Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA SAU ĐẠI HỌC
BÀI THẢO LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI: “NÔI DUNG QUY LUÂT LƯỢNG CHẤT VÀ VÂN D'NG QUY
LUÂT VÀO V( TR) CÔNG VIÊC”
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Phương Kỳ Sơn
Nhóm thực hiện: Nhóm 3
Lớp học phần: CH28BQLKT.N1 Hà Nội – 2022 LỜI HAY Ý ĐẸP
Với bài tập nhóm này, Chúng em mong muốn tiếp cận và làm sáng tỏ phần nào
nội dung và ý nghĩa của quy luật lượng- chất và từ đó rút ra được những bài học bổ ích
trong công việc học tập và cuộc sống. Bằng việc tiếp cận vấn đề hông qua việc làm
sáng tỏ nội dung từ đó vận dụng cụ thể trong thực tế công việc, Chúng em mong muốn
có thể cung cấp cho người đọc cách nhìn nhận dễ dàng và chân thực nhất về quy luật này.
Với kiến thức triết học của chúng em còn rất hạn chế nên bài viết không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý của thầy và các bạn. LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ
trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Để hoàn thành
bài thảo luận này, nhóm em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất cho thầy giáo hướng dẫn
Phương Kỳ Sơn – Trường Đại học Thương Mại, với tri thức và tâm huyết của mình để
truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập vừa qua.
Nếu như ba mẹ cho ta sự sống thì “Thầy giáo cho ta phương cách sống đàng hoàng tử
tế” (Philoxene De Cythere). Nhờ có sự nhiệt tình, tri thức giàu có cùng với sự tâm
huyết và sự say mê, thầy đã truyền cho chúng em những bài học vô cùng giá trị và
quý giá – là ngọn lửa luôn cháy rừng rực để soi sáng tâm hồn, chỉ đường dẫn lối cho
chúng em đi trên con đường còn nhiều gian nan, chông gai khó khăn phía trước.
Một lần nữa, chúng em xin chân thành cảm ơn thầy. Tuy kiến thức của chúng
em còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ, do vậy không tránh khỏi những thiếu sót là điều
chắc chắn, nhóm em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy để
kiến thức của chúng em trong lĩnh vực này sẽ được hoàn thiện một cách tốt hơn nữa.
Sau cùng, nhóm chúng em xin kính chúc thầy Phương Kỳ Sơn thật dồi dào sức
khỏe, niềm tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau. LỜI CAM ĐOAN
Chúng em xin cam đoan đề tài “Nội dung quy luật lượng - chất và vận dụng
quy luật lượng chất vào vị trí công việc” là bài viết của nhóm Chúng em.
Chúng em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của các nội dung khác trong đề tài mình.
Hà Nội, ngày 23 tháng 11 năm 2022
Nhóm học viên thực hiện
CHƯƠNG 1: NỘI DUNG QUY LUẬT LƯỢNG – CHẤT 1. Nội dung quy luật
Sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội cũng như sự phát
triển nhận thức trong tư duy con người đều đi từ sự thay đổi dần về lượng khi vượt qua
giới hạn về độ tới điểm nút thì gây ra sự thay đổi cơ bản về chất, làm cho sự vật, hiện
tượng phát triển cao hơn hoặc thay thế bằng sự vật, hiện tượng khác.
Sở dĩ như vậy là vì chất và lượng là hai mặt thống nhất hữu cơ nhưng cũng
mang trong mình tính mâu thuẫn vốn có trong sự vật. Lượng thì thường xuyên biến đổi
còn chất có xu thế ổn định. Do đó, lượng phát triển tới một mức nào đó thì mâu thuẫn
với chất cũ, yêu cầu tất yếu là phải thay đổi chất cũ, mở ra một độ mới cho sự phát
triển của lượng. Sự chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những sự thay
đổi về chất, diễn ra một cách phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
Quy luật này còn diễn ra theo chiều ngược lại, tức là không chỉ thay đổi về
lượng dẫn đến thay đổi về chất mà sau khi chất mới ra đời, do sự biến đổi về lượng
trước đó gây nên thì nó lại quay trở lại, tác động đến sự biến đổi của lượng mới. Ảnh
hưởng của chất mới đến lượng thể hiện ở quy mô, mức độ, nhịp điệu phát triển mới.
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về
chất và ngược lại được Angghen phát biểu rằng: “Sự thay đổi về lượng làm thay đổi
chất của các sự vật cũng như sự thay đổi về chất làm cho lượng của sự vật thay đổi”.
Nội dung quy luật được hiểu như sau: “Bất kỳ sự vật nào cũng là sự thống nhất
giữa chất và lượng, sự thay đổi dần dần về lượng trong khuôn khổ của độ tới điểm nút
sẽ dẫn đến thay đổi về chất của sự vật thông qua bước nhảy; Song đồng thời với quá
trình trên cũng diễn ra quá trình ngược lại chuyển hóa từ sự biến đổi về chất thành sự
biến đổi về lượng. Qúa trình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng
phát triển, biến đổi”. 2.
Phân tích nội dung quy luật lượng-chất.
2.1 Một số khái niệm
2.1.1. Phạm trù “chất”:
Định nghĩa: Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn
có của sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó
mà không phải là cái khác.
