TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI
Nội dung triết học của thuyết Tứ Diệu Đế trong triết học
Phật giáo và ý nghĩa của nhân sinh quan Phật giáo đối với bản thân HÀ NỘI, 2023 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1
NỘI DUNG TIỂU LUẬN ................................................................................................... 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NỘI DUNG VỀ TỨ DIỆU ĐẾ TRONG PHẬT GIÁO .. 3
1.1 Khái lược hệ thống giáo lý cơ bản của Phật giáo và vị trí của Tứ Diệu Đế
trong Phật giáo .................................................................................................................. 3
1.2 Hoàn cảnh ra đời, định nghĩa, bố cục Tứ Diệu Đế trong hệ thống giáo lý Phật giáo.
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời của Tứ Diệu Đế .................................................................... 4
1.2.2 Định nghĩa của Tứ Diệu Đế ............................................................................. 4
1.2.3 Bố cục của Tứ Diệu Đế .................................................................................... 5
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TRIẾT HỌC CỦA THUYẾT TỨ DIỆU ĐẾ ...................... 8
2.1 Các phạm trù cơ bản của thuyết Tứ Diệu Đế .............................................. 8
2.1.1 Phạm trù Khổ trong Tứ Diệu Đế ..................................................................... 8
2.1.2 Phạm trù Tập trong Tứ Diệu Đế .................................................................... 13
2.1.3 Phạm trù Diệt trong Tứ Diệu Đế ................................................................... 14
2.1.4 Phạm trù Đạo trong Tứ Diệu Đế ................................................................... 14
2.2 Ý nghĩa của Tứ Diệu Đế đối với phật giáo và phật giáo Việt Nam .............. 16
CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI BẢN THÂN 19
3.1 Nội dung nhân sinh quan trong phật giáo ..................................................... 19
3.2 Ý nghĩa nhân sinh quan phật giáo đối với bản thân ...................................... 22
3.2.1 Nhân sinh quan Phật giáo giúp bản thân yêu thương con người hơn. ........... 22
3.2.2 Nhân sinh quan Phật giáo giúo bản thân biết chấp nhận hoàn cảnh thực tại . 22
3.2.3 Nhân sinh quan Phật giáo giáo dục bản thân tôi sự tự tin trong cuộc sống. .. 23
3.2.4 Nhân sinh quan Phật giáo giáo dục bản thân trách nhiệm các nhân .............. 23
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 25
DANH MỤC THAM KHẢO ........................................................................................... 26 MỞ ĐẦU
Phật giáo là một trường phái triết học- tôn giáo lớn của thế giới, đồng thời cũng là
một học thuyết mang đậm tính triết học sâu sắc. Phật giáo có sức ảnh hưởng rộng rãi, lâu
dài trên phạm vi thế giới và hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và có số lượng phật tử đông
đảo phân bố rộng khắp. Cùng với quá trình lịch sử, Phật giáo đã có những đóng góp đáng
kể cho nền văn hóa của nhân loại. Trong đó, đạo phật nghiên cứu, giải thích về con người,
những gì tạo lập nên những “Tiểu vũ trụ” tức con người trong cuộc sống xoay tròn mãi
không dứt. Đạo phật khám phá nguyên nhân của thực tế cuộc sống liên hồn chìm nổi của
kiếp người và chỉ ra con đường diệt khổ, giải thoát và tiến tới Niết bàn. Đó chính là nôi
dung của Tứ Diệu Đế trong giáo lý của Phật giáo.
Trong Phật giáo, Tứ Diệu Đế đóng vai trò cơ sở, nên tảng cho toàn bộ hệ thống giáo
lý từ nguyên thủy cho đến các nhánh phái hiện đại nhất của nó. Tứ Diệu Đế được coi là
cốt tủy, là xương sống, của toàn bộ giáo pháp của Phật pháp. Tất cả giáo pháp của Đức
Phật sau này đều là sự phát triển mở rộng trên nền tảng của Tứ Diệu Đế. Đức Phật đã dạy
rằng “ Nếu con người ta không hiểu rõ về Tứ Diệu Đế là gì thì không có cách nào khác có
thể tránh khỏi con đường sinh tử luân hồi, không hiểu rõ Tứ Diệu Đế là gì thì sẽ không
thể nào tìm được con đường để thoát ly khổ đau, trầm luân từ kiếp này sang kiếp khác”.
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và trong suốt quá trình hình thành và
phát triển, Phật giáo Việt Nam với sự dung hợp của các giá trị văn hóa truyền thống nước
ta đã có những ảnh hưởng sâu sắc cho dân tộc trên nhiều lĩnh vực bao gồm văn hóa, đạo
đức, nếp sống và tư duy của người Việt. Vì vậy, nghiên cứu Phật giáo nói chung và Tứ
Diệu Đế nói riêng và nhìn nhận, đánh giá chúng là một nội dung quan trọng nhằm tìm
hiểu lịch sử cũng như định hướng cho sự phát triển nhân cách, tư duy con người Việt
Nam hiện tại và tương lai. Nhiều giá trị tư tưởng tích cực của Tứ Diệu Đế đã và đang
được người Việt Nam tiếp tục phát huy trong đời sống thực tiễn. 1
Như vậy, có thể nói, việc nghiên cứu, khai thác các giá trị Phật giáo từ góc độ triết
học là một đóng góp có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Vì thế, em xin chọn đề tài
“Nội dung triết học của thuyết Tứ Diệu Đế trong triết học Phật giáo và ý nghĩa của nhân
sinh quan Phật giáo đối với bản thân” làm đề tài tiểu luận. 2
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI
Nội dung triết học của thuyết Tứ Diệu Đế trong triết học
Phật giáo và ý nghĩa của nhân sinh quan Phật giáo đối với bản thân HÀ NỘI, 2023 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1
NỘI DUNG TIỂU LUẬN ................................................................................................... 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NỘI DUNG VỀ TỨ DIỆU ĐẾ TRONG PHẬT GIÁO .. 3
1.1 Khái lược hệ thống giáo lý cơ bản của Phật giáo và vị trí của Tứ Diệu Đế
trong Phật giáo .................................................................................................................. 3
