độ người bóc lột
người, xóa bỏ chủ nghĩa bản, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động khỏi mọi
sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh.
+Nội dung kinh tế: Là nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất xã hội hóa cao, giai cấp công
nhân cũng là đại biểu cho quan hệ sản xuất mới, sản xuất ra của cải vật chất ngày càng nhiều
đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người vàhội. Ở các nướchội chủ nghĩa, giai
cấp công nhân thông qua quá trình công nghiệp hóa thực hiện “một kiểu tổ chức hội
mới về lao động" để tăng năng suất lao động xã hội và thực hiện các nguyên tắc sở hữu, quản
2
phân phối phù hợp với nhu cầu phát triển sản xuất, thực hiện tiến bộ công bằng
hội.
+Nội dung chính trị - xã hội: Giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động, dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản, tiến hành cách mạng chính trị để lật đổ quyền thống trị của giai cấp
thống trị, xóa bỏ chế độ bóc lột, áp bức, giành quyền lực về tay giai cấp công nhân nhân
dân lao động Thiết lập nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, xây dựng nền
dân chủ hội chủ nghĩa, thực hiện quyền lực của nhân dân, quyền dân chủ làm chủ
hội của tuyệt đại đa số nhân dân lao động.
+Thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân trong tiến trình cách mạng cải tạo
xã hội cũ và xây dựng xã hội mới trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng cần phải tập trung xây dựng
hệ giá trị mới: lao động; công bằng; dân chủ; bình đẳng tự do. Giai cấp công nhân thực
hiện cuộc cách mạng về văn cần phải xây dựng hóa, tưởng bao bao gồm cải tạo cái cũ lỗi
thời, lạc hậu.
+Trước cách mạng công nghiệp, công nhân thường làm việc trong điều kiện làm việc khắc
nghiệt, thường xuyên phải làm việc nhiều giờ với mức lương thấp không có bảo vệ tốt từ
phía chủ nhà máy hoặc chủ sở hữu. Trong bối cảnh này, giai cấp công nhân đã phát huy vai
trò của mình trong việc tạo ra những cuộc đấu tranh lao động, nhằm đòi hỏi những quyền lợi
công bằng, bảo vệ sức khỏe và an toàn lao động, cũng như tăng lương và giảm giờ làm việc.
Ví dụ cụ thể có thể các cuộc biểu tình, cuộc đình công, hoặc việc tổ chức các hội nghị lao
động để đề xuất các điều kiện làm việc tốt hơn. Những nỗ lực này không chỉ mang lại lợi ích
cho công nhân trong hiện tại còn góp phần vào việc xây dựng một hội công bằng
thịnh vượng hơn cho tất cả mọi người. Điều này thể hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân trong việc đấu tranh cho quyền lợi và tự do của họ.
-Đặc điểm của giai cấp công nhân hiện nay. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân hiện nay?
*Đặc điểm của giai cấp công nhân hiện nay:
- Ở thế kỷ XIX thì giai cấp công nhân hiện nay vừa có những điểm tương đồng, vừa có những
điểm khác biệt, có những biến đổi mới trong điều kiện lịch sử mới.
+Những điểm tưởng đối ổn định so với thế kỷ XIX: Giai cấp công nhân hiện nay vẫn đang
lực lượng sản xuất hàng đầu của hội hiện đại. Họ chủ thể của quá trình sản xuất công
nghiệp hiện đại mang tính hội hóa ngày càng cao. Công nghiệp hóa vẫn skhách
quan để giai cấp công nhân hiện đại phát triển mạnh mẽ cả về số lượng chất lượng. Công
nhân vẫn bị giai cấp tư sảnchủ nghĩa tư bản bóc lột giá trị thặng dư. Quan hệ sản xuất
bản chủ nghĩa với chế độ sở hữu nhân bản chủ nghĩa sản sinh ra tình trạng bóc lột này
vẫn tồn tại. Phong trào cộng sản công nhân nhiều nước vẫn luôn lực lượng đi đầu
trong các cuộc đấu tranh hòa bình, hợp tác phát triển, dân sinh, dân chủ, tiến bộ
hội và chủ nghĩahội. Lý luận về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong chủ nghĩa
Mác - Lênin vẫn mang giá trị khoa học cách mạng, vẫn ý nghĩa thực tiễn to lớn, chỉ
đạo cuộc đấu tranh cách mạng hiện nay của giai cấp công nhân, phong trào công nhân
quần chúng lao động, chống chủ nghĩa tư bản và lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa trong
sự phát triển của thế giới ngày nay.
*Một đặc điểm của giai cấp công nhân hiện nay sự đa dạng tích hợp của họ trong nền
kinh tế toàn cầu. Dưới đây là một ví dụ cụ thể:
Trong thế kỷ 21, giai cấp công nhân không chỉ bao gồm những người làm việc trong nhà
máy truyền thốngcòn bao gồm các nhân viên văn phòng, nhân viên dịch vụ, lao động tự
do và người làm công ăn lương. Họ hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau như công nghệ
thông tin, y tế, giáo dục, sản xuất, và dịch vụ.
Giai cấp công nhân hiện nay cũng phản ánh sự đa dạng về độ tuổi, giới tính, dân tộc và văn
hóa. Ngoài ra, với sự phát triển của công nghệ tự động hóa, một số công nhân phải thích
2
nghi với các công việc mới, học hỏi các kỹ năng số làm việc trong môi trường làm việc
đầy biến động.
Do đó, mặc vẫn tồn tại các vấn đề như mức lương thấp, điều kiện làm việc không an
toàn và bất công xã hội, nhưng đặc điểm của giai cấp công nhân hiện nay cũng bao gồm sự đa
dạng, linh hoạt và tích hợp trong nền kinh tế toàn cầu.
*Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiên nay:
+Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã xác định vai trò giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử
to lớn của giai cấp công nhân nước ta: "Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to
lớn: giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong Đảng Cộng sản Việt Nam;
giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng
cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh
đạo của Đảng".
+Nội dung kinh tế: Giai cấp công nhân Việt Nam với số lượng đông đảo,cơ cấu ngành
nghề đa dạng, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất dịch vụ công nghiệp mọi thành phần
kinh tế, với chất lượng ngày một nâng cao về kỹ thuật và công nghệ sẽ là nguồn nhân lực lao
động chủ yếu tham gia phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại, định hướng hội chủ
nghĩa, lấy khoa học - công nghệ làm động lực quan trọng, quyết định tăng năng suất lao
động, chất lượng hiệu quả. Phát huy vai tròtrách nhiệm của lực lượng đi đầu trong sự
nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước - đây là vấn đề nổi bật nhất đối với
việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay.
+Nội dung chính trị - xã hội: Cùng với nhiệm vụ giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng thì nhiệm vụ “Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, vai trò tiên phong,
gương mẫu của cán bộ, đảng viên” “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn,
đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong nội bộ.
+Nội dung văn hóa tưởng: Xây dựng phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc có nội dung cốt lõi là xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, giáo
dục đạo đức cách mạng, rèn luyện lối sống, tác phong công nghiệp, văn minh, hiện đại, xây
dựng hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam, hoàn thiện nhân cách.
*Một ví dụ cụ thể về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiện nay trên thế giới có thể
các cuộc đấu tranh của công nhân trong ngành công nghiệp dịch vụ, như ngành nhà hàng
khách sạn.
Trên toàn cầu, công nhân trong ngành nhà hàng và khách sạn thường phải làm việc trong điều
kiện làm việc khó khăn, với mức lương thấp, giờ làm việc dài và thiếu bảo vệ lao động. Tuy
nhiên, trong những năm gần đây, chúng đã tổ chức và tham gia vào các cuộc đấu tranh để đòi
hỏi quyền lợi công bằng và điều kiện làm việc tốt hơn.
dụ, nhiều quốc gia, công nhân trong ngành nhà hàng khách sạn đã tổ chức các cuộc
biểu tình, cuộc đình công, và chiến dịch tuyên truyền để đòi hỏi tăng lương cơ bản, giảm giờ
làm việc quá độ, cải thiện điều kiện làm việc và đảm bảo bảo vệ lao động.
Các nỗ lực này không chỉ giúp cải thiện điều kiện sốnglàm việc của các công nhân trong
ngành nhà hàng khách sạn còn góp phần vào việc nâng cao ý thức về quyền lợi lao
động và tăng cường quyền lực của giai cấp công nhân trên toàn thế giới. Điều này thể hiện sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong việc đấu tranh cho quyền lợi và tự do của họ trong
xã hội hiện đại.
2
CHƯƠNG III: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI
Đặc trưng cơ bản của Chủ Nghĩa Xã Hội :
- Chủ nghĩa xã hội được tiếp cận từ cá góc độ sau đây:
1) Là phong trào thực tiễn, phong trào đấu tranh của nhân dân lao động chống lại áp bức, bất
công, chống các giai cấp thống trị;
2) Là trào lưu tư tưởng, lý luận phản ánh lý tưởng giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức,
bóc lột, bất công;
3) Là một khoa học - chủ nghĩahội khoa học là khoa học về sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân;
4) Là một chế độ hội tốt đẹp, giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - hội cộng sản chủ
nghĩa.
- Chỉ ra hình thái kinh tế - hội của C.Mác không chỉ làm những yếu tố cấu thành hình
thái kinh tế - hội còn xem xét hội trong quá trình biến đổi phát triển không
ngừng.
- Giữa hội bản chủ nghĩa hội cộng sản chủ nghĩa một thời kỳ cải biến cách
mạng từhội nọ sang hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị,
và nhà nước của thời kỳ ấy không thể cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của
giai cấp vô sản"
- Từ Chủ nghĩa Tư bản lên Chủ nghĩa Cộng sản cần 3 bước:
+ Cơn đau đẻ kéo dài
+ Xã hội chủ nghĩa
+ Cộng sản chủ nghĩa
Đặc điểm của thời kì quá độ. (SGK Chủ nghĩa xã hội khoa học Tr 107-108-109)
ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (8
ĐẶC TRƯNG)
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991)
của Đảng, mô hình chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng đã được phác họa với sáu đặc
trưng.
Đại hội lần thứ X (2006) của Đảng đã bổ sung, phát triển, làm cho mô hình chủ nghĩa xã hội
Việt Nam toàn diện hơn, gồm tám đặc trưng. Trong Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung và phát
triển 2011) Đảng ta tiếp tục xác định tám đặc trưng trên cơ sở kết hợp, bổ sung, phát triển
những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội trong hai Văn kiện nêu trên.
- Đặc trưng thứ nhất: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Đây là đặc trưng tổng quát nhất chi phối các đặc trưng khác, bởi nó thể hiện mục tiêu của chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ở nước ta, tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội phải được biểu hiện cụ
thể thiết thực, trên cơ sở kế thừa quan điểm Mác-Lenin về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội,
đồng thời vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa xã hội là làm
sao cho dân giàu, nước mạnh…là công bằng, hợp lý, mọi người đều được hưởng quyền tự do,
dân chủ, được sống cuộc đời hạnh phúc…
Tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng phải hướng tới việc hiện
thực hóa đầy đủ, đồng bộ hệ mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh.
Tư tưởng xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội. Đối với dân tộc Việt Nam, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm cho dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thật sự. Đây là khát vọng tha thiết của toàn thể nhân dân
Việt Nam sau khi đất nước giành được độc lập và thống nhất Tổ quốc.
- Đặc trưng thứ hai: do nhân dân làm chủ
Tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng thể hiện ở bản chất ưu việt
2
chính trị của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa trên cơ sở kế thừa giá trị quan điểm của chủ
nghĩa Marx-Lenin sự nghiệp cách mạng là của quần chúng; kế thừa những giá trị trong tư
tưởng truyền thống của dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: dân chủ tức là dân là chủ, dân làm
chủ.
Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung và phát triển) đã tiếp tục khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ
nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển đất nước.
Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực
Nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mọi
cấp, trên tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân bầu ra và các
hình thức dân chủ trực tiếp…”.
Đặc trưng thứ ba: có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế
độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
- Đây là đặc trưng thể hiện tính ưu việt trên lĩnh vực kinh tế của chủ nghĩa xã hội mà nhân
dân ta đang xây dựng so với các chế độ xã hội khác.
Đảng ta khẳng định quan điểm: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể không
ngừng được củng cố và phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở
thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Quan điểm này hoàn toàn nhất quán với đặc trưng trong quan hệ sản xuất của chủ nghĩa xã
hội mà chúng ta đang xây dựng là xác lập dần từng bước chế độ công hữu. Trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội phải dựa trên chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu là một
trong những yếu tố đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị
trường với nhiều thành phần kinh tế.