Ta cần lưu ý mối quan hệ giữa chất và thuộc tính như sau:
Tổng hợp các thuộc tính của sự vật làm nên chất của sự vật đó. Thuộc tính ở
đây có thể hiểu là “tính chất”, như tính dẫn điện, tính co giãn, tính chua, tính ngọt… –
Để nhận thức được chất của sự vật, ta phải nhận thức được những thuộc tính
của sự vật đó. Và để nhận thức được thuộc tính nhất định của sự vật, ta cần nhận thức
thuộc tính đó trong mối quan hệ giữa các sự vật. Ở mức độ cao hơn, để nhận thức
được chất của sự vật, ta phải nhận thức sự vật trong tổng hợp các mối quan hệ có thể
có giữa sự vật đó với các sự vật khác. –
Nếu nhận thức sự vật A trong 01 mối quan hệ giữa sự vật A với sự vật B, ta
hiểu phần nào về chất của A. Nếu nhận thức sự vật A trong 02 mối quan hệ là giữa A
với B và giữa A với C, ta hiểu hơn về chất của A. Cứ như vậy, nhận thức càng nhiều
mối quan hệ của A với các sự vật B, C, D, E.., Z, ta sẽ hiểu ngày càng đầy đủ về chất của A. –
Ta cũng có thể hiểu mỗi sự vật có vô vàn chất.Vì mỗi sự vật có muôn vàn thuộc
tính, mỗi thuộc tính lại có một phức hợp những đặc trưng về chất của mình, khiến mỗi
thuộc tính ây lại trở thành một chất. –
Chất căn bản và giới hạn tồn tại của sự vật:
Mỗi sự vật có nhiều thuộc tính khác nhau; có thuộc tính cơ bản và thuộc tính
không cơ bản. Tổng hợp những thuộc tính cơ bản tạo thành chất căn bản của sự vật.
Ở mỗi sự vật chỉ có một chất căn bản. Đó là loại chất mà nếu mất đi, sự vật
cũng mất đi. Chất can bản sẽ quy định sự tồn tại, phát triển hay tiêu vong của sự vật.
 Mỗi sự vật đều có giới hạn tồn tại của mình. Khi xem xét sự vật trong tính xác
định về chất của nó, ta thường so sánh sự vật đó với các sự vật khác. Sự so sánh này
giúp ta hình thành về giới hạn tồn tại của sự vật.
Vượt qua giới hạn của mình, sự vật không còn là nó mà trở thành một cái gì đó khác.
Điều đó có nghĩa chất của sự vật đồng nghĩa với tính có hạn của nó.
2.1.2. Phạm trù “lượng”:
Định nghĩa: Lượng là một phạm trù triết học để chỉ tính quy định vốn có của sự vật,
biểu thị số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật
cũng như các thuộc tính của nó.
Ta cần lưu ý một số điểm sau liên quan phạm trù lượng:
Lượng có thể được xác định bằng những đơn vị đo lường cụ thể và chính xác.
Ví dụ: dài 3 mét, nặng 20 ki-lô-gram.
Đồng thời, có những tính quy định về lượng chỉ có thể biểu thị dưới dạng trừu tượng,
khái quát. Ví dụ: anh A yêu chị B rất nhiều, trình độ dân trí cao, ý thức pháp luật thấp…
Cũng như chất của sự vật, lượng của sự vật cũng mang tính khách quan. Trong
sự tồn tại khách quan của mình, sự vật có vô vàn chất. Do đó, sự vật cũng có vô vàn lượng.
Chất và lượng là hai mặt không thể tách rời và quy định lẫn nhau. Một chất nhất
định của sự vật có lượng tương ứng với nó.
Ví dụ: Một cậu bé 10 tuổi (chất là “cậu bé”) có lượng kiến thức vừa phải. Khi cậu bé
trở thành thanh niên (chất là “thanh niên”), anh ta có lượng kiến thức lớn hơn. Như
thế, sự biến đổi tương quan giữa chất và lượng tạo nên tiến trình phát triển của sự vật. 2.1.3. “Độ”:
Định nghĩa: “Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng
và chất, nó là khoảng giới hạn, mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi
căn bản về chất của sự vật”.
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có chất và lượng. Khi sự vật vận động và
phát triển, chất và lượng của nó cũng vận động, biến đổi, thay đổi. Sự thay đổi của
lượng và của chất không diễn ra độc lập với nhau mà có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Nhưng không phải bất kỳ sự thay đổi nào về lượng cũng ngay lập tức làm thay đổi căn
bản chất của sự vật. Lượng của sự vật có thể thay đổi trong giới hạn nhất định mà
không làm thay đổi căn bản chất của sự vật đó. Giới hạn đó chính là “độ”. Ví dụ về “độ”:
Người sống lâu nhất thế giới từng được biết đến có tuổi thọ 146 tuổi. Nên với
dữ kiện này, ta có thể thấy giới hạn từ 0 – 146 năm là “độ” của con người xét về mặt
tuổi. Diễn đạt một cách chính xác hơn: Sự thống nhất giữa trạng thái còn sống và số
tuổi từ 0 – 146 là “độ tồn tại” của con người. (Thuật ngữ “độ tuổi” mà chúng ta hay
dùng cũng ít nhiều liên quan ở đây).
Từ 0 đến dưới 100 độ C, nước vẫn ở thể lỏng. Trong khoảng 0 < t < 100 độ C,
sự thống nhất giữa trạng thái nước lỏng và nhiệt độ C tương ứng là “độ” tồn tại của
nước lỏng. (Ở đây cần phân biệt “độ C” và “độ tồn tại” là hai khái niệm khác nhau).
Nếu quá 100 độ C, nước sẽ chuyển thành hơi nước. Nếu ở dưới 0 độ C, nước sẽ ở thể rắn. 2.1.4. “Điểm nút”:
Định nghĩa: “Những điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng sẽ làm thay
đổi về chất của sự vật gọi là điểm nút”.
Ví dụ: Ở những ví dụ đã nêu trên, 0 độ C, 100 độ C, 146 tuổi là những điểm nút.
Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới. Sự
thống nhất giữa lượng mới và chất mới tạo thành một độ mới với điểm nút mới. 2.1.5. “Bước nhảy”:
Định nghĩa: “Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ giai đoạn chuyển
hóa về chất của sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây ra”.
Ví dụ: Sự chuyển hóa từ nước lỏng thành hơi nước là một bước nhảy. Có bước nhảy
này là do nước lỏng có sự thay đổi về nhiệt độ và đạt đến 100 độ C.
Trong lịch sử triết học, do tuyệt đối hóa tính dần dần, tính tiệm tiến của sự thay
đổi về lượng nên các nhà triết học siêu hình đã phủ nhận sự tồn tại của “bước nhảy”.