1.2 Hoàn cảnh ra đời, định nghĩa, bố cục Tứ Diệu Đế trong hệ thống giáo lý Phật giáo.
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời của Tứ Diệu Đế .................................................................... 4
1.2.2 Định nghĩa của Tứ Diệu Đế ............................................................................. 4
1.2.3 Bố cục của Tứ Diệu Đế .................................................................................... 5
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TRIẾT HỌC CỦA THUYẾT TỨ DIỆU ĐẾ ...................... 8
2.1 Các phạm trù cơ bản của thuyết Tứ Diệu Đế .............................................. 8
2.1.1 Phạm trù Khổ trong Tứ Diệu Đế ..................................................................... 8
2.1.2 Phạm trù Tập trong Tứ Diệu Đế .................................................................... 13
2.1.3 Phạm trù Diệt trong Tứ Diệu Đế ................................................................... 14
2.1.4 Phạm trù Đạo trong Tứ Diệu Đế ................................................................... 14
2.2 Ý nghĩa của Tứ Diệu Đế đối với phật giáo và phật giáo Việt Nam .............. 16
CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI BẢN THÂN 19
3.1 Nội dung nhân sinh quan trong phật giáo ..................................................... 19
3.2 Ý nghĩa nhân sinh quan phật giáo đối với bản thân ...................................... 22
3.2.1 Nhân sinh quan Phật giáo giúp bản thân yêu thương con người hơn. ........... 22
3.2.2 Nhân sinh quan Phật giáo giúo bản thân biết chấp nhận hoàn cảnh thực tại . 22
3.2.3 Nhân sinh quan Phật giáo giáo dục bản thân tôi sự tự tin trong cuộc sống. .. 23
3.2.4 Nhân sinh quan Phật giáo giáo dục bản thân trách nhiệm các nhân .............. 23
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 25
DANH MỤC THAM KHẢO ........................................................................................... 26 MỞ ĐẦU
Phật giáo là một trường phái triết học- tôn giáo lớn của thế giới, đồng thời cũng là
một học thuyết mang đậm tính triết học sâu sắc. Phật giáo có sức ảnh hưởng rộng rãi, lâu
dài trên phạm vi thế giới và hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và có số lượng phật tử đông
đảo phân bố rộng khắp. Cùng với quá trình lịch sử, Phật giáo đã có những đóng góp đáng
kể cho nền văn hóa của nhân loại. Trong đó, đạo phật nghiên cứu, giải thích về con người,
những gì tạo lập nên những “Tiểu vũ trụ” tức con người trong cuộc sống xoay tròn mãi
không dứt. Đạo phật khám phá nguyên nhân của thực tế cuộc sống liên hồn chìm nổi của
kiếp người và chỉ ra con đường diệt khổ, giải thoát và tiến tới Niết bàn. Đó chính là nôi
dung của Tứ Diệu Đế trong giáo lý của Phật giáo.
Trong Phật giáo, Tứ Diệu Đế đóng vai trò cơ sở, nên tảng cho toàn bộ hệ thống giáo
lý từ nguyên thủy cho đến các nhánh phái hiện đại nhất của nó. Tứ Diệu Đế được coi là
cốt tủy, là xương sống, của toàn bộ giáo pháp của Phật pháp. Tất cả giáo pháp của Đức
Phật sau này đều là sự phát triển mở rộng trên nền tảng của Tứ Diệu Đế. Đức Phật đã dạy
rằng “ Nếu con người ta không hiểu rõ về Tứ Diệu Đế là gì thì không có cách nào khác có
thể tránh khỏi con đường sinh tử luân hồi, không hiểu rõ Tứ Diệu Đế là gì thì sẽ không
thể nào tìm được con đường để thoát ly khổ đau, trầm luân từ kiếp này sang kiếp khác”.
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và trong suốt quá trình hình thành và
phát triển, Phật giáo Việt Nam với sự dung hợp của các giá trị văn hóa truyền thống nước
ta đã có những ảnh hưởng sâu sắc cho dân tộc trên nhiều lĩnh vực bao gồm văn hóa, đạo
đức, nếp sống và tư duy của người Việt. Vì vậy, nghiên cứu Phật giáo nói chung và Tứ
Diệu Đế nói riêng và nhìn nhận, đánh giá chúng là một nội dung quan trọng nhằm tìm
hiểu lịch sử cũng như định hướng cho sự phát triển nhân cách, tư duy con người Việt
Nam hiện tại và tương lai. Nhiều giá trị tư tưởng tích cực của Tứ Diệu Đế đã và đang
được người Việt Nam tiếp tục phát huy trong đời sống thực tiễn. 1
Như vậy, có thể nói, việc nghiên cứu, khai thác các giá trị Phật giáo từ góc độ triết
học là một đóng góp có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Vì thế, em xin chọn đề tài
“Nội dung triết học của thuyết Tứ Diệu Đế trong triết học Phật giáo và ý nghĩa của nhân
sinh quan Phật giáo đối với bản thân” làm đề tài tiểu luận. 2
NỘI DUNG TIỂU LUẬN
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NỘI DUNG VỀ TỨ DIỆU ĐẾ TRONG PHẬT GIÁO
1.1 Khái lược hệ thống giáo lý cơ bản của Phật giáo và vị trí của Tứ
Diệu Đế trong Phật giáo
Toàn bộ hệ thống giáo lý cơ bản của Phật giáo tập hợp thành Tam Tạng Kinh, bao
gồm Kinh tạng (sutra), Luật tạng (Vinafa) và Luận tạng (Sastra).Trong đó, Kinh tạng là
những lời của Đức Phật Thích Ca đã nói khi còn tại thế, để dạy chúng sanh dứt trừ phiền
não và đạt đến quả Niết Bàn. Luật tạng là những giới luật mà Phật đã chế ra cho các đệ tử,
để các đệ tử răn chừa các điều dữ, tu tập các điều lành, trau dồi thân tâm cho thanh tịnh.
Luận tạng là những sách phần nhiều do các đệ tử Phật làm ra để bàn giải rõ ràng nghĩa lý
mầu nhiệm trong kinh, luật hoặc quyết đoán tánh, tướng của các Pháp, phân biệt những lẽ
phải của chánh đạo và tà đạo, khiến cho người đời khỏi nhận lầm phải trái, chánh tà. Cả
ba tạng này đều phản ánh tư tưởng Tứ Diệu Đế như cốt lõi của giáo lý Phật giáo.
Về số lượng, kinh sách của Phật giáo được coi là một kho tàng vĩ đại. Riêng Đại
tạng kinh có gần 10.000 pho sách, ngoài ra còn rất nhiều những trước tác, bình luận, giải
thích giáo lý và rất nhiều các lĩnh vực khác, như: Văn học, triết học, nghệ thuật, luân lý
học được truyền bá khắp thế giới và được dịch ra nhiều thứ tiếng. Nguyên bản thì chép
bằng chữ Pali và chữ Phạn.