- Đặc trưng thứ tư: có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tính ưu việt về tiến tiến của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng thể hiện khái
quát, nhân văn của văn hóa nhân loại; ở việc giữ gìn bản sắc dân tộc (những giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc Việt Nam: chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, truyền thống đoàn kết và
nhân ái, ý thức về độc lập, tự do, tự cường dân tộc...).
Xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc đòi hỏi vừa phải tiếp thu
những giá trị của tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa phải kế thừa, phát triển bản sắc văn hóa của
các tộc người Việt Nam, xây dựng một nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Sự
kết hợp hài hòa những giá trị tiên tiến với những giá trị mang đậm bản sắc dân tộc thể hiện
tính ưu việt của CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng trên lĩnh vực văn hóa, làm cho văn
hóa trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển.
- Đặc trưng thứ năm: con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát
triển toàn diện.
Tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng không chỉ được thể hiện
trong đặc trưng tổng quát dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mà còn được
thể hiện qua đặc trưng về con người trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Về phương diện con
người, chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa với chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo: tất cả vì con người,
cho con người và phát triển con người toàn diện. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Muốn xây
dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa. Để có con người xã hội chủ
nghĩa phải xác định và hiện thực hóa hệ giá trị phản ánh nhu cầu chính đáng của con người
trong xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng.
Vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
trong xã hội xã hội chủ nghĩa, Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung và phát triển) đã xác định hệ giá
trị phản ánh nhu cầu, nguyện vọng thiết thực của con người Việt Nam hiện nay là: có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. Tính ưu việt của chủ
nghĩa xã hội thể hiện trong đặc trưng này là quan điểm nhân văn, vì con người, chăm lo xây
dựng con người, phát triển toàn diện con người (đức, trí, thể, mỹ) của Đảng và Nhà nước ta.
- Đặc trưng thứ sáu: các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng
2
và giúp nhau cùng phát triển. Đặc trưng này thể hiện tính ưu việt trong chính sách dân tộc,
giải quyết đúng các quan hệ dân tộc (theo nghĩa hẹp là quan hệ giữa các tộc người) trong
quốc gia đa dân tộc Việt Nam.
Thực hiện 25 năm đổi mới đất nước đã và đang chứng minh tính ưu việt trong chính sách dân
tộc của Đảng và Nhà nước ta, chứng minh tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trong giải quyết
các quan hệ dân tộc ở Việt Nam. Nhờ đó đã và đang phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn
dân tộc, tính đồng thuận trong cộng đồng 54 dân tộc anh em, chống lại âm mưu chia rẽ dân
tộc của các thế lực thù địch.
- Đặc trưng thứ bảy: có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng thể hiện trong tính ưu việt của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực hiện ý chí, quyền
lực của nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Tính ưu việt của một xã hội do nhân dân làm chủ gắn bó mật thiết với tính ưu việt của Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung và phát triển) đã chỉ rõ tính ưu việt của Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang hướng tới xây dựng. Đó là: Nhà nước gắn bó chặt chẽ
với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của
nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và
trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lộng quyền, xâm phạm quyền
dân chủ của công dân…
- Đặc trưng thứ tám: có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng không chỉ thể hiện tính ưu việt trong các
lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội mà còn thể hiện trong quan hệ đối ngoại, chính
sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
Việt Nam luôn luôn khẳng định quan hệ hữu nghị và hợp tác giữ nhân dân ta và nhân dân các
nước trên thế giới. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc
tế…Đảng và Nhà nước ta chủ trương hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước,
không phân biệt chế độ chính trị-xã hội khác nhau trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của
Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.
Việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tham gia tích cực vào các tổ chức, diễn đàn quốc tế
và khu vực đã chứng minh một cách sinh động tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân
ta đang xây dựng, thể hiện trong đặc trưng về quan hệ đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.../.
* Đặc điểm/Đặc trưng của thời kì quá độ ở Việt Nam :
Trên cơ sở vận dụngluận về cách mạng không ngừng, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
hội của chủ nghĩa Mác - Lêninxuất phát từ đặc điểm tình hình thực tế Việt Nam. Hồ Chí
Minh đã khẳng định con đường cách mạng Việt Nam tiến hành giải phóng dân tộc, hòan
thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa hội. Như vậy, quan
niệm Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội Việt Nam quan niệm về một
hình thái quá độ gián tiếp cụ thể - quá độ từ một hội thuộc địa nửa phong kiến, nông
nghiệp lạc hậu sau khi giành được độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩahội. Chínhnội dung
cụ thể này. Hồ Chí Minh đã cụ thể làm phong phú thêm luận Mác - Lênin về thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Theo Hồ Chí Minh, khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội, nước ta đặc điểm
lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội không
Phải kinh qua giai đoạn phát triển bản chủ nghĩa. Đặc điểm này chi phối các đặc điểm
khác, thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và làm cơ sở nảy sinh nhiều mâu
thuẫn. Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý đến mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ, đó là
mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển cao của đất nước theo xu hướng tiến bộ và thực trạng kinh
tế - xã hội quá thấp kém của nước ta.
2
Theo Hồ Chí Minh, thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộinước ta là quá trình
cải biến nền sản xuất lạc hậu thành nền sản xuất tiên tiến, hiện đại. Thực chất của quá trình
cải tạo phát triển nền kinh tế quốc dân cũng cuộc đấu tranh giai cấp gay go, phức tạp
trong điều kiện mới, khi nhân dân ta hoàn thành bản cách mạng dân tộc dân chủ, so
sánh lực lượng trong nước quốc tế đã những biến đổi. Điều này đòi hỏi phải áp dụng
toàn diện các hình thức đấu tranh cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm chống lại các
thế lực đi ngược lại con đường xã hội chủ nghĩa.
Theo Hồ Chí Minh, do những đặc điểmtính chất quy định, quá độ lên chủ nghĩa hội
Việt Nam là một quá trình dần dần, khó khăn, phức tạp và lâu dài. Nhiệm vụ lịch sử của thời
kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bao gồm hai nội dung lớn:
Một , xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa hội, xây dựng các tiền đề
kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng cho chủ nghĩa xã hội.
Hai là, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo và xây dựng, trong đó lấy xây
dựng làm trọng tâm làm nội dung cốt yếu nhất, chủ chốt, lâu dài
Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến tính chất tuần tự, dần dần của thời kỳ quả độ lên chủ nghĩa
hội. Tính chất phức tạp và khó khăn của nó được Người lý giải trên các điểm sau:
Thứ nhất, đây thực sự một cuộc cách mạng làm đảo lộn mọi mặt đời sống hội, cả lực
lượng sản xuất quan hệ sản xuất, cả sở hạ tầng kiến trúc thượng tầng. đặt ra
đòi hỏi đồng thời giải quyết hàng loạt mâu thuẫn khác nhau. Như trong Di chúc Hồ Chí Minh
đã coi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa hội một cuộc chiến đấu khổng lồ của toàn Đảng
toàn dân Việt Nam.
Thứ hai, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa hội, Đảng! Nhà nước, nhân dân ta chưa
có kinh nghiệm, nhấttrên lĩnh vực kinh tế. Đây là công việc hết sức mới mẻ đối với Đảng
ta nên phải vừa làm vừa học thể vấp váp, thiếu sót. Xây dựng hội mới bao giờ
cũng khó khăn, phức tạp hơn đánh đổ xã hội cũ đã lỗi thời.
Thứ ba sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa hội nước luôn luôn bị các thế lực phản động
trong và ngoài nước tìm cách chống phá.
Từ việc chỉ tính chất của thời kỳ quá độ. Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở cán hộ, đảng
viên trong xây dựng chủ nghĩa hội phải thận trọng, tránh nôn nóng, chủ quan, đốt cháy
giai đoạn Vấn đề cơ bản là phải xác định đúng bước đi và hình thức phù hợp với trình độ của
lực lượng sản xuất, biết kết hợp các khâu trung gian, quá độ, luận tự từng bước, từ thấp lên
cao. vậy, xây dựng chủ nghĩa hội đòi hỏi một năng lực lãnh đạo mang tính khoa học,
vừa hiểu biết các quy luật vận động xã hội, lại phảinghệ thuật khôn khéo cho thật sát với
tình hình thực tế.
2
CHƯƠNG IV: DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA
Sự ra đời và phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam.
- Đại hội VI của Đảng (năm 1986) để ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó nhấn
mạnh phát huy dân chủ để tạo ra một động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước. Đại hội
khẳng định “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tưởng “lấy dân làm
gốc”, xây dựng phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”; Bài học “cách mạng
sự nghiệp của quần chúng" bao giờ cũng quan trọng. Thực tiễn cách mạng chứng minh rằng:
đâu, nhân dân lao động ý thức làm chủ được làm chủ thật sự, thì đấy xuất hiện
phong trào cách mạng"
- Trước hết, Đảng ta khẳng định một trong những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam là
do nhân dân làm chủ. Dân chủ đã được đưa vào mục tiêu tổng quát của cách mạng Việt Nam:
Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời khẳng định:Dân chủ
hội chủ nghĩa bản chất của chế độ ta, vừa mục tiêu, vừa động lực của sự phát triển
đất nước”. Xây dựng từng bước hoàn thiện nền dân chủ hội chủ nghĩa, bảo đảm dân
chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn
liền với kỷ luật, kỷ cương phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo
đảm...”.
Tóm tắt sự ra đời và phát triển của dân chủ xã hội chủ nghĩa
- Giai đoạn 1: giai cấp công nhân giành lấy dân chủ.
- Giai đoạn 2: giai cấp công nhân dùng dân chủ tổ chức nhà nước của giai cấp công nhân
nhân dân lao dộng
- Dân chủ XHCN ra đời từ sau thắng lợi của Cách MạngTháng 10 Nga (1917)
1.Quan niệm về dân chủ - Theo nghĩa gốc của các nhà tư tưởng Hi Lạp Cổ Đại
+ Dân chủ là sản phẩm và thành quả của quá trình đấu tranh giai cấp
+ Một hình thức tổ chức của giai cấp cầm quyền
+ Một nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội.
- Theo chủ nghĩa MAC-LENIN
+ Về quyền lực: dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân
+Về chế độ xã hội và trong lĩnh vực chính trị: dân chủ là một hình thức nhà nước, là chế độ
dân chủ
+Về tổ chức và quản lý xã hội: Dân chủ là một nguyên tắc
- Theo quan niệm của HCM.
+ Dân loại là một giá trị nhân loại chung.
+ Dân chủ là một thể chế chính trị, một chế độ xã hội chủ nghĩa.
+Dân chủ là mọi quyền hạn đều thuộc về nhân dânKhái lược sự ra đời và phát triển của dân
chủ.
- Trong chế độ CSNT: Xuất hiện hình thức manh nha của dân chủ dân chủ nguyên thủy
(dân chủ quân sự) – bầu thủ lĩnh quân sự.
- Chế độ hữu nền dân chủ chủ ra đời với đặc trưng dân tham gia bầu nhà nước,
quyền lực chỉ đảm bảo cho thiểu số.
- Nhà nước (chế độ) độc tài chuyên chế phong kiến: Ý thức về dân chủ và đấu tranh không có
bước tiến đáng kể nào, dân phải thực hiện theo ý chí của giai cấp thống trị, quyền lực đảm
bảo cho thiểu số.
- Cuối thế kỷ XIV đầu XV, nền dân chủ sản ra đời: Đây bước tiến lớn của nhân loại
với những giá trị nổi bật về tự do, bình đẳng, dân chủ nhưng vẫn là nền dân chủ của thiểu số.
* Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
B
B
B
BB
A
A
A
AA
2
- Dân chủ là mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa(dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh)
- Dân chủ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa(do nhân dân làm chủ, quyền lực thuộc về
nhân dân)
- Dân chủ động lực để xây dựng chủ nghĩa hội(phát huy sức mạnh của nhân dân,của
toàn dân tộc
- Dân chủ gắn với pháp luật (phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương)
- Dẫn chủ phải được thực hiện trong đời sống thực tiễn ở tất cả các cấp, mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội về lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. hội.
- Bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được thực hiện thông qua các hình thức dân
chủ gián tiếp và dân chủ trực tiếp.