Triết học Mác – Lênin cho rằng phải có “bước nhảy” thì mới giải thích được sự vận
động, phát triển của thực tế.
Các hình thức của bước nhảy có thể phân loại như sau:
Dựa vào nhịp điệu thực hiện bước nhảy của bản thân sự vật có thể phân chia
thành: Bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần:
Bước nhảy đột biến là bước nhảy được thực hiện trong một khoảng thời gian rất ngắn
làm thay đổi toàn bộ kết cấu cơ bản của sự vật.
Bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực hiện từ từ, từng bước bằng cách tích lũy
dần dần những nhân tố của chất mới và những nhân tố của chất cũ dần dần mất đi.
Dựa vào quy mô thực hiện bước nhảy của sự vật thì chia thành bước nhảy cục
bộ và bước nhảy toàn bộ.
Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi về chất của tất cả các mặt, bộ phận, yếu tố cấu thành sự vật
Còn bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi một số mặt, bộ phận, những yếu tố
riêng lẻ… cấu thành sự vật.
Qúa trình thực hiện bước nhảy dần dần của sự vật là một quá trình phức tạp, trong đó
có cả sự tuần tự lẫn những bước nhảy diễn ra ở từng bộ phận của sự vật. Nhưng cần
phải phân biệt bước nhảy dần dần với sự thay đổi về lượng của sự vật. Bước nhảy dần
dần là sự chuyển hóa dần dần từ chất này sang chất khác, còn sự thay đổi dần dần về
lượng chỉ là sự tích lũy liên tục về lượng để đến một giới hạn nhất định sẽ chuyển hóa về chất.
Khi xem xét sự thay đổi về bản chất của xã hội, ta có thể chia sự thay đổi ra
thành thay đổi cách mạng và thay đổi có tính chất tiến hóa.
Cách mạng là sự thay đổi mà trong quá trình đó diễn ra sự cải tạo căn bản về chất của
sự vật, không phụ thuộc vào sự cải tạo đó được diễn ra như thế nào.
Tiến hóa là sự thay đổi về lượng cũng với những biến đổi nhất định về chất, nhưng là
chất không căn bản của sự vật.
2.2 Mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất theo
quy luật lượng – chất
Luận chứng cho quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng, trong tự nhiên, xã
hội và tư duy phép biện chứng duy vật không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra nguồn gốc và
khuynh hướng của sự phát triển (thông qua hai quy luật: quy luật thống nhất và đấu
tranh của các mặt đối lập và quy luật phủ định của phủ định), mà đồng thời còn chỉ ra
cách thức của sự phát triển. Cách thức của sự phát triển của sự vật, hiện tượng được
phép biện chứng duy vật trình bày trong quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về
lượng hình thành những thay đổi về chất.
Phạm trù lượng – chất đã được các nhà triết học đề cập từ lâu trong lịch sử triết
học. Ngay từ thời cổ đại các nhà triết học đã bàn đến phạm trù chất và lượng. Chẳng
hạn, nhiều nhà triết học Hy Lạp, do đồng nhất vật chất với sự vật nên họ đã hiểu sự vật
từ phương diện chất của nó. Hay trường phái pitogo cho rằng, đặc trưng về lượng là cơ
sở cho mọi cái đang tồn tại, đối với họ con số được đồng nhất với bản thân sự vật.
Arixtot là người đầu tiên đề cập đến một loạt các phạm trù chất, lượng, độ,… theo ông,
chất là tất cả những gì có thể phân ra những bộ phận cấu thành. Ông cũng là người đầu
tiên nêu ra quan điểm về tính nhiều chất của sự vật. Ông cũng chia lượng thành hai
loại là số lượng và đại lượng. Về phạm trù Độ, ông cũng có quan niệm đúng đắn khi
cho rằng, độ là cái thống nhất không thể phân chia giữa chất và lượng.
Quan điểm về chất và lượng tiếp đục được phát triển trong triết học Cổ Điển
Đức, mà tiêu biểu là trong triết học của Heeghen. Heeghen đã phan tích khá sâu sắc sự
thống nhất và sự chuyển hóa lẫn nhau của chất và lượng. Xem xét chất và lượng trong
quá trình vận động và phát triển không ngừng. Ông cũng xem xét tính độc lập tương
đối giữa sự thay đổi về lượng và thay đổi về chất trong một khoảng nhất định. Đó là cơ
sở để hình thành phạm trù độ. Heeghen cũng đặc biệt chú ý tới phạm trù bước nhảy.
Ông cho rằng bước nhảy là sự đứt đoạn tính liên tục. Chính dựa trên những tư tưởng
này mà Leenin đã rút ra một kết luận quan trọng là việc có thừa nhận bước nhảy hay
không là tiêu chí cơ bản để xem đó là người theo quan điểm biện chứng hay quan điểm
siêu hình về sự phát triển. Tuy nhiên, với tư cách là một nhà triết học duy tâm,
Heeghen đã xem phạm trù lượng, chất, độ như những nấc thang tự phát triển của “Ý niệm tuyệt đối”.
Kế thừa những thành quả trong lịch sử triết học và thành tựu khoa học trong
thời đại mình. Mác, Anghen đã đưa những quan niệm về lượng, chất, độ lên một bước
phát triển mới trong quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất.
Quy luật đó chỉ ra rằng bất cứ sự vật, hiện tượn nào cũng bao gồm mặt chất và lượng.
Hai mặt đó thống nhất hữu cơ với nhau. Chất là phạm trù triết học để chỉ tính quy định
khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính,
làm cho nó là nó và phân biệt với cái khác. Mỗi sự vật hiện tượng lại có nhiều thuộc
tính, mỗi thuộc tính lại biểu hiện một chất của sự vật, do đó mỗi sự vật bao hàm rất nhiều chất.
