Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN Đề tài:
NỘI DUNG NGUYÊN LÍ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ
BIẾN. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT Ở
CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY. Nhóm: 6
Lớp học phần: 2087MLNP0221
Giáo viên hướng dẫn: Phạm Thị Hương Hà Nam, tháng 11 năm 2020 KẾT CẤU ĐỀ TÀI A. Lời mở đầu B. Nội dung
CHƯƠNG I: NGUYÊN LÍ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN.
I. Khái niệm về mối liên hệ phổ biến. 1. Liên hệ. 2. Mối liên hệ.
3. Mối liên hệ phổ biến.
II. Các tính chất của mối liên hệ. 1. Tính khách quan. 2. Tính phổ biến.
3. Tính đa dạng, phong phú.
III. Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lí về mối liên hệ phổ biến.
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN
DIỆN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN
XUẤT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY.
I. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay. 1. Những thuận lợi.
2. Hạn chế trong quá trình sản xuất của các doanh nghiệp hiện nay.
3. Nguyên nhân của những hạn chế.
II. Phương hướng và giải pháp phát triển doanh
nghiệp trong thời gian tới. 1. Phương hướng. 2. Giải pháp. LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong một mạng lưới sự sống rộng lớn.
Giống như một mạng nhện, càng có nhiều mối liên hệ thì mạng
lưới càng bền vững. Như chúng ta đã biết tất cả các doanh
nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động trong nền
kinh tế thị trường dù là hình thức sở hữu nào (Doanh nghiệp
Nhà Nước, Doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, công ty cổ phần,
công ty trách nhiệm hữu hạn,...) thì đều có các mục tiêu hoạt
động sản xuất khác nhau, nhưng nhìn chung mọi doanh nghiệp
trong cơ chế thị trường đều nhằm mục tiêu lâu dài, mục tiêu
bao trùm đó là làm sao tối đa hóa lợi nhuận. Để đạt được các
mục tiêu đó thì các doanh nghiệp phải xây dựng được cho mình
một chiến lược kinh doanh đúng đắn để phát triển sản xuất. Do
đó để nhận định, đánh giá đúng tình hình phát triển sản xuất tại
các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay thì phải vận dụng quan
điểm toàn diện về mối liên hệ phổ biến. Vì đây chính là nguyên
tắc phương pháp luận chỉ đạo mọi ý thức và hành động, nhóm 6
chúng em đã chọn đề tài này. B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NỘI DUNG NGUYÊN LÍ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN.
I. Khái niệm về mối liên hệ phổ biến. 1. Liên hệ.
- Liên hệ là quan hệ giữa hai đối tượng nếu sự thay đổi
của một trong số chúng nhất định làm đối tượng kia thay đổi.
- Liên hệ đối lập hoàn toàn với cô lập 2. Mối liên hệ.
- Mối liên hệ là khái niệm dùng để chỉ sự quy định, sự
tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng
hoặc giữa các mặt, yếu tố trong cùng một sự vật, hiện tượng trong thế giới
- Ví dụ về mối liên hệ: giữa cung và cầu (hàng hoá,
dịch vụ) trên thị trường luôn luôn diễn ra quá trình: cung và
cầu quy định lẫn nhau; Cung và cầu tác động, ảnh hưởng
lẫn nhau, chuyển hoá lẫn nhau, từ đó tạo nên quá trình vận
động, phát triển không ngừng của cả cung và cầu. Đó chính
là những nội dung cơ bản khi phân tích về mối quan hệ biện chứng giữa cung và cầu.
3. Mối liên hệ phổ biến.
- Theo quan điểm siêu hình, các sự vật hiện tượng tồn
tại một cách tách rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, giữa
chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc lẫn
nhau, những mối liên hệ có chăng chỉ là những liên hệ hời
hợt, bề ngoài mang tính ngẫu nhiên. Một số người theo
quan điểm siêu hình cũng thừa nhận sự liên hệ và tính đa
dạng của nó nhưng lại phủ nhận khả năng chuyển hóa lẫn
nhau giữa các hình thức liên hệ khác nhau.
“Quan điểm siêu hình chỉ thấy những sự vật cá biệt mà
không thấy mối liên hệ giữa những sự vật ấy, chỉ thấy sự
tồn tại của sự vật mà không thấy sự hình hành và tiêu
vong của sự vật, chỉ thấy trạng thái tĩnh của sự vật và
không thấy trạng thái động của sự vật, chỉ thấy cây mà không thấy rừng” _Ăng Ghen_
- Ngược lại, quan điểm biện chứng lại cho rằng thế giới
tồn tại như một chỉnh thể thống nhất của các sự vật hiện
tượng và các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệt
nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau.