Theo Lênin đã từng khẳng định: Dân chủ trong chủ nghĩa hội bao quát tất cả các mặt của
đời sống hội. Trong quá trình phát triển, tiến hóa của dân chủ, nền dân chủ hội chủ
nghĩa được xem đỉnh cao. Theo đó, bản chất của nền dân chủ hội chủ nghĩa 4 nội
dung sau:
- Bản chất về chính trị : Là sự lãnh đạo về mặt chính trị của giai cấp công nhân trong việc
thực hiện quyền lực và lợi ích của toàn thể nhân dân trên mọi lĩnh vực, thông qua Đảng Cộng
sản đối với toàn xã hội. Quyền lực này của giai cấp công nhân được thể hiện ở các quyền dân
chủ, làm chủ, quyền con người.
- Bản chất về kinh tế: Là việc thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu và việc
thực hiện chế độ phân chia lợi ích chủ yếu theo kết quả lao động. Bản chất là được bộc lộ một
cách đầy đủ và rõ ràng nhất là qua một quá trình ổn định chính trị, phát triển sản xuất và nâng
cao đời sống của toàn xã hội.
- Bản chất về văn hóa : Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa kế thừa, phát huy những tinh hoa văn
hóa truyền thống của dân tộc. Nhân dân chính là người làm chủ những giá trị văn hóa tinh
thần, có quyền được nâng cao trình độ văn hóa và phát triển theo định hướng cá nhân. Nhìn
chung, dân chủ là thành tựu văn hóa, quá trình sáng tạo và khát vọng về tự do sáng tạo và
phát triển của con người.
- Bản chất về tư tưởng và xã hội : Là sự kết hợp hài hòa trong lợi ích giữa các cá nhân, tập thể
với lợi ích của toàn xã hội. Đồng thời, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng lấy nền tảng là hệ
tư tưởng Mác Lênin và hệ tư tưởng của giai cấp công nhân với mọi hình thái ý thức xã hội.
Để thực hiện được theo nền dân chủ này, điều kiện tiên quyết là bảo đảm vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản.
Nền dân chủ hội chủ nghĩa Việt Nam bản chất hệ thống chính trị quyền lực
được phân phối rộng rãi cho nhân dân thông qua các cơ chế dân chủ cơ sở, như hội nghị, bầu
cử sở, các tổ chức dân sở. Đồng thời, nền này cũng bao gồm các yếu tố của chủ
nghĩa xã hội, với mục tiêu đảm bảo sự công bằng, bình đẳng và phát triển toàn diện cho tất cả
các tầng lớp trong hội. dụ khác thể việc tổ chức các cuộc họp cộng đồng địa
phương để thảo luận về các vấn đề quan trọng trong cộng đồng, sau đó quyết định được đưa
ra thông qua biểu quyết dân chủ. Đồng thời, các chính sách hội chủ nghĩa như chăm sóc
sức khỏe, giáo dục an sinh hội được phát triển để đảm bảo mọi người đều hội
phát triển và tham gia vào quyết định của xã hội.
2
CHƯƠNG 6: VẤN ĐỀ DÂN TỘC TÔN GIÁO TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
* Đặc điểm của dân tộc ở Việt Nam:
Quan điểm dân tộc Việt Nam thường nhấn mạnh vào sự tự hào về lịch sử văn hóa dân
tộc, cùng với lòng yêu nước lòng quyết tâm bảo vệ chủ quyền độc lập của quốc gia.
Dưới đây là một số điểm cơ bản của quan điểm dân tộc ở Việt Nam:
- Tự hào về lịch sử và văn hóa dân tộc: Dân tộc Việt Nam tự hào về lịch sử phong phú và văn
hóa đa dạng, từ những thời kỳ xa xưa như Văn Lang - Âu Lạc, đến thời kỳ nhà Lý, nhà Trần
và những thời kỳ khác.
- Tinh thần đoàn kết đấu tranh cho tự do: Dân tộc Việt Nam tinh thần đoàn kết mạnh
mẽ, thể hiện qua các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm và bảo vệ chủ quyền quốc gia, từ thời
kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cho đến thời kỳ đấu tranh bảo vệ biển đảo chủ
quyền lãnh thổ hiện nay.
- Yêu nước và lòng hiếu khách: Quan điểm dân tộc ở Việt Nam thường đề cao tình yêu nước
và lòng hiếu khách, với lòng trung thành và tận tụy đối với đất nước và tổ quốc.
- Đa dạng văn hóa và tôn trọng văn hóa dân tộc:** Việt Nam là một quốc gia đa dạng về văn
hóa, và quan điểm dân tộc thường tôn trọng và bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống của
các dân tộc thiểu số và cộng đồng dân cư đặc biệt khác.
- Phát triển bền vững và hòa bình: Quan điểm dân tộc ở Việt Nam thường chú trọng đến phát
triển bền vững và hòa bình, không chỉ trong nước mà còn trong khu vực và trên thế giới.
=>Tổng thể, quan điểm dân tộc Việt Nam sự kết hợp giữa tinh thần đoàn kết, tự hào về
lịch sử và văn hóa, cùng với tình yêu nước và sự quan tâm đến sự phát triển của cộng đồng.
Việt Nam là một quốc gia đa tộc người có những đặc điểm nổi bật sau đây :
Thứ nhất : sịt chênh lệch về số dân giữa các tộc người Việt Nam 54 dân tộc , trong
đó , dân tộc người Kinh có 73.594,341 người chiếm 85,7 % dân số cả nước ; 53 dân tộc thiểu
số 12.252.656 người , chiếm 14,3 % dân số . Tỷ lệ số dân giữa các dân tộc cũng không
đồng đều , có dân tộc với số dân lớn hơn 1 triệu người ( Tày , Thái , Mường , Khơ me , Mông
... ) , nhưng có dân tộc với số dân chỉ vài ba trăm ( Si la , Pu péo , Rơ măm , Brầu , Ở đu ) .
Thực tế cho thấy nếu một dân tộc mà số dân chỉhàng trăm sẽ gặp rất nhiều khó khăn cho
việc tổ chức cuộc sống , bảo tồn tiếng nói và văn hoá dân tộc , duy trì và phát triển giống nòi .
Do vậy , việc phát triển số dân hợp cho các dân tộc thiểu số , đặc biệt đối với những dân
tộc thiểu số rất ít người đang được Đảng Nhà nước Việt Nam những chính sách quan
tâm đặc biệt .
Thứ hai : Các dân tộc cư trú xen kẽ nhau Việt Nam vốn là nơi chuyển cư của nhiều dân tộc ở
khu vực Đông Nam Á . Tính chất chuyển cử như vậy đã tạo nên bản đồ cư trú của các dân tộc
trở nên phân tán , xen kẽ làm cho các dân tộc Việt Nam không lãnh thổ tộc người
riêng . vậy , không một dân tộc nào Việt Nam cư trú tập trung duy nhất trên một
địa bàn .Đặc điểm này một mặt tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường hiểu biết
lẫn nhau , mở rộng giao lưu giúp đỡ nhau cùng phát triển và tạo nên một nền văn hóa thống
nhất trong đa dạng . Mặt khác , do nhiều tộc người sống xen kẽ nên trong quá trình sinh
sống cũng dễ nảy sinh mâu thuẫn , xung đột , tạo kẽ hở để các thế lực thủ địch lợi dụng vấn
đề dân tộc phá hoại an ninh chính trị và sự thống nhất của đất nước .
Thứ ba : Các dân tộc thiểu số Việt Nam phân bố chủ yếu địa bàn vị trí chiến lược
quan trọng.
2
Mặc dù chỉ chiếm 14,3 % dân số , nhưng 53 dân tộc thiểu số Việt Nam lại cư trú trên % diện
tích lãnh thổ những vị trí trọng yếu của quốc gia cả về kinh tế , an ninh , quốc phòng ,
môi trường sinh thái – đó là vùng biên giới , hải đảo , vùng sâu vùng xa của đất nước . Một số
dân tộc quan hệ dòng tộc với các dân tộc ở các nước láng giềng khu vực .dụ : dân
tộc Thái , dân tộc Mông , dân tộc Khơme , dân tộc Hoa ... do vậy , các thế lực phản động
thường lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam .
Thứ tư : Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển không đều
Các dân tộcnước ta cònsự chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển kinh tế , văn hoá ,
hội . Về phương diện hội , trình độ tổ chức đời sống , quan hệ hội của các dân tộc
thiểu số khác nhau . Về phương diện kinh tế , có thể phân loại các dân tộc thiểu số Việt Nam
ở những trình độ phát triển rất khác nhau : Một số ít các dân tộc còn duy trì kinh tế chiến đoạt
, dựa vào khai thác tự nhiên ; tuy nhiên , đại bộ phận các dân tộc ở Việt Nam đã chuyển sang
phương thức sản xuất tiến bộ , tiến hành công nghiệp.
* Đặc điểm của tôn giáo tại việt nam hiện nay:
Các tín ngưỡng, tôn giáo dù có nguồn gốc khác nhau, phương châm hành đạo không giống
nhau nhưng không vì thế mà có sự xung đột, phá hoại lẫn nhau để phát triển riêng mình,
ngược lại trong quan hệ, họ luôn có sự gắn kết, giao lưu và tìm hiểu về nhau để cùng truyền
đạt những tinh hoa của từng tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là nét đẹp rất riêng của các tín ngưỡng,
tôn giáo tại Việt Nam.
- Một là, các tín ngưỡng, tôn giáo có sự dung hợp, đan xen và hòa đồng, không kỳ thị, tranh
chấp và xung đột. Các tín ngưỡng truyền thống phản ánh đời sống tâm linh phong phú, đa
dạng, sự khoan dung, độ lượng, nhân ái của người Việt Nam và tinh thần đoàn kết toàn dân
tộc. Đây là những yếu tố để người Việt Nam dễ hòa đồng với nhiều tín ngưỡng, tôn giáo khác
nhau. Trong nhiều cộng đồng dân cư có sự xen kẽ giữa người có tôn giáo và người không có
tôn giáo. Ở nhiều nơi, trong cùng một làng, xã, có nhóm tín đồ của tôn giáo này sống đan xen
với nhóm tín đồ của tôn giáo khác hoặc với những người không theo tôn giáo, và họ sống hòa
hợp với nhau trên nền tảng làng, xóm, dòng họ.
- Hai là, các tôn giáo ở Việt Nam chủ yếu thờ Thượng đế và linh nhân là người nước ngoài.
Các nghiên cứu về lịch sử tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cho thấy, tư tưởng tôn giáo có từ
người Việt cổ, thể hiện trực quan qua các hình tượng chim Lạc và con Rồng. Hệ thống giáo
lý của các tôn giáo nội sinh (Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt
Nam,...) hầu hết đều sao chép hoặc chịu ảnh hưởng từ các tôn giáo có trước.
- Ba là, mỗi tín ngưỡng, tôn giáo mang những nét văn hóa riêng biệt nhưng đều hướng đến
Chân - Thiện - Mỹ, chịu ảnh hưởng của truyền thống dân tộc, góp phần tạo nên những nét
đẹp trong nền văn hóa đa dạng, phong phú về bản sắc của dân tộc. Thực tế, mỗi tôn giáo đều
mang trong nó một hay nhiều tín ngưỡng; các tín ngưỡng này đã có sự giao thoa với văn hóa
Việt Nam. Qua hàng trăm năm tồn tại, phát triển, văn hóa tín ngưỡng ngoại nhập dần được
Việt hóa và trở thành một bộ phận của văn hóa Việt Nam (dù không thuần nhất).
- Bốn là, trong lịch sử cận, hiện đại của dân tộc, các thế lực thực dân, đế quốc, phản động
luôn tìm mọi cách lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo và các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn
giáo để xâm lược, đô hộ nước ta, hoặc gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã
hội, phục vụ cho ý đồ đen tối của chúng. Hiện nay, các thế lực thù địch vẫn sử dụng, lợi dụng
tín ngưỡng, tôn giáo như một thứ vũ khí nhằm thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", phá
hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Với chiêu bài "tự do
tôn giáo", "nhân quyền", chúng xuyên tạc, bóp méo đường lối, chính sách tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, âm mưu tạo ra lực lượng và xây dựng ngọn cờ trong tôn
giáo hòng lật đổ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
2
Theo thống kê, ở nước ta có khoảng 24 triệu tín đồ tôn giáo, chiếm khoảng 27% dân số cả
nước. Trong đó, chủ yếu là tín đồ Phật giáo (hơn 11 triệu người), Công giáo (gần 7 triệu
người), Tin Lành (hơn 1 triệu người), Cao Đài (2,4 triệu người), Phật giáo Hòa Hảo (1,5 triệu
người), Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam (hơn 1 triệu người); còn lại là tín đồ các tôn giáo
khác, chiếm gần nửa triệu người. Số lượng chức sắc, nhà tu hành khá đông, khoảng 83 nghìn
người; ngoài ra còn có 250 nghìn chức việc trông coi việc đạo ở khoảng 25 nghìn cơ sở thờ
tự. Ngoài ra, ước tính hiện nay, 95% dân số nước ta có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Theo
thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cả nước hiện có khoảng 8.000 lễ hội, trong đó
có 7.039 lễ hội dân gian, 332 lễ hội lịch sử cách mạng, 544 lễ hội tôn giáo, 10 lễ hội du nhập
từ nước ngoài vào và 40 lễ hội khác.
