Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI Năm học 2023-2024 ---------- BÀI THẢO LUẬN MÔN TRIẾT HỌC
Đề tài: Nội dung quy luật quan hệ sản xuất phải
phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.
Ý nghĩa của vấn đề này với con đường đi lên Chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam.
Giáo viên hướng dẫn
Mã lớp học phần Nhóm thực hiện Khoa 1
BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN TRONG NHÓM S NHIỆM VỤ ĐÁNH GIÁ MỨC HỌ VÀ TÊN MÃ SINH ĐỘ THỰC HIỆN STT VIÊN Nhóm Giáo viên trưởng 1 1 2 2 3 3 4 4 5 5 6 6 7 7 8 8 9 9 1 10 2 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................4
NỘI DUNG....................................................................................................5
I. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN....................................................................5
1.1. Phương thức sản xuất là gì?............................................................5
1.2. Lực lượng sản xuất là gì?.................................................................5
1.3. Quan hệ sản xuất là gì?....................................................................6
II- QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ
PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT........................................7
2.1. Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là mâu thuẫn hay phù
hợp............................................................................................................7
2.2. Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ
của lực lượng sản xuất............................................................................8
III- Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ VỚI CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM..............................................................................12
3.1. Những sai lầm về quy luật quan hệ sản xuất - lực lượng sản xuất
trước kia.................................................................................................12
3.2. Quá trình vận dụng quy luật “quan hệ sản xuất phải phù hợp với
tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất” trên con đường đi lên
Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam...............................................................14
3.3. Công nghiệp hoá vận dụng tuyệt vời quy luật “quan hệ sản xuất
phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”
trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay........................................16
KẾT LUẬN..................................................................................................17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................18 3 LỜI MỞ ĐẦU
C.Mác đã từng nói rằng: “Cái cối xay gió quay bằng tay đưa lại xã hội
có lãnh chúa phong kiến, cái cối xay gió chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội
có nhà nước tư bản chủ nghĩa”. Câu nói của Mác đã nói lên mối quan hệ
biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Mối quan hệ này
tác động qua lại lẫn nhau, không tách rời. Lực lượng sản xuất với đa dạng
tính chất và trình độ đóng vai trò trong quá trình hình thành và phát triển nền
kinh tế xã hội. Quy luật quan hệ sản xuất không chỉ là một hệ thống quy tắc
về sự phối hợp giữa người và máy móc mà còn là yếu tố thúc đẩy sự nâng
cao trình độ và phẩm chất con người. Đặc biệt trong cuộc cách mạng 4.0 đặt
ra những thách thức không nhỏ cho thế giới nói chung và Việt Nam nói
riêng, quy luật quan hệ sản xuất trở thành nhân tố then chốt quyết định sức
mạnh cạnh tranh và sự phồn thịnh của mỗi quốc gia. Việc áp dụng linh hoạt
quy luật quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ lực lượng sản xuất là chìa
khóa để tối ưu hóa nguồn lực, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng sức cạnh tranh.
Đối với một đất nước đang trên đà đi lên xây dựng Chủ nghĩa xa hội
như Việt Nam thì quy luật này còn đặt ra những vấn đề cụ thể và ý nghĩa to
lớn. Con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là một quá trình lâu
dài, phức tạp, gian nan và đòi hỏi sự đổi mới, sáng tạo, linh hoạt và thích
ứng với từng hoàn cảnh. Chính vì vậy mà nhận thức và ứng dụng hiệu quả
không chỉ giúp nâng cao năng suất lao động mà còn tạo ra những cơ hội mới
và sự phát triển bền vững.
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này cũng như quy luật vận động của nền văn
minh xã hội ở Việt Nam, chúng em xin trình bày đề tài tiểu luận “Nội dung
quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất. Ý nghĩa của vấn đề này với con đường đi lên Chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam.”. Từ đó thể hiện quan điểm của chúng em cũng như giúp
cho mọi nguời hiểu rõ hơn về đường lối phát triển kinh tế và xây dựng nhà
nước đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Ý nghĩa của vấn đề này với con
đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài tiểu luận với trình độ nhận
thức còn hạn hẹp, chúng em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em xin
phép gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến giảng viên giảng dạy, cô Tạ Thị Vân
Hà đã nhiệt tình hỗ trợ, chỉ dạy để chúng em có thể hoàn thiện bài tiểu luận
một cách trọn vẹn nhất! 4 NỘI DUNG
I. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN.
1.1. Phương thức sản xuất là gì?
Phương thức sản xuất là “cách thức con người tiến hành quá trình sản
xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người”1 .
Mỗi giai đoạn của lịch sử sẽ có một phương thức sản xuất khác nhau. Tương
ứng với từng phương thức sản xuất, những đặc điểm, tính chất và kết cấu sẽ
được hình thành cùng với sự phát triển của xã hội. Nói cách khác, phương
thức sản xuất là sự kết hợp của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Đó là
quá trình con người sử dụng những công cụ lao động, tài nguyên thiên nhiên
để tác động vào tự nhiên và tạo ra của cải vật chất, phục vụ cho sự tồn tại và
phát triển của con người.
Mỗi giai đoạn lịch sử sẽ có một phương thức sản xuất riêng. Sự kế thừa
và thay thế tiếp nối nhau của các phương thức sản xuất trong lịch sử quyết
định sự phát triển của xã hội loài người từ cổ đại đến hiện đại.
