Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI VIỆN QUẢN TRỊ KINH DOANH -------- -------- ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN Đề tài:
NỘI DUNG NGUỒN GỐC TỰ NHIÊN
CỦA Ý THỨC. LIÊN HỆ VÀO VIỆC XÂY
DỰNG Ý THỨC SINH VIÊN HIỆN NAY Nhóm: 4
Lớp học phần: 231_MLN221_05
Người hướng dẫn: Phạm Thị Hương Hà Nội, tháng 11 năm 2023 1 MỤC LỤC A. MỞ ĐẦU 3 B. NỘI DUNG 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN GỐC TỰ NHIÊN CỦA Ý THỨC 4 I. KHÁI NIỆM 4 1. Khái niệm ý thức 4
II. NỘI DUNG NGUỒN GỐC CỦA Ý THỨC VÀ NGUỒN GỐC TỰ NHIÊN CỦA Ý THỨC 6 1. Nguồn gốc ý thức 6
2. Nguồn gốc tự nhiên của ý thức 6 a) Bộ óc con người6 b) Thế giới khách quan 7
3. Một số quan điểm của các nhà triết học trước Mac về nguồn gốc ý thức 14
Chương 2: LIÊN HỆ VÀO VIỆC XÂY DỰNG Ý THỨC SINH VIÊN HIỆN NAY 16
I. LIÊN HỆ VÀO VIỆC XÂY DỰNG NGUỒN Ý THỨC SINH VIÊN HIỆN NAY 16
1. Ý nghĩa của việc xây dựng nguồn ý thức sinh viên hiện nay 16
2. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng nguồn ý thức sinh viên 17
3. Những khó khăn và thách thức trong việc xây dựng nguồn ý thức sinh viên. 18
II. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN
CHẾ VÀ TIẾP TỤC XÂY DỰNG NGUỒN Ý THỨC CHO SINH VIÊN HIỆN NAY 18
1. Tăng cường giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên 19
2. Tăng cường giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên 19
3. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm xã hội cho sinh viên 19
4. Tăng cường giáo dục năng lực sáng tạo và tính tự chủ 19 C. KẾT LUẬN 20 TÀI LIỆU THAM KHẢO 22 DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 23 BIÊN BẢN HỌP NHÓM 24 2 A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của kinh tế tri thức, đòi hỏi mỗi
người phải được đào tạo trình độ học vấn, năng lực, rèn luyện phẩm chất đạo
đức, ý thức lao động tốt hơn để có thể đáp ứng yêu cầu của sự biến đổi khoa
học công nghệ. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước với những mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, hiện nay, con người và
nguồn nhân lực được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát
triển nhanh, hiệu quả và bền vững nền kinh tế nước ta. Đây là yếu tố hết sức
bức thiết và cần có tính cập nhật, đáp ứng được yêu cầu về con người và nguồn
nhân lực xét trong nước ta nói riêng và quốc tế nói chung. Con người vừa là
mục tiêu vừa là động lực của phát triển kinh tế xã hội đồng thời phải là người
có tri thức và đạo đức.
Vậy nên, nhóm chúng em chọn đề tài thảo luận này với mục đích chính
là để tập trung nghiên cứu về những kiến thức cơ bản của ý thức cũng như việc
vận dụng những điều đó vào trong việc nâng cao giá trị của mỗi cá nhân sinh
viên hiện nay. Trên cơ sở phân tích nguồn gốc của ý thức tự nhiên cũng như
thực trạng giáo dục tích cực và sáng tạo của sinh viên hiện nay, bài thảo luận
của chúng em còn đề xuất một số giải pháp, quan điểm và phương pháp cơ bản
nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục cho sinh viên cả về, ý thức, đạo đức và kiến
thức. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài thuộc lĩnh vực triết học, bằng
phương pháp thu nhập dữ liệu, xử lý thông tin, phân tích dữ liệu và đưa ra kết
luận, đề tài nhóm chúng em chọn có thể áp dụng được vào thực tiễn cuộc sống
con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất.
Từ đây, mỗi người dần dần về đúng vị trí là một chủ thể sáng tạo ra các
giá trị, bao gồm giá trị tinh thần và vật chất cho bản thân và cho xã hội. Vấn đề
cốt lõi là, ta phải thực hiện chiến lược giáo dục đào tạo nguồn nhân lực, phát
triển con người một cách toàn diện cả thể lực lẫn trí lực. Nhiệm vụ của giáo
dục và đào tạo là đưa con người đạt đến những giá trị phù hợp với đặc điểm
văn hoá và những yêu cầu mới đặt ra đối với người Việt Nam để thực hiện quá
trình đổi mới cũng như xu hướng phát triển kinh tế trên thế giới.
Với ý nghĩa đó, chúng em quyết định lựa chọn đề tài “Nội dung nguồn
gốc tự nhiên của ý thức. Liên hệ vào việc xây dựng ý thức sinh viên hiện nay”
để làm đề tài thảo luận của nhóm. 3 B. PHẦN NỘI DUNG Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN GỐC TỰ NHIÊN CỦA Ý THỨC I. CÁC KHÁI NIỆM 1. Khái niệm ý thức
Ý thức: Là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ
óc con người; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
- Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh ý thức:
+ Được thể hiện ở khả năng hoạt động tâm – sinh lý của con người trong
việc định hướng tiếp nhận thông tin, chọn lọc thông tin, xử lý thông tin, lưu
giữ thông tin và trên cơ sở những thông tin đã có nó có thể tạo ra những thông
tin mới và phát hiện ý nghĩa của thông tin được tiếp nhận.