CHƯƠNG 5: CƠ CẤU XÃ HỘI – GIAI CAAOS VÀ LIÊN MINH GIAI CẤP, TẦNG
LỚP TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
*Cơ cấu XH trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam:
- Trong sự biến đổi của cơ cấu xã hội - giai cấp, vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng lớp xã hội
ngày càng được khẳng định. Cơ cấuhội - giai cấp của Việt Namthời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội bao gồm những giai cấp, tầng lớp cơ bản sau:
- Giai cấp công nhân Việt Nam có vai trò quan trọng đặc biệt, là giai cấp lãnh đạo cách mạng
thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho phương thức sản xuất tiên
tiến; giữ vị trí tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa hội, lực lượng đi đầu
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
- Đội ngũ trí thức lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức,
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; một lực lượng trong
khối liên minh. Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân
tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động
của hệ thống chính trị.
Hiện nay, cùng với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh
tế tri thức trong điều kiện khoa học - công nghệCách mạng công nghiệp lần thứ đang
phát triển mạnh mẽ thì vai trò của đội ngũ trí thức càng trở nên quan trọng.
- Đội ngũ doanh nhân : Hiện nay Việt Nam, đội ngũ doanh nhân phát triển nhanh cả về số
lượng quy với vai trò không ngừng tăng lên. Đây tầng lớp hội đặc biệt được
Đảng ta chủ trương xây dựng thành một đội ngũ vững mạnh.
{nội dung tham khảo về dụ}Trong thời kỳ quá độ Việt Nam, cấu hội đã trải qua
nhiều thay đổi lớn với sự ảnh hưởng của chính sách cải cách hội chủ nghĩa. Dưới đây
một số ví dụ:
- Chính sách đất đai: Quá trình cải cách ruộng đất đã tiến hành để phân phối lại đất đai từ
các chủ địa chủ sang cho các nông dân. Điều này đã tạo ra cơ cấu xã hội mới, giúp cải thiện
điều kiện sống cho nông dân và giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo.
- Tổ chức sản xuất cộng đồng: Các sở sản xuất cộng đồng, như nghiệp liên hiệp
nông dân, được thành lập để tăng cường quyền lợi quyền lực của những người lao động.
Điều này làm thay đổi cách tổ chức và quản lý lao động trong xã hội.
- Chính sách giáo dục: Chính sách giáo dục được thực hiện để đảm bảo mọi người có cơ hội
tiếp cận giáo dục, từ giáo dục tiểu học cho đến giáo dục cao đẳngđào tạo nghề. Điều này
đã thay đổi cấu xã hội bằng cách tạo ra một lớp lao động được đào tạo tốt hơn khả
năng tham gia vào nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
2
- Hình thành các cộng đồng mới: Các cộng đồng mới, như các khu phố mới và khu dân cư
cộng đồng, đã được hình thành để tạo ra một môi trường sống làm việc cộng đồng, tăng
cường tinh thần đoàn kết và hỗ trợ giữa các thành viên xã hội.
* Liên minh giai cấp trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam:
- Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đảng Cộng sản Việt Nam, tưởng liên
minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân đội ngũ trí thức đã được hình thành từ rất
sớm nước ta được khẳng định qua các kỳ Đại hội của Đảng Tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: "Đại đoàn kết toàn dân tộcđường lối chiến
lược của cách mạng Việt Nam,động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo”.
- giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thứcNội dung kinh tế của liên minh
nước ta thực chất sự hợp tác giữa họ, đồng thời mở rộng liên kết hợp tác với các lực
lượng khác, đặc biệt đội ngũ doanh nhân... để xây dựng nền kinh tế mới hội chủ nghĩa
hiện đại. Dưới góc độ kinh tế, xác định đúng tiềm lực kinh tế nhu cầu kinh tế của công
nhân, nông dân, trí thức toàn hội, trên sở đó xây dựng kế hoạch đầu tổ chức
triển khai các hoạt động kinh tế đúng trên tinh thần đảm bảo lợi ích của các bên tránh sự
đầu tư không hiệu quả, lãng phí. Xác định đúng cấu kinh tế (của cả nước, của ngành, địa
phương, cơ sở sản xuất, v.v.), từ đó, các địa phương, cơ sở vận dụng linh hoạt và phù hợp vào
địa phương mình, ngành mình để xác định cấu kinh tế cho đúng. Tổ chức các hình thức
giao lưu, hợp tác, liên kết kinh tế giữa công nghiệp - nông nghiệp - khoa học và công nghệ -
dịch vụ...; giữa các ngành kinh tế; các thành phần kinh tế, các vùng kinh tế; giữa trong nước
và quốc tế... để phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống cho công nhân, nông dân,
trí thức và toàn xã hội.
- Nội dung chính trị của liên minh:
Khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân đội ngũ trí thức cần thực
hiện nhằm tạo sở chính trị - hội vững chắc cho khối đại đoàn kết toàn dân, tạo thành
sức mạnh tổng hợp vượt qua mọi khó khăn, thử tháchđập tan mọi âm mưu chống phá sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Ở nước ta, nội dung chính trị của liên minh thể hiện ở
việc giữ vững lập trường chính trị - tư tưởng của giai cấp công nhân, đồng thời giữ vững vai
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với khối liên minh đối với toàn hội để
xây dựng bảo vệ vững chắc chế độ chính trị, giữ vững độc lập dân tộc định hướng đi
lên chủ nghĩa xã hội.
- Nội dung văn hóa - xã hội của liên minh:
Tổ chức liên minh để các lực lượng dưới sự lãnh đạo của Đảng cùng nhau xây dựng nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời tiếp thu những tinh hoa, giá trị văn
hóa của nhân loại thời đại. Nội dung văn hóa, hội của liên minh giai cấp, tầng lớp đòi
hỏi phải đảm bảo “gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển, xây dựng con
người và thực hiện tiến bộ, công bằng hội. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; xoá đói
giảm nghèo; thực hiện tốt các chính sách xã hội đối với công nhân, nông dân, trí thứccác
tầng lớp nhân dân; chăm sóc sức khoẻ nâng cao chất lượng sống cho nhân dân; nâng cao
dân trí, thực hiện tốt an sinh xã hội.
{nội dung tham khảo về dụ} Trong thời kỳ quá độ Việt Nam, đã sự hình thành của
nhiều liên minh giai cấp nhằm thúc đẩy các mục tiêu chung và bảo vệ quyền lợi của các tầng
lớp dân chúng. Dưới đây là một số ví dụ:
- Liên minh Nông dân: Được hình thành để đại diện cho lợi ích của nông dân, liên minh này
tập trung vào việc cải thiện điều kiện sống và làm việc của nông dân, đảm bảo họ quyền
lợi trong việc sử dụng đất đai và tài nguyên nông nghiệp.
2
- Liên minh Lao động: Đại diện cho lợi ích của các công nhân lao động, liên minh này
thúc đẩy các quyền lợi lao động, bao gồm tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc và bảo vệ
quyền tự do tổ chức lao động.
- Liên minh Sinh viên: Hình thành để đại diện cho sinh viên và thúc đẩy các vấn đề giáo dục
hội quan trọng đối với sinh viên, bao gồm cải thiện chất lượng giáo dục, giảm áp lực
học phí và bảo vệ quyền tự do học tập và tự do ngôn luận.
- Liên minh Phụ nữ: Tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi và nâng cao vị thế của phụ nữ trong
xã hội, liên minh này thúc đẩy các chính sách bình đẳng giới và cải thiện điều kiện sống cho
phụ nữ.
Các liên minh này đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các chính sách hội chủ
nghĩa và đảm bảo rằng mọi tầng lớp trong xã hội được đại diện và bảo vệ quyền lợi của mình.
| 1/17

Preview text:

LÝ XU KHANG Quản trị dịch vụ Du lịch và lữ hành
CHƯƠNG I: NHẬP MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Câu 1 : Điều kiện khách quan ra đời CNXHKH
a)Điều kiện kinh tế-xã hội
- Trong những năm 40 của thế kỷ 19, dưới sự tác động của Cách mạng Công nghiệp,
Chủ nghĩa tư bản đã có sự phát triển quan trọng làm bộc lộ bản chất và những mâu
thuẫn nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
- Sự phát triển quan trọng ở đây đó là chủ nghĩa tư bản hình thành chưa đầy 1 thế kỉ
nhưng nó đã tạo ra một khối lượng lực lượng sản xuất khổng lồ bằng tất cả các xã hội trước cộng lại.
- Chính sự phát triển rất nhanh của lực lượng sản xuất đã tác động tới phương thức
sản xuất dẫn tới mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng
cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.
- Bằng chứng thể hiện một cách rõ nhất mâu thuẫn này chính là các cuộc khủng hoảng
kinh tế mang tính chu kì (1825, 1836, 1847, 1857) cho thấy mâu thuẫn ngày càng nhanh hơn, gay gắt hơn.
- Nhiều cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh đã bắt đầu và từng bước có tổ chức
trên quy mô rộng khắp. Phong trào Hiến chương diễn ra trên 10 năm (1836-1848).
Phong trào công nhân dệt ở thành phố Xilêdi (1848). Đặt biệt phomg trào công nhân
dệt ở thành phố Lion nước Pháp diễn ra 1831 và 1834 đã có tính chính trị rõ nét.
- Điều kiện kinh tết - xã hội ấy không chỉ đặt ra yêu cầu đối với các nhà tư tưởng của
giai cấp công nhân mà còn là mãnh đất hiện thực cho sự ra đời một lý luận mới, tiến
bộ - chủ nghĩa xã hội khoa học.
b) Tiền đề khoa học tự nhiên và tư tưởng lý luận
Tiền đề khoa học tự nhiên
Trong khoa học tự nhiên, những phát minh vạch thời đại trong vật lý học và sinh học
đã tạo ra bước phát triển đột phá có tính cách mạng:
- Học thuyết tiến hóa:
+ Trước khi các thuyết tiến hóa ra đời, việc hình thành nhận thức của con người dựa
trên thuyết duy tâm thần học, họ cho rằng thế giới này được tạo ra bởi 1 đấng sáng thế
nào đó. Khi thuyết tiến hóa ra đời đã bác bỏ quan niệm này.
+ Học thuyết tiến hóa là cơ sở KHTN chứng minh rằng giữa tất cả các loài đều được
tiến hóa từ các loài trước đó bằng con đường chọn lọc tự nhiên thông qua đặc tính biến dị và di truyền.
+ Đây cũng chính là một bằng chứng khoa học để bác bỏ quan điểm duy tâm thần
học xây dựng quan điểm duy vật và là cơ sở để các nhà khoa học tiếp thu những nhận
thức mới, hiểu biết hơn về giới tự nhiên
- Học thuyết tế bào
: đã bác bỏ phương pháp tư duy siêu hình để hình thành nên
phương pháp tư duy biện chứng khi xem xét sự phát triển của sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên.
+ Phương pháp tư duy biện chứng cho thấy được sự thống nhất giữa các sinh vật
sống trên thế giới, nó không có gì khác biệt giữa thế giới thực vật và đồng vật. Bởi vì
giới sinh vật có chung 1 cấu tạo đầu tiên đó là tế bào, chỉ khác nhau ở cấu tạo của tế
bào. Học thuyết tế bào là một phát minh ảnh hưởng tới thế giới quan của các nhà khoa
học nói chung và là cơ sở, tiền đề để chuyển từ phương pháp tư duy siêu hình sang
phương pháp tư duy biện chứng
LÝ XU KHANG Quản trị dịch vụ Du lịch và lữ hành
- Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng
: đã thể hiện sự thông nhất của thế
giới vật chất và bác bỏ những giới hạn của con người đối với thế giới vật chất. Như
vậy, thế giới này không có điểm đầu và cũng không có điểm cuối chỉ có những thời
điểm chúng ta nhận thức về thế giới vật chất này và những dạng biểu hiện cụ thể của
tgvc này mà thôi. Đây cũng là động lực cho các nhà khoa học tham gia ngày càng
nhiều, có các nghiên cứu về thế giới vật chất mà mình đang sống. 2
Tiền đề tư tưởng lý luận
Cùng với sự phát triển của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cũng có những thành tựu đáng ghi nhận:
- Triết học cổ điển Đức (đại biểu Heghen và Phơbách).