Trong xã hội nguyên thủy, phương thức sản xuất là những kĩ thuật đánh
bắt tự nhiên, vũ khí thô sơ, không có sự sáng tạo. Còn đối với xã hội hiện
đại, phương thức sản xuất đã có những yêu cầu cao hơn, về trình độ, bằng
cấp, kinh nghiệm và công nghệ.
1.2. Lực lượng sản xuất là gì?
Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người và giới tự
nhiên trong quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất đảm bảo cho sự tồn tại
và phát triển, là thước đo quan trọng trong sự tiến bộ của xã hội loài người.
Trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau, lực lượng sản xuất sẽ có tính
chất và trình độ khác nhau.
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất:
-Người lao động: “ Là chủ thể sáng tạo, đồng thời là chủ thể tiêu
dùng mọi của cải vật chất xã hội”2. Đây chính là nguồn lực cơ bản,
vô tận, và đặc biệt của sản xuất.
- Tư liệu sản xuất: Là toàn bộ điều kiện vật chất cần thiết để con
người tiến hành quá trình lao động sản xuất, đây được xem là yếu tố
thiết yếu của lực lượng sản xuất. Nó bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động:
Đối tượng lao động: Không phải toàn bộ giới tự nhiên mà
chỉ một bộ phận của giới tự nhiên được con người đưa vào sản xuất
để tạo ra của cải. Bao gồm cả những cái có sẵn trong tự nhiên và cả
dạng nhân tạo bởi trong quá trình sản xuất cần những đối tượng lao
động mới để mở rộng khả năng sản xuất của con người.
1 Giáo trình Triết học Mác-Lênin, tr.292.
2 Giáo trình Triết học Mác-Lênin, tr.293. 5
Tư liệu lao động: “Là những yếu tố vật chất của sản xuất
mà con người dựa vào đó để tác động lên đối tượng lao động nhằm
biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng yêu cầu sản
xuất của con người”3 .
Tư liệu lao động và đối tượng lao động là những yếu tố vật chất của
quá trình lao động sản xuất tạo nên tư liệu sản xuất.
Tư liệu lao động gồm công cụ lao động và phương tiện lao động. Công
cụ lao động được xem như hệ thống “chủ lực” của sản xuất, thể hiện trình độ
chinh phục tự nhiên của con người, kết nối trung gian giữa người và tư liệu
sản xuất làm giảm áp lực và tăng năng xuất lao động của con người.
Trong toàn bộ yếu tố của lực lượng sản xuất, người lao động là yếu tố
không thể thiếu, là chủ thể sáng tạo có vai trò quyết định nhất, sử dụng trí
tuệ để chế tạo và vận dụng công cụ lao động vào quá trình sản xuất.
1.3. Quan hệ sản xuất là gì?
Quan hệ sản xuất là biểu hiện mối quan hệ giữa người với người trong
quá trình sản xuất, cũng giống như lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất
thuộc lĩnh vực đời sống xã hội. Nó có tính khách quan và tồn tại độc lập với
ý muốn chủ quan của con người, thể hiện sự đặc trưng của mỗi hình thái
kinh tế - xã hội nhất định.
Quan hệ sản xuất bao gồm các kết cấu sau:
- Quan hệ sỡ hữu về tư liệu sản xuất.
- Quan hệ tổ chức quản lí.
- Quan hệ phân phối sản phẩm lao động.
Ba mặt nói trên có mối quan hệ biện chứng thống nhất với nhau, mỗi
mặt đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm qua lại, trong đó quan hệ sở hữu
về tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định đối với những quan hệ khác.
Trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người tồn tại
hai loại hình sở hữu cơ bản về tư liệu sản xuất là sở hữu tư nhân và sơ hữu công cộng:
- Sở hữu tư nhân là loại hình sở hữu thể hiện mối quan hệ thống trị và
bóc lột giữa người với người trong sản xuất và đời sống xã hội khi mà tư liệu
sản xuất chỉ tập trung trong tay số ít người.
-Sở hữu công cộng là loại hình sở hữu mà tư liệu sản xuất thuộc về
cộng đồng, nhờ đó mà quan hệ xã hội trở nên bình đẳng, công bằng.
Quan hệ tổ chức và quản lý có tác động lớn đối với quá trình sản xuất,
là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức, điều khuyển quá trình sản
xuất và quyết định quy mô, tốc độ của nền kinh tế.
3 Giáo trình Triết học Mác-Lênin, tr.293. 6
Quan hệ phân phối sản phẩm lao động bị chi phối bởi quan hệ sỡ hữu
về tư liệu sản xuất và quan hệ tổ chức quản lí nhưng lại đóng vai trò là chất
xúc tác trực tiếp đến lợi ích và thái độ của con người trong quá trình lao
động sản xuất,nó có thể thúc đẩy hoặc cản trở sản xuất phát triển.
II- QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ
PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT.
2.1. Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là mâu thuẫn hay phù hợp.
Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai khái niệm cơ bản trong
triết học. Mác - Lênin, phần chủ nghĩa duy vật biện chứng. Quan hệ sản xuất
là mối quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá trình sản xuất và tái
sản xuất xã hội. “Lực lượng sản xuất là toàn bộ các nhân tố vật chất, kỹ thuật
của quá trình sản xuất, bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất”4 . Quan
hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có mối quan hệ biện chứng, tác động qua
lại và thống nhất với nhau, tạo thành phương thức sản xuất của xã hội.
Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có thể là mâu thuẫn hoặc phù
hợp, tùy thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất so với tính chất
của quan hệ sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một mức nhất
định, nó sẽ không còn phù hợp với quan hệ sản xuất cũ, mà đòi hỏi một quan
hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ mới của nó. Khi đó, quan hệ sản xuất
cũ sẽ trở thành rào cản cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, gây ra sự
mâu thuẫn giữa hai yếu tố này. Sự mâu thuẫn này sẽ được giải quyết bằng
cách thay đổi quan hệ sản xuất, tức là thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hội của xã hội.
Trong phép biện chứng sự cân bằng chỉ là tạm thời và sự không cân
bằng là tuyệt đối. Chính đây là nguồn gốc tạo nên sự vận động và phát triển .
Ta biết rằng trong phép biện chứng cái tương đối không tách khỏi cái tuyệt
đối nghĩa là giữa chúng không có mặt giới hạn xác định. Nếu chúng ta nhìn
nhận một cách khác có thể hiểu sự cân bằng như một sự đứng im, còn sự
không cân bằng có thể hiểu như sự vận động. Tức sự cân bằng trong sản
xuất chỉ là tạm thời còn không cân bằng không phù hợp giữa chúng là tuyệt
đối. Chỉ có thể quan niệm được sự phát triển chừng nào người ta thừa nhận
tính chân lý vĩnh hằng của sự vận động. Cũng vì vậy chỉ có thể quan niệm
được sự phát triển chừng nào người ta thừa nhận, nhận thức được sự phát
triển trong mâu thuẫn của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chừng nào
ta thừa nhận tính vĩnh viễn không phù hợp giữa chúng.
Một số ví dụ về sự mâu thuẫn và phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực
lượng sản xuất như sau:
• Trong xã hội nguyên thủy, quan hệ sản xuất là chế độ tập thể - cộng
tác, không có sự phân biệt giai cấp. Lực lượng sản xuất ở mức thấp kém,
4 Giảo trình triết học Mác-Lênin (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị) NHÀ XUẤT
BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT Hà Nội – 2021. 7
công cụ lao động thô sơ, người nguyên thủy chỉ có thể khai thác được một
phần nhỏ của tự nhiên. Quan hệ sản xuất này phù hợp với trình độ của lực
lượng sản xuất, không gây ra sự mâu thuẫn.
• Trong xã hội phong kiến, quan hệ sản xuất là chế độ nô lệ - nông nô,
có sự phân biệt giai cấp giữa bá chủ và nô dịch. Lực lượng sản xuất ở mức
trung bình, công cụ lao động có sự tiến bộ nhưng vẫn còn lạc hậu so với xã
hội hiện đại. Người nông dân bị áp bức bởi các chế độ thuế cao, lao động
không được tự do. Quan hệ sản xuất này không phù hợp với trình độ của lực
lượng sản xuất, gây ra sự mâu thuẫn giữa hai giai cấp.
• Trong xã hội tư bản, quan hệ sản xuất là chế độ tư bản - công nhân, có
sự phân biệt giai cấp giữa tư bản gia và công nhân. Lực lượng sản xuất ở
mức cao, công cụ lao động hiện đại, người lao động có thể khai thác được
nhiều nguồn lực của tự nhiên. Tuy nhiên, quan hệ sản xuất này cũng không
phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, gây ra sự mâu thuẫn giữa hai
giai cấp. Tư bản gia chiếm đoạt phần lớn của cải do công nhân tạo ra, bóc lột
và đàn áp công nhân. Công nhân phải đấu tranh cho quyền lợi của mình, đòi
hỏi một quan hệ sản xuất mới là chủ nghĩa xã hội.
2.2. Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình
độ của lực lượng sản xuất.
2.2.1. Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.
Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất là những đặc điểm phản
ánh năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất vật chất. Theo
giáo trình triết học Mác - Lênin, tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất
của tư liệu sản xuất và sức lao động. Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công,
phân công lao động kém phát triển thì lực lượng sản xuất có tính chất cá
nhân. Khi sản xuất dựa trên máy móc, phân công lao động cao thì lực lượng
sản xuất có tính chất xã hội. Trình độ của lực lượng sản xuất là mức độ phát
triển của tư liệu sản xuất và sức lao động. Trình độ của lực lượng sản xuất
được thể hiện qua năng suất lao động, tức là khối lượng hàng hóa mà một
người lao động tạo ra trong một đơn vị thời gian. Trình độ của lực lượng sản
xuất còn phụ thuộc vào sự xâm nhập của khoa học - công nghệ vào các yếu
tố của lực lượng sản xuất. Khoa học - công nghệ là đặc trưng cho lực lượng
sản xuất hiện đại, là yếu tố quyết định cho sự phát triển vượt bậc của năng suất lao động.
