-
Thông tin
-
Quiz
Ôn tập câu hỏi lý thuyết - Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam | Đại học Tôn Đức Thắng
Mùng 1 tháng 9 năm 1939 phát xít Đức tấn công Ba Lan chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ. Quân Đức tiến công sang phía tây trước và từ tháng 4 năm 1940 đến đầu năm 1941 đã chiếm và đặt ách thống trị lên hầu hết các nước Tây Âu và Đông Âu. Nhật Bản mở rộng chiếm đóng Trung Quốc tiến xuống Đông Nam Á. Tài liệu được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐT121) 250 tài liệu
Đại học Tôn Đức Thắng 3.5 K tài liệu
Ôn tập câu hỏi lý thuyết - Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam | Đại học Tôn Đức Thắng
Mùng 1 tháng 9 năm 1939 phát xít Đức tấn công Ba Lan chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ. Quân Đức tiến công sang phía tây trước và từ tháng 4 năm 1940 đến đầu năm 1941 đã chiếm và đặt ách thống trị lên hầu hết các nước Tây Âu và Đông Âu. Nhật Bản mở rộng chiếm đóng Trung Quốc tiến xuống Đông Nam Á. Tài liệu được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!
Môn: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐT121) 250 tài liệu
Trường: Đại học Tôn Đức Thắng 3.5 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:



















Tài liệu khác của Đại học Tôn Đức Thắng
Preview text:
ÔN TẬP LSD
1. Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và chủ trương giải phóng dân tộc của Đảng từ 1939-1941
Mùng 1 tháng 9 năm 1939 phát xít Đức tấn công Ba Lan chiến tranh thế giới lần thứ 2
bùng nổ. Quân Đức tiến công sang phía tây trước và từ tháng 4 năm 1940 đến đầu
năm 1941 đã chiếm và đặt ách thống trị lên hầu hết các nước Tây Âu và Đông Âu. Nhật
Bản mở rộng chiếm đóng Trung Quốc tiến xuống Đông Nam Á. Ngày 22 tháng 6 năm
1941 ,190 sư đoàn phát xít Đức tấn công Liên Xô ngày mùng 8 tháng 12 năm 1941
Nhật bất ngờ tấn công cảng trân châu ở quần đảo Hawaii (Mỹ) chiến tranh Lan sang
Châu Á Thái Bình Dương. Quy luật lợi nhuận tối đa và sự phát triển không đồng đều về
kinh tế và chính trị của chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến cuộc chiến tranh giữa hai tập đoàn
đế quốc phát xít Đức Ý Nhật và Anh Pháp Mỹ nhằm giành giật thị trường, nguồn
nguyên liệu và chia lại thị trường thế giới từ khi phát xít Đức xâm lược Liên Xô tính chất
chiến tranh đế quốc chuyển thành chiến tranh giữa các lực lượng dân chủ do Liên Xô
làm trụ cột với các lực lượng phát xít do Đức cầm đầu. Chiến tranh thế giới lần thứ hai
đã ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến Việt Nam chính phủ phản động Pháp thực
hiện chính sách đàn áp các lực lượng cộng sản và tiến bộ ở trong nước và ở các nước
thuộc địa; ở Đông Dương Thực dân Pháp điên cuồng tiến công Đảng Cộng sản Đông
Dương và các đoàn thể quần chúng do Đảng lãnh đạo. Một số quyền tự do dân chủ
giành được trong thời kì 1936-1939 bị thủ tiêu đồng chí Lê Hồng Phong bị bắt cuối
tháng 9 năm 1939 nhiều cán bộ Đảng viên bị bắt giam, bị tù đày hàng vạn thanh niên bị
bắt lính đưa sang Pháp; Thực dân Pháp tăng thuế trung thu trưng dụng các xí nghiệp
tư nhân cho Quốc phòng kiểm soát trực tiếp của gắt gao sản xuất và phân phối xuất
nhập khẩu trừ bọn tay sai của Pháp địa chủ lớn và tư sản mại bản. Tất cả các giai cấp
tầng lớp trong xã hội Việt Nam đều bị ảnh hưởng tai hại bởi chính sách phản động của
thực dân Pháp do sớm dự báo được chiến tranh thế giới thứ 2 sẽ nổ ra nên Đảng ta đã
không bị bất ngờ về cuộc chiến tranh này trong thời kì 1936-1939.
Đảng đã có một số chủ trương hoạt động thích hợp khi chiến tranh bùng nổ. Một tháng
sau khi chiến tranh thế giới nổ ra ngày 29 tháng 09 năm 1939 Trung ương Đảng Gửi
thông cáo cho các cấp bộ Đảng vạch rõ cách mạng Đông Dương sẽ tiến đến mục tiêu
giải phóng dân tộc chỉ thị cho toàn Đảng kịp thời rút vào bí mật và chuyển hướng hoạt
động. Đầu tháng 11 năm 1939 ban chấp hành Trung ương đã họp tại Bà Điểm Gia Định
có các đồng chí: Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu tham dự hội
nghị nhận định chế độ cai trị ở Đông Dương đã trở thành chế độ phát xít quân phiệt tàn
bạo mâu thuẫn chủ yếu khai gắt nhất là mâu thuẫn giữa đế quốc và dân tộc Đông
Dương dự báo Nhật sẽ vào Đông Dương và Pháp sẽ đầu hàng Nhật. Hội nghị xác định
mục tiêu chiến lược trước mắt là đánh đổ đế quốc và tay sai giải phóng Đông Dương
làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất chỉ
chủ trương tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản động chống tố cáo, chống
lãi nặng hay khẩu hiệu lập chính quyền Xô viết công nông bằng khẩu hiệu lập chính
phủ Cộng hòa Dân chủ. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc
phản đế Đông Dương bao gồm lực lượng chính là công nhân nông dân đoàn kết với
tiểu tư sản thành thị và nông thôn, đồng minh hoặc trung lập tạm thời với giai cấp tư
sản bản xứ trung và tiểu địa chủ.
Về phương pháp cách mạng, hội nghị nêu ra một số chuyển hướng về tổ chức xây
dựng các kết đoàn thể quần chúng bí mật hướng các cuộc đấu tranh của quần chúng
vào đế quốc và tay sai. Dự bị những điều kiện bước tới bạo động làm cách mệnh giải
phóng dân tộc. Hội nghị cũng quyết định các chủ trương và biện pháp nhằm củng cố
Đảng về mọi mặt thực hiện sự nhất trí thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11 năm 1939 đã phát huy cao tinh
thần sáng tạo kịp thời nêu ra mục tiêu chiến lược tập trung mũi nhọn của cuộc cách
mạng vào đế quốc và tay sai, chuẩn bị điều kiện giành chính quyền đánh dấu những
bước chuyển biến quan trọng về chỉ đạo chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ. Sau
hội nghị phong trào đấu tranh chuyển theo phương hướng mới Đảng vượt qua thử
thách của đất khủng bố tháng 9 năm 1939 và được củng cố các cuộc đấu tranh của
quần chúng diễn ra theo khẩu hiệu: “Chống chính sách phản động của chính quyền
thực dân chống chiến tranh đế quốc”. Mặt trận Dân tộc Mặt trận Thống nhất dân tộc
phản đế Đông Dương được xây dựng đầu năm 1940 một số đồng chí lãnh đạo chủ
chốt của Đảng bị bắt ban chấp hành trung ương Đảng chưa lật lại được.