Giáo lý của đạo Phật có rất nhiều nhưng đều xuất phát từ thực tế cuộc sống, không
trừu tượng, siêu hình, giáo điều hay khiên cưỡng, không ép buộc mà hoàn toàn chỉ mang
tính định hướng để cho mọi người tuỳ điều kiện, hoàn cảnh, nhận thức áp dụng linh hoạt
để dù tu theo cách nào trong 84.000 pháp môn tu Đức Phật đã chỉ ra thì cuối cùng cũng
đạt đến mục đích sống yên vui, ấm no và hạnh phúc cho mỗi người, cho gia đình và xã hội.
Giáo lý cơ bản của đạo Phật có hai vấn đề quan trọng, đó là Lý Nhân duyên
và Tứ Diệu Đế (4 chân lý). Trong đó Tứ Diệu Đế (Cattari Ariyasaccani) có thể được coi 3
là trái tim, cốt lõi của đạo Phật. Những chân lý này được tìm hiểu bởi Đức Phật sau khi
Giác ngộ, đã tạo nên nền tảng và cốt lõi của Giáo Pháp (Dhamma) và luôn được bàn luận
trong mọi vấn đề và từng phần của Giáo Pháp. Chân lý này càng được rõ ràng qua nội
dung của Tứ Diệu Đế là Khổ đế (Dukkha) ,Tập đế (Samudaya), Diệt đế ( Nirodha) và Đạo đế (Magga).
Như vậy, khi nghiên cứu toàn bộ hệ thống giáo lý của Phật giáo trên những vấn đề
về thế giới, nhân sinh, đạo đức, niềm tin... tất yếu phải gắn với những giáo thuyết chủ yếu
của Tứ Diệu Đế. Đó là nội dung hết sức quan trọng, được hình thành và có mối quan hệ
chặt chẽ với các giáo thuyết khác tạo nên một hệ thống thống nhất của giáo lý Phật giáo
1.2 Hoàn cảnh ra đời, định nghĩa, bố cục Tứ Diệu Đế trong hệ thống
giáo lý Phật giáo.
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời của Tứ Diệu Đế
Sau 49 ngày đêm thiền định dưới cội Bồ Đề, Thái tử Tất Đạt Đa thành tựu đạo quả
Vô Thượng Bồ Đề và trở thành bậc Chính Đẳng Chính Giác, hiệu là Phật Thích Ca Mâu
Ni. Ngài đã chứng đạo tối thượng, thể nhập chân lý của pháp giới, thấu tỏ bốn sự thật của
thế gian - chính là Tứ Diệu Đế. Khi đó, tâm Ngài lắng trong thanh tịnh, diệt trừ hoàn toàn
mọi đau khổ, cấu uế và phiền não trong tâm.
Với lòng từ bi vô tận, Đức Phật muốn đem sự thật căn bản ấy thuyết giảng, giáo hóa
cho khắp muôn loài để đưa chúng sinh thoát vòng sinh tử luân hồi. Vậy nên, Tứ Thánh đế
được Đức Phật thuyết ngay trong bài kinh đầu tiên; gọi là chuyển bánh xe Pháp và thuyết
trong bài kinh chuyển Pháp luân khi Đức Phật đến thành Ba La Nại, đến vườn Nai để
thuyết Pháp độ cho năm anh em ông Kiều Trần Như.
1.2.2 Định nghĩa của Tứ Diệu Đế
Tứ theo nghĩa Hán Việt là Bốn, Diệu ở đây là hay đẹp, quý báu , hoán toàn, phép
màu nhiệm vô cùng cao quý và Đế chính là sự chắc chắn, rõ ràng nhất đúng đắn nhất.
Ghép lại ý nghĩa của các từ, có thể hiểu Tứ Diệu Đế là bốn sự thât chắc chắn, quý báu, 4
hoàn toàn nhất, không có một giáo lý ngoại đạo nào có thể sánh kịp. Với bốn sự
thật mà Đức Phật đã phát huy đây, người tu hành có thể từ địa vị tối tăm, mê mờ, đi dần
đến quả vị giác ngộ một cách chắc thật, không sai chạy, như một ngọn đuốc thiêng có thể
soi đường cho người bộ hành đi trong đêm tối đến đích. Vì cái công dụng quý báu, mầu
nhiệm, vô cùng lợi ích như thế nên mới gọi là Diệu.
Chữ Đế còn có nghĩa là một Sự Thật lớn nhất, cao nhất, bao trùm tất cả các Sự
Thật khác, và muôn đời bất di bất dịch, chứ không phải là sự thật hạn cuộc trong không gian và thời gian.
1.2.3 Bố cục của Tứ Diệu Đế
Tứ Diệu Đế gồm 4 phần cơ bản sau: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế. Trong đó:
Khổ đế (Dukkha): Khổ đế là chân lý chắc thật, trình bày rõ ràng cho chúng ta thấy
tất cả những nỗi đau trên thế gian này mà mỗi chúng sinh đều phải chịu, như Sống là khổ,
Đau là khổ, Già là khổ, Chết là khổ … những nỗi khổ dẫy đầy trên thế gian, bao
vây chúng ta, chìm đắm chúng ta như nước biển. Do đó, Đức Phật thường ví cõi đời là một bể khổ mênh mông.
Tập đế (Sameda Dukkha): Tập đế là chân lý chắc thật, trình bày nguyên nhân của
bể khổ trần gian, là lý do vì đâu có những nỗi khổi ấy. Khổ đế như là bản kê hiện
trạng của chứng bệnh; còn Tập đế như là bản nói rõ nguyên nhân của chứng bệnh, lý do vì sao có bệnh.
Diệt dế (Nirodha Dukkha): Diệt đế là chân lý chắc thật, trình bày rõ ràng hoàn
cảnh quả vị an lành, tốt đẹp mà chúng sanh sẽ đạt đến khi đã diệt trừ được những nỗi khổ
và những nguyên nhân của đau khổ. Diệt đế như là một bản cam đoan của lương y nói rõ
sau khi người bệnh klành thì sẽ ăn ngon, ngủ yên như thế nào, thân thể sẽ tráng kiện, tâm
hồn khoan khoái như thế nào. 5
Đạo đế (Nirodha Gamadukkha). Đạo đế là những phương pháp đúng đắn, chắc thật
để diệt trừ đau khổ. Đó là chân lý chỉ rõ con đường quyết định đi đến cảnh giới Niết Bàn.