- Nếu cắt nghĩa từng chữ, theo từ điển tiếng Việt, thì
“mối” là “đoạn đầu của sợi dây, sợi chỉ dùng để buộc thắt
lại với nhau; Chỗ nối, chỗ thắt, chỗ từ đó có thể quan hệ với
một tổ chức, cơ sở liên lạc”. Còn “liên hệ” là chỉ sự vật, sự
việc có quan hệ làm cho ít nhiều tác động đến nhau, dựa
trên những mối quan hệ nhất định. Như vậy, mối liên hệ có
thể được hiểu theo cách là sự quan hệ qua lại và tác động
lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự
nhiên, xã hội và tư duy theo một cách thức, con đường của nó.
- Tóm lại, theo chủ nghĩa duy vật biện chứng thì mối
liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác
động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, của
một hiện tượng trong thế giới. Theo quan điểm này, các sự
vật hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng, khác nhau như
thế nào đi chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn
tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất.
Ngay cả ý thức, tư tưởng của con người vốn là những cái
phi vật chất cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có
tổ chức cao nhất là bộ óc con người, nội dung của chúng
cũng chỉ là kết quả phản ánh các quy trình vật chất khách quan.
- Ví dụ: Mối liên hệ giữa cung và cầu là mối liên hệ
phổ biến, tức cũng là mối liên hệ chung, nhưng mối liên hệ
đó được thể hiện cụ thể khác nhau, có tính chất đặc thù tuỳ
theo từng loại thị trường hàng hoá, tuỳ theo thời điểm thực
hiện... Khi nghiên cứu cụ thể từng loại thị trường hàng hoá,
không thể không nghiên cứu những tính chất riêng có (đặc
thù) đó. Nhưng dù khác nhau bao nhiêu thì chúng vẫn tuân
theo những nguyên tắc chung của mối quan hệ cung cầu.
II. Các tính chất của mối liên hệ. - Tính khách quan, tính
phổ biến và tính đa dạng,
phong phú là những tính chất cơ bản của các mối liên hệ.
1. Tính khách quan của mối liên hệ.
- Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ
của các sự vật, hiện tượng của thế giới đều có tính khách
quan. Theo quan điểm đó, sự quy định, tác động và làm
chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong
bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không
phụ thuộc vào ý chí của con người; Con người chỉ có thể
nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình.
- Ví dụ: Mối liên hệ phố biến tác động qua lại trong:
+ Giới tự nhiên vô cơ: nước chảy đá mòn, gió thổi mây bay,…
+ Trong tư duy: giữa hệ tư tưởng của giai cấp này với hệ
tư tưởng của giai cấp kia có mối liên hệ tác động, thâm nhập
vào các hình thái ý thức xã hội như giữa chính trị và đạo đức,…
2. Tính phổ biến của mối liên hệ.
- Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật,
hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với
các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác. Đồng thời, cũng
không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một
cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với
những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn
tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn
tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau.
- Ví dụ: mưa đều có liên hệ đến gió mùa và gió mùa
đều có liên hệ đến những dòng hải lưu
3. Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ.
- Quan điểm biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin
không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của
các mối liên hệ mà còn nhấn mạnh tính phong phú, đa
dạng của các mối liên hệ. Tính đa dạng, phong phú của
các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: các sự vật, hiện
tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ
cụ thể khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự
tồn tại và phát triển của nó; Mặt khác, cùng một mối liên
hệ nhất định của sự vật, hiện tượng nhưng trong những
điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau
trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện
tượng thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau.
Như vậy, không thể đồng nhất tính chất và vị trí, vai trò
cụ thể của các mối liên hệ khác nhau đối với mỗi sự vật,
hiện tượng nhất định, trong những điều kiện xác định.
Đó là các mối liên hệ bên trong và bên ngoài, mối liên hệ
bản chất và hiện tượng, mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu,
mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp,… của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới.
- Quan điểm về tính phong phú, đa dạng của các
mối liên hệ còn bao hàm quan niệm về sự thể hiện phong
phú, đa dạng của các mối liên hệ phổ biến ở các mối liên
hệ đặc thù trong mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi quá
trình cụ thể, trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể.
III. Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lí về mối liên hệ phổ biến.
- Từ tính khách quan và phổ biển của các mối liên
hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
cần phải có quan điểm toàn diện.
- Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử
lý các tình huống thực tiễn cần phải xem xét sự vật, hiện
tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ
phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật,
hiện tượng và trong sự tác động qua lại giữa sự vật, hiện
tượng đó với các sự vật, hiện tượng khác. Chỉ trên cơ sở
đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng và
xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn. Như
vậy, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến
diện, siêu hình trong nhận thức và thực tiễn.
V.I.Lênin đã cho rằng: "Muốn thực sự hiểu được sự
vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các
mặt, tất cả các mối liên hệ và "quan hệ gián tiếp" của sự vật đó"
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY.
I. Hoạt động sản xuất kinh doanh và các yếu tố
trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 1. Những thuận lợi.
- Như ta đã biết bản chất của hiệu quả sản xuất kinh
doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm
lao động xã hội. Đây là hai mặt có quan hệ mật thiết của
vấn đề hiệu quả kinh tế. Việc khan hiếm các nguồn lực
và sử dụng các nguồn lực có tính cạnh tranh nhằm thoả
mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội đã đặt ra yêu cầu
là phải khai thác, tận dụng một cách triệt để các nguồn
lực. Để đạt được mục tiêu kinh doanh các doanh nghiệp
phải hết sức chú trọng và phát huy tối đa năng lực của
các yếu tố sản xuất, tiết kiệm mọi chi phí.
- Và trong quá trình sản xuất, các doanh nghiệp có
được những nhân tố quan trọng: a. Các nhân tố vi mô. * Lực lượng lao động.
- Đi cùng với sự thay đổi của phương thức sản xuất
thì khoa học kỹ thuật công nghệ đã trở thành lực lượng
lao động trực tiếp. Áp dụng kỹ thuật tiên tiến là điều
kiện tiên quyết để tăng hiệu quả sản xuất của các doanh
nghiệp. Tuy nhiên dù máy móc hiện đại đến đâu cũng
đều do con người tạo ra. Nếu không có lao động sáng tạo
của con người thì không thể có các máy móc thiết bị đó.
Mặt khác máy móc thiết bị dù có hiện đại đến mấy cũng
phải phù hợp với trình độ tổ chức, trình độ kỹ thuật, trình
độ sử dụng máy móc của người lao động. Thực tế cho
thấy nhiều doanh nghiệp do trình độ của người lao động
thích nghi với máy móc hiện đaị đòi hỏi phải trải qua
quá trình đào tạo trong thời gian dài và tốn kém do đó
năng suất không cao dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh có thể dẫn đến thua lỗ.
- Trong sản xuất kinh doanh lực lượng lao động của
doanh nghiệp có thể sáng tạo ra công nghệ, kỹ thuật và
đưa chúng vào sử dụng tạo ra tiềm năng lớn cho việc
nâng cao hiệu quả kinh doanh. Cũng chính lực lượng lao
động sáng tạo ra sản phẩm mới và kiểu dáng phù hợp với
yêu cầu của ngươì tiêu dùng làm cho sản phẩm (dịch vụ)
của doanh nghiệp có thể bán được tạo ra cơ sở để nâng
cao hiệu quả kinh doanh. Lực lượng lao động tác động
trực tiếp đến năng suất lao động, đến trình độ sử dụng các nguồn lực khác (máy móc thiết bị, nguyên vật
liệu, ...) nên tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
- Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế tri thức. Hàm lượng khoa học
kết tinh trong sản phẩm (dịch vụ) rất cao đã đòi hỏi lực
lượng lao động phải là đội ngũ được trang bị tốt các kiến
thức khoa học kỹ thuật. Điều này càng khẳng định vai
trò ngày càng quan trọng của lực lượng lao động đối với
việc nâng cao kinh doanh của doanh nghiệp
- Ví dụ: Qua khảo sát, ước tính bình quân năm 2020
so với bình quân năm 2019 lao động giảm 2,2%. Phân
theo quy mô lao động: doanh nghiệp nhỏ là đối tượng có
lực lượng lao động giảm nhiều nhất (-11,37%), tiếp đến
là nhóm doanh nghiệp vừa (-10,33%), doanh nghiệp siêu
nhỏ (-7,92%), riêng nhóm doanh nghiệp lớn lao động
tăng 0,79%. Phân theo nhóm ngành cấp 1: trong 18
ngành có doanh nghiệp tham gia khảo sát có 5 ngành có
mức giảm >10%, trong đó dịch vụ lưu trú và ăn uống là
ngành giảm sâu nhất với mức giảm là 40,76%, 12 nhóm
có mức giảm <10%, riêng ngành công nghiệp chế biến
chế tạo tăng 1,16% (số doanh nghiệp trong ngành này
chiếm 17,26% số doanh nghiệp tham gia khảo sát).