Lợi dụng lúc Pháp thua Đức ngày 22 tháng 09 năm 1940 quân đội Nhật Bản tiến vào
Lạng Sơn và đổ bộ vào Hải Phòng ngày 23 tháng 09 năm 1940 tại Hà Nội Pháp ký hiệp
định đầu hàng Nhật. Từ đó nhân dân ta bị một cổ hai tròng. Khi Nhật Tiến vào Lạng
Sơn quân Pháp rút chạy qua đường Bắc Sơn về Thái Nguyên chính quyền địch ở những vùng này tan rã
Đêm ngày 27 tháng 09 năm 1940 dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương nhân dân
Bắc Sơn đã nổi dậy khiến đồn Mỏ Nhài (Châu Lỵ, Bắc Sơn) và các vùng trong châu.
Đội du kích Bắc Sơn được thành lập cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đã giành được thắng lợi
nhanh chóng nhưng ngay sau đó lại bị đàn áp. Mặc dù Khởi nghĩa Bắc Sơn chỉ diễn ra
trong một tháng và chỉ ở một huyện nhưng đã có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn đó là tín
hiệu mở đầu cao trào giải phóng của các dân tộc Đông Dương mở đầu thời kỳ cách
mạng nước ta kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị đánh đổ chính quyền
Đế Quốc Phong Kiến giành độc lập tự do, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân
dân cả nước và có ảnh hưởng đến việc chuẩn bị khởi nghĩa của xứ Ủy Nam Kỳ. Từ
ngày mùng 6 đến ngày mùng 9 tháng 11 năm 1940 Hội nghị Trung ương Đảng họp tại
Đình Bảng Bắc Ninh có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt
tham dự hội nghị khẳng định sự đúng đắn của chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến
lược của hội nghị trung ương Đảng tháng 11 năm 39 xác định kẻ thù chính của cách
mạng lúc này là phát xít Pháp và Nhật Hội nghị đã cử ra Ban Chấp hành Trung ương
lâm thời phân công đồng chí Trường Chinh làm quyền Bí thư Trung ương Đảng quyết
định chắp nối liên lạc với quốc tế cộng sản và một bộ phận của Đảng ở ngoài nước. Hội
nghị quyết định hai vấn đề cấp bách thứ nhất duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn thành
lập những đội du kích khi cần thiết thì chiến đấu chống khủng bố bảo vệ tính mạng tài
sản nhân dân phát triển cơ sở cách mạng tiến tới lập căn cứ địa du kích lấy Bắc Sơn
Võ Nhai làm trung tâm. Thứ hai chỉ thị cho xứ Ủy Nam kỳ hoãn ngay cuộc khởi nghĩa vì
chưa có đủ điều kiện bảo đảm cho khởi nghĩa thắng lợi quyết định chưa được truyền
đạt tới xứ Ủy Nam kỳ thì ngày 23 tháng 11 năm 1940 cuộc khởi nghĩa Nam kỳ đã nổ ra
ở hầu khắp các tỉnh miền nam quần chúng nổi dậy đấu tranh dũng cảm tiêu biểu là ở
Mỹ Tho chính quyền của địch ở một số xã quận tan rã Chính quyền cách mạng được
thành lập thực hiện một số cải cách dân chủ dân sinh bảo vệ Trị An xét xử bọn phản
động. Lần đầu tiên cờ đỏ sao vàng xuất hiện tại một số vùng ở Mỹ Tho và Vĩnh Long
cuộc khởi nghĩa bị thực dân Pháp đàn áp dã man gần sáu nghìn người bị bắt và bị giết
nhiều làng mạc bị ném bom và đốt phá một số đồng chí lãnh đạo của Đảng bị bắt và bị
xử bắn trước cuộc khởi nghĩa. Ngày 13 tháng 1 năm 1941 binh lĩnh yêu nước dưới sự
chỉ huy của Nguyễn Văn Cung tức Đội Cung đã nổi dậy đánh chiếm đầu Đồn Chợ Dạ
Thanh Chương kéo về Đô Lương rồi tiến về Vinh cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị đế
quốc dập tắt trong vòng 3 tháng ba cuộc khởi nghĩa diễn ra ở ba miền Bắc Nam Trung
đã thức tỉnh tinh thần cách mạng của nhân dân cả nước và để lại nhiều kinh nghiệm
quý báu về khởi nghĩa vũ trang. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 5
năm 1941 nhận định đó là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc là
bước đầu đấu tranh bằng vũ lực các dân tộc Đông Dương. Kinh nghiệm lớn nhất của
các cuộc khởi nghĩa trên là muốn khởi nghĩa thành công phải có đủ các điều kiện khách
quan và chủ quan chín muồi trên cơ sở của khủng hoảng chính trị kinh tế diễn ra trong
bộ máy thống trị của chủ nghĩa đế quốc và dựa vào cao trào cách mạng đã dâng lên
cao trong cả nước đầu năm 1940 đồng
chí Nguyễn Ái Quốc bắt liên lạc với Đảng và chuẩn bị về nước ngày mùng 8 tháng 2
năm 1941 người về Bắc Bó Hà Quảng Cao Bằng từ ngày mùng 10 đến 19 tháng 5 năm
1941 hội nghị ban chấp hành trung ương đảng đã họp tại Bắc Bó do đồng chí Nguyễn
Ái Quốc chủ trì từ phân tích diễn biến của chiến tranh thế giới và tình hình trong nước
Hội nghị khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc.
Hội nghị khẳng định tính chất đúng đắn của chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng
ruộng đất của hội nghị trung ương tháng 11 năm 39 tập trung mũi nhọn chống đế quốc
và tay sai giành độc lập dân tộc đồng thời nêu lên khẩu hiệu giảm tô giảm tức chia lợi
dụng công tiến tới thực hiện người cày có ruộng hội nghị chỉ rõ sau khi đánh đuổi Đế
Quốc Pháp Nhật sẽ thành lập chính phủ
nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa hội nghị quyết định thay tên các hội
phản đế thành hội cứu Quốc thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh gọi tắt là
Việt Minh hay cho Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương và giúp đỡ việc
lập Mặt trận ở các nước Lào Campuchia hội nghị xác định hình thái cuộc khởi nghĩa ở
nước ta là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa và kết luận chuẩn bị khởi
nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn đảng toàn dân
hội nghị đưa ra dự báo Nếu cuộc chiến tranh đế quốc lần trước đã đẻ ra Liên Xô một
nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc chiến tranh đế quốc lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội
chủ nghĩa do đó mà cách mạng nhiều nước mới thành công hội nghị đặc biệt nhấn
mạnh công tác xây dựng Đảng nhằm làm cho Đảng có đủ năng lực lãnh đạo cuộc cách
mạng Đông Dương đi đến thắng lợi chủ trương gấp rút đào tạo cán bộ chú trọng cán bộ
lãnh đạo cán bộ công vận Nông Vận binh vận quân sự ; tăng Thành phần vô sản trong
đảng hội nghị đề ra nhiệm vụ giúp đỡ các đảng bộ Campuchia Lào và cử ra ban chấp
hành Trung ương chính thức bầu đồng chí Trường Chinh làm tổng bí thư. Hội nghị
Trung ương Đảng tháng 5 năm 1941 có ý nghĩa lịch sử to lớn Hội nghị đã hoàn chỉnh
việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược nhằm giải quyết mục tiêu số 1 của cách mạng là
độc lập dân tộc và đề ra chủ trương sáng tạo thực hiện mục tiêu ấy cùng với nghị quyết
hội nghị trung ương tháng 11 năm 1939 nghị quyết hội nghị trung ương tháng 5 năm
1941 có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945
2. Tính chất, ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm của CMT8 1945
Về tính chất của Cách mạng tháng Tám năm 1945:
Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mang tính
chất dân chủ mới. Đó là một bộ phận khăng khít của cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân Việt Nam. Trước hết cách mạng tháng Tám năm 1945 là một cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc điển hình:
Tập trung hoàn hoàn thành nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng là giải phóng dân
tộc tập trung giải quyết mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam mâu thuẫn giữa
toàn thể dân tộc với Đế Quốc xâm lược và tay sai đáp ứng đúng yêu cầu khách
quan của lịch sử và ý chí nguyện vọng độc lập tự do của quần chúng nhân dân.