Nói một cách giản dị, đó là những phương pháp tu hành để diệt khổ và được vui.
Đạo đế cũng như cái toa thuốc mà vị lương y đã kê ra để người bệnh mua và những
lời chỉ dẫn mà bệnh nhân cần phải y theo để lành bệnh.
Tứ Diệu Đế đã được Đức Phật sắp đặt theo một thứ tự rất khôn khéo, hợp lý, hợp
tình. Ngày nay các nhà nghiên cứu Phật học Âu Tây, mỗi khi nói đến Tứ Diệu Đế, ngoài
cái nghĩa lý sâu xa, nhận xét xác đáng, còn tóm tắt tán thán cái kiến trúc, cái bố cục, cái
thứ lớp của toàn bộ pháp môn ấy.
Trước tiên, Đức Phật chỉ cho chúng sanh thấy cái thảm cảnh hiện tại của cõi đời. Cái
thảm cảnh bi đát này nằm ngay trước mắt ta, bên tai ta, ngay trong chính mỗi chúng ta;
những sự thật có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ được, chứ không phải những sự thật xa
lạ ở đâu đâu. Đã là một chúng sanh ai cũng phải trải qua sinh, tử, đau ốm, bệnh tật… Và
những trạng thái ấy đều mang theo tánh chất khổ cả. Đã có thân, tất phải khổ. Đó là
một chân lý rõ ràng, giản dị, không ai là không nhận thấy, nếu có một chút ít nhận xét.
Khi chỉ cho mọi người thấy cái khổ ở trước mắt, ở chung quanh và chính trong
mỗi chúng ta rồi, Đức Phật mới đi qua giai đoạn thứ hai, là chỉ cho chúng sanh thấy
nguồn gốc, lý do của những nỗi khổ ấy. Ngài đã từ hiện tại đi dần về quá khứ, đã từ bề
mặt đi dần xuống bề sâu, đã từ cái dễ thấy đến cái khó thấy. Như thế là lý luận của Ngài
đã đặt căn bản lên thực tại, lên những điều có thể chứng nghiệm được, chứ không phải xa lạ, viển vông, mơ hồ.
Đến giai đoạn thứ ba, Đức Phật nêu lên trình bày cho chúng ta thấy cái vui thú của
sự hết khổ. Giai đoạn này tương phản với giai đoạn thứ nhất: giai đoạn trên khổ sở như
thế nào, thì giai đoạn này lại vui thú như thế ấy. Cảnh giới vui thú mà Ngài trình bày
cho chúng ta thấy ở đây, cũng không có gì là mơ hồ, viển vông, vì nếu đã có cái khổ tất
có cái vui và khi đã thấy rõ được cái khổ như thế nào, thì mới hăng hái tìm cách thoát
khổ và khao khát hướng đến cái vui mà Đức Phật đã giới thiệu. 6
Đến giai đoạn thứ tư là giai đoạn Phật dạy những phương pháp để thực hiện cái vui
ấy. Ở đây chúng ta nên chú ý là Đức Phật trình bày cảnh giới giải thoát trước, rồi mới chỉ
bày phương pháp tu hành sau. Đó là một lối trình bày rất khôn khéo, đúng tâm lý: trước
khi bảo người ta đi, thì phải nêu mục đích sẽ đến như thế nào, rồi để người ta suy xét, lựa
chọn có nên đi hay không. nếu người ta nhận thấy mục đích ấy cao quý, đẹp đẽ, khi ấy
người ta mới hăng hái, nỗ lực không quản khó nhọc, để thực hiện cho được mục đích ấy. 7
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TRIẾT HỌC CỦA THUYẾT TỨ DIỆU ĐẾ
2.1 Các phạm trù cơ bản của thuyết Tứ Diệu Đế
2.1.1 Phạm trù Khổ trong Tứ Diệu Đế a) Định nghĩa của Khổ
“Khổ” ở đây được dịch từ chữ “dukkha” trong tiếng Paili. Chữ “dukkha”,mang
nhiều ý nghĩa rất rộng, sâu rộng về mặt triết lý và thực tại để mô tả bản chất khổ, khổ sở,
bất toại nguyện, bất ổn định, luôn thay đổi, chóng vánh, thang trầm, sinh diệt, có mất, hư
ảo, giả tạm… là hững bản chất của sự sống và kiếp sống của con người, của tất cả chúng
sinh và tất cả mọi sự trên thế gian. Những bản chất này gây ra tất cả mọi sự “khổ” cho
mọi chúng sinh, mọi sự.
Khổ đế, là sự thật đúng đắn vững chắc cao hơn cả về sự khổ ở thế gian. Sự thật nầy
nó rõ ràng, minh bạch không ai có thể chối cãi được.
Trong hệ thống giáo lý của Đức Phật, phạm trù Khổ cũng được triển khai nhất quán
với nguyên lý Duyên khởi. Hiểu rõ duyên khởi là hiểu rõ sự thật về sinh diệt của các
pháp, nhận thức đúng các vấn đề liên quan như nhân quả, nghiệp báo luân hồi, và có một
cái nhìn tích cực, khả thi trên con đường truy tìm chân lý, loại trừ tính tiêu cực thần
quyền, loại bỏ tư tưởng tà kiến chấp thường hay tà kiến chấp đoạn. b) Các chân lý về khổ
Căn cứ vào theo kinh Phật, khi xét về các cấp độ đau khổ, Phật giáo cho rằng có ba cấp độ chính sau:
Thứ nhất là Khổ khổ. Là cái khổ chồng chất lên cái khổ , bản thân đã là khổ, mà
hoàn cảnh chung đè lên cái khổ khác. Phật giáo cho rằng mỗi một chúng sinh , tựi mình
đã là nạn nhất cả bao nhiêu cái khổ cái xấu xa; thân thể là một bầu thịt xương dơ bẩn, nếu
một vài ngày, không săn sóc, rửa ráy, thì thối tha không thể chịu đựng được. Hơn nữa, cái
thân ấy cũng không bền chắc, mà trái lại rất mong manh: khát nước độ ba ngày, ngạt thở
độ năm phút, đứt một mạch máu, bị nhiễm một số vi trùng độc...thế là mạng vong. 8
Thứ hai là Hoại khổ. Phật giáo cho rằng Thực thế, vạn vật trong vũ trụ đều bị luật
vô thường chi phối, không tồn tại mãi được. Cứng rắn như sắt đá, lâu năm cũng mục nát;
to lớn như trái đất, mặt trăng, mặt trời lâu ngày cũng tan rã. Yếu ớt, nhỏ nhen như thân
người, thì mạng sống lại càng ngắn ngủi, phù du! Cái búa tàn ác của thời gian đập phá tất
cả; mỗi phút mỗi giây ta sống, cũng là mỗi phút mỗi giây ta đang bị hủy hoại. Và dù ta có
sức mạnh bao nhiêu, quyền thế bao nhiêu, giàu có bao nhiêu cũng không thể cản ngăn,
chống đỡ không cho thời gian hủy diệt đời ta. Ta hoàn toàn bất lực trước thời gian. Thật
là khổ sở, tủi nhục, đớn đau.