Nhưng không phải bất cứ thuộc tính nào cũng hiểu hiện chất của sự vật. Trong
sự vật luôn có thuộc tính cơ bản và không cơ bản và chỉ có những thuộc tính cơ bản
mới tạo nên chất của sự vật. Chỉ khi nào những thuộc tính cơ bản này thay đổi hay mất
đi thì sự vật mới thay đổi hay mất đi.
Sự phân chia thuộc tính cơ bản hay không cơ bản chỉ mang tính tương đối. Bởi
vì khi xét trong những mối liên hệ cụ thể thì những thuộc tính cơ bản tạo nên chất của
sự vật có thể thay đổi. Chẳng hạn xét trong mối quan hệ với động vật thì thuộc tính tư
duy, chế tạo công cụ, của con người được xem là những thuộc tính cơ bản, nhưng khi
xét trong mối quan hệ giữa những con người cụ thể với nhau thì thuộc tính cơ bản đó
là nhận dạng dấu vân tay,…
Bên cạnh đó chất của sự vật không những được quy định bởi chất của những
yếu tố cấu thành mà còn bới phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành của chúng,
nghĩa là bởi kết cấu của sự vật. Trong thực tiễn, có những sự vật được cấu thành bởi
những yếu tố như nhau, song chất của chúng lại khác nhau. Chẳng hạn kim cương và
than chì đều có cùng thành phần hóa học là nguyên tố Cacbon, những do phương thức
liên kết giữa các nguyên tử cacbon là hoàn toàn khác nhau, vì thế chất của chúng hoàn
toàn khá nhau. Kim cương thì rất cứng còn than chì thì rất mềm. Hay, trong một tập
thể nhất định nếu phương thức liên kết giữa các cá nhân biến đổi thì tập thể đó có thể
trở nên mạnh mẽ hoặc sẽ trở nên yếu kém, nghĩa là chất của tập thể đó biến đổi.
Từ đó có thể thấy sự thay đổi về chất của sự vật phụ thuộc vào sự thay đổi của
các yếu tố cấu thành nên sự vật lẫn sự thay đổi phương thức liên kết giữa các yếu tố ấy.
Lượng của sự vật là cái vốn có của sự vật, quy định sự vật là nó, nhưng chưa
thể làm nó khác với cái khác. Lượng cũng tồn tại khách quan như chất của sự vật.
Lượng của sư vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn
hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm,… trong thực tế, có những
lượng biểu thị yếu tố quy định kết cấu bên trong của sự vật, chẳng hạn như một phân
tử nước bao gồm 2 nguyên tử hidro liên kết với một nguyên tủ Oxi có những lượng
vạch ra yếu tố quy định bên ngoài của sự vật chẳng hạn như vận tốc ánh sáng là
300.000km/h. nhưng có những lượng của sự vật chỉ có thể biểu thị dưới dạng trừu
tượng, khái quát trình độ nhận thức tri thức khoa học của con người, ý thức trách
nhiệm cao hay thấp của công dân…. Trong những trường hợp đó chúng ta chỉ có thể
nhận thức được lượng của sự vật bằng con đường trừu tượng và khái quát hóa.
Sự phân biệt chất và lượng của sự vật chỉ mang tính tương đối. Chất và lượng
của sự vật là một thể thống nhất quy định lẫn nhau. Trong quá trình vận động và phát
triển của sự vật, hiện tượng, chất và lượng cũng biến đổi. Sự thay đổi của chất và
lượng không diễn ra độc lập với nhau mà trái lại cũng chẳng có quan hệ chặt chẽ với
nhau. Sự thay đổi về lượng có ảnh hưởng tới sự thay đổi về chất của sự vật, nhưng
không phải bất kì sự thay đổi nào của lượng cũng ngay lập tức làm thay đổi về chất
của sự vật đó. Trong khuôn khổ mà sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi về chất
được gọi là độ. Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút sẽ dẫn đến sự ra đời của chất
mới. Sự thống nhất giữa chất và lượng mới tạo thành độ và điểm nút mới. Vì vậy có
thể hình dung sự phát triển dưới dạng một đường nút của những quan hệ về độ. Khi
lượng đã đủ, tại điểm nút, chất mới tạo ra được gọi là bước nhảy.
Trong lịch sử triết học, do tuyệt đối hóa tính tiệm tiến, tính dần dần của sự thay
đổi về lượng nên các nhà siêu hình đã phủ nhận sự tồn tại trong thực tế của bước nhảy.
Hêghen đã kịch liệt phê phán quan điểm đó và cho rằng tính tiệm tiến chỉ là sự thay
đổi về lượng., chỉ bằng phạm trù tính tiệm tiến thì không thể giải thích được sự xuất
hiện của chất mới. Ông cho rằng bất kỳ sự thay đổi nào về chất cũng là sự đứt đoạn
của tính tiệm tiến về lượng, đó là bước nhảy. Leenin cũng nhấn mạnh: “tính tiệm tiến
mà không có bước nhảy, thì không giải thích được gì cả”. Có rất nhiều hình thức bước
nhảy, nó được quyết định bởi bản thân sự vật và những điều kiện cụ thể trong đó sự
vật thực hiện bước nhảy.
Sau khi thực hiện bước nhảy, chất mới ra đời không phải đã kết thúc quá trình
vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại lượng
sự vật. Chất mới có thể làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận
động và phát triển của sự vật. Chất mới của sự vật chỉ xuất hiện khi sự thay đổi về
lượng đạt đến điểm nút khi sự vật mới ra đời với chất mới lại có một lượng mới phù
hợp tạo nên sự thống nhất mới giữa chất và lượng, sự tác động của chất mới đối với
lượng mới đươc biểu hiện ở quy mô tồn tại nhịp điệu sự vận động. Chẳng hạn sau
điểm nút là kì thi tốt nghiệp, tức là thực hiện bước nhảy, sinh viên đã trở thành cử
nhân. Trình độ văn hóa của họ sẽ cao hơn trước và sẽ tạo điều kiện cho sự thay đổi kết
cấu, quy mô, trình độ tri thức, giúp học tiến lên trình độ cao hơn.