+ Được thể hiện ở quá trình con người tạo ra những giả tưởng, giả
thuyết, huyền thoại,.. trong đời sống tinh thần của mình hoặc khái quát bản
chất, quy luật khách quan, xây dựng các mô hình tư tưởng, tri thức trong các
hoạt động của con người.
Ví dụ: Khi con người sáng tác nghệ thuật, họ không chỉ bắt chước hay
mô phỏng lại thực tế, mà còn có thể tạo ra những hình ảnh, âm thanh, cảm xúc
mới, phản ánh những trải nghiệm, tưởng tượng, sáng tạo của mình: Khi một
người hoạ sĩ vẽ bức tranh phong cảnh, họ không chỉ dựa vào sự quan sát kỹ
lưỡng và sử dụng bộ não để phân tích thông tin và thực hiện bức tranh trên một
mặt giấy, mà còn có thể thể hiện cá tính, phong cách, quan niệm của mình qua
màu sắc, đường nét, ánh sáng, bóng tối, cảm hứng, cảm xúc. TRANH CỦA HỌA SĨ “ĐIÊN” - Tác giả: Đoàn Nguyên - Tuổi: 22
=> Tính năng động, sáng
tạo của ý thức được họa sĩ
Đoàn Nguyên thể hiện qua bức tranh vẽ phong cảnh thành phố. 4
- Hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nghĩa là:
+ Ý thức là hình ảnh về thế giới khách quan, hình ảnh ấy bị thế giới
khách quan quy định cả về nội dung, cả về hình thức biểu hiện nhưng nó
không còn y nguyên như thế giới khách quan mà nó đã cải biến thông qua lăng
kính chủ quan của con người.
Ví dụ: Khi con người nhìn một vật thể, họ không chỉ nhận thấy hình
dạng, màu sắc, kích thước, vị trí,… của vật thể đó, mà còn có thể nhận biết
được tính chất, công dụng, giá trị, ý nghĩa,… của vật thể đó.
Trần Bảo Khánh - Tổng giám
đốc và Đồng sáng lập Rens Original Mục tiêu của Rens:
- Thời trang cho giới trẻ toàn cầu - Bảo vệ môi trường
- Giá thành hợp lý, độc đáo.
=> Chọn làm giày "môi trường"
từ bã cà phê và vỏ chai nhựa tái chế.
- Thế giới khách quan: Bã cà phê, vỏ nhựa.
- Hình ảnh chủ quan: Giày "môi trường"
Ý thức: Là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội. Sự ra đời và
tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối không chỉ
của các quy luật sinh học mà chủ yếu là của các quy luật xã hội, do nhu cầu
giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của xã hội quy định. Với
tính năng động, ý thức đã sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội.
Theo Mác: Ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào trong
đầu óc con người và được cải biến đi trong đó”.
Ví dụ: Một người có thể thấy bức tranh đẹp, một người khác có thể thấy
bức tranh xấu, một người có thể nhận ra tác giả, phong cách, ý nghĩa của bức
tranh, một người khác có thể không biết gì về bức tranh. Như vậy, ý thức về
bức tranh là một dạng vật chất được di chuyển vào trong đầu óc con người và
được cải biến đi trong đó, theo quan điểm duy vật biện chứng. 5
II. NỘI DUNG NGUỒN GỐC CỦA Ý THỨC VÀ NGUỒN GỐC TỰ NHIÊN CỦA Ý THỨC
1. Nguồn gốc của ý thức
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm: Nguồn gốc của ý thức nằm
trong tư tưởng và ý niệm cá nhân. Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức không
phụ thuộc vào thế giới vật chất m tồn tại độc lập và độc lập với nó. Ý thức là
bản thể đầu tiên, tồn tại vĩnh viễn, là nguyên nhân sinh thành, chi phối sự tồn
tại, biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất.
Chủ nghĩa duy vật siêu hình: Không coi ý thức là một yếu tố tồn tại
độc lập mà xem nó là một hiện tượng phụ thuộc vào vật chất và quá trình
tương tác của nó. Theo quan điểm này, nguồn gốc của ý thức nằm trong hoạt
động vật chất và tương tác giữa vật chất và ý thức. Xuất phát từ thế giới hiện
thực để lý giải nguồn gốc của ý thức; coi ý thức cũng chỉ là một dạng vật chất
đặc biệt, do vật chất sản sinh ra.
=> Những quan niệm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình về
nguồn gốc của ý thức đều sai lầm, phiến diện. Được giai cấp thống trị lợi dụng.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng: Theo Lênin, nguồn gốc của ý thức
nằm trong hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất vật chất.
Ý thức được hình thành thông qua quá trình tương tác giữa con người và môi
trường xã hội, trong đó con người tiến hành hoạt động sản xuất, tạo ra các
quan hệ sản xuất và tương tác xã hội.
=> Có hai dạng nguồn gốc của ý thức: Nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
2. Nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Ý thức là hình thức phản ánh đặc trưng chỉ có ở con người và là hình
thức phản ánh cao nhất của thế giới vật chất. Ý thức là sự phản ánh thế giới
hiện thực bởi bộ óc con người.