Thứ ba là Hành khổ. Phật giáo cho rằng về phương diện vật chất, ta bị ngoại cảnh,
thời gian chi phối, phá hoại; còn về phương diện tinh thần, ta cũng không hề tự chủ, yên
ổn, tự do được. Tâm hồn ta thường bị dục vọng dằn vặt, lôi kéo, thúc đẩy từng phút từng
giây. Tư tưởng ta cũng luôn luôn biến chuyển nhảy vọt lăng xăng từ chuyện này sang
chuyện khác, như con ngựa không cương, như con vượn chuyền cây, không bao giờ dừng
nghỉ. Thật là đúng như lời Phật dạy: "tâm viên, ý mã".
Nếu xét sâu xa hơn nữa, ta sẽ thấy tâm hồn ta còn bị cái phần bên trong kín sâu, nằm
dưới ý thức, là phần tiềm thức chi phối, sai sử một cách vô cùng mãnh liệt trong mỗi ý
nghĩ, cử chỉ hành động của chúng ta. Ta giận, ta thương, ta ghét, ta muốn thứ này, ta thích
thứ kia, phần nhiều là do tiềm thức ta sai sử, ra mệnh lệnh.
Nói tóm lại, ta không được tự do, ta bị chi phối bởi những ý tưởng, dục vọng, tiềm
thức, và luôn luôn chịu mệnh lệnh của chúng. Ðó là "Hành khổ".
Còn khi xét về hình thức của đau khổ thì có các dạng thức sau đây: Sinh khổ, Lão
khổ, Bệnh khổ, Tử khổ, Ái biệt ly khổ, Oán tăng hội khổ, Cầu bất đắc khổ, Ngũ uẩn xí thịnh khổ. (1) Sinh khổ.
Theo Phật giáo, tiến trình của mọi hiện tượng đều có 3 giai đoạn, đó là: hình thành,
tăng trưởng và tàn hoại. Giai đoạn hình thành là Sinh, giai đoạn bình thường có mặt là 9
giai đoạn Tăng trưởng (già đi từng giây, từng giây) và giai đoạn tàn hoại là Chết ( sinh, trụ, diệt).
Một chúng sinh được sinh ra có nghĩa là một sự hình thanh mới về tâm thần và vật
chất ( tâm và thân) sau khi chết, tức là sau khi kiếp trước đã hoại diệt. Nói khác đi. Một
phôi thai mới được hình thành. Về sinh vật lý, không có sự đau khổ hay đau đớn nào ngay
lúc đầu tiên của sự sống, nhưng vì sự tái sinh lại là tạo cơ sở, là bắt đầu để tạo sự hiện hữu
kéo theo những sự khổ về (2) Lão khổ
Lão, hay già, đối với một con người, có nghĩa là tóc bạc, rụng răng, da nhăn nheo,
lưng còng,.. Nói cách khác, sự tàn hoại, sự hoại diệt đã có săn bên trong của những tập-
hợp thuộc sắc thân và tâm thần (phần sắc và phần danh), rất dễ nhận ra từng ngày). Sự già
đi về mặt tâm trí thì khó nhận thấy hơn, nhưng đến lúc người đã rất già, thì sự mất trí nhớ
cũng như sự lão suy, sự lú lẫn sẽ diễn ra, cũng là lúc gần kề với sự ra đi, một chuyến đi xa mới.
Sự già đi từng ngày trong giai đoạn còn sớm, là lúc những uẩn sắc- thân và các uẩn
tâm thần còn đang trong giai đoạn tăng trưởng bình thường và thực sự cũng không thể gọi
là đau đớn hay đau khổ gì cả. Nhưng nếu xét cho đúng, chính sự già đi từng ngày, góp
phần cho sự già đi của từng tháng, từng năm, rồi sau nhiều năm nhanh chóng trôi qua, làm
cho người ta mất đi tính sống động, các giác quan không còn hoạt động tốt như trước đó,
sư giảm dần thể lực và sức khỏe, mất đi tuổi trẻ, không còn sự mạnh mẽ và sự trẻ đẹp và
như vậy là khổ. Mọi người ai cũng thật sự sợ già đi, vì ai cũng muốn mình được trẻ lâu,
nên già yếu là một nỗi sự tất hữu. (3) Bệnh khổ
Hành hạ xác thân con người, làm cho nó khổ sở không gì hơn là cái đau. Ðã đau, bất
luận là đau gì, từ cái đau lặt vặt như đau răng, nhức đầu, đến cái đau trầm trọng như
phung, lao đều làm cho con người phải rên xiết, khổ sở, khó chịu. Nhất là những bệnh lâu 10
ngày khó chữa, thì lại càng hành hạ xác thân, đắng cơm, nghẹn nước, cầu sống không
được, cầu chết cũng không, oan oan ương ương, thật là khổ não.
Ngoài ra, bệnh tật lại còn làm cho lục thân quyến thuộc buồn rầu, lo sợ. Mỗi lần
trong nhà có người đau, thì cả gia quyến đều rộn rịp, băn khoăn ngồi đứng không yên,
quên ăn quên ngủ, biếng nói, biếng cười, bỏ công ăn việc làm. Thật đúng là "Bệnh khổ". (4) Tử khổ
Tử là sự chấm dứt một mạng sống, vốn đã liên tục sống và hiện hữu từ lúc sinh ra
của một kiếp sống hay một sự hiện hữu nào đó. Theo Phật giáo, mọi chúng sinh hữu tình (
có cảm giác, có suy nghĩ) đều luôn luôn sợ chết. Nhưng sự chết bản thân nó không phải là
sự đau đớn hay đau khổ, vì chính nó là một khoảnh khắc diệt nguồn lực sự sống của tâm thần và sắc thân.