* Nguyên vật liệu và công tác bảo đảm nguyên vật liệu.
- Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng
không thể thiếu được đối với các doanh
nghiệp sản xuất. Số lượng, chủng loại, chất lượng, giá cả
và tính đồng bộ của việc cung ứng nguyên vật liệu ảnh
hưởng tới sử dụng hiệu quả nguyên vật liệu. Cụ thể nếu
việc cung ứng nguyên vật liệu diễn ra suôn sẻ thích hợp
thì sẽ không làm ảnh hưởng đến giai đoạn quá trình sản
xuất do đó sẽ nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp. Chi phí sử dụng nguyên vật liệu của các doanh
nghiệp sản xuất thường chiếm tỷ lệ lớn trong chi phí
kinh doanh và giá thành đơn vị sản phẩm cho nên việc
sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu có ý nghĩa rất lớn đối
với việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, sử dụng tiết kiệm được lượng nguyên vật
liệu giúp doanh nghiệp có thể hạ giá thành nâng cao khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
* Lao động - tiền lương.
- Như ở trên đã đề cập lao động là một trong những
yếu tố đầu vào quan trọng, nó tham gia vào mọi hoạt
động, mọi giai đoạn, mọi quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Công tác tổ chức phân công hiệp tác
lao động hợp lý giữa các bộ phận sản xuất, giữa các cá
nhân trong doanh nghiệp sử dụng đúng người, đúng việc
sao cho phát huy tốt nhất năng lực sở trường của người
lao động là một yêu cầu không thể thiếu trong công tác
tổ chức lao động của doanh nghiệp nhằm làm cho các
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả cao.
Nếu ta coi chất lượng lao động là điều kiện cần để tiến
hành sản xuất kinh doanh thì công tác tổ chức lao động
hợp lý là điều kiện đủ để doanh nghiệp tiến hành sản
xuất kinh doanh có hiệu quả cao.
- Một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết
định đến chất lượng lao động là tiền lương. Mức tiền
lương cao sẽ thu hút được nguồn nhân lực có trình độ
cao do đó ảnh hưởng tới mức lợi nhuận sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp vì tiền lương là một yếu tố cấu
thành nên chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
tác động tới tâm lý người lao động trong doanh nghiệp.
Tiền lương cao sẽ làm cho chi phí sản xuất kinh doanh
tăng sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh nhưng lại tác động
tới trách nhiệm của người lao động cao hơn do đó sẽ làm
tăng năng suất và chất lượng sản phẩm nên làm tăng hiệu quả kinh doanh.
- Ví dụ: Để khuyến khích nhân viên làm việc, doanh
nghiệp sẽ trích ra một phần hoa hồng để thưởng cho họ.
Chẳng hạn như một sản phẩm bán ra nhân viên bán hàng
sẽ được hưởng 5% giá trị thanh toán, giả sử giá trị hóa
đơn là 600.000 thì như vậy nhân viên này được nhận hoa
hồng cho sản phẩm là 600.000 x 5% = 30.000.
* Cơ sở vật chất kĩ thuật và công nghệ sản xuất.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố vật chất hữu hình
quan trọng phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp tiến hành các
hoạt động kinh doanh. Cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò
quan trọng thúc đẩy các hoạt động kinh doanh. Cơ sở vật
chất kỹ thuật của doanh nghiệp càng được bố trí hợp lý
bao nhiêu càng góp phần đem lại hiệu quả kinh doanh cao bấy nhiêu.