Lực lượng cách mạng bao gồm toàn dân tộc đoàn kết chặt chẽ. Trong mặt trận Việt
Minh với những tổ chức quần chúng mang tên cứu quốc động viên đến mức cao
nhất mọi lực lượng dân tộc lên trận địa cách mạng cuộc tổng khởi nghĩa tháng tám
năm 1945 là sự vùng dậy của lực lượng toàn dân tộc.
Thành lập chính quyền Nhà nước của chung toàn dân tộc theo chủ trương của
Đảng với hình thức cộng hòa dân chủ chỉ trừ tay sai của đế quốc và những kẻ phản
quốc còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam
đêu được một phần tham gia giữ chính quyền phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy
và bảo vệ chính quyền ấy
Cách Mạng Tháng 8 Việt Nam là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Mục đích của
nó là làm cho dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách Đế Quốc làm cho nước Việt Nam thành
một nước độc lập tự do nhưng cách mạng Tháng 8 còn có tính chất dân chủ tính chất
dân chủ của cách mạng tháng tám thể hiện ở những điểm cơ bản sau:
Cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam là một bộ phận của phe dân chủ chống
phát xít nó chống lại phát xít Nhật và bọn tay sai phản động và nó là một bộ phận
của cuộc chiến đấu vĩ đại của các lực lượng dân chủ tiến bộ trên thế giới chống phát xít xâm lược
Cách mạng đã giải quyết một số quyền lợi cho nông dân lực lượng đông đảo nhất
của dân tộc do cách mạng Tháng Tám một phần ruộng đất của đế quốc và Việt
gian đã bị tịch thu địa tô được tuyên bố giảm 25 phần trăm một số nợ lưu cữu được xóa bỏ
Cuộc cách mạng đã xây dựng chính quyền Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở
Việt Nam. Xóa bỏ chế độ quân chủ phong kiến các tầng lớp nhân dân được hưởng
quyền tự do dân chủ. Cách mạng Tháng Tám chưa làm cách mạng ruộng đất chưa
thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng, chưa xóa bỏ chế độ phong kiến chiếm
hữu ruộng đất, chưa xóa bỏ những tàn tích phong kiến và nửa phong kiến để cho
công nghiệp có điều kiện phát triển mạnh quan hệ dẫn địa chủ và nông dân nói
chung vẫn như cũ. Chính vì thế Cách mạng tháng Tám có tính dân chủ nhưng tính
chất đó chưa được đầy đủ và sâu sắc Đó là đánh giá của đồng chí Trường Chinh
trong tuyển tập Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội năm 1987 tập 1 trang 172
Cách mạng tháng Tám năm 1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng mang đậm tính nhân văn
hoàn thành một bước hết sức cơ bản trong sự nghiệp giải phóng con người ở Việt Nam
khỏi mọi sự áp bức về mặt dân tộc sự bóc lột về mặt giai cấp và sự nô dịch về mặt tinh thần
Ý nghĩa của Cách mạng tháng 8
Khẳng định ý nghĩa của Cách mạng tháng Tám năm 1945 Hồ Chí Minh đã viết chẳng
những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào mà giai cấp lao động
và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng lần này
là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa một
Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công đã nắm chính quyền toàn quốc.
Đối với Việt Nam Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đập tan xiềng xích nô lệ của chủ
nghĩa đế quốc trong gần một thế kỷ. Chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên
chế ngót 1.000 năm. Lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước của nhân
dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Giải quyết
thành công vấn đề cơ bản của một cuộc cách mạng xã hội là vấn đề chính quyền với
thắng lợi của Cách mạng tháng Tám
nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ bước lên địa vị người chủ đất nước có quyền
quyết định vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa trở thành một
quốc gia độc lập có chủ quyền vươn lên cùng với các dân tộc trên thế giới đấu tranh
cho những mục tiêu cao cả của thời đại là hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ
xã hội. Đảng Cộng sản Đông Dương từ chỗ phải hoạt động bí mật trở thành một Đảng
cầm quyền từ đây Đảng và nhân dân Việt Nam có chính quyền Nhà nước cách mạng,
làm công cụ sắc bén phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Thắng lợi của
Cách mạng tháng Tám đã mở ra kỷ nguyên mới trong tiến trình lịch sử dân tộc kỉ
nguyên độc lập tự do và hướng tới chủ nghĩa xã hội
Về mặt quốc tế cách mạng tháng tám là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc lần
đầu tiên giành thắng lợi ở một nước thuộc địa đã đột phá một khâu quan trọng trong hệ
thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc mở đầu thời kỳ suy sụp và tan rã của Chủ
Nghĩa Thực Dân cũ. Thắng lợi của
Cách mạng tháng 8 không chỉ là chiến công của dân tộc Việt Nam mà còn là chiến
công chung của các dân tộc thuộc
địa đang đấu tranh vì độc lập tự do vì thế nó có sức cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải
phóng dân tộc trên thế giới cách
mạng tháng tám là thắng lợi của đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn sáng tạo của
Đảng và tư tưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh. Nó chứng tỏ rằng một cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng Sản lãnh đạo hoàn toàn có khả năng thắng lợi
ở một nước thuộc địa trước khi giai cấp công nhân ở chính quốc lên nắm chính quyền
Cách Mạng Tháng Tám đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ
nghĩa mác-lênin về cách mạng giải phóng dân tộc.
Kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám
Cách mạng Tháng Tám thành công đã để lại cho Đảng và
nhân dân Việt Nam nhiều kinh nghiệm quý báu
Thứ nhất, về chỉ đạo chiến lược phải giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc giải
quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ độc lập dân tộc và cách mạng
ruộng đất. Trong cách mạng thuộc địa phải đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên
hàng đầu còn nhiệm vụ cách mạng ruộng đất cần tạm gác lại rải ra thực hiện từng
bước thích hợp nhằm phục vụ cho nhiệm vụ chống Đế quốc
Thứ hai, về xây dựng lực lượng trên cơ sở khối liên minh
công nông cần khơi dậy tinh thần dân tộc trong mọi tầng lớp nhân dân. Tập hợp
mọi lực lượng yêu nước trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi. Việt Minh là
một điển hình thành công của Đảng và huy động lực lượng toàn dân tộc lên trận địa
cách mạng đưa cả dân tộc vùng dậy trong cao trào kháng Nhật cứu nước tiến lên
tổng khởi nghĩa giành chính quyền
Phương pháp cách mạng nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng của quần
chúng ra sức xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang kết hợp đấu tranh
chính trị với đấu tranh vũ trang. Tiến hành chiến tranh du kích cục bộ và khởi nghĩa
từng phần giành chính quyền bộ phận ở những vùng nông thôn có điều kiện tiến
lên chớp đúng thời cơ. Phát động tổng khởi nghĩa ở cả nông thôn và thành thị
giành chính quyền toàn quốc
Về xây dựng Đảng phải xây dựng một đảng cách mạng Tiên Phong của giai cấp
công nhân nhân dân lao động và toàn dân tộc Việt Nam tuyệt đối trung thành với lợi
ích của giai cấp và dân tộc vận dụng và phát triển lý luận Mác-lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh đề ra đường lối chính trị đúng đắn một Đảng vững mạnh về tư tưởng
chính trị và tổ chức liên hệ chặt chẽ với quần chúng. Chú trọng vai trò lãnh đạo ở
cấp chiến lược của Trung ương đảng đồng thời phát huy chủ động sáng tạo của
đảng bộ các địa phương với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 Đảng
đã lãnh đạo nhân dân hoàn thành mục tiêu giành độc lập giành chính quyền đưa
lịch sử dân tộc sang trang mới đánh dấu bước nhảy vọt vĩ đại trong quá trình tiến
hóa của dân tộc nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ khi ra đời dù phải trải qua
muôn vàn khó khăn thử thách nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng với tinh thần đoàn
kết phấn đấu của toàn dân luôn được xây dựng và củng cố vững mức tiến lên trên
con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
3. Bài học về sự sáng tạo của Đảng trong cách mạng tháng Tám và sự vận dụng
sáng tạo của Đảng trong đổi mới:
Chúng ta biết rằng Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Việt Nam là thắng Lợi đầu
tiên của chủ nghĩa Mác Lênin ở một nước thuộc địa nửa phong kiến thắng lợi đó là
một kỳ tích lịch sử sự đổi mới trong con đường cứu nước giải phóng dân tộc. Có
thể khẳng định rằng thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một trong
những thắng lợi vĩ đại có ý nghĩa lịch sử và thời đại của dân tộc Việt Nam trong thế
kỷ XX mở ra thời đại mới của dân tộc thời đại Hồ Chí Minh. Thời đại của độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi cuộc cách mạng tháng tám là kết quả tổng
hợp của nhiều nhân tố chủ quan và yếu tố khách quan trong đó nổi bật là sự lãnh
đạo chỉ đạo tích cực chủ động quyết đoán năng động và sáng tạo của Đảng cộng
sản Việt Nam và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cả về phương diện lý luật cũng như chính
trị thực tiễn sự sáng tạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh trong cách mạng tháng
Tám thể hiện nổi bật trên những điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất sự sáng tạo trong đường lối chiến lược và sách lược phù hợp với
cuộc cách mạng ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Đặt mục tiêu nhiệm vụ
giải phóng dân tộc giành độc lập dân tộc lên hàng đầu kết hợp đúng đắn đấu
tranh dân tộc với đấu tranh giai cấp, lợi ích dân tộc với lợi ích giai cấp, mục tiêu
dân tộc với dân chủ, chống đế quốc với chống phong kiến. Đó là sự phát triển
sáng tạo chủ nghĩa mác-lênin về đấu tranh giai cấp đấu tranh dân tộc và là tư
tưởng đặc sắc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã được nêu ra ngay trong Cương
lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng tháng 2 năm 1930 các hội nghị trung ương
tháng 11 năm 1939, tháng 11 năm 1940, tháng 5 năm 1941, chỉ thị Nhật Pháp
bắn nhau và hành động của chúng ta ngày 12 tháng 3 năm 1945 và quyết định
của hội nghị Đảng toàn quốc và Tân Trào T8 năm 1945 đã phát triển hoàn thiện
đường lối chiến lược sách lược đúng đắn và sáng tạo đó dẫn dắt và quyết định
thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng tám năm 1945
Thứ hai là sự sáng tạo trong chủ trương tập hợp đoàn kết toàn dân tộc phát
huy tinh thần yêu nước cách mạng ý chí tự lực tự cường quyết đem sức ta tự
giải phóng cho ta. Cách mạng tháng tám là sự vùng dậy của cả dân tộc là
thắng lợi của tinh thần dân tộc chân chính của chủ nghĩa yêu nước trong thời
đại mới. Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nêu cao tinh thần đại đoàn kết
dân tộc, lấy liên minh công nông làm nòng cốt đoàn kết hết thảy mọi giai cấp
tầng lớp dân tộc tôn giáo cá nhân và nhiệm vụ giải phóng dân tộc mặt trận Việt
Minh là hình thức tổ chức mặt trận dân tộc thống nhất tiêu biểu cho ngọn cờ đại
đoàn kết dân tộc một công cụ tổ chức thật sự có sức mạnh. Đảng cộng sản và
mặt trận Việt Minh đã tổ chức thành công phong trào cách mạng rộng lớn của
quần chúng tạo nên thế và lực của nhân dân và dân tộc với thế và lực mới
cách mạng Việt Nam đã chủ động giành thắng lợi không phụ thuộc vào cách
mạng có nổ ra ở chính quốc là Pháp, Nhật hay không
Thứ ba cách mạng tháng tám là sự sáng tạo và hình thức và phương pháp đấu
tranh giành chính quyền. Ba cao trào cách mạng trong những năm 1930 đã trải
nghiệm nhiều hình thức và phương pháp đấu tranh. Bước vào cao trào giải
phóng dân tộc 39 45 Đảng đã sớm xác định con đường khởi nghĩa vũ trang để
giành chính quyền đi từ khởi nghĩa từng phần giành thắng lợi từng bước tiến
tới tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn kết hợp chặt chẽ xây dựng cơ sở
chính trị lực lượng chính trị với xây dựng căn cứ địa và lực lượng vũ trang, kết
hợp cả đấu tranh chính trị và vũ trang, kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với
tiến công của lực lượng vũ trang, kết hợp các hình thức đấu tranh trên các địa
bàn miền núi nông thôn Đồng Bằng và đô thị tạo nên sức mạnh tổng hợp của
cách mạng có khả năng áp đảo kẻ thù thúc đẩy sự khủng hoảng và tan rã trong hàng ngũ kẻ thù
Thứ tư sự sáng tạo trong chiếc thời cơ chủ động đẩy lùi nguy cơ là một nét đặc
sắc trong lãnh đạo chỉ đạo tổng khởi nghĩa tháng tám năm 1945. Khi cao trào
kháng Nhật cứu nước của toàn dân đã lên cao kẻ thù lâm vào sự hoang mang
rối loạn nhất là thời điểm phát xít Nhật đầu hàng Liên Xô và quân đồng minh 15
tháng 8 năm 1945 Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh đã ra lệnh tổng khởi
nghĩa các tổ chức đảng trong toàn quốc đã chủ động đưa quần chúng vào
hành động cách mạng và giành thắng lợi trong nửa cuối tháng Tám năm 1945.