Luận chứng cho quá trình phát triển của sự vật hiện tượng trong tự nhiên và xã
hội. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chất là phạm trù triết học dùng
để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ những
thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác. Lượng và chất là hai mặt
cơ bản của mọi sự vật hiện tượng. Trong bản thân sự vật thì hai mặt này luôn tác động
qua lại, ở nột mức độ nào đó, làm cho sự vật phát triển. Khoảng giới hạn trong đó sự
thay đổi về lượng trong sự vật chưa đủ làm thay đổi căn bản chất của sự vật được gọi
là độ. Chỉ trong trường hợp khi sự thay đổi về lượng đạt tới mức đủ để dẫn tới sự thay
đổi về chất thì độ bị phá vỡ và sự vật phát triển sang một giai đoạn mới, khác hẳn về chất.
Mọi sự vật trong thế giới vật chất đều vận động và phát triển không ngừng.
Việc tích lũy về lượng cũng chính là một trong những cách vận động của sự vật. Vì
thế, dù nhanh hay chậm, sớm hay muộn thì việc tích lũy về lượng của sự vật cũng sẽ
đến một giới hạn mà ở đó làm cho chất của sự vật thay đổi về căn bản. Thời điểm mà ở
đó sự thay đổi về lượng đã đủ để làm thay đổi về chất của sự vật gọi là điểm nút. Chất
của sự vật thay đổi do lượng của nó thay đổi trước đó gây ra gọi là bước nhảy.
3. Ý nghĩa phương pháp luận
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và
ngược lại giúp chúng ta nhận thức được phương thức vận động và phát triển của sự
vật. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. 1. Đối với nhận thức
Để có tri thức đầy đủ về sự vật, ta phải nhận thức cả mặt lượng và mặt chất của nó.
Những nhận thức ban đầu về chất của các sự vật chỉ trở nên đúng đắn và sâu sắc hơn
khi đạt tới tri thức về sự thống nhất giữa chất và lượng của sự vật đó.
Để nhận thức được sự vật, ta phải nhận thức trong mối quan hệ tác động qua lại giữa
sự vật đó với những sự vật khác, cũng như giữa các mặt, thuộc tính của sự vật đó. Vì
chỉ khi đó, mặt lượng và mặt chất của sự vật mới bộc lộ ra.
Bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng có phương diện chất và lượng tồn tại trong
tính quy định lẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau, do đó, trong nhận thức
và thực tiễn cần coi trọng cả hai chỉ tiêu về phương diện chất và lượng để nhận thức
một cách toàn diện về sự vật. Phương pháp này giúp ta tránh được tư tưởng chủ quan,
duy ý chí, nôn nóng, “đốt cháy giai đoạn” muốn thực hiện những bước nhảy liên tục.
2. Đối với hoạt động thực tiễn.
Bước nhảy của sự vật vô cùng đa dạng, phong phú cho nên, trong nhận thức và thực
tiễn cần phải có sự vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy cho phù hợp với
từng điều kiện, từng lĩnh vực cụ thể.
Ta phải tổ chức hoạt động thực tiễn dựa trên sự hiểu biết đúng đắn vị trí, vai trò
và ý nghĩa của sự thay đổi về lượng cũng như sự thay đổi về chất trong sự phát triển xã hội.
Ta phải biết kịp thời chuyển từ sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất,
từ những thay đổi mang tính tiến hóa sang thay đổi mang tính cách mạng.
Để xây dựng chiến lược và sách lược cách mạng, ta phải xem xét tiến hóa và cách
mạng trong mối quan hệ biện chứng của chúng. Hiểu đúng đắn mối quan hệ này sẽ
giúp chúng ta có cái nhìn nghiêm khắc với chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa tả khuynh.
Ta phải kiên trì đổi mới trên từng lĩnh vực để tiến tới đổi mới toàn diện đời sống xã hội.
Nắm được quy luật lượng- chất sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan, toàn
diện và xác định đúng phương pháp, lộ trình thực hiện công cuộc đổi mới theo định
hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam hiện nay.
Theo tính chất, ý nghĩa và phạm vi bao quát của nó, đổi mới là một quá trình
mang tính cách mạng. Ta cần phải thực hiện đổi mới thành công trên từng lĩnh vực của
đời sống xã hội để tạo ra bước nhảy về chất ở đó. Với sự thành công trên nhiều lĩnh
vực, ta có cơ sở thực tế để đổi mới thành công toàn diện đất nước Việt Nam. Đó là khi
ta tạo được bước nhảy về chất của toàn bộ xã hội nói chung. Những bước nhảy trong
quá trình đổi mới hiện nay chỉ có thể là kết quả của qúa trình thay đổi về lượng thích
hợp. Do đó, bất kỳ sự nôn nóng, chủ quan, ảo tưởng nào đều có thể gây ra những tổn
thất lớn cho đất nước.
Trong cuộc sống hằng ngày, đằng sau các hiện tượng muôn màu muôn vẻ, con
người dần dần nhận thức được tính trật tự và mối liên hệ có tính lặp lại của sự vật hiện
tượng, từ đó hình thành khái niệm “quy luật”. Với tư cách là phạm trù của lý luận nhận
thức, khái niệm “quy luật” là sản phẩm của tư duy khoa học phản ánh sự liên hệ của
các sự vật, hiện tượng và tính chỉnh thể của chúng.
Thực tiễn cần ta cần đồng thời khắc phục tư tưởng nôn nóng tả khuynh và tư
tưởng bảo thủ hữu khuynh.
Các quy luật của tự nhiên, xã hội cũng như của tư duy con người đều mang tính
khách quan. Con người không thể tạo ra hoặc xóa bỏ được quy luật mà chỉ có thể nhận
thức và vận dụng vào thực tế.