=> Bộ óc người và mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo ra
quá trình phản ánh năng động , sáng tạo hiện thực khách quan nguồn gốc tự nhiên của ý thức. a) Bộ óc người 6
Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc
người, là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ
óc. Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệu
quả, ý thức của con người càng phong phú và sâu sắc. Điều này lý giải tại sao
quá trình tiến hóa của loài người cũng là quá trình phát triển năng lực của nhận
thức, của tư duy và tại sao đời sống tinh thần của con người bị rối loạn khi sinh
lý thần kinh của con người không bình thường do bị tổn thương bộ óc.
Ví dụ: Khi con người nhìn thấy một bông hoa, bộ óc sẽ phản ánh hình
ảnh, màu sắc, hương thơm, cấu trúc của bông hoa vào đầu óc con người, tạo ra
một hình ảnh chủ quan của bông hoa. Đây là ý thức cảm tính, là hình thức đơn
giản nhất của ý thức. Nếu con người chỉ dừng lại ở mức ý thức cảm tính, thì
con người sẽ không biết được bản chất, quy luật, nguồn gốc, công dụng của bông hoa.
Khi con người nhìn thấy bông hoa, bộ óc phản ánh: - Hình ảnh: Bông hoa
- Màu sắc: Cánh hồng, nhị vàng - Hương hoa: Thơm ...
b) Thế giới khách quan - Sự phản ánh của thế giới bên ngoài lên bộ óc người
Theo quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng: Ý thức được coi là
thuộc tính phản ánh của thế giới vật chất. Điều này có nghĩa là ý thức không
tồn tại độc lập, mà nó phản ánh hoặc biểu thị các khía cạnh, quá trình và mối
quan hệ của thế giới bên ngoài.
Ví dụ: Khi chúng ta nhìn thấy một bông hoa, chúng ta có thể cảm nhận
được màu sắc, hương thơm, hình dạng và kết cấu của nó. Những cảm nhận này
là kết quả của sự tác động của ánh sáng, sóng âm, nhiệt độ và áp suất lên các
giác quan của chúng ta. Những giác quan này lại được truyền đến não bộ, nơi
xử lý và tạo ra những hình ảnh, âm thanh, mùi vị và cảm giác về bông hoa.
Những hình ảnh, âm thanh, mùi vị và cảm giác này là những thành phần của ý
thức của chúng ta, là những phản ánh chủ quan của bông hoa khách quan.
Theo quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức của chúng ta
không phải là bản sao hoàn hảo của bông hoa, mà là một sự tái hiện mang tính 7
xấp xỉ, tương đối và phát triển. Ý thức của chúng ta có thể bị ảnh hưởng bởi
các yếu tố khác như trạng thái tâm lý, kiến thức, kinh nghiệm, văn hóa, giá trị
và mục đích của chúng ta. Ý thức của chúng ta cũng có thể được cải thiện và
hoàn thiện bằng cách sử dụng các công cụ như kính lúp, máy ảnh, máy bay
không người lái, v.v. để quan sát và khám phá bông hoa một cách chi tiết và sâu sắc hơn.
Sự hình thành của ý thức: Thông qua quá trình xử lý thông tin và
tương tác với môi trường. Trong tự nhiên, khi trải qua quá trình tiến hoá không
ngừng, con người dần xuất hiện, dẫn tới sự phát triển năng lực phản ánh của
thế giới vật chất từ thấp đến cao và cao nhất là trình độ phản ánh - ý thức.
Mọi đối tượng vật chất đều có thuộc tính chung, phổ biến là phản ánh.
Đó là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật
chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng.
Sự phản ánh phụ thuộc vào vật tác động và vật nhận tác động; đồng thời
luôn mang nội dung thông tin của vật tác động. Sau quá trình tiến hóa lâu dài
của tự nhiên, con người trở thành sản phẩm cao nhất, thì thuộc tính phản ánh
của óc người cũng hoàn mỹ nhất so với mọi đối tượng khác trong tự nhiên.
Ví dụ: Như vậy, sự tác động của thế giới bên ngoài lên bộ óc người có
thể xảy ra thông qua việc học tập, trải nghiệm cá nhân, văn hóa, giáo dục và
công nghệ. Những tác động này có thể ảnh hưởng đến suy nghĩ, quan điểm và hành vi của con người.
Truyện tranh, phim ảnh có thể tác động lên suy nghĩa, quan điểm và
hành vi của con người theo 2 hướng tích cực và tiêu cực: Bộ truyện tranh trinh thám nổi tiếng - Conan. Conan là một series manga Tích cực: và anime trinh thám nổi
- Rèn luyện tư duy logic, phản biện, sáng tạo.
tiếng của Nhật Bản, được
- Nâng cao nhận thức về pháp luật, công lý, đạo đức.
sáng tác bởi Aoyama Gōshō
- Học hỏi về văn hóa, lịch sử Nhật Bản và thế giới. 8
=> Lịch sử tiến hóa của thế
giới vật chất đồng thời là lịch
sử phát triển thuộc tính phản
ánh của vật chất. Cấu tạo vật
chất khác nhau sẽ có khả năng
phản ánh khác nhau. Do đó, hình thành các trình độ phản ánh của thế giới vật chất.