+ Mác thừa kế phép biện chứng của Ph. Hêghen trên cơ sở loại bỏ các yêu tố duy tâm thần
bí trong hệ thống triết học của Ph. Hêghen, đồng thời thừa kế các quan điểm duy vật tiến bộ
của Phoiơbắc để xây dựng phép biện chứng duy vật.
- Kinh tế chính trị học cổ điển Anh (Đại biểu là Adam Smit và D. Ricado).
+ Trong tư tưởng của các nhà không tưởng, kinh tế chính trị cổ điển Anh thì Mác đã kế thừa
được hạt nhân hợp lý, đó chính là giá trị thặng dư.
+ Qua nghiên cứu giá trị thặng dư thì Mác đã chỉ ra nguyên nhân làm nên sự giàu có của
giai cấp tư sản và cũng chỉ ra được hình thức bóc lột của gia cấp tư sản đối với giai cấp công
nhân là bóc lột giá trị thặng dư. Từ đó Mác có cơ sở để khẳng định rằng trong các giai cấp đối
lập với giai cấp tư sản thì giai cấp công dân là giai cấp cách mạng.
- Chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán Pháp (Đại biểu là XanhXimong và Phurie,. . . )
+ Là nguồn gốc lý luận trực tiếp cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học và sự ra đời
này đã đóng góp nhiều giá trị tích cực: Phê phán chế độ phong kiến, chủ nghĩa tư bản sâu sắc,
toàn diện, Đưa ra nhiều luận điểm có giá trị về mô hình xã hội trong tương lai, thức tỉnh tinh
thần đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại chủ nghĩa tư bản.
+ Bên cạnh đó cũng có nhiều hạn chế như chưa phát hiện ra quy luật vận động nội tại của
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, chưa phát hiện ra được lực lượng giai cấp tiên phong
đóng vai trò lãnh đạo trong quá trình chuyển biến cách mạng từ xã hội cũ sang xã hội mới.
+ Chính những hạn chế này đã đặt ra yêu cầu cho Mác phải đi giải quyết, khắc phục. Và
việc Mác khắc phục chủ nghĩa xã hội không tưởng đầu thế kỷ XIX cũng chính là cơ sở ra đời
lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học.
Kết luận: Chính những tiền đề khoa học tự nhiên và tiền đề tư tưởng lý luận là những vấn đề
thực tiễn đặt ra để Mác - Ăngghen kế thừa, cải tạo có sự chọn lọc và phát triển lên học thuyết
của mình, cho ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học sau này.
Câu 2: Chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán TK XIX
Hoàn cảnh ra đời của CNXH không tưởng Hoàn cảnh ra đời Tiền
đề về tư tưởng kinh tế
- Năm 1848 cách mạng tư sản Pháp thành công; cuộc cách mạng công nghiệp phát triển
mạnh mẽ ở các nước Tây Âu vào thế kỷ XVIII đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
- Máy móc công nghiệp được cải tiến và chế tạo ngày một tăng lên và hoàn thiện hơn, làm
cho năng suất lao động tăng nhanh chưa từng có. Lao động thủ công được thay thế dần bằng máy móc. Tiền
đề về chính
trị - xã hội
- Khi lực lượng sản xuất phát triển làm cho xã hội phân chia thành giai cấp rõ rệt: Bao gồm
giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Do đó xuất hiện đấu tranh giai cấp, và nó được chuyển dần
từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác (có ý thức và có tổ chức hơn).
Đặc điểm chung của kinh tế chính trị chủ nghĩa xã hội không tưởng. 2
+ Chủ nghĩa xã hội không tưởng là học thuyết kinh tế thể hiện sự phản kháng của giai cấp
cấp công nhân và nhân dân lao động chống lại chế độ tư bản chủ nghĩa và tìm đường xây
dựng xã hội mới tốt đẹp hơn.
+ Đặc điểm chung là phê phán chủ nghĩa tư bản theo quan điểm kinh tế chứ không theo
quan điểm đạo đức, luận lý. Chỉ rõ chủ nghĩa tư bản là một giai đoạn phát triển của lịch sử,
nhưng chưa phải là chế độ xã hội tốt đẹp nhất của loài người. Vạch rõ mâu thuẫn của chủ
nghĩa tư bản, sự kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển và cần phải thay thế bằng xã hội mới.
Tuy nhiên con đường họ đề xuất xây dựng xã hội mới có tính chất không tưởng (chỉ dừng lại
ở tính ước muốn, không có cơ sở khoa học để thực hiện, đặc biệt chưa thấy vai trò của giai cấp công nhân).
Những đại biểu điển hình: Saint Simon, Charles Fourier, Robert Owen.
Giá trị của tác phẩm tuyên ngôn cộng sản.
Tác phẩm tuyên ngôn của Đảng Cộng sản mang lại một số giá trị quan trọng như sau:
+ Hướng dẫn lý tưởng và mục tiêu: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản thường đề xuất mục
tiêu lý tưởng cho xã hội, như công bằng xã hội, tự do và bình đẳng. Nó cung cấp một phương
châm hành động cho các thành viên và người ủng hộ của Đảng.
+ Tạo ra lòng tin và đồng thuận: Tuyên ngôn có thể giúp tạo ra lòng tin và sự đồng thuận
trong cộng đồng của Đảng, khi nó đặt ra mục tiêu và giá trị mà mọi người có thể đồng lòng theo đuổi.
+ Phê phán và hướng dẫn chính trị: Tuyên ngôn thường chứa đựng các phê phán về tình
trạng xã hội hiện tại và hướng dẫn về hành động chính trị cụ thể để thúc đẩy sự thay đổi xã hội.
+ Tổ chức và đào tạo: Tuyên ngôn có thể được sử dụng để tổ chức và đào tạo các thành viên
của Đảng, giúp họ hiểu rõ hơn về các nguyên tắc và mục tiêu của Đảng.
+ Thúc đẩy sự đoàn kết: Tuyên ngôn thường đề cập đến sự đoàn kết giữa các giai cấp lao
động và những người bị bóc lột, thúc đẩy tinh thần đoàn kết và sự đồng lòng trong cuộc đấu tranh cho mục tiêu chung. CHƯƠNG II
: SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN
-Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là gì?
+Sứ mệnh lịch sử tổng quát của giai cấp công nhân là thông qua chính đảng tiền phong, giai
cấp công nhân tổ chức, lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh xóa bỏ các chế độ người bóc lột
người, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động khỏi mọi
sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh.
+Nội dung kinh tế: Là nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất xã hội hóa cao, giai cấp công
nhân cũng là đại biểu cho quan hệ sản xuất mới, sản xuất ra của cải vật chất ngày càng nhiều
đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người và xã hội. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, giai
cấp công nhân thông qua quá trình công nghiệp hóa và thực hiện “một kiểu tổ chức xã hội
mới về lao động" để tăng năng suất lao động xã hội và thực hiện các nguyên tắc sở hữu, quản 2
lý và phân phối phù hợp với nhu cầu phát triển sản xuất, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
+Nội dung chính trị - xã hội: Giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động, dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản, tiến hành cách mạng chính trị để lật đổ quyền thống trị của giai cấp
thống trị, xóa bỏ chế độ bóc lột, áp bức, giành quyền lực về tay giai cấp công nhân và nhân
dân lao động Thiết lập nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, xây dựng nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện quyền lực của nhân dân, quyền dân chủ và làm chủ xã
hội của tuyệt đại đa số nhân dân lao động.
+Thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân trong tiến trình cách mạng cải tạo
xã hội cũ và xây dựng xã hội mới trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng cần phải tập trung xây dựng
hệ giá trị mới: lao động; công bằng; dân chủ; bình đẳng và tự do. Giai cấp công nhân thực
hiện cuộc cách mạng về văn cần phải xây dựng hóa, tư tưởng bao bao gồm cải tạo cái cũ lỗi thời, lạc hậu.
+Trước cách mạng công nghiệp, công nhân thường làm việc trong điều kiện làm việc khắc
nghiệt, thường xuyên phải làm việc nhiều giờ với mức lương thấp và không có bảo vệ tốt từ
phía chủ nhà máy hoặc chủ sở hữu. Trong bối cảnh này, giai cấp công nhân đã phát huy vai
trò của mình trong việc tạo ra những cuộc đấu tranh lao động, nhằm đòi hỏi những quyền lợi
công bằng, bảo vệ sức khỏe và an toàn lao động, cũng như tăng lương và giảm giờ làm việc.
Ví dụ cụ thể có thể là các cuộc biểu tình, cuộc đình công, hoặc việc tổ chức các hội nghị lao
động để đề xuất các điều kiện làm việc tốt hơn. Những nỗ lực này không chỉ mang lại lợi ích
cho công nhân trong hiện tại mà còn góp phần vào việc xây dựng một xã hội công bằng và
thịnh vượng hơn cho tất cả mọi người. Điều này thể hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân trong việc đấu tranh cho quyền lợi và tự do của họ.
-Đặc điểm của giai cấp công nhân hiện nay. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiện nay?
*Đặc điểm của giai cấp công nhân hiện nay:
- Ở thế kỷ XIX thì giai cấp công nhân hiện nay vừa có những điểm tương đồng, vừa có những
điểm khác biệt, có những biến đổi mới trong điều kiện lịch sử mới.
+Những điểm tưởng đối ổn định so với thế kỷ XIX: Giai cấp công nhân hiện nay vẫn đang là
lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội hiện đại. Họ là chủ thể của quá trình sản xuất công
nghiệp hiện đại mang tính xã hội hóa ngày càng cao. Công nghiệp hóa vẫn là cơ sở khách
quan để giai cấp công nhân hiện đại phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Công
nhân vẫn bị giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản bóc lột giá trị thặng dư. Quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa sản sinh ra tình trạng bóc lột này
vẫn tồn tại. Phong trào cộng sản và công nhân ở nhiều nước vẫn luôn là lực lượng đi đầu
trong các cuộc đấu tranh vì hòa bình, hợp tác và phát triển, vì dân sinh, dân chủ, tiến bộ xã
hội và chủ nghĩa xã hội. Lý luận về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong chủ nghĩa
Mác - Lênin vẫn mang giá trị khoa học và cách mạng, vẫn có ý nghĩa thực tiễn to lớn, chỉ

đạo cuộc đấu tranh cách mạng hiện nay của giai cấp công nhân, phong trào công nhân và
quần chúng lao động, chống chủ nghĩa tư bản và lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa trong
sự phát triển của thế giới ngày nay.
*Một đặc điểm của giai cấp công nhân hiện nay là sự đa dạng và tích hợp của họ trong nền
kinh tế toàn cầu. Dưới đây là một ví dụ cụ thể:
Trong thế kỷ 21, giai cấp công nhân không chỉ bao gồm những người làm việc trong nhà
máy truyền thống mà còn bao gồm các nhân viên văn phòng, nhân viên dịch vụ, lao động tự
do và người làm công ăn lương. Họ hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau như công nghệ
thông tin, y tế, giáo dục, sản xuất, và dịch vụ.
Giai cấp công nhân hiện nay cũng phản ánh sự đa dạng về độ tuổi, giới tính, dân tộc và văn
hóa. Ngoài ra, với sự phát triển của công nghệ và tự động hóa, một số công nhân phải thích 2
nghi với các công việc mới, học hỏi các kỹ năng số và làm việc trong môi trường làm việc đầy biến động.
Do đó, mặc dù vẫn tồn tại các vấn đề như mức lương thấp, điều kiện làm việc không an
toàn và bất công xã hội, nhưng đặc điểm của giai cấp công nhân hiện nay cũng bao gồm sự đa
dạng, linh hoạt và tích hợp trong nền kinh tế toàn cầu.
*Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiên nay:
+Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã xác định vai trò giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử
to lớn của giai cấp công nhân ở nước ta: "Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to
lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam;
giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng
cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng".
+Nội dung kinh tế: Giai cấp công nhân Việt Nam với số lượng đông đảo, có cơ cấu ngành
nghề đa dạng, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ công nghiệp ở mọi thành phần
kinh tế, với chất lượng ngày một nâng cao về kỹ thuật và công nghệ sẽ là nguồn nhân lực lao
động chủ yếu tham gia phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại, định hướng xã hội chủ
nghĩa, lấy khoa học - công nghệ làm động lực quan trọng, quyết định tăng năng suất lao
động, chất lượng và hiệu quả. Phát huy vai trò và trách nhiệm của lực lượng đi đầu trong sự
nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước - đây là vấn đề nổi bật nhất đối với
việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay.