- Trình độ kỹ thuật và trình độ công nghệ sản xuất
của doanh nghiệp ảnh hưởng tới năng suất chất lượng
sản phẩm, ảnh hưởng tới mức độ tiết kiệm hay lãng phí
nguyên vật liệu. Trình độ kĩ thuật và công nghệ hiện đại
góp phần làm giảm chi phí sản xuất ra một đơn vị sản
phẩm do đó làm hạ giá thành sản phẩm giúp doanh
nghiệp có thể chiếm lĩnh thị trường, đáp ứng được nhu
cầu của khách hàng về chất lượng và giá thành sản
phẩm. Vì vậy nếu doanh nghiệp có trình độ kĩ thuật sản
xuất cao có công nghệ tiên tiến và hiện đại sẽ đảm bảo
cho doanh nghiệp tiết kiệm được lượng nguyên vật liệu
nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Còn nếu
như trình độ kĩ thuật sản xuất của doanh nghiệp thấp
kém hay công nghệ sản xuất lạc hậu hay thiếu đồng bộ
sẽ làm cho năng suất chất lượng sản phẩm của doanh
nghiệp thấp làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. * Khả năng tài chính.
- Khả năng về tài chính là vấn đề quan trọng hàng
đầu giúp cho doanh nghiệp có thể tồn tại trong nền kinh
tế. Doanh nghiệp có khả năng tài chính mạnh thì không
những đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp diễn ra liên tục ổn định mà còn giúp
cho doanh nghiệp có khả năng đầu tư trang thiết bị, công
nghệ sản xuất hiện đại hơn, có thể áp dụng kĩ thuật tiên
tiến vào sản xuất nhằm làm giảm chi phí, nâng cao năng
suất và chất lượng sản phẩm giúp cho doanh nghiệp có
thể đưa ra những chiến lược phát triển doanh nghiệp phù
hợp với doanh nghiệp. Khả năng tài chính của doanh
nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của doanh nghiệp
tới khả năng chủ động trong sản xuất kinh doanh, khả
năng tiêu thụ và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
ảnh hưởng tới mục tiêu tối thiểu hoá chi phí bằng cách
chủ động khai thác sử dụng tối ưu các nguồn lực đầu
vào. Do đó tình hình tài chính của doanh nghiệp có tác động
rất mạnh tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Khả năng tài chính là các nhân tố mà doanh nghiệp
không thể kiểm soát được vì nó tác động liên tục đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo những xu
hướng khác nhau, vừa tạo ra cơ hội vừa hạn chế khả
năng thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Hoạt động
kinh doanh đòi hỏi phải thường xuyên nắm bắt được các
nhân tố này, xu hướng hoạt động và sự tác động của các
nhân tố đó lên toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Các nhân tố vĩ mô bao gồm các yếu tố chính trị,
luật pháp, văn hoá, xã hội, công nghệ, kỹ thuật, kinh tế,
điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng và quan hệ kinh tế, đây
là những yếu tố mà doanh nghiệp không thể kiểm soát
được đồng thời nó có tác động chung đến tất cả các
doanh nghiệp trên thị trường. Nghiên cứu những yếu tố
này doanh nghiệp không nhằm để điều khiển nó theo ý
kiến của mình mà tạo ra khả năng thích ứng một cách tốt
nhất với xu hướng vận động của mình.
- Ví dụ: So với năng lực tài chính ngành Bưu chính
viễn thông, các chỉ số tài chính của POSTEF duy trì ở
mức trên trung bình, riêng tỉ số lợi nhuận trên doanh thu
(ROS) ở mức khá thấp. Trước năm 2016, Công ty tập
trung vào mảng kinh doanh thiết bị nên tỉ trọng tài sản
ngắn hạn cao hơn so với trung bình ngành. Năm 2018,
Công ty phát triển thêm lĩnh vực năng lượng sạch và
năng lượng tái tạo, tỉ trọng này thay đổi một cách đột
biến. Tài sản dài hạn đã chiếm đến hơn 50% trong tổng
tài sản. Tuy tổng nợ của Công ty có tỉ trọng khá cao
(chiếm trên 80%), nhưng khả năng thanh toán đảm bảo
thanh khoản tốt (cao hơn so với trung bình ngành). Đối
với POSTEF, nguồn vốn của Công ty vẫn giữ được mức
tăng trưởng ổn định trong các năm từ 2016 - 2018. b. Các yếu tố vĩ mô.
- Yếu tố chính trị và luật pháp:
Các yếu tố thuộc môi trường chính trị và luật pháp
tác động mạnh đến việc hình thành và khai thác cơ hội
kinh doanh và thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Ổn
định chính trị là tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh
doanh, thay đổi về chính trị có thể gây ảnh hưởng có lợi
cho nhóm doanh nghiệp này hoặc kìm hãm sự phát triển
của doanh nghiệp khác. Hệ thống pháp luật hoàn thiện
và sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật sẽ tạo môi trường cạnh
tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp,
tránh tình trạng gian lận, buôn lậu,...