* Các trình độ phản ánh của thế giới vật chất
Các trình độ phản ánh của thế giới vật chất bao gồm: Giới tự nhiên vô
sinh và Giới tự nhiên hữu sinh
Giới tự nhiên vô sinh: Có kết cấu vật chất đơn giản, do vậy trình độ
phản ánh đặc trưng của chúng là phản ánh vật lý, hóa học.
- Phản ánh cơ lý hóa: là một hình thức phản ánh đơn giản nhất của vật
chất vô sinh, thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hóa của các đối tượng khi
có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng.
- Tính chất của phản ánh cơ lý hóa:
+ Thụ động: Phản ánh cơ lý hóa mang tính thụ động, tức là không có sự
lựa chọn, định hướng, mục đích của vật nhận tác động.
Ví dụ: khi ánh sáng chiếu vào một tấm gương, tấm gương sẽ phản xạ lại
ánh sáng mà không có sự can thiệp của ý thức. 9
+ Bị hạn chế: Phản ánh cơ lý hóa chỉ giữ lại, tái hiện lại một số đặc
điểm bên ngoài của vật tác động, chứ không phải toàn bộ bản chất của nó.
Ví dụ: khi nước đông thành băng, nó chỉ thay đổi trạng thái tức thời, chứ
không thay đổi cấu tạo phân tử.
Hồ Baikal – Hồ nước ngọt lớn nhất thế giới ở Nga vào mùa đông và mùa hè
+ Không sáng tạo: Phản ánh cơ lý hóa không có sự cải biến, sáng tạo,
mà chỉ là sự sao chép, bắt chước.
Ví dụ: Khi bạn đặt một chiếc thìa bằng kim loại vào một ly nước nóng,
thìa sẽ truyền nhiệt từ nước nóng và trở nên nóng hơn. Đây là một ví dụ về
phản ánh vật lý, khi mà nhiệt độ của thìa được phản ánh bởi nhiệt độ của nước
nóng, mà không có sự thay đổi nào khác về kết cấu hay tính chất của thìa. 10
Cho thìa vào cốc nước nóng
=> Như vậy, phản ánh cơ lý hóa là hình thức phản ánh thấp nhất, đơn giản nhất
của vật chất vô sinh, không có sự tham gia của ý thức.
Giới tự nhiên hữu sinh: Ra đời với kết cấu vật chất phức tạp hơn, do
đó thuộc tính phản ánh cũng phát triển lên một trình độ mới, gọi là phản ánh sinh học.
- Phản ánh sinh học: Là một hình thức phản ánh cao hơn so với phản
ánh vật lý và phản ánh hóa học, đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh.
- Phản ánh sinh học được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng
và tính phản xạ. Tính chất của phản ánh sinh học:
+ Tính kích thích: Là sự phản ứng của thực vật và động vật bậc thấp
bằng cách thay đổi chiều hướng sinh trưởng phát triển, thay đổi về màu sắc,
cấu trúc khi nhận được sự tác động trong môi trường sống
Ví dụ: Khi thực vật bị thiếu nước, nó sẽ co lại các lá, giảm bốc hơi, để tiết kiệm nước. 11
+ Tính cảm ứng: Là phản ứng của động vật có hệ thần kinh cao, tạo ra
năng lực, cảm giác được thực hiện trên cơ sở điều khiển của quá trình thần
kinh qua cơ chế phản xạ không điều kiện. Khi có sự tác động từ bên ngoài môi
trường lên cơ thể sống.
Ví dụ: Khi động vật ăn thức ăn, nó không chỉ thay đổi hình dạng, màu
sắc, mùi vị, mà còn thay đổi thành phần hóa học, năng lượng, chất dinh dưỡng của thức ăn. Hình ảnh ví dụ minh họa và quy trình chuyển hóa thức ăn: Bò ăn cỏ
1. Cỏ chuyển vào dạ cỏ: Làm mềm, thay đổi màu sắc và mùi vị.
+ Tính phản xạ: Xuất hiện ở động
2. Cỏ chuyển vào dạ tổ ong + Ợ lên miệng nhai kỹ lại: Thay đổi hình dạng,
vật có hệ thần kinh. Khi các sự vật từ kích thước.
môi trường tác động vào cơ thể động vật thì cơ thể sẽ phản xạ để trả lời
3. Cỏ chuyển vào dạ lá sách: Được hấp thụ nước, cứng và khô hơn. 12
4. Cỏ chuyển vào dạ múi khế: Chuyển thành chất đơn giản, thay đổi thành
phần hóa học, năng lượng và chất dinh dưỡng.
5. Cỏ chuyển vào ruột non: Hấp thụ hầu hết các chất dinh dưỡng. 6 Cỏ h ể à ột ià Thà h hâ à â ùi hôi d khối
những tác động đó. Ở cấp độ này, nhờ hệ thần kinh mà mối liên hệ giữa cơ thể
với môi trường bên ngoài được thực hiện thông qua cơ chế phản xạ không điều kiện.
Ví dụ: Hươu nai ngoài tự nhiên sẽ chạy trốn nếu thấy kẻ thù.
+ Phản ánh tâm lí: Là sự phản ánh đặc trưng cho động vật đã phát triển
đến trình độ là có hệ thần kinh trung ương, được thực hiện thông qua cơ chế
phản xạ có điều kiện đối với những tác động của môi trường sống.