+Nội dung chính trị - xã hội: Cùng với nhiệm vụ giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng thì nhiệm vụ “Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, vai trò tiên phong,
gương mẫu của cán bộ, đảng viên” và “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn,
đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
+Nội dung văn hóa và tư tưởng: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc có nội dung cốt lõi là xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, giáo
dục đạo đức cách mạng, rèn luyện lối sống, tác phong công nghiệp, văn minh, hiện đại, xây
dựng hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam, hoàn thiện nhân cách.
*Một ví dụ cụ thể về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiện nay trên thế giới có thể là
các cuộc đấu tranh của công nhân trong ngành công nghiệp dịch vụ, như ngành nhà hàng và khách sạn.
Trên toàn cầu, công nhân trong ngành nhà hàng và khách sạn thường phải làm việc trong điều
kiện làm việc khó khăn, với mức lương thấp, giờ làm việc dài và thiếu bảo vệ lao động. Tuy
nhiên, trong những năm gần đây, chúng đã tổ chức và tham gia vào các cuộc đấu tranh để đòi
hỏi quyền lợi công bằng và điều kiện làm việc tốt hơn.
Ví dụ, ở nhiều quốc gia, công nhân trong ngành nhà hàng và khách sạn đã tổ chức các cuộc
biểu tình, cuộc đình công, và chiến dịch tuyên truyền để đòi hỏi tăng lương cơ bản, giảm giờ
làm việc quá độ, cải thiện điều kiện làm việc và đảm bảo bảo vệ lao động.
Các nỗ lực này không chỉ giúp cải thiện điều kiện sống và làm việc của các công nhân trong
ngành nhà hàng và khách sạn mà còn góp phần vào việc nâng cao ý thức về quyền lợi lao
động và tăng cường quyền lực của giai cấp công nhân trên toàn thế giới. Điều này thể hiện sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong việc đấu tranh cho quyền lợi và tự do của họ trong xã hội hiện đại. 2
CHƯƠNG III: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Đặc trưng cơ bản của Chủ Nghĩa Xã Hội :
- Chủ nghĩa xã hội được tiếp cận từ cá góc độ sau đây:
1) Là phong trào thực tiễn, phong trào đấu tranh của nhân dân lao động chống lại áp bức, bất
công, chống các giai cấp thống trị;
2) Là trào lưu tư tưởng, lý luận phản ánh lý tưởng giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức, bóc lột, bất công;
3) Là một khoa học - chủ nghĩa xã hội khoa học là khoa học về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân;
4) Là một chế độ xã hội tốt đẹp, giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
- Chỉ ra hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác không chỉ làm rõ những yếu tố cấu thành hình
thái kinh tế - xã hội mà còn xem xét xã hội trong quá trình biến đổi và phát triển không ngừng.
- Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách
mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị,
và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản"
- Từ Chủ nghĩa Tư bản lên Chủ nghĩa Cộng sản cần 3 bước: + Cơn đau đẻ kéo dài + Xã hội chủ nghĩa + Cộng sản chủ nghĩa
Đặc điểm của thời kì quá độ.
(SGK Chủ nghĩa xã hội khoa học Tr 107-108-109)
ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (8 ĐẶC TRƯNG)
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991)
của Đảng, mô hình chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng đã được phác họa với sáu đặc trưng.
Đại hội lần thứ X (2006) của Đảng đã bổ sung, phát triển, làm cho mô hình chủ nghĩa xã hội
Việt Nam toàn diện hơn, gồm tám đặc trưng. Trong Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung và phát
triển 2011) Đảng ta tiếp tục xác định tám đặc trưng trên cơ sở kết hợp, bổ sung, phát triển
những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội trong hai Văn kiện nêu trên.
- Đặc trưng thứ nhất: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Đây là đặc trưng tổng quát nhất chi phối các đặc trưng khác, bởi nó thể hiện mục tiêu của chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ở nước ta, tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội phải được biểu hiện cụ
thể thiết thực, trên cơ sở kế thừa quan điểm Mác-Lenin về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội,
đồng thời vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa xã hội là làm
sao cho dân giàu, nước mạnh…là công bằng, hợp lý, mọi người đều được hưởng quyền tự do,
dân chủ, được sống cuộc đời hạnh phúc…
Tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng phải hướng tới việc hiện
thực hóa đầy đủ, đồng bộ hệ mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh.
Tư tưởng xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội. Đối với dân tộc Việt Nam, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm cho dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thật sự. Đây là khát vọng tha thiết của toàn thể nhân dân
Việt Nam sau khi đất nước giành được độc lập và thống nhất Tổ quốc.
- Đặc trưng thứ hai: do nhân dân làm chủ
Tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng thể hiện ở bản chất ưu việt 2
chính trị của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa trên cơ sở kế thừa giá trị quan điểm của chủ
nghĩa Marx-Lenin sự nghiệp cách mạng là của quần chúng; kế thừa những giá trị trong tư
tưởng truyền thống của dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: dân chủ tức là dân là chủ, dân làm chủ.
Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung và phát triển) đã tiếp tục khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ
nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển đất nước.
Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực
Nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mọi
cấp, trên tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân bầu ra và các
hình thức dân chủ trực tiếp…”.
Đặc trưng thứ ba: có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế
độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
- Đây là đặc trưng thể hiện tính ưu việt trên lĩnh vực kinh tế của chủ nghĩa xã hội mà nhân
dân ta đang xây dựng so với các chế độ xã hội khác.
Đảng ta khẳng định quan điểm: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể không
ngừng được củng cố và phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở
thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Quan điểm này hoàn toàn nhất quán với đặc trưng trong quan hệ sản xuất của chủ nghĩa xã
hội mà chúng ta đang xây dựng là xác lập dần từng bước chế độ công hữu. Trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội phải dựa trên chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu là một
trong những yếu tố đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị
trường với nhiều thành phần kinh tế.
- Đặc trưng thứ tư: có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tính ưu việt về tiến tiến của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng thể hiện khái
quát, nhân văn của văn hóa nhân loại; ở việc giữ gìn bản sắc dân tộc (những giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc Việt Nam: chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, truyền thống đoàn kết và
nhân ái, ý thức về độc lập, tự do, tự cường dân tộc...).
Xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc đòi hỏi vừa phải tiếp thu
những giá trị của tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa phải kế thừa, phát triển bản sắc văn hóa của
các tộc người Việt Nam, xây dựng một nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Sự
kết hợp hài hòa những giá trị tiên tiến với những giá trị mang đậm bản sắc dân tộc thể hiện
tính ưu việt của CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng trên lĩnh vực văn hóa, làm cho văn
hóa trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển.
- Đặc trưng thứ năm: con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
Tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng không chỉ được thể hiện
trong đặc trưng tổng quát dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mà còn được
thể hiện qua đặc trưng về con người trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Về phương diện con
người, chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa với chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo: tất cả vì con người,
cho con người và phát triển con người toàn diện. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Muốn xây
dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa. Để có con người xã hội chủ
nghĩa phải xác định và hiện thực hóa hệ giá trị phản ánh nhu cầu chính đáng của con người
trong xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng.
Vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
trong xã hội xã hội chủ nghĩa, Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung và phát triển) đã xác định hệ giá
trị phản ánh nhu cầu, nguyện vọng thiết thực của con người Việt Nam hiện nay là: có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. Tính ưu việt của chủ
nghĩa xã hội thể hiện trong đặc trưng này là quan điểm nhân văn, vì con người, chăm lo xây
dựng con người, phát triển toàn diện con người (đức, trí, thể, mỹ) của Đảng và Nhà nước ta.
- Đặc trưng thứ sáu: các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng 2
và giúp nhau cùng phát triển. Đặc trưng này thể hiện tính ưu việt trong chính sách dân tộc,
giải quyết đúng các quan hệ dân tộc (theo nghĩa hẹp là quan hệ giữa các tộc người) trong
quốc gia đa dân tộc Việt Nam.
Thực hiện 25 năm đổi mới đất nước đã và đang chứng minh tính ưu việt trong chính sách dân
tộc của Đảng và Nhà nước ta, chứng minh tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trong giải quyết
các quan hệ dân tộc ở Việt Nam. Nhờ đó đã và đang phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn
dân tộc, tính đồng thuận trong cộng đồng 54 dân tộc anh em, chống lại âm mưu chia rẽ dân
tộc của các thế lực thù địch.
- Đặc trưng thứ bảy: có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
Chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng thể hiện trong tính ưu việt của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực hiện ý chí, quyền
lực của nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Tính ưu việt của một xã hội do nhân dân làm chủ gắn bó mật thiết với tính ưu việt của Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung và phát triển) đã chỉ rõ tính ưu việt của Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang hướng tới xây dựng. Đó là: Nhà nước gắn bó chặt chẽ
với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của
nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và
trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lộng quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân…
- Đặc trưng thứ tám: có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng không chỉ thể hiện tính ưu việt trong các
lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội mà còn thể hiện trong quan hệ đối ngoại, chính
sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
Việt Nam luôn luôn khẳng định quan hệ hữu nghị và hợp tác giữ nhân dân ta và nhân dân các
nước trên thế giới. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc
tế…Đảng và Nhà nước ta chủ trương hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước,
không phân biệt chế độ chính trị-xã hội khác nhau trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của
Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.
Việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tham gia tích cực vào các tổ chức, diễn đàn quốc tế
và khu vực đã chứng minh một cách sinh động tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân
ta đang xây dựng, thể hiện trong đặc trưng về quan hệ đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.../.
* Đặc điểm/Đặc trưng của thời kì quá độ ở Việt Nam :
Trên cơ sở vận dụng lý luận về cách mạng không ngừng, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội của chủ nghĩa Mác - Lênin và xuất phát từ đặc điểm tình hình thực tế Việt Nam. Hồ Chí
Minh đã khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là tiến hành giải phóng dân tộc, hòan
thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy, quan
niệm Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là quan niệm về một
hình thái quá độ gián tiếp cụ thể - quá độ từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, nông
nghiệp lạc hậu sau khi giành được độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội. Chính ở nội dung
cụ thể này. Hồ Chí Minh đã cụ thể và làm phong phú thêm lý luận Mác - Lênin về thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Theo Hồ Chí Minh, khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nước ta có đặc điểm
lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội không
Phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Đặc điểm này chi phối các đặc điểm
khác, thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và làm cơ sở nảy sinh nhiều mâu
thuẫn. Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý đến mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ, đó là
mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển cao của đất nước theo xu hướng tiến bộ và thực trạng kinh
tế - xã hội quá thấp kém của nước ta. 2
Theo Hồ Chí Minh, thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình
cải biến nền sản xuất lạc hậu thành nền sản xuất tiên tiến, hiện đại. Thực chất của quá trình
cải tạo và phát triển nền kinh tế quốc dân cũng là cuộc đấu tranh giai cấp gay go, phức tạp
trong điều kiện mới, khi mà nhân dân ta hoàn thành cơ bản cách mạng dân tộc dân chủ, so
sánh lực lượng trong nước và quốc tế đã có những biến đổi. Điều này đòi hỏi phải áp dụng
toàn diện các hình thức đấu tranh cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm chống lại các
thế lực đi ngược lại con đường xã hội chủ nghĩa.
Theo Hồ Chí Minh, do những đặc điểm và tính chất quy định, quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam là một quá trình dần dần, khó khăn, phức tạp và lâu dài. Nhiệm vụ lịch sử của thời
kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bao gồm hai nội dung lớn:
Một là, xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, xây dựng các tiền đề
kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng cho chủ nghĩa xã hội.
Hai là, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo và xây dựng, trong đó lấy xây
dựng làm trọng tâm làm nội dung cốt yếu nhất, chủ chốt, lâu dài
Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến tính chất tuần tự, dần dần của thời kỳ quả độ lên chủ nghĩa xã
hội. Tính chất phức tạp và khó khăn của nó được Người lý giải trên các điểm sau:
Thứ nhất, đây thực sự là một cuộc cách mạng làm đảo lộn mọi mặt đời sống xã hội, cả lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Nó đặt ra và
đòi hỏi đồng thời giải quyết hàng loạt mâu thuẫn khác nhau. Như trong Di chúc Hồ Chí Minh
đã coi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc chiến đấu khổng lồ của toàn Đảng toàn dân Việt Nam.
Thứ hai, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng! Nhà nước, và nhân dân ta chưa
có kinh nghiệm, nhất là trên lĩnh vực kinh tế. Đây là công việc hết sức mới mẻ đối với Đảng
ta nên phải vừa làm vừa học và có thể có vấp váp, thiếu sót. Xây dựng xã hội mới bao giờ
cũng khó khăn, phức tạp hơn đánh đổ xã hội cũ đã lỗi thời.