Quy luật “chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi
về chất và ngược lại” là một trong ba quy luật của phép biện chứng duy vật, nó cho
biết phương thức của sự vận động và phát triển. Việc nhận thức quy luật này có ý
nghĩa to lớn trong thực tiễn khi chúng ta xem xét các sự vật, hiện tượng. Nếu nhận
thức không đúng quy luật này dễ dẫn đến hiện tượng “tả khuynh” hoặc “hữu khuynh”.
“Tả khuynh” có thể hiểu là tư tưởng chủ quan nóng vội, muốn sớm có sự thay đổi về
lượng nhưng lại không tính đến việc tích lũy về chất. “Hữu khuynh” là tư tưởng bảo
thủ, trì trệ, không dám thực hiện “bước nhảy” (sự thay đổi về chất) khi đã có sự tích lũy đủ về lượng.
CHƯƠNG 2: VẬN D'NG QUY LUÂT VÀO V( TR) CÔNG VIÊC CuA MvNH
2.1. Vận dụng Quy luật lượng chất trong vị trí công việc của một nhân viên Sales
tại Công ty TNHH May Tinh Lợi.
Họ và tên: Nguyễn Thu Hương STT: 21
Vị trí công việc: Nhân viên sales
Đơn vị công tác: Công ty TNHH May Tinh Lợi
Lần đầu tiên em được học Triết bởi một người thầy có phương pháp giảng dạy rất
lôi cuốn, luôn đưa ra các ví dụ thực tiễn trong đời sống. Đặc biệt thầy luôn lấy thầy ra
làm ví dụ để học viên chúng em có thể hiểu bài hơn, những câu chuyện thầy kể kết
hợp với các bài học thầy giảng dạy chúng em tạo ra những nét khác biệt rất lớn so với
các thầy cô dạy các môn triết học em đã từng học. Đối với thầy, người nói phải có
người nghe, phải có sự tôn trọng khi thầy giảng dạy nên thầy hơi nghiêm khắc trong
giờ học nhưng như thế chúng em lại thấy rất công bằng. Đó là phương pháp thảo luận
rất mới mẻ mỗi người chỉ có một phút để giới thiệu về bản thân, đưa ra những suy nghĩ
về phương pháp học tập, thảo luận và những gì mình đã nghiên cứu được trong quá
trình học tập giúp tất cả các cao học viên đều có cơ hội để rèn luyện những kỹ năng
nói trước đám đông một kỹ năng rất cần thiết khi chúng ta áp dụng trong những cuộc
họp của cơ quan, đoàn thể. Và sau đây em xin trình bày vấn đề vận dụng các quy luật
lượng chất vật công việc mà em đang đi làm (nhân viên Sales)
Biển lớn tri thức nhân loại thật bao la vô tận. Con người, bên cạnh việc phát triển
về thể xác, tinh thần còn phải luôn tự mình tiếp thu những tri thức, kỹ năng của nhân
loại, trước hết là để phục vụ cho bản thân sau đó là áp dụng vào công việc tạo ra của
cải. Tri thức tồn tại dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú, do vậy con người có
thể tiếp thu nó bằng nhiều cách khác nhau. Quá trình tích lũy tri thức, kinh nghiệm
diễn ra ở mỗi người khác nhau là khác nhau, tùy thuộc vào mục đích, khả năng, điều
kiện… của mỗi người. Quá trình làm việc của con người cũng không nằm ngoài quy
luật lượng chất. Bởi vì, dù nhanh hay chậm thì sớm muộn, sự tích lũy về kinh nghiệm,
kỹ năng trong công việc cũng sẽ làm con người có được sự thay đổi nhất định, tức là
có sự biến đổi về chất. Quá trình biến đổi này trong bản thân con người diễn ra vô
cùng đa dạng và phong phú, ở ví dụ này tôi chỉ xin giới hạn việc làm rõ quy luật lượng
chất thông qua quá trình làm việc và tích lũy kinh nghiệm của vị trí nhân viên Sales.
Là nhân viên Sales, bản thân em cần có những kỹ năng giao tiếp trực tiếp và
gián tiếp, kỹ năng bán hàng, kỹ năng lắng nghe giải quyết các tình huống bất cập,… áp
dụng vào công việc hằng ngày như: xử lý các đơn hàng, dịch vụ bị trục trặc cho khách
hàng. Ngoài ra còn cần có những nhiệm vụ Tư vấn, hướng dẫn khách hàng các thông
tin về sản phẩm/ dịch vụ. Giới thiệu các sản phẩm mới và chương trình khuyến mãi
đến với khách hàng. Giải đáp thắc mắc của khách hàng, thiết lập mối quan hệ, giới
thiệu, tư vấn và cập nhật chính sách sản phẩm.
Bên cạnh đó, bản thân tôi lại tự trang bị cho mình những kĩ năng, những hiểu biết
riêng về cuộc sống, về tự nhiên, xã hội.
Quá trình tích lũy về lượng (kỹ năng nghiệp vụ, khả năng tổ chức) của một
nhân viên Sales là một quá trình dài, đòi hỏi nỗ lực và khả năng của bản thân mình.
Quy luật lượng chất thể hiện ở chỗ, mỗi nhân viên Sales dần dần tích lũy cho mình
một khối lượng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ, khả năng tổ chức nhất định qua từng
ngày, từng tình huống, qua từng khách hàng, qua mối quan hệ làm việc với đồng
nghiệp,.…Việc tích lũy kiến thức sẽ được đánh giá qua các kì đánh giá, và thông qua
việc hoàn thành KPI. Việc tích lũy đủ lượng kiến thức cần thiết sẽ giúp em vượt qua
các kì đánh giá, hoàn thành KPI…. Như vậy, có thể thấy rằng, trong quá trình làm việc
của một nhân viên Sales thì quá trình, tích lũy kinh nghiệm, kĩ năng, quan hệ, thông
qua công việc chính là độ, các kì đánh giá và KPI chính là điểm nút, việc vượt qua các
kì đánh giá, xét nâng cấp bậc chính là bước nhảy làm cho vị trí việc làm của một nhân
viên Sales bước sang giai đoạn mới, tức là có sự thay đổi về chất. Sau khi có sự thay
đổi về chất tức là đảm nhận một công việc mới, một chức vụ mới thì bản thân một
nhân viên Sales sẽ phải tự học tập thêm, có thêm các kĩ năng khác để có thể hoàn
thành được công việc được giao (sự thay đổi về chất). 2.2.