Ví dụ: Khi Pavlov cho chó ăn, ông đồng thời kêu chuông. Sau một thời
gian, chó đã học được rằng chuông là dấu hiệu của thức ăn. Khi đó, chỉ cần
kêu chuông, chó sẽ tiết nước bọt, dù không có thức ăn. Chuông là kích thích
ban đầu không có liên quan đến nhu cầu sinh lý, nhưng sau đó được kết hợp
với thức ăn là kích thích có liên quan đến nhu cầu sinh lý. Tiết nước bọt là sự
phản ứng của chó đối với chuông, là phản xạ có điều kiện.
Thí nghiệm của Pavlov về phản xạ
+ Phản ánh năng động, sáng tạo (phản ánh ý thức): Là hình thức phản
ánh năng động, sáng tạo, chỉ có ở con người. Đây là sự phản ánh có tính định 13
hướng, chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra những thông tin
mới, phát hiện ý nghĩa của những thông tin đó.
Ví dụ: Tác phẩm Tây Du Kí - 1 tác phẩm hư cấu với những nhân vật hư
cấu, tình tiết hư cấu nhưng được viết dựa trên một câu chuyện có thật về một
vị sự đã trải qua quãng đường cực kỳ dài, gian truân, vất vả để lấy cuốn kinh
về truyền dạy cho người trong quốc gia. Năm thầy trò là sự sáng tạo từ 5 tính
cách có thật trong con người.
3. Một số quan điểm của các nhà triết học trước Mac về nguồn gốc ý thức
- C.Mác và Ph.Ăngghen đã giải thích rõ về quan hệ giữa những ý niệm,
quan niệm của con người với hoạt động vật chất của họ: “... những quan niệm,
tư duy, sự giao tiếp tinh thần của con người xuất hiện ra còn là sản phẩm trực
tiếp của các quan hệ vật chất của họ. Đối với sự sản xuất tinh thần, đúng như
nó biểu hiện trong ngôn ngữ của chính trị, của luật pháp, của đạo đức, của tôn
giáo, của siêu hình học, v.v.. trong một dân tộc thì cũng thế”
- Trong toàn bộ sinh hoạt hiện thực của con người, trước hết các ông nói
đến vị trí, vai trò quan trọng quyết định của sản xuất vật chất, đặc biệt là sự sản
xuất ra những tư liệu sinh hoạt. C.Mác và Ph.Ănghen viết: “Sản xuất ra những
tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời
sống vật chất của mình”
- V.I.Lênin đã nhấn mạnh: “Tồn tại xã hội và ý thức xã hội không phải
là đồng nhất, cũng như nói chung, tồn tại và ý thức không phải là đồng nhất.
Con người, khi liên hệ với nhau, đều xử sự với tư cách là những sinh vật có ý
thức, nhưng hoàn toàn không thể do đó mà kết luận rằng ý thức xã hội là đồng
nhất với tồn tại xã hội” 14
- Theo V.I.Lênin, “Trong tất cả những hình thái xã hội ít nhiều phức tạp,
và nhất là trong hình thái xã hội tư bản, con người, khi liên hệ với nhau, đều
không có ý thức về những mối quan hệ xã hội giữa họ với nhau, hoặc về những
quy luật chi phối sự phát triển của những mối quan hệ ấy, v.v.[...] Ý thức xã
hội phản ánh tồn tại xã hội, đó là học thuyết của Mác. Hình ảnh có thể phản
ánh vật thể một cách gần đúng, nhưng ở đây mà nói về sự đồng nhất thì vô lý”
và ông đi đến kết luận: “Nói chung, ý thức phản ánh tồn tại, đó là một nguyên
lý chung của toàn bộ chủ nghĩa duy vật, và không thể không nhìn thấy mối liên
hệ trực tiếp và mật thiết giữa nguyên lý ấy với nguyên lý của chủ nghĩa duy vật
lịch sử cho rằng ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội”
- Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra quan niệm
duy tâm về lịch sử (thực chất là giải thích sai lệch về mối quan hệ giữa tồn tại
xã hội và ý thức xã hội) của cả phái Hêghen trẻ và phái Hêghen già: “Phái
Hêghen trẻ cho rằng những quan niệm, ý niệm, khái niệm, nói chung những
sản phẩm của ý thức mà họ gán cho là có một sự tồn tại độc lập, đều là những
xiềng xích thật sự đối với con người, - giống như phái Hêghen già tuyên bố
rằng chúng là những sợi dây ràng buộc thực sự đối với xã hội loài người, - cho
nên dĩ nhiên phái Hêghen trẻ chỉ cần tiến hành đấu tranh chống lại những ảo
tưởng đó của ý thức mà thôi. Vì theo họ tưởng tượng, những quan hệ của con
người, tất cả mọi hành động và cử chỉ của con người... đều là sản phẩm của ý thức của họ”
- C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Phân công lao động chỉ trở thành phân
công lao động thực sự từ khi xuất hiện sự phân chia thành lao động vật chất và
lao động tinh thần. Bắt đầu từ lúc đó, ý thức có thể thực sự tưởng tượng rằng
nó là một cái gì khác chứ không phải là ý thức về thực tiễn hiện có, rằng nó có
thể thực sự đại biểu cho một cái gì đó mà không đại biểu cho một cái gì hiện
thực cả; bắt đầu từ lúc đó, ý thức có khả năng tự giải thoát khỏi thế giới và
chuyển sang xây dựng lý luận “thuần túy”, thần học, triết học, đạo đức, v.v..” 15 Chương 2:
LIÊN HỆ VÀO VIỆC XÂY DỰNG Ý THỨC SINH VIÊN HIỆN NAY
I. LIÊN HỆ VÀO VIỆC XÂY DỰNG NGUỒN Ý THỨC SINH VIÊN HIỆN NAY
1. Ý nghĩa của việc xây dựng nguồn ý thức sinh viên hiện nay.