Chớp đúng Thời cơ là biểu hiện tuyệt diệu trong tổng khởi nghĩa cùng với nghệ
thuật chớp thời cơ Đảng và Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ những nguy cơ cần
phải đưa nhân dân đang sống cùng cực ở chế độ áp bức của Nhật Pháp ra
khỏi nạn đói khẩu hiệu và chủ trương phá kho thóc của Nhật cứu dân nghèo đã
tạo nên sức mạnh to lớn của phong trào quần chúng. Phải chủ động giành
chính quyền từ tay phát xít Nhật trước khi quân Đồng minh vào tước khí vũ khí
quân Nhật với tư cách người chủ đất nước tiếp đón quân đồng minh nếu không
vượt qua nguy cơ này cách mạng khó có thể thắng lợi vì Đảng ta đã sớm nhận
rõ âm mưu của các thế lực thay mặt đồng minh được phân công vào Đông Dương và Việt Nam
Bài học về sự sáng tạo của cách mạng tháng tám tiếp tục được Đảng và nhân dân
Việt Nam phát triển trong cuộc kháng chiến giải phóng và bảo vệ tổ quốc trong xây
dựng Chủ nghĩa xã hội và nhất là trong công cuộc đổi mới đất nước.
Đường lối đổi mới đất nước do Đại hội 6 của Đảng tháng 12 năm 1986 đề ra là kết
quả của một tư duy sáng tạo khắc phục bệnh rập khuôn giáo điều nhận thức đúng
đắn hơn về các quy luật khách quan của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội và
vận dụng các quy luật đó sát hợp với tình hình thực tiễn ở Việt Nam lý luận của chủ
nghĩa mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đã
được nhận thức đúng đắn làm cơ sở để hoạch định đường lối đổi mới đất nước.
Đường lối đổi mới còn là kết quả của quá trình khảo nghiệm tổng kết quá trình
nhận thức và hành động năng động sáng tạo của các địa phương, cơ sở của nhân
dân lao động chính ý kiến nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc
hình thành đường lối đổi mới của Đảng cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối
đổi mới dũng cản phấn đấu vượt qua biết bao khó khăn thử thách mà công cuộc
đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay. Từ tư duy sáng tạo và thực tiễn sinh
động phong phú của Việt Nam vượt qua những khó khăn thách thức do cuộc khủng
hoảng và tan rã của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đại hội 7 của Đảng
tháng 6 năm 1991 đã đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
Chủ nghĩa xã hội và lần đầu tiên nêu lên mô hình xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta
xây dựng gồm 6 đặc trưng trong đó Đảng đã đề ra những nguyên tắc chỉ đạo công
cuộc đổi mới bảo đảm cho sự nghiệp đổi mới phát triển đúng định hướng và có
hiệu quả ở mô hình chủ nghĩa xã hội do đại hội 7 đề ra tiếp tục được nhận thức và
thực hiện trong thực tế được bổ sung và phát triển rõ thêm đại hội 10 của Đảng
tháng tư năm 2006 bổ sung thêm hai đặc trưng và trong nội dung từng đặc trưng
cũng được nhận thức và thể hiện rõ hơn . 20 năm đổi mới là sự phát triển không
ngừng về đường lối chiến lược và Sách lược đối nội và đối ngoại bà đảm cho đất
nước đổi mới hội nhập và phát triển Đảng và Nhà nước Việt Nam trong đường lối
chính sách và pháp luật của thời kỳ đổi mới đã chú trọng cụ thể hóa sát hợp với đòi
hỏi của tình hình thực tiễn chú trọng tính hiện thực và khả năng điều kiện hiện thực
Hóa đường lối chính sách và pháp luật đường lối cương lĩnh của Đảng chính sách
pháp luật của nhà nước hướng và thực hiện và giải quyết đúng đắn các mối quan
hệ giữa đổi mới chính sách kinh tế đổi mới hệ thống chính trị giữa tăng trưởng
phát triển kinh tế với thực hiện công bằng xã hội chính sách kinh tế với chính sách
xã hội quan hệ giữa đổi mới công tác kế hoạch hóa với vận hành nền kinh tế theo
cơ chế thị trường giữa kế hoạch với thị trường quan hệ giữa xây dựng phát triển
mạnh mẽ lực lượng sản xuất đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa với xây dựng
quan hệ sản xuất phù hợp vân… các mối quan hệ trên đây được thực hiện có hiệu
quả là sự bảo đảm vững chắc cho việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền
với Chủ nghĩa xã hội xây dựng thành công một xã hội dân giàu nước mạnh dân chủ
công bằng văn minh. ại hội 10 của Đảng chủ trương tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu
lý luận và tổng kết thực tiễn bổ sung và phát triển đường lối đổi mới và cương lĩnh.
Sự phát triển sáng tạo trong tư duy lý luận và những kết quả thành quả trong thực
tiễn hành động là cơ sở khoa học để đại hội 11 của Đảng có thể sửa đổi bổ sung và
phát triển cương lĩnh năm 91 trong lãnh đạo chính trị cùng với việc xây dựng và
phát triển sáng tạo cương lĩnh đường lối sự sáng tạo trong phương pháp hiện thực
hóa đường lối mục tiêu có tầm quan trọng đặc biệt với các phương pháp giải pháp
cách thức hình thức bước đi thích hợp với cách nghĩ cách làm năng động sáng tạo
từ người lãnh đạo quản lý từ các tổ chức Đảng chính quyền đến mọi người lao
động trí óc và chân tay đến mọi người dân mới có thể đưa đường lối chính sách
pháp luật vào cuộc sống khơi dậy mạnh mẽ sức sáng tạo của nhân dân các thành
phần kinh tế các đơn vị kinh tế các ngành các cấp là một trong những thành công
của Đảng trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới . Một trong những thành công trong
lãnh đạo cách mạng tháng tám là Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy cao độ
sức mạnh nội lực và ý chí tự lực tự cường của khối đại đoàn kết dân tộc trong công
cuộc đổi mới một lần nữa sức mạnh nội lực Sức Mạnh Của Tinh thần độc lập tự
chủ được khơi dậy mạnh mẽ với sức sáng tạo của toàn dân trong xây dựng và bảo
vệ tổ quốc Đại hội 10 của Đảng nêu rõ quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc trên
nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của Cách mạng Việt Nam là
nguồn Sức Mạnh Động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm
thắng lợi bền vững lấy sự nghiệp xây dựng và bảo vệ em lấy mục tiêu giữ vững độc
lập thống nhất tổ quốc vì dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh
làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc các tôn giáo và các tầng lớp
ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài đại đoàn kết toàn dân tộc
tạo nên sự Đồng Tâm Hiệp Lực đóng góp công sức vật chất trí tuệ và sức sáng tạo
của mọi lực lượng mọi người vì lợi ích chung của đất nước trong đó có lợi ích riêng
của mỗi người lợi ích cá nhân chính đáng được tôn trọng bảo đảm và trở thành một
trong những động lực để phát triển kinh tế xã hội phát triển đất nước sức sáng tạo
của nhân dân của mỗi người chỉ được phát huy cao độ khi được tổ chức lại và
hướng theo mục tiêu cao cả của dân tộc của đất nước bài học về chớp thời cơ đẩy
lùi nguy cơ của cách mạng T8 cũng đã được Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng
sáng tạo và thành công trong công cuộc đổi mới ở mỗi chặng đường lịch sử của
Cách mạng Việt Nam thời cơ hội và nguy cơ thách thức thưởng đan xen nhau vấn
đề là phải biết phát hiện tận dụng thời cơ khắc phục đẩy lùi những tác động xấu
của khó khăn thách thức nguy cơ tại Đại hội 6 năm 1986 1 trong những nội dung
đổi mới được quyết định là mở rộng hợp tác quốc tế thu hút vốn đầu tư của nước
ngoài. đại hội 7 của Đảng năm 1991 với quan điểm đối ngoại mở rộng Việt Nam
muốn là bạn với tất cả các nước trên thế giới tạo ra cơ hội tốt để ta hội nhập với thế