Mức độ ổn định về chính trị và luật pháp của một
quốc gia cho phép doanh nghiệp có thể đánh giá được
mức độ rủi ro, của môi trường kinh doanh và ảnh hưởng
của nó đến doanh nghiệp như thế nào. Vì vậy nghiên cứu
các yếu tố chính trị và luật pháp là yêu cầu không thể
thiếu được khi doanh nghiệp tham gia vào thị trường.
- Yếu tố kinh tế: Có thể tạo ra điều kiện thuận lợi
cho việc xâm nhập mở rộng thị trường, ngành hàng này
nhưng lại hạn chế sự phát triển của ngành hàng khác.
Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến sức mua, sự thay đổi
nhu cầu tiêu dùng hay xu hướng phát triển của các ngành
hàng, các yếu tố kinh tế bao gồm:
+ Hoạt động ngoại thương: Xu hướng đóng mở của nền
kinh tế có ảnh hưởng các cơ hội phát triển của doanh
nghiệp, các điều kiện cạnh tranh, khả năng sử dụng ưu
thế quốc gia về công nghệ, nguồn vốn.
Trong những năm qua, việc giảm gánh nặng thuế và
đa dạng hóa các hình thức ưu đãi thuế đã góp phần tạo ra
môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút vốn FDI. Nhờ đó,
dòng vốn FDI vào Việt Nam liên tục tăng qua các năm.
Đến hết năm 2018, Việt Nam đã thu hút được 29792 dự
án với tổng số vốn đăng ký lũy kế khoảng 400 tỷ USD.
Riêng năm 2018, vốn FDI ước thực hiện đạt 19,1 tỷ
USD, tăng 9,1% so với năm 2017.
Trong ba thập kỷ qua, khu vực FDI đóng vai trò
ngày càng quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Năm
2018, khu vực FDI chiếm 23,4% tổng vốn đầu tư của cả
nước. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2018 ước tính
đạt 244,7 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm 2017, trong
đó, khu vực FDI (kể cả dầu thô) đạt 175,5 tỷ USD, tăng 12,9% so với 2017.
+ Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát ảnh hưởng
đến thu nhập, tích luỹ, tiêu dùng, kích thích hoặc kìm hãm đầu tư,...
+ Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế ảnh hưởng dến vị trí vai
trò và xu hướng phát triển của các ngành kinh tế kéo
theo sự thay đổi chiều hướng phát triển của doanh nghiệp.
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Thể hiện xu hướng phát
triển chung của nền kinh tế liên quan đến khả năng mở
rộng hay thu hẹp quy mô kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
- Ví dụ: Đến năm 2016, Nghị quyết số 35/NQ-CP
ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển
doanh nghiệp đến năm 2020 đã khẳng định 10 nguyên tắc và
5 nhóm giải pháp cần thực hiện; Lấy doanh
nghiệp là đối tượng phục vụ, tạo mọi điều kiện thuận lợi
để người dân và doanh nghiệp khởi nghiệp, tự do kinh
doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.
Để tăng cường các giải pháp bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của doanh nghiệp, ngày 17/5/2017, Thủ tướng
Chính phủ ban hành Chỉ thị số 20/CT-TTg về việc chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với doanh
nghiệp, trong đó yêu cầu: Khi xây dựng, phê duyệt kế
hoạch thanh tra hàng năm không để xảy ra tình trạng
thanh tra, kiểm tra quá 01 lần/năm đối với doanh nghiệp;
Trường hợp kế hoạch thanh tra trùng lặp, chồng chéo với
hoạt động kiểm toán nhà nước thì chủ động phối hợp,
trao đổi với Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ
để thống nhất phương án xử lý theo quy định hiện hành,
đảm bảo sự kế thừa kết quả thanh tra, kiểm toán, không
làm cản trở hoạt động bình thường của doanh nghiệp,
cần tiến hành rà soát, điều chỉnh kế hoạch thanh tra đã
được phê duyệt theo tinh thần trên.
- Các yếu tố văn hoá xã hội: Có ảnh hưởng lớn tới
khách hàng cũng như hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, là yếu tố hình thành tâm lí, thị hiếu của người
tiêu dùng. Thông qua yếu tố này cho phép các doanh
nghiệp hiểu biết ở mức độ khác nhau về đối tượng phục
vụ qua đó lựa chọn các phương thức kinh doanh cho phù hợp.