Việc xây dựng nguồn ý thức sinh viên hiện nay là một công việc rất ý
nghĩa và quan trọng, bởi vì nó liên quan đến vai trò và trách nhiệm của sinh
viên đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đối với sự phát triển
của khoa học công nghệ và xã hội, đối với sự bảo vệ môi trường và quốc
phòng an ninh. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sinh viên cần phải rèn luyện bản
thân là người có đạo đức, trí tuệ, sức khỏe và tình cảm tốt, có tinh thần yêu
nước, đoàn kết, sáng tạo và hợp tác. Sinh viên cũng cần nắm bắt cơ hội học
tập, nghiên cứu, áp dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn, đóng góp vào sự
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng an ninh của đất nước. Sinh
viên cũng cần tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội, đoàn thể, thể thao,
văn nghệ, tình nguyện, bảo vệ môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội. Sinh
viên cũng cần có tinh thần hướng tới chủ nghĩa xã hội và nhân loại.
Nguồn ý thức sinh viên hiện nay được hình thành và phát triển dựa trên
nền tảng của ý thức lịch sử, ý thức dân tộc, ý thức đạo đức, ý thức trách nhiệm,
ý thức học tập, ý thức sáng tạo, ý thức cộng đồng và ý thức toàn cầu. Nguồn ý
thức này không chỉ giúp sinh viên có thể phản ánh đúng đắn thế giới khách
quan, mà còn giúp sinh viên có thể điều khiển được cảm xúc, sử dụng thông
tin một cách có chọn lọc và có trách nhiệm, xác định được vai trò và trách
nhiệm của mình đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đối với sự
phát triển của khoa học công nghệ và xã hội, đối với sự bảo vệ môi trường và
quốc phòng an ninh. Nguồn ý thức này còn giúp sinh viên có thể tự học, tự rèn
luyện, tự cải thiện bản thân, phấn đấu trở thành người có đạo đức, trí tuệ, sức
khỏe và tình cảm tốt, có tinh thần yêu nước, đoàn kết, sáng tạo và hợp tác.
Việc xây dựng nguồn ý thức sinh viên hiện nay có ý nghĩa rất lớn đối
với sự phát triển bền vững của đất nước, bởi vì nó góp phần tạo ra một lớp
người có năng lực, có tâm huyết, có trách nhiệm, có khát vọng, có tầm nhìn, có
tinh thần dân chủ, có tư duy phản biện, có khả năng đổi mới, có khả năng hội
nhập và có khả năng lãnh đạo. Nguồn ý thức sinh viên hiện nay cũng góp phần
bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, đồng thời
tiếp thu và sáng tạo những giá trị văn hóa mới phù hợp với thời đại. Nguồn ý
thức sinh viên hiện nay cũng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, nghiên
cứu khoa học, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Nguồn ý 16
thức sinh viên hiện nay cũng góp phần thúc đẩy sự hợp tác và giao lưu với các
nước trong khu vực và trên thế giới, đóng góp vào hòa bình, hợp tác và phát triển của nhân loại.
2. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng nguồn ý thức sinh viên.
Việc xây dựng nguồn ý thức sinh viên hiện nay là một vấn đề rất quan
trọng và cần thiết, bởi vì nó ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của sinh
viên, cũng như đến vai trò và trách nhiệm của họ đối với sự nghiệp cách mạng
của Đảng và dân tộc, đối với sự phát triển của khoa học công nghệ và xã hội,
đối với sự bảo vệ môi trường và quốc phòng an ninh. Do đó có thể liệt kê một
số yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng nguồn ý thức sinh viên như sau:
- Động cơ học tập: Đây là yếu tố quan trọng nhất, bởi vì nó thể hiện sự
mong muốn, khát khao, mục tiêu và lợi ích của sinh viên trong quá trình học
tập. Động cơ học tập có thể được phân loại thành động cơ nội tâm và động cơ
xã hội. Động cơ nội tâm là sự hứng thú, niềm vui, tự hào, tự tin, trách nhiệm,
tôn trọng, công nhận, đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh... Động cơ xã hội là sự
khen ngợi, thưởng, phê bình, trừng phạt, áp lực, cạnh tranh, hợp tác, giao lưu,
hội nhập... Động cơ học tập ảnh hưởng đến ý thức học tập của sinh viên bằng
cách tạo ra sự động lực, nỗ lực, kiên trì, chủ động, sáng tạo, tự giác, tự lực, tự
chịu trách nhiệm trong học tập.