Một số ví dụ khác về tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất như sau:
• Trong xã hội nguyên thủy, tính chất của lực lượng sản xuất là cá nhân,
vì người nguyên thủy chỉ sử dụng các công cụ thủ công như gậy, đá, xương
để khai thác tự nhiên. Trình độ của lực lượng sản xuất là rất thấp, vì năng
suất lao động kém, người nguyên thủy chỉ có thể duy trì cuộc sống cơ bản. 8
• Trong xã hội cổ đại, tính chất của lực lượng sản xuất là xã hội, vì
người cổ đại đã sử dụng các công cụ như dao, cuốc, kéo để khai thác tự
nhiên. Trình độ của lực lượng sản xuất là trung bình, vì năng suất lao động
có sự tiến bộ, người cổ đại đã có thể tạo ra nhiều hàng hóa hơn.
• Trong xã hội hiện đại, tính chất của lực lượng sản xuất là xã hội, vì
người hiện đại đã sử dụng các công cụ như máy móc, điện tử, máy tính để
khai thác tự nhiên. Trình độ của lực lượng sản xuất là rất cao, vì năng suất
lao động có sự phát triển vượt bậc, người hiện đại đã có thể tạo ra rất nhiều hàng hóa và dịch vụ.
2.2.2. Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.
Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt của một phương thức
sản xuất có sự tác động biện chứng, trong đó lượng sản xuất quyết định quan
hệ sản xuất, còn quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất. Nếu
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại nếu không phù hợp sẽ kìm
hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đây là quy luật cơ bản nhất của sự
vận động và phát triển xã hội.
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất: Mối quan hệ giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ biện chứng, trong đó lực
lượng sản xuất có vai trò quyết định, còn quan hệ sản xuất có vai trò tác
động trở lại. Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất bởi vì nó là nền
tảng vật chất của quá trình sản xuất, là tiêu chí cơ bản để đánh giá sự tiến bộ
xã hội. Quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất, nếu không sẽ gây ra sự mâu thuẫn và xung đột. Quan hệ sản xuất
tác động trở lại lực lượng sản xuất bởi vì nó là hình thức kinh tế của quá
trình sản xuất, là điều kiện để lực lượng sản xuất phát huy khả năng. Quan
hệ sản xuất có thể ủng hộ hoặc cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất,
tùy thuộc vào tính hợp lý và tiến bộ của nó. Biểu hiện:
+ Trình độ của lực lượng sản xuất tương ứng với quan hệ sản xuất . Khi
một phương thức sản xuất mới ra đời, quan hệ sản xuất phải phù hợp với
trình độ của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển. Trình
độ của lực lượng sản xuất biểu hiện thông qua trình độ của công cụ lao động,
trình độ của người lao động, trình độ tổ chức và phân công lao động; trình
độ ứng dụng khoa học vào sản xuất.
Từ đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. 9
+ QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ
PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT .Khi lực lượng sản xuất
thay đổi về trình độ phát triển, đòi hỏi tất yếu quan hệ sản xuất phải thay đổi.
Sự thay đổi đó diễn ra như sau: Lực lượng sản xuất là yếu tố thường xuyên
biến đổi, bắt đầu từ sự phát triển của công cụ lao động, quan hệ sản xuất là
yếu tố tương đối ổn định, đến một giai đoạn nhất định, quan hệ sản xuất từ
chỗ là “hình thức phù hơn”, trở thành “xiềng xích” kìm hãm sự phát triển
của lực lượng sản xuất. Tương ứng với một với trình độ phát triển nhất định
của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải có một quan hệ sản xuất phù hợp với nó
trên cả ba phương diện: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ
trong tổ chức quản lý quá trình sản xuất, quan hệ trong phân phối kết quả
của quá trình sản xuất, đòi hỏi phải xóa bỏ hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ
sản xuất mới phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất.
Tóm lại : Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thống nhất với
nhau, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất.
Ví dụ: Sự chuyển đổi từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sang
phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa. Trong phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa, lực lượng sản xuất đã phát triển đến mức cao, nhưng quan hệ sản
xuất lại không phù hợp, gây ra sự mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp
công nhân. Giai cấp tư sản sở hữu tư liệu sản xuất và chiếm đoạt sản phẩm
lao động của giai cấp công nhân, gây ra sự bất bình đẳng và bóc lột. Giai cấp
công nhân là những người tạo ra của cải xã hội, nhưng lại phải sống trong
cảnh nghèo khổ và bị áp bức. Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã trở
thành rào cản cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, gây ra những khủng
hoảng kinh tế và xã hội. Để giải quyết sự mâu thuẫn này, giai cấp công nhân
đã nổi dậy và đánh đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ xã hội chủ
nghĩa. Trong phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, quan hệ sản xuất mới
được xây dựng dựa trên nguyên tắc sở hữu tập thể và công bằng xã hội. Tư
liệu sản xuất thuộc về nhân dân và do nhà nước quản lý, sản phẩm lao động
được phân chia theo nguyên tắc từng bước từ “ai làm nhiều nhận nhiều” đến
“theo nhu cầu”. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất tiếp tục
phát triển và nâng cao đời sống của nhân dân.
2.2.3. Sự tác động trở lại của quan hệ sản xất đối với lực lượng sản xuất.
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất là một
mặt của mối quan hệ biện chứng giữa hai yếu tố này. Quan hệ sản xuất là
hình thức kinh tế của quá trình sản xuất, là điều kiện để lực lượng sản xuất
phát huy khả năng. Quan hệ sản xuất có thể ủng hộ hoặc cản trở sự phát triển
của lực lượng sản xuất, tùy thuộc vào tính hợp lý và tiến bộ của nó. Sự tác 10
động trở lại của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất có thể được phân
tích theo hai khía cạnh sau:
- Khía cạnh tích cực: Khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất, nó sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho lực
lượng sản xuất tiếp tục phát triển và nâng cao.
“Khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất nền sản xuất phát triển đúng hướng, quy mô sản xuất được mở
rộng; những thành tựu khoa học công nghệ được áp dụng nhanh chóng vào
sản xuất; người lao động nhiệt tình hăng hái sản xuất, lợi ích của người lao
động được đảm bảo và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển”5 “Sự phù hợp
của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất quy định mục đích, xu hướng
phá tiền của nền sản xuất xã hội; hình thành hệ thống động lực thúc đẩy sản
xuất phát triển đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền sản xuất…”6
Ví dụ: Trong phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, quan hệ sản xuất
mới được xây dựng dựa trên nguyên tắc sở hữu tập thể và công bằng xã hội.
Tư liệu sản xuất thuộc về nhân dân và do nhà nước quản lý, sản phẩm lao
động được phân chia theo nguyên tắc từng bước từ “ai làm nhiều nhận
nhiều” đến “theo nhu cầu”. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa khuyến khích
sự sáng tạo và nỗ lực của người lao động, tạo ra những động lực để nâng cao
năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa cũng tạo ra những cơ sở vật chất và tinh thần để lực lượng sản xuất áp
dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ cao vào quá trình sản
xuất, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa xã hội.
- Khía cạnh tiêu cực: Khi quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, nó sẽ gây ra những rào cản và trở ngại cho
lực lượng sản xuất phát triển và nâng cao.
Ví dụ: Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, quan hệ sản xuất
dựa trên nguyên tắc sở hữu cá nhân và bất bình đẳng xã hội. Tư liệu sản xuất
thuộc về giai cấp tư sản và được sử dụng để chiếm đoạt sản phẩm lao động
của giai cấp công nhân, gây ra sự bất bình đẳng và bóc lột. Quan hệ sản xuất
tư bản chủ nghĩa làm suy yếu sức lao động của người lao động, gây ra sự
thất nghiệp, đói nghèo và bệnh tật. Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng
làm hạn chế sự sử dụng và phát triển của những tiến bộ khoa học kỹ thuật và
công nghệ cao, gây ra những khủng hoảng kinh tế và xã hội.
Từ phân tích trên, có thể thấy rằng sự tác động trở lại của quan hệ sản
xuất với lực lượng sản xuất là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát
triển của xã hội. Để xã hội phát triển bền vững, cần phải xây dựng và hoàn
thiện quan hệ sản xuất cho phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho lực lượng sản xuất phát huy khả
5 Tài liệu ôn thi Triết học.
6 Studocu, đại học Kinh Tế Quốc Dân. 11
năng và tiến bộ. Đây là một nhiệm vụ lớn và cấp thiết của nhà nước và nhân
dân trong thời kỳ hiện nay.
2.2.4. Ý nghĩa của phương pháp luận.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất có ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng. Trong thực tiễn, muốn
phát triển kinh tế phải bắt đầu từ phát triển lực lượng sản xuất, trước hết là
phát triển lực lượng lao động và công cụ lao động. Muốn xoá bỏ một quan
hệ sản xuất cũ, thiết lập một quan hệ sản xuất mới phải căn cứ từ trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, không phải là kết quả của mệnh lệnh hành
chính, của mọi sắc lệnh từ trên ban xuống, mà từ tính tất yếu kinh tế, yêu cầu
khách quan của quy luật kinh tế, chống tuỳ tiện, chủ quan, duy tâm, duy ý
chí. Hai quá trình trên cần được thực hiện đồng thời.
Nhận thức đúng đắn quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng trong vấn đề
quán triệt, vận dụng quan điểm, đường lối, chính sách, là cơ sở khoa học để
thức sâu sắc sự đổi mới tư duy kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong quá trình cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới
toàn diện đất nước hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn quan tâm
hàng đầu đến việc nhận thức và vận dụng đúng đắn sáng tạo quy luật này, đã
đem lại hiệu quả to lớn trong thực tiễn. Nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát, là sự vận dụng quy luật quan hệ
sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong phát
triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
III- Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ VỚI CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM.