Tuy nhiên, khi cái chết đến, một ngươi phải từ bỏ thân xác và bỏ lại gia đình quyến
thuộc, bạn hữu và của cải. Khi cái chết đến gần, tất cả chúng sinh thường cũng phải trải
qua những sự yếu đuối, bất lực, những cơn đau bệnh trầm trọng: và đa số sẽ phải chịu
nhiều đau đớn, quàn quại trước khi chết.
Tử là nguồn gốc và tác nhân gây nên những nỗi lo và thống khổ như vây, nên cái
chết được coi như là Khổ.
(5) Ái biệt ly khổ
Chia ly khỏi người thân yêu, gia đình không phải sự đau khổ về thể xác, nhưng sẽ
lập tức tạo ra nỗi buồn và đau khổ trong lòng hay trong tâm trí. Rời bỏ mất người thân
yêu, dù là người đó sống hay chết, cũng là điều đau khổ. Bị mất của cải, những thứ mình
yêu thích, hoặc phải rời bỏ nơi chốn, ngôi nhà, hoàn cảnh mà mình yêu thích cũng đem
lại sự đau buồn. Bởi vậy Đức Phật cũng xếp hoàn cảnh này, tâm trạng này vào dạng khổ
trong đời người, dạng khổ khổ.
(6) Oán tắng hội khổ 11
Nghĩa là đa không bằng lòng nhau, oán giận nhau nhưng lại cứ phải gặp nhau mãi,
thậm chí phải chung sống với nhau. Gặp gỡ những người mình ghét là điều không ai thích
hay vui cả, nên sẽ gây khó chịu, bực tức và lại gia tăng thêm sự thù ghét. Đó là khổ. Gặp
những hoàn cảnh khó chịu gặp những con vật mình không ưa, môi trường chỗ ở mình
ghét thì cũng là sự khổ. Sự gặp phải hoàn cảnh đó bản thân nó chưa phải chỉ là một sự đau
đớn chịu đựng được, nhưng chính nó dẫn đến sự khó chịu, khổ sở và phiền ưu. Mà phiền
ưu hay chán chường bản thân nó chính lag khổ. Nên điều này là khổ, và bị Đức Phật xếp vào loại khổ khổ.
(7) Cầu bất đặc khổ
Muốn mà không được là khổ. Không đạt được cái mình muốn cũng không phải là sự
đau đớn về thể xác, nhưng sự mong muốn, ước muốn không được thỏa mãn, là sự bất toại
nguyện. Nó luôn dẫn đến kết quả thất vọng, chán nản và nhiều trường hợp tuyệt vọng dẫn
đến tự sát nữa. Đau khổ sẽ phát sinh nếu mục tiêu gì mình không đạt được, ngay cả mục
tiêu đó là cố gắng thoát khỏi đau khổ mà không được, thì cũng chính lại làm thêm đau khổ.
Nếu không thực hành “Bát Thánh đạo”, thì sự an lạc hay giải-thoát không bao giờ có
được bằng những ước nguyện suông. Và chính điều này cũng làm cho đời người trăn trở
và cũng là một dạng khổ tâm, khổ não, còn hơn những ước muốn về vật chất và giàu có
không đạt được vốn đã làm người đời buồn chán, thất vọng suốt đời. Nói chung cái gì
muốn, nguyện, ước mà không đạt được,không làm được, không có được sẽ dẫn đến đau
khổ, một dạng khổ do thất vọng hay bất toại nguyện mang lại, nên là khổ nữa, là dukkha,
một dạng Khổ Khổ (Dukkha dukkha).
(8) Ngũ ấm xí thạnh khổ
Theo Phật giáo, một con người (hay một chúng sinh hữu tình) thì được hình thành
bởi năm uẩn thuộc sức thân và tâm thần. Nói cách khác 05 Uẩn là 05 những tập-hợp kết
tạo nên phần “thân” và phần thuộc “tâm” của chúng ta. Bao gồm: Uẩn sắc-thân (Sắc uẩn), 12
Uẩn những cảm-giác (Thọ uẩn), Uẩn những sự nhận-thức (Tưởng uẩn), Uẩn những sự
tạo-tác cố ý (Hành uẩn) Uẩn thức (Thức uẩn).
Mọi loài hữu tình đều là do năm uẩn hợp lại thành một ‘thực thể’ sống. Sắc-uẩn
chính là phần thân, là cái mà mọi ‘người’ dính chấp (chấp thủ, thủ) vào đó, coi nó là:
‘Đây là ‘của-ta’, đây là cái ‘ta’, nó là cái ‘ta’ thường hằng bất biến … Uẩn này được gọi
là sắc-uẩn bị dính-chấp (sắc thủ uẩn). Các uẩn còn lại là các uẩn kết nên phần tâm-thần,
lần lượt tạo ra những cảm-giác, những sự nhận-thức, những sự tạo-tác cố ý và những tâm
thức (thọ, tưởng, hành, thức), cũng khăng khăng chấp thủ hay nắm giữ và tự cho đó là
“Ta, tâm trí của ta’, đó là cái ta nghĩ, không thay đổ. Bốn uẩn này cũng được gọi là các
uẩn bị dính-chấp. Vì vậy, tất cả năm uẩn đó, tạo nên một ‘người’, thì được gọi là năm-uẩn
bị dính chấp hay năm thủ uẩn (updana-khanda)
2.1.2 Phạm trù Tập trong Tứ Diệu Đế
a) Định nghĩa của Tập
Tập là tích tập, các phiền não tụ hội tạo thành năng lực đưa đến khổ đau; đây
là nguyên nhân, là nguồn gốc của các khổ. Khi nhận thức được bản chất của khổ một
cách rõ ràng, ta mới có thể đi vào con đường đoạn tận khổ đau (Đạo đế).
b) Nguyên nhân của đau khổ
Theo phật giáo, nguyên nhân của khổ thường được các kinh đề cập chính là do tham
ái, do tham ái mà chấp nhận, bám víu váo các đối tượng của tham ái, Sự khao khát về dục
lạc sẽ đến sự đau khổ, bởi vì lòng khoa khát ấy không bao giờ thỏa mãn.
Nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn chính là vô minh, tức là si mê không thấy rõ
bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi, đều vô
thường và chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững độc lập ở trong chúng. Do
không thấy rõ nên sinh tâm tham muốn, ôm giữ lấy các đối tượng lạc thú. Do không thấy
rõ mới lầm tưởng rằng cái tôi là quan trọng nhất, là cái có thực cần phải bám víu, củng
cố và thỏa mãn nhu cầu của nó. Nói cách khác, do vô minh mà có chấp thủ cái tôi và cái
của tôi ,tư tưởng tôi..., Do những chấp thủ ấy mà có những nỗi thống khổ của cuộc đời. 13
Tóm lại, chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay không là do lòng
mình; lòng mình đầy tham lam, chấp thủ, nhận thức sai lầm thì khổ là chắc chắn. Nói cách
khác, do cái nhìn của mỗi người đối với cuộc đời mà có khổ hay không. Nếu không bị
sự chấp ngã và dục vọng vị kỷ hay phiền não khuấy động, chi phối, ngự trị trong tâm
thì cuộc đời đầy an lạc, hạnh phúc.
2.1.3 Phạm trù Diệt trong Tứ Diệu Đế a) Định nghĩa về Diệt
Diệt là tiêu diệt, trừ diệt. Diệt ở đây tức là diệt dục vọng mê mờ, phiền não. Ðế là lý
lẽ chắc thật, đúng đắn do trí tuệ sáng suốt soi thấu và thuyết minh. Diệt đế, chữ Pali gọi là
"Nirodha dukkha" tức là sự thật đúng đắn, mà Đức Phật đã thuyết minh về hoàn cảnh tốt
đẹp mà mọi người có thể đạt được khi đã diệt hết mọi phiền não, mê mờ. Phiền não, mê
mờ là nguyên nhân của đau khổ.
b) Mối liên hệ giữa “Diệt” và giải thoát
Chân lý này thể hiện ý nghĩa về cách chấm dứt những đau khổ trong cuộc sống.
Theo như lời dạy của Đức Phật trong Tứ Diệu Đế, nếu muốn dập tắt được ham muốn và
đau khổ này trước tiên cần giải thoát cho chính mình.
Để con người có thể giải thoát khỏi bể khổ thì phải diệt khỏ, đó chính là mục đích
chính của sự giải thoát. Chân lý tối cao mà Đức Phật đưa ra đó là Diệt đế. Phật tổ nói
rằng: “ Đó là sự xa lánh trọn vẹn, là sự tận diệt chính cái ái dục đấy. Đó là sự rời bỏ, sự
khước từ, sự thoát lý và sự tách rời ra khỏi tâm ái dục. Đó là chân lý cao thượng về sự diệt
khổ, để đạt tới trạng thái Niết bàn. Niết bàn được xem như là trạng thái tuyệt đối: trạng
thái không tịch, diệt trừ mọi danh sắc, cảm giác, ý thức, trạng thái diệt mọi ái dục, vô vị,
thanh tịnh, là hoàn thiện, vĩnh hằng, bất tử… Chính vì thế mà Long Thọ Bồ tát đã viết:
“Niết bàn chính là ngừng định, ngừng hết tư tưởng vô và hữu, sắc và không”.
2.1.4 Phạm trù Đạo trong Tứ Diệu Đế
a) Con đường giải thoát khổ (Đạo đế) qua
tám phạm trù ( Bát chính đạo) 14
Phật dạy con người ta dẫn đến giải thoát, gọi là bát chánh đạo. Đây còn được coi là
tám phương thức tu tập, hành trì giúp người tu học đạt đến sự giải thoát. Bát chánh đạo
còn là con đương dẫn đến cảnh an lạc và hết khổ. Tám con đường bao gồm:
(1) Hiểu biết nhận thức đúng đắn ( Chánh kiến)
(2) Suy nghĩ chân chính ( Chánh tư duy)
(3) Hành động, làm việc chân chính ( Chánh nghiệp)
(4) Chỉ nói những điều hay, đúng ( Chánh ngữ)
(5) Sống một cách trung thực ( Chánh mệnh)
(6) Cố gắng vươn lên theo con đường chân chính ( Chánh tịnh tiến)
(7) Suy nghĩ chính phá, gạt mọi tà niệm ( Chánh niệm)
(8) Chuyên chú vào con đường chân chính để giác ngộ ( Chánh định )
b) Con đường thoát khổ qua các phẩm trợ đạo khác
Ngoài Bát chính đạo là con đường thoát khổ cơ bản và quan trọng nhất, phương
pháp tu hành để diệt khổ của cả trường phái Đại Thừa và Tiểu thừa Phật giáo.
(1) Tứ niệm xứ: là bốn điều mà người tu hành thường để tâm nghĩ đến
(2) Tứ chính cần: là phải liên tục duy trì niềm tin, trí tuệ và đạo đức trên con đường tới giải thoát
(3) Tứ như ý túc: là bốn phép Thiền định, như là bốn phương tiện giúp chúng ta thành tựu chánh Định
(4) Ngũ căn: Ngũ căn gồm: tín, tấn, niệm, định, tuệ
(5) Ngũ lực: Ngũ lực chỉ là tác dụng của ngũ căn. Ngũ lực là 5 sức mạnh tinh thần
làm động cơ thúc đẩy tư tưởng suy nghĩ đúng
Thất Bồ đề phần: là 7 yếu tố quan trọng trong việc phát tâm tu tập đạo quả Bồ-Đề
tức là giải thoát hay đạt đến giác ngộ. Bảy phần trợ giúp cho công việc tu học đạt thành
viên mãn, là một trong các pháp của 37 phẩm trợ duyên cho hành giả tấn tu đạo nghiệp. 15
Bảy yếu tố đó là: Trạch pháp, Tinh tấn, Hỷ, Khinh an, Niệm, Định, Xả.
2.2 Ý nghĩa của Tứ Diệu Đế đối với phật giáo và phật giáo Việt Nam
2.2.1 Tứ Diệu Đế đối với hệ thống Phật giáo
Tứ Diệu Đế được xem như là một giáo lý căn bản nhất trong đạo Phật. Bên cạnh đó,
Tứ Diệu Đế đóng vai trò là điểm khởi đầu cho toàn bộ hệ tư tưởng triết học- tôn giáo của
Phật giáo, hay thuộc về Phật giáo đều xem Tứ Diệu Đế là cốt lõi. Tất cả các giáo pháp của
Đức Phật sau này đều là sự phát triển mở rộng dựa trên nền tảng của Tứ Diệu Đế. Về cơ
bản, Tứ Diệu Đế chỉ rõ sự thật về sự khổ đau của con người, về nguồn gốc nguyên nhân
dẫn đến khổ đau, về sự chấm dứt khổ đau và phương thức thực hành dẫn đến việc chấm
dứt khổ đau. Giáo lý này bao hàm đầy đủ cả hai mặt lý thyết và thực hành.