Thu nhập có ảnh hưởng đến sự lựa chọn loại sản
phẩm và chất lượng đáp ứng, nghề nghiệp tầng lớp xã
hội tác động đến quan điểm và cách thức ứng xử trên thị
trường, các yếu tố về dân tộc, nền văn hoá phản ánh
quan điểm và cách thức sử dụng sản phẩm, điều đó vừa
yêu cầu đáp ứng tình riêng biệt vừa tạo cơ hội đa dạng
hoá khả năng đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp.
- Yếu tố kỹ thuật công nghệ: Ảnh hưởng đến yêu cầu
đổi mới công nghệ trong thiết bị, khả năng sản xuất sản
phẩm với chất lượng khác nhau, năng suất lao động và
khả năng cạnh tranh, lựa chọn và cung cấp công nghệ.
- Ví dụ: Ngày nay, AI có mặt trong hầu hết các lĩnh
vực kinh doanh, từ chatbot đến các dịch vụ sao chép hợp
pháp dựa trên AI, cho đến các ứng dụng thực tế trong các
ngành công nghiệp, như chăm sóc sức khỏe, sản xuất,
giáo dục... AI được cho là công nghệ được áp dụng
nhanh nhất vì khả năng học máy, học sâu và nhận diện tự
nhiên đều có thể được sử dụng bởi tất cả các doanh
nghiệp lớn nhỏ. Do tiềm năng dường như vô hạn, xu
hướng AI sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến kinh doanh và thúc
đẩy sự đổi mới thông qua các ngành công nghiệp trong nhiều năm tới.
Công nghệ thực tế (AR) và thực tế ảo (VR) đã có
mặt trong trải nghiệm người dùng, chẳng hạn như ngành
bán lẻ và bất động sản. Tuy nhiên, những công nghệ này
cũng đã tìm thấy tính ứng dụng thực tế trong các lĩnh
vực khác như sản xuất, chăm sóc sức khỏe, y học, và
thương mại. Trong tương lai chắc chắn các xu hướng
công nghệ này sẽ còn ảnh hưởng đến nhiều ngành công
nghiệp và các doanh nghiệp.
- Điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng: Các yếu tố
điều kiện tự nhiên như khí hậu, thời tiết ảnh hưởng đến
chu kỳ sản xuất kinh doanh trong khu vực, hoặc ảnh
hưởng đến hoạt động dự trữ, bảo quản hàng hoá. Đối với
cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các điều kiện phục vụ cho sản
xuất kinh doanh một mặt tạo ra cơ sở cho kinh doanh
thuận lợi khi khai thác cơ sở hạ tầng sẵn có của nền kinh
tế, mặt khác nó cũng có thể gây hạn chế khả năng đầu tư,
phát triển kinh doanh đặc biệt với doanh nghiệp thương
mại trong quá trình vận chuyển, bảo quản, phân phối,…
- Yếu tố khách hàng: Khách hàng là những người có
nhu cầu và khả năng thanh toán về hàng hoá và dịch vụ
mà doanh nghiệp kinh doanh. Khách hàng là nhân tố
quan trọng quyết định sự thành bại của doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường. Khách hàng có nhu cầu rất
phong phú và khác nhau tuỳ theo từng lứa tuổi, giới tính
mức thu nhập, tập quán,… Mỗi nhóm khách hàng có một
đặc trưng riêng phản ánh quá trình mua sắm của họ. Do
đó doanh nghiệp phải có chính sách đáp ứng nhu cầu từng nhóm cho phù hợp.
- Đối thủ cạnh tranh: Bao gồm các nhà sản xuất,
kinh doanh cùng sản phẩm của doanh nghiệp hoặc kinh
doanh sản phẩm có khả năng thay thế. Đối thủ cạnh
tranh có ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp, doanh nghiệp
có cạnh tranh được thì mới có khả năng tồn tại ngược lại
sẽ bị đẩy lùi ra khỏi thị trường, Cạnh tranh giúp doanh
nghiệp có thể nâng cao hoạt động của mình phục vụ
khách hàng tốt hơn, nâng cao được tính năng động
nhưng luôn trong tình trạng bị đẩy lùi.
- Người cung ứng: Đó là các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh trong và ngoài nước mà cung cấp hàng hoá
cho doanh nghiệp, người cung ứng ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh cua doanh nghiệp không phải nhỏ. Điều