3.1. Những sai lầm về quy luật quan hệ sản xuất - lực lượng sản xuất trước kia.
Trong quá trình lãnh đạo, quản lý đất nước của Đảng và Nhà nước ta
mấy chục năm gần đây, thực tiễn đã bộc lộ những ưu điểm, hạn chế trong
quá trình tìm hiểu và vận dụng các quy luật kinh tế, cả kinh tế và quy luật
quan hệ kinh doanh. Lực lượng thực tiễn ở nước ta, với đặc điểm nước ta là
nước nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, lực lượng sản xuất thấp, trình độ
quản lý thấp và nhỏ lẻ, sản xuất tự cung tự cấp là chủ yếu. Mặt khác, nước ta
là nước thuộc địa nửa phong kiến, trải qua hai cuộc chiến tranh, bị đế quốc
Mỹ bao vây nhiều năm và bị cấm vận về nhiều mặt, nhất là về kinh tế. Vì
vậy, lực lượng sản xuất không có điều kiện để phát triển. Sau khi giành được
chính quyền năm 1945, nhà nước ta trước nhu cầu xây dựng chủ nghĩa xã
hội trong bối cảnh nền kinh tế kém phát triển đã sử dụng sức mạnh ý chí và
tư tưởng chính trị để nhanh chóng xóa bỏ sở hữu tư nhân, biến nó thành tài
sản công dưới hai hình thức: toàn dân và tập thể, được coi là điều kiện quan
trọng nhất, có tính chất quyết định nhất đối với tính chất, mức độ xã hội hóa 12
sản xuất cũng như đối với thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tuy
nhiên, trên thực tế, cách làm này không mang lại kết quả như mong muốn vì
nó vi phạm quy tắc quan hệ sản xuất phải hài hòa với tính chất, trình độ của
lực lượng sản xuất, dẫn đến những hậu quả sau:
Thứ nhất: Đối với người sản xuất nhỏ (nông dân, thợ thủ công, tiểu
thương), sở hữu tư nhân về quyền sản xuất là cách tốt nhất để kết hợp lao
động với tư liệu sản xuất. Tư liệu sản xuất được thực hiện nhanh chóng, tập
thể dưới hình thức cá nhân và tập trung dưới hình thức sở hữu toàn dân,
công nhân bị tách khỏi tư liệu sản xuất, không điều khiển quá trình sản xuất,
dựa vào những người đứng đầu hợp tác xã không phải là chủ sở hữu thực sự
dẫn đến chiếm hữu tư liệu sản xuất và gây thiệt hại cho tập thể.
Thứ hai: kinh tế nhà nước có tính chất phổ biến ở mọi lĩnh vực. Về
mặt pháp lý, tư liệu sản xuất cũng là tài sản của toàn dân, công nhân là chủ
sở hữu, có quyền kiểm soát, quyết định tư liệu sản xuất và sản phẩm sản
xuất ra, nhưng trên thực tế công nhân chỉ là công nhân. Các quy định về thuế
còn bất cập, chưa phản ánh đúng số lượng, chất lượng công việc của mỗi
người nộp thuế. Vì vậy, việc sở hữu toàn dân các tư liệu sản xuất cùng với
chủ sở hữu trở thành hình thức, không có chủ sở hữu thì Chính phủ (bộ hành
chính, ngành) là đại diện của chủ sở hữu, có quyền kiểm soát chủ thể đó.
Sáng kiến mất đi, động lực lợi nhuận mất đi, sản xuất kinh doanh kém hiệu
quả nhưng không có người chịu trách nhiệm, không có cơ chế thực thi trách
nhiệm nên người lao động thờ ơ với kết quả hoạt động của mình.
Đây là nguyên nhân chính gây ra sự tiêu cực trong việc phân phối: ít
người có quyền quyết định việc phân phối vật tư, vật phẩm và đặc quyền.
Tuy nhiên, trong quá trình quản lý xã hội nhằm thúc đẩy phát triển
kinh tế, chúng ta vận dụng pháp luật để quan hệ sản xuất luôn phù hợp với
tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất. Trên thực tế, Đảng và Nhà nước ta
đang từng bước điều chỉnh tỷ lệ sản xuất. cả ở cấp độ vi mô và vĩ mô, chú
trọng thúc đẩy phát triển năng lực sản xuất. Điều này đã có tác động tích
cực đến nền kinh tế nước ta.
3.2. Quá trình vận dụng quy luật “quan hệ sản xuất phải phù hợp
với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất” trên con đường đi lên
Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất là cơ sở giải thích nguồn gốc sâu xa của mọi hiện tượng xã
hội, những biến đổi trong đời sống chính trị và từ đó giải thích sự vận hành
của mọi hiện tượng xã hội. Nền kinh tế, xã hội của đất nước vô cùng hợp lý
nhưng không phải quốc gia nào cũng áp dụng hiệu quả quy luật này Và .
Đảng ta đã trải qua một quá trình nghiên cứu, vận dụng sáng tạo luật này vào
nhiều giai đoạn thực tiễn khác nhau để đổi mới, phát triển kinh tế, xã hội đất nước. 13
Trong giai đoạn 1954 - 1975, do thiếu kinh nghiệm xây dựng chủ
nghĩa xã hội trong thời kỳ này nên chúng ta đã đổi mới, đồng thời đưa quan
hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô Viết vào nền kinh tế miền
Bắc. Trình độ lực lượng sản xuất không đáp ứng được nhu cầu cao này và
không thúc đẩy phát triển năng suất lao động.
Trong giai đoạn từ 1975 đến 1986, việc áp dụng mô hình kinh tế nhiều
thành phần trong cả nước rơi vào tình trạng khủng hoảng ngày càng nghiêm
trọng, đẩy đất nước vào tình thế khó khăn. Nguyên nhân cơ bản là do việc
hình thành “quan hệ sản xuất” vượt xa trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, không phù hợp với thực tế đất nước trong thời bình.