- Công nghệ thông tin: Đây là yếu tố có vai trò ngày càng quan trọng,
bởi vì nó giúp sinh viên tiếp cận với nguồn tri thức phong phú, đa dạng, cập
nhật, chính xác, đồng thời tạo ra những kênh giao tiếp, trao đổi, hợp tác, hỗ
trợ, chia sẻ, phản biện, đánh giá, phản hồi, học tập trực tuyến, học tập suốt đời.
Công nghệ thông tin ảnh hưởng đến ý thức học tập của sinh viên bằng cách mở
rộng phạm vi nhận thức, nâng cao khả năng tư duy, phân tích, tổng hợp, áp
dụng, sáng tạo, đổi mới, thích nghi, hội nhập trong học tập.
- Niềm tin vào tri thức: Đây là yếu tố thể hiện sự tin tưởng, tôn trọng,
đánh giá cao giá trị và ý nghĩa của tri thức đối với bản thân, đối với xã hội, đối
với nhân loại. Niềm tin vào tri thức ảnh hưởng đến ý thức học tập của sinh
viên bằng cách khuyến khích sinh viên học tập không ngừng, học tập toàn
diện, học tập chuyên sâu, học tập có chất lượng, học tập có hiệu quả, học tập
có trách nhiệm, học tập có đóng góp.
- Làm việc nhóm: Đây là yếu tố thể hiện sự hợp tác, giao lưu, chia sẻ,
hỗ trợ, phối hợp, thống nhất, đoàn kết, tôn trọng, lắng nghe, thấu hiểu, thương
yêu, cảm thông giữa các thành viên trong nhóm học tập. Làm việc nhóm ảnh 17
hưởng đến ý thức học tập của sinh viên bằng cách tạo ra sự đồng điệu, đồng
cảm, đồng tâm, đồng lòng, đồng hành, đồng sức, đồng lực, đồng quyết tâm trong học tập…
3. Những khó khăn và thách thức trong việc xây dựng nguồn ý thức sinh viên.
Tuy nhiên, việc xây dựng nguồn ý thức sinh viên cũng gặp phải nhiều
khó khăn và thách thức, bao gồm:
- Khó khăn trong tâm lý: Sinh viên phải đối mặt với sự thay đổi môi
trường, sống xa gia đình, bạn bè, thích nghi với cuộc sống tự lập, tự chịu trách
nhiệm. Sinh viên có thể gặp phải nỗi nhớ nhà, cô đơn, áp lực, stress, mất tự tin,
mất phương hướng, mất động lực học tập.
- Khó khăn trong học tập: Sinh viên phải đối mặt với sự khác biệt giữa
học tập ở trung học và đại học, phải tự học, tự quản lý thời gian, tự tìm kiếm
nguồn tri thức, tự đánh giá và cải thiện bản thân. Sinh viên có thể gặp phải sự
thiếu hụt kiến thức nền, kỹ năng mềm, kỹ năng chuyên môn, kỹ năng sống.
Sinh viên cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh, so sánh, đánh giá của xã hội,
gia đình, bạn bè, giáo viên.
- Khó khăn trong công nghệ thông tin: Sinh viên phải đối mặt với sự
phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, phải tiếp cận, sử dụng, ứng
dụng các công cụ, nền tảng, phần mềm, ứng dụng kỹ thuật số vào học tập và
đời sống. Sinh viên có thể gặp phải sự thiếu truy cập, thiếu kỹ năng, thiếu kiến
thức, thiếu an toàn, thiếu bảo mật, thiếu trách nhiệm trong việc sử dụng công nghệ thông tin.
- Khó khăn trong làm việc nhóm: Sinh viên phải đối mặt với sự đa
dạng, phức tạp, thay đổi của các nhóm học tập, hoạt động, dự án, đề tài. Sinh
viên phải hợp tác, giao lưu, chia sẻ, hỗ trợ, phối hợp, thống nhất, tôn trọng,
lắng nghe, thấu hiểu, thương yêu, cảm thông với các thành viên trong nhóm.
Sinh viên có thể gặp phải sự xung đột, bất đồng, thiếu giao tiếp, thiếu tương
tác, thiếu sáng tạo, thiếu hiệu quả trong làm việc nhóm…
II. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN
CHẾ VÀ TIẾP TỤC XÂY DỰNG NGUỒN Ý THỨC CHO SINH VIÊN HIỆN NAY 18
Cách xây dựng nguồn ý thức sinh viên hiện nay là một vấn đề rất quan
trọng và cần thiết, bởi vì nó ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của sinh
viên, cũng như đến vai trò và trách nhiệm của họ đối với sự nghiệp cách mạng
của Đảng và dân tộc, đối với sự phát triển của khoa học công nghệ và xã hội,
đối với sự bảo vệ môi trường và quốc phòng an ninh. Để xây dựng nguồn ý
thức sinh viên hiện nay, có thể áp dụng một số giải pháp sau đây:
1. Tăng cường giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên: Bằng cách đổi mới
nội dung, phương pháp và hình thức giảng dạy, lồng ghép nội dung giáo dục ý
thức chính trị vào các môn học khác, tăng cường tổ chức các hoạt động ngoại
khóa, thực tế, trải nghiệm, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với những tư
liệu, tác phẩm, nhân vật có giá trị chính trị, lịch sử, văn hóa.