Vận dụng Quy luật lượng chất trong vị trí công việc của một nhân viên
phát triển kinh doanh tại Công ty Cổ Phần dịch vụ Giao Hàng Nhanh.
Họ và tên: Nguyễn Thị Thu Hương STT: 22
Vị trí công việc: nhân viên phát triển kinh doanh thị trường Hà Nội.
Đơn vị công tác: Công ty Cổ phần dịch vụ Giao Hàng Nhanh.
Quá trình làm việc của mỗi người là một quá trình dài, khó khăn và cần sự cố
gắng không biết mệt mỏi, không ngừng nghỉ của bản thân mỗi người nhất là vị trí của
một nhân viên phát triển kinh doanh. Họ là người tìm kiếm những khách hàng mới,
duy trì khách hàng cũ cho doanh nghiệp, là người đầu tàu tạo lợi nhuận cho doanh
nghiệp. Để đạt được những thành quả đó thì tôi cần vượt qua các áp lực như áp lực
về doanh số: một nhân viên phát triển kinh doanh thực thụ phải là một người có ý
thức về việc lập kế hoạch, sắp xếp xử lý các đầu muc công việc tốt. Ngoài ra tốc độ
xử lý công việc là điều cực kỳ quan trọng trong nghề dịch vụ, đặc biệt đối với dịch vụ
chuyển phát. Phải chạy đua với thời gian tìm kiếm khách hàng mới, giải quyết những
khó khăn, tồn tại để duy trì sản lượng đơn của khách hàng cũ. Áp lực về doanh số:
Hầu hết các công việc hiện nay đều sử dụng chỉ số đánh giá công việc (KPI – Key
Performance Indicator) để làm động lực thúc đẩy quá trình làm việc của nhân viên.
KPI ở đây không chỉ đơn thuần là doanh số khách hàng mà còn rất nhiều mục khác
như Tỉ lệ chuyển đổi từ lead sang khách hàng, Giá trị trung bình của hợp đồng, Mức
độ hài lòng của khách hàng,… Và KPI được đánh giá theo từng tháng, quý đó là
thước đo để xét tăng lương hoặc tăng chức vụ cho bản thân mỗi nhân viên.
Quy luật chuyển hóa từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất thể
hiện ở chỗ: mỗi nhân viên phát triển kinh doanh tích lũy về lượng như (kỹ năng nghề
nghiệp, các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đàm phán, kỹ năng tổ chức công việc, quản lý
thời gian,…) bằng việc thực hiện các công việc hằng ngày, như tìm kiếm khách hàng,
tiếp xúc khách hàng, tư vấn, đàm phán,chốt khách và chăm sóc khách hàng cũ, liên hệ
giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình sử dụng dịch vụ….Hệ thống QC của
công ty đều có các kì đánh giá năng lực trình độ của mỗi nhân viên theo từng tháng.
Thành quả của quá trình tích lũy đó được đánh giá qua việc hoàn thành các KPI, hiệu
quả làm việc. Khi đã tích lũy đủ lượng thì nhân viên phát triển kinh doanh sẽ bước lên
một cấp mới cao hơn đó là quản lý phát triển kinh doanh. Như vậy, quá trình làm việc
tích lũy kinh nghiệm, trình độ làm việc, các kỹ năng là độ, thời điểm mà công ty đánh
giá nhân sự là điểm nút và việc nhân viên phát triển kinh doanh được chuyển lên một
chức vụ cấp cao hơn chính là bước nhảy. Trong suốt quá trình làm việc, nhân viên phát
triển kinh doanh dịch vụ vận chuyển phải thực hiện nhiều bước nhảy khác nhau. Trước
hết là bước nhảy để chuyển từ một nhân viên phát triển kinh doanh bậc 1 lên bên 2 và
tiếp đó là lên cấp quản lý phát triển kinh doanh. Cấp quản lý phát triển kinh doanh
thông qua kì đánh giá, hoàn thành KPI, có đủ năng lực lãnh đạo, quản lý mà cơ quan
yêu cầu là điểm nút, đồng thời đó cũng là điểm khởi đầu mới trong việc tích lũy lượng
mới (các kỹ năng mới, năng lực làm việc nhanh hơn, cao hơn…) để thực hiện một
bước nhảy cao hơn nữa là thăng tiến lên các vị trí như phó giám đốc/ giám đốc chi
nhánh…. Sau khi thực hiện được bước nhảy trên, chất mới trong mỗi người được hình
thành và tác động trở lại lượng. Sự tác động đó thể hiện trong lối suy nghĩ cũng như
cách hành động của một vị trí mới ở cấp cao hơn của cấp quản lý phát triển kinh doanh
là sự nghiêm khắc hơn, kỉ luật hơn, trách nhiệm hơn, kỹ năng quản lý tốt hơn, kĩ năng
phối hợp, nhìn nhận vấn đề, giải quyết vấn đề nhanh hơn so với một nhân viên phát
triển kinh doanh. Và tại đây, một quá trình tích lũy về lượng mới lại bắt đầu, quá trình
này khác hẳn so với quá trình tích lũy lượng ở cấp nhân viên. Bởi đó không đơn thuần
là việc hoàn thành chỉ tiêu đặt ra, làm tốt các công việc hằng ngày mà là vấn đề quản
trị, lên kế hoạch, sắp xếp công việc, duyệt các hồ sơ, quản lý cấp dưới,…. Cứ như vậy,
quá trình nhận thức (tích lũy về lượng) liên tục diễn ra, tạo nên sự vận động không
ngừng trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi con người, giúp con người ngày
càng đạt đến trình độ cao hơn, tạo động lực cho xã hội phát triển. Trong quá trình làm
việc của một nhân viên phát triển kinh doanh phải trải qua rất nhiều khó khăn áp lực từ
các KPI. Kết quả tốt của những lần đánh giá xét tăng bậc trong công việc đánh dấu ta
kết thúc một giai đoạn và là bước khởi đầu cho ta sang một giai đoạn mới đòi hỏi
chúng ta có một trình độ cao hơn, lượng kiến thức nhiều hơn, chính vì vậy, mỗi nhân
viên cần phải không ngừng trau dồi thêm kiến thức, kĩ năng phấn đấu để tiếp cận
những tri thức mới ở trình độ cao hơn. Nó giúp chúng ta tránh được tư tưởng bảo thủ,
trì trệ trong công việc. 2.3.