Đại hội VI của Đảng là dấu mốc quan trọng trong công cuộc đổi mới
toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới nhận thức, vận dụng quy luật quan
hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Đại hội VII (1991) đánh giá 5 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn
diện đất nước và bước đầu đạt được một số thành tựu đáng kể, nhất là trên
lĩnh vực đổi mới kinh tế. So với Đại hội VI, tại Đại hội VII, Đảng ta đã có
bước tiến mới trong nhận thức về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, tuy
vẫn còn những bất cập. Đại hội lần thứ VIII năm (1996), Đảng ta xác định,
trên cơ sở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nước ta có 5 thành phần
kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư nhân, kinh tế vốn nhà
nước, kinh tế cá thể, kinh tế nhỏ kinh tế sở hữu và kinh tế tư bản tư nhân. Có
thể thấy, quá trình đổi mới đã đạt được những thành công to lớn và rất quan
trọng trong 10 năm qua, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
mạnh mẽ. Đại hội IX đã tiếp thu thành tựu của công cuộc đổi mới, tiếp tục
đổi mới và phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Đảng ta tiếp tục bổ
sung một thành phần kinh tế vào hệ thống cơ cấu kinh tế của nước ta, đó là
“nền kinh tế đầu tư nước ngoài”. Sự tồn tại của thành phần kinh tế này là tất
yếu cho sự phát triển phù hợp với thực tế của Việt Nam. Trong đường lối
phát triển kinh tế, xã hội của mình, Đảng nêu rõ: “Ưu tiên phát triển lực
lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định
hướng xã hội chủ nghĩa…”. Về quan hệ sản xuất, Đảng nêu rõ: “Chính sách
thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần”, mọi
thành phần kinh tế hoạt động theo Luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng
của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển lâu dài và
hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.
Đại hội lần thứ XI (2011) tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991,
đã bổ sung và phát triển Cương lĩnh 1991, xác định được 3 đột phá chiến
lược: “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao;
Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ”7. Đại hội đã bổ sung nhận thức
7 Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. 14
và làm rõ hơn khái niệm nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa.
Đại hội lần thứ XII, tổng kết qua 30 năm đổi mới, Đảng ta đã phân tích
rõ ràng về mối quan hệ lớn này: “Trong tiến trình đổi mới kinh tế…,kịp thời
điều chỉnh các mặt cấu thành quan hệ sản xuất, đặc biệt là quan hệ sở hữu,
các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế để đảm bảo sự phù hợp giữa
quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhằm giải
phóng và thúc đẩy phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất”. Giải quyết tốt
mối quan hệ này cũng như 7 mối quan hệ còn lại góp phần thực hiện mục
tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” tiến lên Chủ
nghĩa xã hội. Qua đó, khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành
phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân
là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành
phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”. Đảng đã có
bước tiến lớn trong việc nâng cao nhận thức xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa bằng việc tôn trọng quy luật tương thích giữa
quan hệ sản xuất với trình độ lực lượng sản xuất, ngày càng nhận thức rõ
hơn về vị trí, chức năng của các thành phần kinh tế.
Đại hội lần thứ XIII (2021) chịu ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa
học công nghệ lần thứ tư và tác động của đại dịch Covid-19, mang đến
những cơ hội và thách thức lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của nước
ta. Là di sản và sự phát triển của 12 kỳ Đại hội và 35 năm đổi mới, Đảng ta
vẫn giữ vững đường lối chỉ đạo, quyết tâm giữ vững lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ
nghĩa xã hội. Áp dụng một cách sáng tạo. Vận dụng quy luật quan hệ sản
xuất theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phù hợp với thực tế Việt
Nam. Đảng nêu rõ: “Tiếp tục quán triệt, quản lý mối quan hệ giữa sự phát
triển của lực lượng sản xuất với việc từng bước xây dựng, hoàn thiện hệ
thống sản xuất xã hội chủ nghĩa”8. Nhận thức đúng đắn về quy luật này sẽ
góp phần hiện thực hóa “khát vọng phát triển của Việt Nam” và đưa Việt
Nam trở nước công nghiệp phát triển.
Có thể thấy, Đảng đã nhận thức đúng đắn về tác động của quy luật
trong từng thời điểm và điều kiện cụ thể, từ đó nhận rõ sự mâu thuẫn giữa
lực lượng sản xuất - quan hệ sản xuất, để không ngừng nâng cao các chủ
trương, chính sách phát triển một nền kinh tế mới. Nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa được hoàn thiện, thúc đẩy sự phát triển
của lực lượng sản xuất, tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật để hoàn thiện quan hệ
sản xuất. Bên cạnh những thành công to lớn đạt được trong việc vận dụng
pháp luật một cách sáng tạo, vẫn còn những hạn chế, khó khăn đòi hỏi Đảng,
8 Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. 15
Nhà nước Việt Nam phải tiếp tục nghiên cứu, thực thi pháp luật để hoàn
thiện chính sách, đưa ra các chính sách góp phần phát triển nền kinh tế ở
Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo.
3.3. Công nghiệp hoá vận dụng tuyệt vời quy luật “quan hệ sản
xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất” trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.
Công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ nông nghiệp
sang công nghiệp. Việc áp dụng tốt quy luật quan hệ sản xuất trong quá trình
công nghiệp hoá rất quan trọng để phát triển và nâng cao lực lượng sản xuất
trong môi trường đổi mới hiện nay của Việt Nam.