Sự thuyết pháp của Đức Phật cũng rất khéo léo. Ngài đã cho chúng sinh thấy rõ thực
trạng đau khổ của cuộc đời. Sự thật này rất dễ hiểu và thực tế đối với chúng sinh vì không
ai là không phải trải qua. Tuy nhiên, Ngài nói về khổ đau để chúng sinh không cảm thấy
bi quan bế tắc như nhiều người vẫn còn quan niệm sai về Đạo Phật. Ngay sau khi dạy về
sự thật của khổ đau, Đức Phật tiếp ục nói về nguyên nhân của khổ đau và khả năng giúp
chúng sinh thoát khỏi khổ đau vĩnh viễn và đạt được hạnh phúc chân thật. Đây là ý nghĩa
sâu xa của Tứ Diệu Đế.
2.2.2 Tứ Diệu Đế đối với nhân sinh quan và người Việt Nam hiện nay.
a) Các vấn đề nhân sinh dưới góc nhìn của Tứ Diệu Đế
Có thể nói, nhân sinh là vấn đề mà bất kỳ tôn giáo nào cũng bàn đến, song riêng
Phật giáo tiếp cận vấn đề nhân sinh từ lập trường bình đẳng, vô thần nên có tính nhân văn
và tiến bộ hơn so với các tôn giáo thần quyền khác. Chính vì thế mà Tứ Diệu Đế, với tư
cách là nhân lõi của giáo lý Phật giáo, chứa đựng nội dung triết lý về nhân sinh độc đáo
cho đến nay vẫn còn nhiều giá trị đối với xã hội hiện đại.
Tứ Diệu Đế mà đức Phật khái quát nên, một mặt giúp con người biết rằng mình phải
chịu khổ đau, mặt khác chỉ ra khổ đau không phải tự nhiên mà có, nó là kết quả của các
nguyên nhân và điều kiện chủ quan, khách quan hợp thành. Dưới góc nhìn Tứ Diệu Đế, 16
chúng ta có thể thấy được nguồn gốc của nỗi khổ con người ngày nay vẫn là vô minh, tham, sân, si…
Có thể thấy rằng, con người dù ở thời đại nào nếu chưa thấu triệt được bản chất của
nhân sinh thì còn rơi vào vòng luân hồi của sự khổ. Từ góc độ của Tứ Diệu Đế, có thể
nói, con người hiện đại nghĩ rằng để giải quyết cái khổ về đói, nghèo thì cần phải gia công
nỗ lực tạo ra của cải vật chất, nhưng sự thực của đời sống xã hội lại cho thấy mặt trái của
sự phát triển, càng muốn thoát khổ bao nhiêu, nếu thiếu hiểu biết (Tuệ) và thiếu đạo đức
(Giới) và thiếu niềm tin vững chắc (Định) thì con người càng rơi sâu vào khổ bấy nhiêu.
b) Tứ Diệu Đế trong quan niệm của người Việt
Khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam, triết lý Tứ Diệu Đế cũng được các nhà truyền
đạo, nhà sư truyền bá đến các tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, người Việt tiếp nhận Phật
giáo trên cơ sở có chọn lọc, cải biến sao cho phù hợp với thực tiễn lịch sử cũng như đặc
điểm tư duy của người Việt
Trên cơ sở tiếp nhận tư tưởng Tứ Diệu Đế, Phật giáo Việt Nam khi xem xét Tứ Diệu
Đế, không phủ nhận nỗi khổ và khi tìm kiếm nguyên nhân nỗi khổ. Trên cơ sở tiếp nhận
tư tưởng Tứ Diệu Đế, Phật giáo Việt Nam đi đến một thái độ sống ít nhiều mang tính lạc
quan hơn. Phần lớn các Thiền sư Việt Nam quan niệm sinh tử luân hồi là khổ, song coi đó
là một tiến trình tự nhiên con người phải trải qua, mà không trốn tránh, thoái thác, ngược
lại nhìn thấy tính hai mặt của Khổ ngay trong giải thoát. Vì vậy họ không đặt trọng tâm ở
việc chấm dứt luân hồi để diệt khổ, hay tìm cách giải thoát ở tịnh độ hay cõi Niết bàn xa
xôi, trừu tượng. Thấu hiểu quy luật vô thường của sinh, lão, bệnh, tử, các nhà sư Việt đã
thể hiện tinh thần “vô úy” đặc sắc trước sinh tử, điều mà Phật giáo nguyên thủy cho là
khổ. Các thiền sư Việt Nam không hề trốn tránh vòng sinh tử luân hồi, trái lại, họ còn
xem sinh tử luân hồi là cơ duyên để tiến tới giải thoát. Nhìn chung, người Việt thường
tiếp cận Tứ Diệu Đế dưới hai góc độ cơ bản: Thứ nhất, khổ do vô minh, dẫn tới ý niệm về
nhị nguyên về vũ trụ và nhân sinh (nguyên nhân bên trong – chủ quan); Thứ hai, khổ do
các thế lực tham tàn, khinh dân (nguyên nhân xã hội – khách quan).
c) Tứ Diệu Đế đối với con người Việt Nam hiện nay
Trước tiên, Tứ Diệu Đế giúp người Việt nhận thức một cách tỉnh táo hơn về nỗi khổ,
nguyên nhân gây đau khổ và từ đó tin vào con đường diệt khổ mà Đức Phật đã chiêm 17
nghiệm. Phật giáo đã hướng dẫn con người tin vào Tứ Diệu Đế sẽ không ngừng trau dồi
đạo đức, không làm ngơ trước nỗi khổ của người khác, hướng đến nếp sống trong sạch,
lành mạnh, vị tha, Nói cách khác, đối với con người Việt Nam hiện nay, Tứ Diệu Đế cung
cấp bài học đạo đức cho xu hướng tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nghĩa là phát
triển kinh tế, hướng đến hạnh phúc toàn dân tránh rơi vào thái cực biến toàn dân thành
những nô lệ của chủ nghĩa vật chất. Đó mới chính là triết lý căn bản cửa Tứ Diệu Đế mà
mỗi người Việt Nam cần nhận thức được 18