giới nhất là sau khi chế độ xã hội chủ
nghĩa sụp đổ ở Đông Âu và Liên Xô sau khi kết thúc chiến tranh lạnh khả năng đối
thoại hội nhập hợp tác đã được Đảng Cộng sản Việt Nam ở tận dụng có hiệu quả
Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc năm 1991 với Hoa Kỳ năm
1995 ra nhập Asean năm 1995 là cơ hội tốt để phát triển đất nước
4. Vì sao Đảng ta phải thực hiện công cuộc đổi mới năm 1986?
Các bạn biết rằng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được Đảng ta khởi xướng
và lãnh đạo vào năm 1986 và từ đó đến nay thì chúng ta đã đạt được nhiều thành
tựu to lớn vậy thì quay trở lại lịch sử các bạn biết rằng từ cuối những năm 1970 từ
cuối những năm 70 khi Việt Nam lâm vào khủng hoảng kinh tế xã hội Đảng ta trên
cơ sở tổng kết thực tiễn và những kinh nghiệm sáng tạo trong nhân dân đã đề ra
chủ trương đổi mới từng phần tuy vậy những nhược điểm của mô hình chủ nghĩa
xã hội lúc đó về cơ bản chưa được khắc phục đất nước thì bị bao vây cấm vận bị
tàn phá nặng nề sau chiến tranh quá trình thử nghiệm những biện pháp cải cách
chúng ta lại phạm phải một số sai lầm nên dẫn tới khủng hoảng trầm trọng về kinh
tế xã hội tỷ lệ lạm phát đến năm 1986 lên đến 774,7 phần trăm cuối năm 1986 tại
Đại hội 6 với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật đánh giá đúng sự thật nói rõ sự thật
Đảng ta đã nghiêm khắc kiểm điểm sự lãnh đạo của mình khẳng định những mặt
đã làm được và chỉ ra những sai lầm khuyết điểm và trên cơ sở đó đã đề ra đường
lối đổi mới toàn diện mở ra bước ngoặt trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam. Sau Đại hội 6 Công cuộc đổi mới được triển khai mạnh mẽ nhưng tình
hình diễn biến phức tạp có lúc khó khăn tưởng chừng khó vượt qua 3 năm liền lạm
phát ở mức 3 con số đời sống của người được hưởng lương trợ cấp xã hội bị giảm
sút mạnh nhiều xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp đình đốn
thua lỗ sản xuất bị cầm chừng thậm chí phải đóng cửa hàng chục vạn công nhân
buộc phải rời xí nghiệp hàng vạn giáo viên phải bỏ nghề những vụ đồ vỡ quỹ tín
dụng xảy ra ở nhiều nơi những diễn biến quốc tế phức tạp đã tác động xấu đến tình
hình nước ta. Trong bối cảnh đó Đảng Nhà nước và nhân dân ta đã rất có bản lĩnh
ra sức khắc phục khó khăn giữ vững ổn định chính trị giải quyết những vấn đề kinh
tế xã hội cấp bách đặt ra từng bước đưa nghị quyết Đại hội 6 vào cuộc sống đầu
năm 1988 có nạn đói lớn ở nhiều vùng và lạm phát còn ở mức là 393,8 phần trăm
nhưng từ năm 1989 trở đi nước ta đã bắt đầu xuất khẩu được mỗi năm 1 đến 1,5
triệu tấn gạo lạm phát giảm dần đến năm 1990 còn 67,4 phần trăm việc thực hiện
ba chương trình kinh tế lớn đạt được những bước tiến rõ rệt. Nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước bắt
đầu được hình thành đời sống nhân dân được cải thiện dân chủ xã hội được phát
huy quốc phòng và an ninh được giữ vững hoạt động đối ngoại được mở rộng đẩy
lùi tình trạng bị bao vây cô lập. Như vậy chúng ta có thể thấy rằng về thời gian thì
đổi mới đất nước ở chúng ta không phải chỉ mới bắt đầu từ năm 1986 bằng Đại hội
6 mà đã manh nha xuất hiện từ giữa nhiệm kỳ đại hội 4 đánh dấu bằng nghị quyết
hội nghị trung ương 6 năm 1979 và các nghị quyết Trung ương tiếp theo tiếp đó Tại
đại hội năm mà thời gian đó từ đó đến Đại hội 6 là một quá trình đấu tranh gay gắt
và phức tạp giữa những nhân tố đầu tiên của đổi mới với những tư tưởng muốn
duy trì cơ chế quản lý cũ đối với thời kỳ này là cái cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư
tưởng giữa cái mới và cái cũ nhưng cuối cùng những tư tưởng mới tiến bộ đã
thành công cho nên có thể khẳng định chỉ đến Đại hội 6 thì đổi mới mới trở thành
đường lối chính thức của Đảng ta đường lối đổi mới toàn diện đổi mới bắt đầu từ
kinh tế đổi mới toàn diện về kinh tế chính trị văn hóa xã hội và chúng ta thấy có đổi
mới toàn diện nhưng đổi mới phải trọng tâm điều này chúng ta biết rằng trong văn
kiện Đại hội Đảng 8 của Đảng ta thì đã nêu lên bài học đó là kết hợp chặt chẽ ngay
từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị lấy đổi mới kinh tế làm trung tâm đồng
thời từng bước đổi mới chính trị. Như vậy Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi
mới tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội đối
ngoại không có sự đổi mới đó thì không có sự đổi mới khác Song Đảng ta đất đúng
khi tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế khắc
phục khủng hoảng trầm trọng về kinh tế xã hội tạo tiền đề cần thiết về vật chất và
tinh thần để giữ vững ổn định chính trị xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân
tạo thuận lợi để đổi mới các lĩnh vực khác của đời sống xã hội như vậy với việc xác
định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt
đại hội 8 đã thật sự xác định sự kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị và từ đó đến nay đảng ta không coi nhẹ đổi mới chính trị không chỉ là đổi
mới mà và chỉnh đốn lại mà còn là đổi mới và nâng cao hiệu lực của hệ thống chính
trị giải quyết những vấn đề chính trị của đất nước điều đó cho thấy đường lối đổi
mới của Đảng cộng sản Việt Nam nó không tự nhiên mà có đó là kết quả của một
quá trình tìm tòi thử nghiệm thông qua những trăn trở đấu tranh gian khổ khó khăn
về tư duy trên cơ sở tổng kết thực tiễn kết hợp với việc vận dụng lý luận tạo ra
những đột phá quan trọng đó là quá trình từng bước từ thấp đến cao từ đổi mới bộ
phận đến đổi mới căn bản từ đổi mới từng mặt đến đổi mới toàn diện
5. Hoàn cảnh, nội dung và ý nghĩa của đường lối đổi mới của Đảng trong Đại hội VI (1986) Về hoàn cảnh lịch sử
về tình hình thế giới chúng ta biết rằng vào những năm 1986 thì mô hình chủ nghĩa xã
hội ở nhiều nước trên thế giới đã bộc lộ những khuyết điểm Liên Xô và Đông Âu thì đã
lâm vào khủng hoảng toàn diện và nghiêm trọngđó là chiến tranh thế giới
Trên thế giới chiến tranh lạnh kết thúc thời kỳ này xu thế đối thoại thay cho đối đầu toàn
cầu hóa đã trở thành một xu thế khách quan
Đó là cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã diễn ra một cách mạnh mẽ xuất hiện
hình thái kinh tế mới của thời đại công nghệ thông tin là kinh tế tri thức chúng ta thấy rõ
ràng 1 trong cái điểm rất nổi bật ở đây chính là cuộc cách mạng khoa công nghệ phát
triển như vũ bão và nó phát triển rất mạnh mẽ trong chủ nghĩa tư bản trong khi các nước xã hội
chủ nghĩa thì với cái tư duy và cách nhìn nhận đánh giá không đúng về chủ nghĩa tư
bản trước đây đặc biệt là phủ
định sạch trơn chủ nghĩa tư bản cho nên đã không tận dụng kế thừa được cái thành