Vận dụng Quy luật lượng chất trong vị trí công việc của một công chức
thuế tại chi cục thuế huyện Hoài Đức
Họ và Tên: Nguyễn Thị Lệ STT: 23
Vị trí công việc: Công chức thuế
Đơn vị công tác: Chi cục thuế huyện Hoài Đức, TP Hà Nội.
Cuộc sống luôn luôn vận động và con người phải thay đổi để thích nghi với
hoàn cảnh mới. Thế giới đang có sự biến đổi không ngừng, hội nhập quốc tế ngày càng
sâu rộng. Để thích ứng với xu hướng đó đòi hỏi chúng ta phải có một “ nội lực” đủ
mạnh, một “ tâm thế” vững vàng mới hội nhập tốt, nhằm đưa đất nước sánh vai với
bạn bè quốc tế. Trong đó công chức, viên chức là người đi tiên phong trên mọi lĩnh
vực. Công chức thuế không thể đứng ngoài cuộc. Vì vậy việc vận dụng quy luật lượng
– chất vào việc nghiên cứu, làm việc, học tập và rèn luyện của công chức thuế để giúp
bản thân có định hướng đúng đắn trong công việc, phần nào biết được nhiệm vụ, trách
nhiệm lớn lao của mình là một việc làm cần thiết.
Tôi hiện là một công chức thuế và bất cứ ai đang làm công chức thuế cũng phải
trải qua quá trình làm việc tích lũy kinh nghiệm ở nhiều vị trí: Từ công chức ở bộ phận
Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, công chức bộ phận liên xã phường, công chức bộ
phận nghiệp vụ kê khai – Dự toán – Pháp chế - Kế toán thuế đến công chức bộ phận
Kiểm tra doanh nghiệp,…. Hiện tại tôi đang làm công chức thuế ở bộ phận Đội quản
lý thuế liên xã phường. Trong những năm làm việc ở vị trí này bản thân tôi cần có
những kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ như: Kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng
lắng nghe và giải quyết những vấn đề bất cập của người nộp thuế…. Áp dụng vào
công việc hàng ngày như: Xử lý các nhu cầu hỗ trợ cơ bản của người nộp thuế như:
Tuyên truyền chính sách thuế mới đối với cá nhân cho thuê tài sản và hộ kinh doanh,
Tra cứu và đối chiếu nợ, lập bộ hộ khoán và hộ kê khai,….Bên cạnh đó, bản thân tôi
cũng phải tự trang bị cho mình những kiến thức, những kỹ năng, những hiểu biết riêng
về cuộc sống, về tự nhiên và xã hội.
Quá trình tích lũy về lượng (kỹ năng nghiệp vụ, kỹ năng quản lý, lãnh đạo, khả
năng tổ chức) của một công chức thuế là một quá trình dài, đòi hỏi nỗ lực và khả năng
của bản thân mình. Quy luật lượng chất thể hiện ở chỗ, mỗi công chức thuế dần dần
tích lũy cho mình một khối lượng kiến thức, kỹ năng quản lý, lãnh đạo, khả năng tổ
chức nhất định qua từng ngày, từng tình huống, qua từng khách hàng, qua mối quan hệ
làm việc với đồng nghiệp,.…Việc tích lũy kiến thức sẽ được đánh giá qua các kì đánh
giá xếp loại cán bộ công chức hàng tháng, hàng quý và hàng năm. Việc tích lũy đủ
lượng kiến thức cần thiết sẽ giúp tôi vượt qua các kì đánh giá, hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ được giao và giúp công chức thuế thăng tiến trong công việc cũng như được
cân nhắc sang vị trí Kiểm tra doanh nghiệp hoặc lên vị trí phó đội trưởng, đội trưởng
…. Như vậy, có thể thấy rằng, trong quá trình làm việc của một công chức thuế thì quá
trình tích lũy kinh nghiệm, kĩ năng, quan hệ, thông qua công việc chính là độ, các kì
đánh giá xếp loại cán bộ công chức chính là điểm nút, việc vượt qua các kì đánh giá,
xét nâng lương, nâng cấp bậc chính là bước nhảy làm cho vị trí việc làm của một công
chức bước sang giai đoạn mới, tức là có sự thay đổi về chất. Sau khi có sự thay đổi về
chất tức là đảm nhận một công việc mới, một chức vụ mới thì bản thân một công chức
thuế sẽ phải tự học tập thêm, có thêm các kĩ năng khác để có thể hoàn thành được công
việc được giao (sự thay đổi về chất). Trên đây chính là việc vận dụng quy luật lượng
chất vào vị trí công việc của công chức thuế mà tôi đang đảm nhận. Sau khi có sự biến
đổi về chất (tức là lên vị trí phó đội trưởng, đội trường), thì không chỉ dừng lại ở đó,
mà còn phải có sự nỗ lực hơn, học tập thêm các kỹ năng khác để có thể tích lũy thêm
về lượng và biến đổi từng ngày. Ta có thể thấy được rằng triết học gắn liền với cuộc
sống, thực tiễn của chúng ta. Nắm rõ được quy luật, bản chất vấn đề sẽ giúp chúng ta