2. Tăng cường giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên: Bằng cách
nâng cao chất lượng tự học, tự rèn luyện của sinh viên, xây dựng động cơ, thái
độ, trách nhiệm, ý thức tự giác học tập, rèn luyện, khắc phục khó khăn, đoàn
kết giúp đỡ lẫn nhau, bồi dưỡng phương pháp, kinh nghiệm học tập, luyện tập
và thường xuyên rút kinh nghiệm về phương pháp tự học, đánh giá tinh thần,
thái độ, trách nhiệm học tập của sinh viên một cách khách quan.
3. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm xã hội cho sinh
viên: Bằng cách tạo điều kiện cho sinh viên tham gia các hoạt động xã hội,
đoàn thể, thể thao, văn nghệ, tình nguyện, bảo vệ môi trường, phòng chống tệ
nạn xã hội, giao lưu học tập, trao đổi với các sinh viên trong và ngoài nước,
tham gia các cuộc thi, sáng kiến, dự án có ý nghĩa cho cộng đồng và đất nước.
4. Tăng cường giáo dục năng lực sáng tạo và tính tự chủ: Năng lực học tập
suốt đời, khả năng thích nghi với sự thay đổi của hoàn cảnh và những thách
thức của công việc cho sinh viên, bằng cách khuyến khích sinh viên tham gia
các hoạt động nghiên cứu khoa học, áp dụng khoa học công nghệ vào thực
tiễn, tham gia các câu lạc bộ, hội nhóm, tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp
khởi nghiệp, tạo môi trường học tập sáng tạo, năng động, thân thiện, hỗ trợ
sinh viên phát triển các kỹ năng mềm, kỹ năng chuyên môn, kỹ năng sống… 19 C. KẾT LUẬN
Từ việc nghiên cứu về nguồn gốc tự nhiên, vai trò của ý thức, ta đã có
cái nhìn trực quan và rõ ràng hơn về phạm trù triết học này cũng như việc vận
dụng, liên hệ xây dựng ý thức của sinh viên hiện nay.
Nguồn gốc tự nhiên của ý thức được tạo bởi các yếu tố tự nhiên từ ý
thức chính là bộ óc và sự hoạt động cùng các mối quan hệ thế giới khách quan
và con người. Trong đó thì thế giới khách quan có sự tác động tới bộ óc của
con người tạo ra khả năng về sự hình thành ý thức từ con người đối với thế
giới khách quan. Để nhận thức sâu sắc về ý thức, chúng ta cần xem xét nắm
vững tổ chức kết cấu của nó, tiếp cận từ các góc độ khác nhau sẽ đem lại
những tri thức nhiều mặt về cấu trúc hoặc cấp độ của ý thức. Khi xem xét ý
thức theo chiều sâu của thế giới nội tâm con người, chúng ta nhận thức được
các yếu tố: tự ý thức, tiềm thức, vô thức… Tất cả những yếu tố đó cùng với
những yếu tố khác hợp thành ý thức, quy định tính phong phú, nhiều vẻ của
đời sống tinh thần con người. Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất chỉ có ở
óc người về hiện thực khách quan trên cơ sở thực tiễn xã hội - lịch sử. Sự hoàn
thiện trong cấu trúc vật chất của bộ óc người và hoạt động thực tiễn xã hội
phong phú đã tạo ra những tiền đề vật chất đầy đủ cho đặc tính phản ánh thức
người phát triển, ngày càng xâm nhập vào tầng sâu của thế giới hiện thực, gắn
nhận thức với cải tạo thế giới. Thực tiễn xã hội là động lực trực tiếp to lớn thúc
đẩy thức hình thành và phát triển, đáp ứng nhu cầu của xã hội ngày càng
phong phú, đa dạng. Ý thức nhân đôi thế giới trong tinh thần, nhờ đó con
người sáng tạo ra “giới tự nhiên thứ hai" in đậm dấu ấn của con người. Con
người ngày càng sáng tạo ra các thế hệ “người máy thông minh cao cấp hơn
giúp cho con người khắc phục được nhiều mặt hạn chế của mình.
Con người là một thực thể tự nhiên - xã hội có ý thức, chủ thể sáng tạo
ra mọi giá trị vật chất và tinh thần, quyết định sự tồn tại và phát triển của xã
hội. Khẳng định vai trò to lớn của ý thức trong đời sống hiện thực của con
người về thực chất là khẳng định vai trò của con người - chủ thể mang ý thức
đó. Cần có thái độ đúng đối với con người, quan tâm, chăm lo phát triển con
người toàn diện cả về thể chất và tinh thần. Đặc biệt quan tâm bồi dưỡng thế
hệ trẻ có kiến thức - thế hệ sinh viên hiện nay nắm vững khoa học - công nghệ
hiện đại, có tình cảm cách mạng trong sáng, ý chí vươn lên xây dựng đất nước giàu mạnh.
Qua việc nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, sinh viên từng
bước xây dựng hình thành thế giới quan khoa học, có phương pháp phù hợp,
phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò của nhân tố
con người, chống tư tưởng, thái độ thụ động, ỷ lại, ngồi chờ, bảo thủ, trì trệ,
thiếu tính sáng tạo; phải coi trọng vai trò của ý thức, coi trọng công tác tư
tưởng và giáo dục tư tưởng, coi trọng giáo dục lý luận của chủ nghĩa Mác - 20