tựu của cách mạng khoa học công nghệ mà nhân loại đã tạo ra trong chủ nghĩa tư bản
thứ tư về bối cảnh thế giới ở đây là các nước đang phát triển phải tiến hành cuộc đấu
tranh rất khó khăn phức tạp chống tình trạng đói nghèo lạc hậu chống mọi sự can thiệp
áp đặt và xâm lược để bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia dân tộc Tình hình trong
nước Việt Nam thì lâm vào tình trạng khủng hoảng về kinh tế xã hội trầm trọng sản xuất
kém phát triển phân phối lưu thông rối ren các công cụ đòn bẩy kinh tế như là chính
sách giá cả tiền tệ tài chính tiền lương đều không phát huy được tác dụng dẫn đến lạm
phát gia tăng chúng ta biết lại phát của chúng ta có thời kỳ này trong thời kỳ này là lạm
phát phi mã lạm phát 3 con số không thực hiện được mục tiêu đề ra là ổn định tình hình
kinh tế xã hội ổn định đời sống nhân dân thực tế tình hình đặt giang một yêu cầu khách
quan có tính sống còn đối sự nghiệp cách mạng là phải xoay chuyển tình thế tạo ra sự
chuyển biến có ý nghĩa quyết định trên con đường đi lên muốn như vậy thì chúng ta
phải đổi mới toàn diện trong đổi mới toàn diện thì trước hết là phải đổi mới về kinh tế
trong đổi mới kinh tế phải Trước hết là phải đổi mới tư duy khi đó là hoàn cảnh lịch sử
thứ hai đó là nội dung cơ bản của đường lối đổi mới toàn diện của Đảng cộng sản Việt
Nam trong Đại hội 6 chúng ta biết rằng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 6 của Đảng
cộng sản Việt Nam họp tại thủ đô Hà Nội từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 12 năm 1986
Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện được xác định trên những kinh nghiệm vụ cơ bản:
- thứ nhất là phải đổi mới tư duy lý luận khắc phục những cái biểu hiện chủ quan duy trí
nóng vội làm trái quy luật khách quan phải nhận thức và vận dụng đúng quy luật khách
quan phù hợp với thực tiễn đất nước kết quả Đảng ta khẳng định điều này Đảng ta đã
khẳng định rằng có một thời kỳ trước đó là chúng ta đã mắc và bệnh chủ quan duy ý
chí vi phạm các quy luật khách quan trong việc đề ra đường lối chủ trương chiến lược phát triển
thứ hai là phải đổi mới cơ cấu kinh tế thực hiện nhiều thành phần kinh tế kinh tế xã hội
chủ nghĩa trong đó có kinh tế quốc doanh kinh tế tập thể có kinh tế tiểu sản xuất hàng
hóa kinh tế tư bản tưnhân kinh tế tư bản nhà nước kinh tế tự nhiên tự túc tự cấp nhận
thức và vận dụng đúng quy luật quan hệ sản xuất của với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất bố trí lại cơ cấu sản xuất điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư tập trung thực
hiện ba chương trình kinh tế lớn
- thứ ba là về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Kiên quyết xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung
quan liêu hành chính bao cấp đổi mới Kế hoạch khóa kết hợp kế hoạch hóa với thị
trường thực hiện thực chất của cơ chế thực chất của cơ chế mới phải quản lý kinh tế là
cơ chế ế quá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đúng nguyên tắc tập trung dân chủ
- thứ tư là đổi mới và tăng cường vai trò quản lý điều hành của Nhà nước về kinh tế
cần phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính tinh tế của các cơ quan nhà nước
Trung ương và địa phương với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở
- thứ năm đổi mới hoạt động đối ngoại kinh tế đối ngoại đổi mới hoạt động kinh tế đối
ngoại mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại mở rộng hợp tác đầu tư với
nước ngoài thông qua việc công bố chính sách khuyến khích đầu tư với nhiều hình
thức nhất là những ngành đòi hỏi kỹ thuật cao và làm hàng xuất khẩu tạo điều kiện cho
người nước ngoài và Việt kiều về nước đầu tư hợp tác kinh doanh làm ăn
- đổi mới chính sách văn hóa xã hội ban hành các chính sách xã hội cơ bản lâu dài và
xác định những nhiệm vụ mục tiêu phù hợp với yêu cầu khả năng trong chặng đường
đầu tiên của thời kỳ quá độ chú trọng phát triển yếu tố con người và lấy việc phục vụ
con người là mục đích cao nhất
-cuối cùng đó là đổi mới sự lãnh đạo của Đảng nâng cao nhận thức lý luận vận dụng
đúng quy luật khách quan khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí và bảo thủ trì trệ trong
việc đề ra đường lối chủ trương chính sách cơ chế thể chế phải quán triệt tư tưởng lấy
dân làm gốc phải nắm vững thực tiễn và không ngừng nâng cao trình độ trí tuệ đổi mới
phong cách phương pháp làm việc của Đảng đó là đổi mới sự lãnh đạo của Đảng
trong Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 6 tháng 12 năm 1986 thì khái quát lại chúng ta
thấy có đổi mới tư duy lý luận
đổi mới cơ cấu kinh tế đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đổi mới và tăng cường vai trò
quản lý điều hành của Nhà nước về kinh tế đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại đổi mới
chính sách văn hóa xã hội đổi mới sự lãnh đạo của Đảng
ý nghĩa của đường lối
- chúng ta thấy là đường lối đổi mới toàn diện đất nước nó có ý nghĩa trọng đại đánh
dấu bức mặt trong quá trình quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và thể hiện rõ
nhất là với cái đường lối đổi mới đó thì đã dần dần đưa Việt Nam thoát khỏi thời kỳ
khủng hoảng kinh tế xã hội đặt ra nền tảng cho việc tìm ra con đường thích hợp đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
- đó là đường lối đổi mới là sự kết tinh trí tuệ và tư duy khoa học của toàn Đảng toàn
dân toàn quân và thể hiện quyết tâm đổi mới của Đảng đường lối đổi mới của Đảng
chính là sự kế thừa vận dụng sáng tạo chủ nghĩa mác-lênin vào điều kiện hoàn cảnh cụ
thể của Việt Nam chúng ta
- với cái đường lối đổi mới toàn diện đất nước trong đó Trọng tâm là đổi mới về kinh tế
từng bước đổi mới trên các lĩnh vực khác đã đưa đất nước ta ra khỏi tay kỳ khủng
hoảng trầm trọng về kinh tế xã hội và đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch
sử như ngày hôm nay cả về chính trị cả về kinh tế văn hóa tư tưởng xã hội ở nội dung
này các bạn có thể lấy thành tựu 35 36 năm 35 36 năm thực hiện công cuộc đổi mới
đất nước để chứng minh điều đó cho ví dụ như các bạn phải chứng minh cái kết cấu hạ
tầng chúng ta có sự thay đổi và thành tựu đạt được là gì về kinh tế đạt được là gì về
văn hóa và xã hội về chính trị nhân dân để chứng minh cho đường lối đổi mới toàn diện
do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo năm 1986 là hoàn toàn đúng đắn và trong quá trình
đổi mới đó Đảng ta luôn luôn kiên định chủ nghĩa mác-lênin lấy chủ nghĩa mác-lênin tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng kim chỉ nam cho hành động và chúng ta luôn