Thứ ba sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước là luôn luôn bị các thế lực phản động
trong và ngoài nước tìm cách chống phá.
Từ việc chỉ rõ tính chất của thời kỳ quá độ. Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở cán hộ, đảng
viên trong xây dựng chủ nghĩa xã hội phải thận trọng, tránh nôn nóng, chủ quan, đốt cháy
giai đoạn Vấn đề cơ bản là phải xác định đúng bước đi và hình thức phù hợp với trình độ của
lực lượng sản xuất, biết kết hợp các khâu trung gian, quá độ, luận tự từng bước, từ thấp lên
cao. Vì vậy, xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi một năng lực lãnh đạo mang tính khoa học,
vừa hiểu biết các quy luật vận động xã hội, lại phải có nghệ thuật khôn khéo cho thật sát với tình hình thực tế. 2
CHƯƠNG IV: DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Sự ra đời và phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt A Nam.
- Đại hội VI của Đảng (năm 1986) để ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó nhấn
mạnh phát huy dân chủ để tạo ra một động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước. Đại hội
khẳng định “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm
gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”; Bài học “cách mạng là
sự nghiệp của quần chúng" bao giờ cũng quan trọng. Thực tiễn cách mạng chứng minh rằng:
ở đâu, nhân dân lao động có ý thức làm chủ và được làm chủ thật sự, thì ở đấy xuất hiện phong trào cách mạng"
- Trước hết, Đảng ta khẳng định một trong những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Việt Nam là
do nhân dân làm chủ. Dân chủ đã được đưa vào mục tiêu tổng quát của cách mạng Việt Nam:
Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời khẳng định: “Dân chủ xã
hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển
đất nước
”. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân
chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn
liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm...”.
Tóm tắt sự ra đời và phát triển của dân chủ xã hội chủ nghĩa
- Giai đoạn 1: giai cấp công nhân giành lấy dân chủ.
- Giai đoạn 2: giai cấp công nhân dùng dân chủ tổ chức nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao dộng
- Dân chủ XHCN ra đời từ sau thắng lợi của Cách MạngTháng 10 Nga (1917)
1.Quan niệm về dân chủ - Theo nghĩa gốc của các nhà tư tưởng Hi Lạp Cổ Đại
+ Dân chủ là sản phẩm và thành quả của quá trình đấu tranh giai cấp
+ Một hình thức tổ chức của giai cấp cầm quyền
+ Một nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội. - Theo chủ nghĩa MAC-LENIN
+ Về quyền lực: dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân
+Về chế độ xã hội và trong lĩnh vực chính trị: dân chủ là một hình thức nhà nước, là chế độ dân chủ
+Về tổ chức và quản lý xã hội: Dân chủ là một nguyên tắc - Theo quan niệm của HCM.
+ Dân loại là một giá trị nhân loại chung.
+ Dân chủ là một thể chế chính trị, một chế độ xã hội chủ nghĩa.
+Dân chủ là mọi quyền hạn đều thuộc về nhân dânKhái lược sự ra đời và phát triển của dân chủ.
- Trong chế độ CSNT: Xuất hiện hình thức manh nha của dân chủ là dân chủ nguyên thủy
(dân chủ quân sự) – bầu thủ lĩnh quân sự.
- Chế độ tư hữu và nền dân chủ chủ nô ra đời với đặc trưng là dân tham gia bầu nhà nước,
quyền lực chỉ đảm bảo cho thiểu số.
- Nhà nước (chế độ) độc tài chuyên chế phong kiến: Ý thức về dân chủ và đấu tranh không có
bước tiến đáng kể nào, dân phải thực hiện theo ý chí của giai cấp thống trị, quyền lực đảm bảo cho thiểu số.
- Cuối thế kỷ XIV – đầu XV, nền dân chủ tư sản ra đời: Đây là bước tiến lớn của nhân loại
với những giá trị nổi bật về tự do, bình đẳng, dân chủ nhưng vẫn là nền dân chủ của thiểu số.
* Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. B 2
- Dân chủ là mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa(dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh)
- Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa(do nhân dân làm chủ, quyền lực thuộc về nhân dân)
- Dân chủ là động lực để xây dựng chủ nghĩa xã hội(phát huy sức mạnh của nhân dân,của toàn dân tộc
- Dân chủ gắn với pháp luật (phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương)
- Dẫn chủ phải được thực hiện trong đời sống thực tiễn ở tất cả các cấp, mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội về lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. hội.
- Bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được thực hiện thông qua các hình thức dân
chủ gián tiếp và dân chủ trực tiếp.
Theo Lênin đã từng khẳng định: Dân chủ trong chủ nghĩa xã hội bao quát tất cả các mặt của
đời sống xã hội. Trong quá trình phát triển, tiến hóa của dân chủ, nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa được xem là đỉnh cao. Theo đó, bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có 4 nội dung sau: -
Bản chất về chính trị
: Là sự lãnh đạo về mặt chính trị của giai cấp công nhân trong việc
thực hiện quyền lực và lợi ích của toàn thể nhân dân trên mọi lĩnh vực, thông qua Đảng Cộng
sản đối với toàn xã hội. Quyền lực này của giai cấp công nhân được thể hiện ở các quyền dân
chủ, làm chủ, quyền con người. -
Bản chất về kinh tế:
Là việc thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu và việc
thực hiện chế độ phân chia lợi ích chủ yếu theo kết quả lao động. Bản chất là được bộc lộ một
cách đầy đủ và rõ ràng nhất là qua một quá trình ổn định chính trị, phát triển sản xuất và nâng
cao đời sống của toàn xã hội. -
Bản chất về văn hóa
: Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa kế thừa, phát huy những tinh hoa văn
hóa truyền thống của dân tộc. Nhân dân chính là người làm chủ những giá trị văn hóa tinh
thần, có quyền được nâng cao trình độ văn hóa và phát triển theo định hướng cá nhân. Nhìn
chung, dân chủ là thành tựu văn hóa, quá trình sáng tạo và khát vọng về tự do sáng tạo và
phát triển của con người. -
Bản chất về tư tưởng và xã hội
: Là sự kết hợp hài hòa trong lợi ích giữa các cá nhân, tập thể
với lợi ích của toàn xã hội. Đồng thời, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng lấy nền tảng là hệ
tư tưởng Mác Lênin và hệ tư tưởng của giai cấp công nhân với mọi hình thái ý thức xã hội.
Để thực hiện được theo nền dân chủ này, điều kiện tiên quyết là bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có bản chất là hệ thống chính trị mà quyền lực
được phân phối rộng rãi cho nhân dân thông qua các cơ chế dân chủ cơ sở, như hội nghị, bầu
cử cơ sở, và các tổ chức dân cơ sở. Đồng thời, nền này cũng bao gồm các yếu tố của chủ
nghĩa xã hội, với mục tiêu đảm bảo sự công bằng, bình đẳng và phát triển toàn diện cho tất cả
các tầng lớp trong xã hội. Ví dụ khác có thể là việc tổ chức các cuộc họp cộng đồng địa
phương để thảo luận về các vấn đề quan trọng trong cộng đồng, sau đó quyết định được đưa
ra thông qua biểu quyết dân chủ. Đồng thời, các chính sách xã hội chủ nghĩa như chăm sóc
sức khỏe, giáo dục và an sinh xã hội được phát triển để đảm bảo mọi người đều có cơ hội
phát triển và tham gia vào quyết định của xã hội. 2
CHƯƠNG 6: VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
* Đặc điểm của dân tộc ở Việt Nam:
Quan điểm dân tộc ở Việt Nam thường nhấn mạnh vào sự tự hào về lịch sử và văn hóa dân
tộc, cùng với lòng yêu nước và lòng quyết tâm bảo vệ chủ quyền và độc lập của quốc gia.
Dưới đây là một số điểm cơ bản của quan điểm dân tộc ở Việt Nam:
- Tự hào về lịch sử và văn hóa dân tộc: Dân tộc Việt Nam tự hào về lịch sử phong phú và văn
hóa đa dạng, từ những thời kỳ xa xưa như Văn Lang - Âu Lạc, đến thời kỳ nhà Lý, nhà Trần và những thời kỳ khác.
- Tinh thần đoàn kết và đấu tranh cho tự do: Dân tộc Việt Nam có tinh thần đoàn kết mạnh
mẽ, thể hiện qua các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm và bảo vệ chủ quyền quốc gia, từ thời
kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cho đến thời kỳ đấu tranh bảo vệ biển đảo và chủ
quyền lãnh thổ hiện nay.
- Yêu nước và lòng hiếu khách: Quan điểm dân tộc ở Việt Nam thường đề cao tình yêu nước
và lòng hiếu khách, với lòng trung thành và tận tụy đối với đất nước và tổ quốc.
- Đa dạng văn hóa và tôn trọng văn hóa dân tộc:** Việt Nam là một quốc gia đa dạng về văn
hóa, và quan điểm dân tộc thường tôn trọng và bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống của
các dân tộc thiểu số và cộng đồng dân cư đặc biệt khác.
- Phát triển bền vững và hòa bình: Quan điểm dân tộc ở Việt Nam thường chú trọng đến phát
triển bền vững và hòa bình, không chỉ trong nước mà còn trong khu vực và trên thế giới.
=>Tổng thể, quan điểm dân tộc ở Việt Nam là sự kết hợp giữa tinh thần đoàn kết, tự hào về
lịch sử và văn hóa, cùng với tình yêu nước và sự quan tâm đến sự phát triển của cộng đồng.
Việt Nam là một quốc gia đa tộc người có những đặc điểm nổi bật sau đây :
Thứ nhất : Có sịt chênh lệch về số dân giữa các tộc người Việt Nam có 54 dân tộc , trong
đó , dân tộc người Kinh có 73.594,341 người chiếm 85,7 % dân số cả nước ; 53 dân tộc thiểu
số có 12.252.656 người , chiếm 14,3 % dân số . Tỷ lệ số dân giữa các dân tộc cũng không
đồng đều , có dân tộc với số dân lớn hơn 1 triệu người ( Tày , Thái , Mường , Khơ me , Mông
... ) , nhưng có dân tộc với số dân chỉ vài ba trăm ( Si la , Pu péo , Rơ măm , Brầu , Ở đu ) .
Thực tế cho thấy nếu một dân tộc mà số dân chỉ có hàng trăm sẽ gặp rất nhiều khó khăn cho
việc tổ chức cuộc sống , bảo tồn tiếng nói và văn hoá dân tộc , duy trì và phát triển giống nòi .
Do vậy , việc phát triển số dân hợp lý cho các dân tộc thiểu số , đặc biệt đối với những dân
tộc thiểu số rất ít người đang được Đảng và Nhà nước Việt Nam có những chính sách quan tâm đặc biệt .
Thứ hai : Các dân tộc cư trú xen kẽ nhau Việt Nam vốn là nơi chuyển cư của nhiều dân tộc ở
khu vực Đông Nam Á . Tính chất chuyển cử như vậy đã tạo nên bản đồ cư trú của các dân tộc
trở nên phân tán , xen kẽ và làm cho các dân tộc ở Việt Nam không có lãnh thổ tộc người
riêng . Vì vậy , không có một dân tộc nào ở Việt Nam cư trú tập trung và duy nhất trên một
địa bàn .Đặc điểm này một mặt tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường hiểu biết
lẫn nhau , mở rộng giao lưu giúp đỡ nhau cùng phát triển và tạo nên một nền văn hóa thống
nhất trong đa dạng . Mặt khác , do có nhiều tộc người sống xen kẽ nên trong quá trình sinh
sống cũng dễ nảy sinh mâu thuẫn , xung đột , tạo kẽ hở để các thế lực thủ địch lợi dụng vấn
đề dân tộc phá hoại an ninh chính trị và sự thống nhất của đất nước .
Thứ ba : Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam phân bố chủ yếu ở địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng. 2
Mặc dù chỉ chiếm 14,3 % dân số , nhưng 53 dân tộc thiểu số Việt Nam lại cư trú trên % diện
tích lãnh thổ và ở những vị trí trọng yếu của quốc gia cả về kinh tế , an ninh , quốc phòng ,
môi trường sinh thái – đó là vùng biên giới , hải đảo , vùng sâu vùng xa của đất nước . Một số
dân tộc có quan hệ dòng tộc với các dân tộc ở các nước láng giềng và khu vực . Ví dụ : dân
tộc Thái , dân tộc Mông , dân tộc Khơme , dân tộc Hoa ... do vậy , các thế lực phản động
thường lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam .
Thứ tư : Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển không đều
Các dân tộc ở nước ta còn có sự chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển kinh tế , văn hoá ,
xã hội . Về phương diện xã hội , trình độ tổ chức đời sống , quan hệ xã hội của các dân tộc
thiểu số khác nhau . Về phương diện kinh tế , có thể phân loại các dân tộc thiểu số Việt Nam
ở những trình độ phát triển rất khác nhau : Một số ít các dân tộc còn duy trì kinh tế chiến đoạt
, dựa vào khai thác tự nhiên ; tuy nhiên , đại bộ phận các dân tộc ở Việt Nam đã chuyển sang
phương thức sản xuất tiến bộ , tiến hành công nghiệp.
* Đặc điểm của tôn giáo tại việt nam hiện nay:
Các tín ngưỡng, tôn giáo dù có nguồn gốc khác nhau, phương châm hành đạo không giống
nhau nhưng không vì thế mà có sự xung đột, phá hoại lẫn nhau để phát triển riêng mình,
ngược lại trong quan hệ, họ luôn có sự gắn kết, giao lưu và tìm hiểu về nhau để cùng truyền
đạt những tinh hoa của từng tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là nét đẹp rất riêng của các tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam.
- Một là, các tín ngưỡng, tôn giáo có sự dung hợp, đan xen và hòa đồng, không kỳ thị, tranh
chấp và xung đột. Các tín ngưỡng truyền thống phản ánh đời sống tâm linh phong phú, đa
dạng, sự khoan dung, độ lượng, nhân ái của người Việt Nam và tinh thần đoàn kết toàn dân
tộc. Đây là những yếu tố để người Việt Nam dễ hòa đồng với nhiều tín ngưỡng, tôn giáo khác
nhau. Trong nhiều cộng đồng dân cư có sự xen kẽ giữa người có tôn giáo và người không có
tôn giáo. Ở nhiều nơi, trong cùng một làng, xã, có nhóm tín đồ của tôn giáo này sống đan xen
với nhóm tín đồ của tôn giáo khác hoặc với những người không theo tôn giáo, và họ sống hòa
hợp với nhau trên nền tảng làng, xóm, dòng họ.
- Hai là, các tôn giáo ở Việt Nam chủ yếu thờ Thượng đế và linh nhân là người nước ngoài.
Các nghiên cứu về lịch sử tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cho thấy, tư tưởng tôn giáo có từ
người Việt cổ, thể hiện trực quan qua các hình tượng chim Lạc và con Rồng. Hệ thống giáo
lý của các tôn giáo nội sinh (Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt
Nam,...) hầu hết đều sao chép hoặc chịu ảnh hưởng từ các tôn giáo có trước.
- Ba là, mỗi tín ngưỡng, tôn giáo mang những nét văn hóa riêng biệt nhưng đều hướng đến
Chân - Thiện - Mỹ, chịu ảnh hưởng của truyền thống dân tộc, góp phần tạo nên những nét
đẹp trong nền văn hóa đa dạng, phong phú về bản sắc của dân tộc. Thực tế, mỗi tôn giáo đều
mang trong nó một hay nhiều tín ngưỡng; các tín ngưỡng này đã có sự giao thoa với văn hóa
Việt Nam. Qua hàng trăm năm tồn tại, phát triển, văn hóa tín ngưỡng ngoại nhập dần được
Việt hóa và trở thành một bộ phận của văn hóa Việt Nam (dù không thuần nhất).
- Bốn là, trong lịch sử cận, hiện đại của dân tộc, các thế lực thực dân, đế quốc, phản động
luôn tìm mọi cách lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo và các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn
giáo để xâm lược, đô hộ nước ta, hoặc gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã
hội, phục vụ cho ý đồ đen tối của chúng. Hiện nay, các thế lực thù địch vẫn sử dụng, lợi dụng
tín ngưỡng, tôn giáo như một thứ vũ khí nhằm thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", phá
hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Với chiêu bài "tự do
tôn giáo", "nhân quyền", chúng xuyên tạc, bóp méo đường lối, chính sách tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, âm mưu tạo ra lực lượng và xây dựng ngọn cờ trong tôn
giáo hòng lật đổ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 2
Theo thống kê, ở nước ta có khoảng 24 triệu tín đồ tôn giáo, chiếm khoảng 27% dân số cả
nước. Trong đó, chủ yếu là tín đồ Phật giáo (hơn 11 triệu người), Công giáo (gần 7 triệu
người), Tin Lành (hơn 1 triệu người), Cao Đài (2,4 triệu người), Phật giáo Hòa Hảo (1,5 triệu
người), Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam (hơn 1 triệu người); còn lại là tín đồ các tôn giáo
khác, chiếm gần nửa triệu người. Số lượng chức sắc, nhà tu hành khá đông, khoảng 83 nghìn
người; ngoài ra còn có 250 nghìn chức việc trông coi việc đạo ở khoảng 25 nghìn cơ sở thờ
tự. Ngoài ra, ước tính hiện nay, 95% dân số nước ta có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Theo
thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cả nước hiện có khoảng 8.000 lễ hội, trong đó
có 7.039 lễ hội dân gian, 332 lễ hội lịch sử cách mạng, 544 lễ hội tôn giáo, 10 lễ hội du nhập
từ nước ngoài vào và 40 lễ hội khác.
CHƯƠNG 5: CƠ CẤU XÃ HỘI – GIAI CAAOS VÀ LIÊN MINH GIAI CẤP, TẦNG
LỚP TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
*Cơ cấu XH trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam:
- Trong sự biến đổi của cơ cấu xã hội - giai cấp, vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng lớp xã hội
ngày càng được khẳng định. Cơ cấu xã hội - giai cấp của Việt Nam ở thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội bao gồm những giai cấp, tầng lớp cơ bản sau:
- Giai cấp công nhân Việt Nam có vai trò quan trọng đặc biệt, là giai cấp lãnh đạo cách mạng
thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho phương thức sản xuất tiên
tiến; giữ vị trí tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, là lực lượng đi đầu
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh và là lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
- Đội ngũ trí thức là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức,
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; là một lực lượng trong
khối liên minh. Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân
tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động
của hệ thống chính trị.
Hiện nay, cùng với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh
tế tri thức trong điều kiện khoa học - công nghệ và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang
phát triển mạnh mẽ thì vai trò của đội ngũ trí thức càng trở nên quan trọng.
- Đội ngũ doanh nhân : Hiện nay ở Việt Nam, đội ngũ doanh nhân phát triển nhanh cả về số
lượng và quy mô với vai trò không ngừng tăng lên. Đây là tầng lớp xã hội đặc biệt được
Đảng ta chủ trương xây dựng thành một đội ngũ vững mạnh.
{nội dung tham khảo về ví dụ}Trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam, cơ cấu xã hội đã trải qua
nhiều thay đổi lớn với sự ảnh hưởng của chính sách cải cách xã hội chủ nghĩa. Dưới đây là một số ví dụ:
- Chính sách đất đai: Quá trình cải cách ruộng đất đã tiến hành để phân phối lại đất đai từ
các chủ địa chủ sang cho các nông dân. Điều này đã tạo ra cơ cấu xã hội mới, giúp cải thiện
điều kiện sống cho nông dân và giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo.
- Tổ chức sản xuất cộng đồng: Các cơ sở sản xuất cộng đồng, như xí nghiệp và liên hiệp
nông dân, được thành lập để tăng cường quyền lợi và quyền lực của những người lao động.
Điều này làm thay đổi cách tổ chức và quản lý lao động trong xã hội.
- Chính sách giáo dục: Chính sách giáo dục được thực hiện để đảm bảo mọi người có cơ hội
tiếp cận giáo dục, từ giáo dục tiểu học cho đến giáo dục cao đẳng và đào tạo nghề. Điều này
đã thay đổi cơ cấu xã hội bằng cách tạo ra một lớp lao động được đào tạo tốt hơn và có khả
năng tham gia vào nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. 2
- Hình thành các cộng đồng mới: Các cộng đồng mới, như các khu phố mới và khu dân cư
cộng đồng, đã được hình thành để tạo ra một môi trường sống và làm việc cộng đồng, tăng
cường tinh thần đoàn kết và hỗ trợ giữa các thành viên xã hội. *
Liên minh giai cấp trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam:
- Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng liên
minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức đã được hình thành từ rất
sớm ở nước ta và được khẳng định qua các kỳ Đại hội của Đảng Tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: "Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến
lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo”.
- Nội dung kinh tế của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
ở nước ta thực chất là sự hợp tác giữa họ, đồng thời mở rộng liên kết hợp tác với các lực
lượng khác, đặc biệt là đội ngũ doanh nhân... để xây dựng nền kinh tế mới xã hội chủ nghĩa
hiện đại. Dưới góc độ kinh tế, xác định đúng tiềm lực kinh tế và nhu cầu kinh tế của công
nhân, nông dân, trí thức và toàn xã hội, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch đầu tư và tổ chức
triển khai các hoạt động kinh tế đúng trên tinh thần đảm bảo lợi ích của các bên và tránh sự
đầu tư không hiệu quả, lãng phí. Xác định đúng cơ cấu kinh tế (của cả nước, của ngành, địa
phương, cơ sở sản xuất, v.v.), từ đó, các địa phương, cơ sở vận dụng linh hoạt và phù hợp vào
địa phương mình, ngành mình để xác định cơ cấu kinh tế cho đúng. Tổ chức các hình thức
giao lưu, hợp tác, liên kết kinh tế giữa công nghiệp - nông nghiệp - khoa học và công nghệ -
dịch vụ...; giữa các ngành kinh tế; các thành phần kinh tế, các vùng kinh tế; giữa trong nước
và quốc tế... để phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống cho công nhân, nông dân,
trí thức và toàn xã hội.
- Nội dung chính trị của liên minh:
Khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức cần thực
hiện nhằm tạo cơ sở chính trị - xã hội vững chắc cho khối đại đoàn kết toàn dân, tạo thành
sức mạnh tổng hợp vượt qua mọi khó khăn, thử thách và đập tan mọi âm mưu chống phá sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Ở nước ta, nội dung chính trị của liên minh thể hiện ở
việc giữ vững lập trường chính trị - tư tưởng của giai cấp công nhân, đồng thời giữ vững vai
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với khối liên minh và đối với toàn xã hội để
xây dựng và bảo vệ vững chắc chế độ chính trị, giữ vững độc lập dân tộc và định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Nội dung văn hóa - xã hội của liên minh:
Tổ chức liên minh để các lực lượng dưới sự lãnh đạo của Đảng cùng nhau xây dựng nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời tiếp thu những tinh hoa, giá trị văn
hóa của nhân loại và thời đại. Nội dung văn hóa, xã hội của liên minh giai cấp, tầng lớp đòi
hỏi phải đảm bảo “gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển, xây dựng con
người và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; xoá đói
giảm nghèo; thực hiện tốt các chính sách xã hội đối với công nhân, nông dân, trí thức và các
tầng lớp nhân dân; chăm sóc sức khoẻ và nâng cao chất lượng sống cho nhân dân; nâng cao
dân trí, thực hiện tốt an sinh xã hội.
{nội dung tham khảo về ví dụ} Trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam, đã có sự hình thành của
nhiều liên minh giai cấp nhằm thúc đẩy các mục tiêu chung và bảo vệ quyền lợi của các tầng
lớp dân chúng. Dưới đây là một số ví dụ:
- Liên minh Nông dân: Được hình thành để đại diện cho lợi ích của nông dân, liên minh này
tập trung vào việc cải thiện điều kiện sống và làm việc của nông dân, đảm bảo họ có quyền
lợi trong việc sử dụng đất đai và tài nguyên nông nghiệp. 2
- Liên minh Lao động: Đại diện cho lợi ích của các công nhân và lao động, liên minh này
thúc đẩy các quyền lợi lao động, bao gồm tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc và bảo vệ
quyền tự do tổ chức lao động.
- Liên minh Sinh viên: Hình thành để đại diện cho sinh viên và thúc đẩy các vấn đề giáo dục
và xã hội quan trọng đối với sinh viên, bao gồm cải thiện chất lượng giáo dục, giảm áp lực
học phí và bảo vệ quyền tự do học tập và tự do ngôn luận.
- Liên minh Phụ nữ: Tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi và nâng cao vị thế của phụ nữ trong
xã hội, liên minh này thúc đẩy các chính sách bình đẳng giới và cải thiện điều kiện sống cho phụ nữ.
Các liên minh này đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các chính sách xã hội chủ
nghĩa và đảm bảo rằng mọi tầng lớp trong xã hội được đại diện và bảo vệ quyền lợi của mình.