Thuộc phạm trù lực lượng sản xuất và vận động không nằm ngoài biện
chứng nội tại của phương thức sản xuất nên vấn đề công nghiệp hóa gắn liền
với hiện đại hóa trước hết phải được xem xét từ góc độ triết học. Trước khi
bắt tay vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đạt được thành công
cho đất nước, con người phải có tiềm lực kinh tế con người, trong đó lao
động là yếu tố quan trọng. Ngoài ra, phải có sự tương thích giữa quan hệ sản
xuất với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có tiềm
năng rất lớn về lực lượng lao động chăm chỉ, thông minh, sáng tạo và giàu
kinh nghiệm, nhưng công cụ của chúng ta còn thô sơ Nguy cơ tụt hậu ngày .
càng được khắc phục. Đảng ta đang triển khai mạnh mẽ một số vấn đề công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ yếu trên cơ sở cơ cấu thể chế pháp
luật gắn với cơ cấu pháp luật của các thành phần kinh tế, cơ cấu xã hội có
giai cấp. Cùng với những cơ hội to lớn, những thách thức to lớn cũng phải
được vượt qua để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa: hiện đại hóa đất
nước vì dân giàu, nước mạnh, công bằng, văn minh và những nội dung căn
bản trong việc thực hiện là phải nhận thức đúng đắn về quy luật quan hệ sản
xuất phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nước
ta trong giai đoạn hiện nay. 16 KẾT LUẬN
Trong cuộc hành trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, quy luật
quan hệ sản xuất không chỉ là một đề tài nghiên cứu về kinh tế mà còn là
chìa khóa mở ra những cánh cửa của sự đổi mới và phồn thịnh. Chúng ta đã
cùng nhau tìm hiểu và thảo luận về sự phù hợp giữa tính chất và trình độ của
lực lượng sản xuất với quy luật quan hệ sản xuất, và ý nghĩa của vấn đề này
đối với con đường phát triển của đất nước.
Đúng như chúng ta đã thấy, sự linh hoạt trong áp dụng quy luật quan hệ
sản xuất không chỉ tạo ra những cơ hội mới cho sự phát triển kinh tế mà còn
giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và đời sống văn hóa của nhân dân. Việc
đối xử công bằng, tạo điều kiện cho mọi người tham gia vào quá trình sản
xuất và chia sẻ công bằng lợi ích từ sự phồn thịnh là những yếu tố quan
trọng xây dựng nền kinh tế xã hội bền vững và phát triển.
Chúng ta không chỉ học hỏi từ quá khứ mà còn phải nhìn xa về tương
lai, xây dựng những chính sách và chiến lược phát triển kinh tế xã hội dựa
trên những hiểu biết sâu sắc về quy luật quan hệ sản xuất. Bằng sự hiểu biết
và áp dụng linh hoạt của chúng ta, chúng ta có thể định hình một tương lai
mà mọi cá nhân, từng thành phần của xã hội, đều có cơ hội và vai trò quan
trọng trong sự phồn thịnh và tiến bộ của đất nước.
Nhìn chung, chúng ta hy vọng rằng những nỗ lực nghiên cứu và thảo
luận về quy luật quan hệ sản xuất sẽ không chỉ là lý thuyết mà còn là động
lực mạnh mẽ, đồng hành cùng Việt Nam trên con đường xây dựng một xã
hội công bằng, giàu mạnh và tiến bộ. 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 1. 123docz.net
https://123docz.net/trich-doan/3594268-moi-quan-he-bien-chung-giua-luc-
luong-san-xuat-va-quan-he-san-xuat.htm. 2. Thế giới luật.
https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/Bai-Nghien-Cuu-Khoa-Hoc-Quy-
luat-quan-he-san-xuat-phu-hop-voi-trinh-do-phat-trien-cua-luc-luong-san-xuat- 9579/
3. tapchicongsan.org.vn, Quan điểm của C. Mác về lực lượng sản xuất và
vấn đề bổ sung, phát triển quan điểm này trong giai đoạn hiện nay, Lê Thị Chiên (tác giả) ,14/01/2021.
[https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/821033/ view_content# ] 4. ĐồÁn.edu.vn.
https://doan.edu.vn/do-an/tieu-luan-quy-luat-quan-he-san-xuat-phu-hop-
voi-tinh-chat-va-trinh-do-cua-luc-luong-san-xuat-38852/
5. tailieunghiencuuluat.blogspot.com, Tài liệu luật, My Blog (tác giả),02/07/2016.
[http://tailieunghiencuuluat.blogspot.com/2016/07/su-van-dung-quy-luat- qhsx-phu-hop-voi.html ]
6. hocluat.vn, Phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất,22/12/2021.
[https://hocluat.vn/phuong-thuc-san-xuat-luc-luong-san-xuat-va-quan-he-san- xuat/ ]
7. luathoangphi.vn, Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát
triểncủa lực lượng sản xuất, Phạm Thị Oanh (tác giả), 23/09/2021.
[https://luathoangphi.vn/quy-luat-quan-he-san-xuat-phu-hop-voi-trinh-do-
phat-trien-cua-luc-luong-san-xuat/]
8. Giáo trình triết học Mác-Lênin (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý
luận chính trị) NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT Hà Nội - 2021
https://pubhtml5.com/rbla/qsft/basic/
9. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.
https://daihoi13.dangcongsan.vn/
10. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII.
https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-
hoi-dang/lan-thu-vii/dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-vii-cua-dang-17 18