luôn gắn mục tiêu đó là độc lập dân tộc phải gắn liền với Chủ Nghĩa Xã Hội
6. Quá trình tìm tòi, khảo nghiệm đường lối đổi mới của Đảng ta từ 1975 - 1986 diễn ra như thế nào?
thứ nhất các bạn phải làm rõ được nó là yêu cầu bức thiết phải thực hiện công cuộc đổi
mới toàn diện đất nước của Đảng ta
thứ hai là các bạn phải làm rõ quá trình tìm tòi khảo nghiệm đường lối đổi mới của
Đảng cộng sản Việt Nam ở nội dung
thứ nhất đó là yêu cầu bức thiết phải đổi mới nói cách khác đi là vì sao Việt Nam tất
yếu phải thực hiện công cuộc đổi mới đất nước vào năm 1986 Đây là yêu cầu bức
thiết phải thực hiện công cuộc đổi mới đất nước vậy thì a khái quát một số điểm thứ
nhất là chúng ta biết rằng trong giai đoạn này thì sản xuất ở Việt Nam tăng rất chậm
nhiều chỉ tiêu đặt ra nhưng không thực hiện được không đạt được tài nguyên thiên
nhiên thì bị lãng phí phân phối lưu thông rối ren người lao động thì thiếu việc làm
hàng tiêu dùng thì không đủ thậm chí khan hiếm thiếu trầm trọng nhà ở và các các
cái điều kiện vệ sinh tối thị các cái điều kiện vệ sinh thì thiếu thốn có thể nói chung
là do sản xuất tăng rất chậm như vậy với những tác động của rất nhiều những yếu
tố cho nên đời sống kinh tế đời sống kinh tế của nhân dân chúng ta hết sức khó
khăn. thứ hai đó là mất cân đối trong nền kinh tế chậm được thu hẹp vai trò chủ
đạo của kinh tế quốc doanh bị suy yếu. thứ ba đó là đời sống của nhân dân gặp
rất nhiều khó khăn tiêu cực trong xã hội thì gia tăng công bằng xã hội thì bị vi phạm
quần chúng nhân dân giảm lòng tin đối sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành quản lý của nhà nước
nguyên nhân dẫn tính hạn chế đó thì chúng ta có thể khái quát một số chứng minh
nhân sau thứ nhất đó là những cái sai lầm nghiêm trọng về chủ trương chính sách
lớn của Đảng và nhà nước Anh chiến lược về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực
hiện của Đảng và nhà nước
thứ hai là xác định mục tiêu và bước đi không sát với thực ấy không coi trọng khôi
phục kinh tế là nhiệm vụ cấp bách nông nghiệp ở giai đoạn này vẫn chưa thực sự
được xác định là mặt trận hàng đầu thêm nữa chúng ta đã nóng vội trong việc xóa
mà các cái thành phần kinh tế Phi Xã Hội Chủ Nghĩa Thực trạng của đất nước Lúc
bấy giờ đã đặt ra một yêu cầu khách quan và bức thiết là phải đổi mới phải có
những quyết sách khoa học để ổn định tình hình kinh tế xã hội của đất nước đưa
đất nước ta ra khỏi thời kỳ khủng hoảng trầm trọng về kinh tế xã hội
nội dung thứ hai đó là quá trình tìm tòi khảo nghiệm đường lối đổi mới đất nước của
đảng cộng sản Việt Nam
từ cuối những năm 70 đã xuất hiện những mô hình ở các địa phương các đơn vị kinh tế
tập thể và quốc doanh tự tìm tòi cải tiến cách làm ăn mô hình tổ chức quản lý mới như
là khoáng sản phẩm cho các hộ xã viên trong hợp tác xã ở các hợp tác xã nông nghiệp
ở Đồ Sơn Hải Phòng các đơn vị kinh tế quốc doanh ở thành phố Hồ Chí Minh và một
số nơi đã phá rào vượt qua cơ chế hành chính quan liêu bao cấp để tự chủ hạch toán
kinh tế, thứ hai đó là Hội nghị Trung ương 6 khóa 4 tháng 8 năm 1979 mở đầu quá trình
tìm kiếm giải pháp đưa đất nước từng bước thoát khỏi khủng hoảng về kinh tế xã hội
đặc biệt là những ràng buộc của cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp,
khuyến khích mọi người lao động Mọi năng lực sản xuất và các thành phần kinh tế làm
ra nhiều của cải vật chất cho xã hội chú trọng kế hoạch và thị trường căn vận dụng
rộng rãi các quan hệ thị trường Hội nghị Trung ương 6 khóa 4 Vẫn chủ trương chính
sách quan trọng được coi là bước đột phá đầu tiên của quá trình tìm tòi và hình thành
đường lối đổi mới quán triệt Nghị quyết Trung ương 6 đổi mới từng phần đã diễn ra
nhanh chóng trên các cái lĩnh vực cụ thể chẳng hạn trong lĩnh vực nông nghiệp chính
phủ đã ban hành các quyết định thúc đẩy sản xuất bung ra khuyến khích tận dụng
ruộng đất trong nông nghiệp vào sản xuất xóa bỏ các thực trạng kiểm soát có tính chất
ngăn sông Cấm chợ ngăn cản việc lưu thông hàng hóa ở các địa phương đặc biệt ngày
13 tháng 01 năm 1981 Ban Bí thư ban hành chỉ thị số 100 Về cải tiến công tác khoán
mở rộng khoáng sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã
nông nghiệp đã tạo ra một động lực mới trong sản xuất nông nghiệp trong công nghiệp
bắt đầu phát huy quyền làm chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh cho phép
các xí nghiệp quốc doanh có nhiều nguồn cân đối và xây dựng kế hoạch 3 phần mở
rộng hình thức trả lương khoán lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng
trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của nhà nước Cùng với đó là cải tiến công tác
phân phối lưu thông thực hiện nguyên tắc giá cả phù hợp với chi phí sản xuất lưu thông
tiến đến Xóa bỏ chế độ tem phiếu có thể thấy rằng đó là một số các cái lĩnh vực mà đã
bắt đầu tiến hành đổi mới từng phần cả trong nông nghiệp trong công nghiệp và trong
phân phối lưu thông tiếp nữa Đến đại hội năm của Đảng tháng 3 năm 1982 thì có ý
nghĩa quan trọng trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội đại hội đắp phản ánh tư duy
đổi mới của Đảng mang hình thành đặc biệt là nhấn mạnh nông nghiệp là mặt trận
hàng đầu trong chặng đường trước mắt coi ổn định tình hình kinh tế xã hội là nhiệm vụ
bức thiết như vậy đến đây chúng ta thấy rõ ràng là một nước nông nghiệp Việt Nam
phải coi trọng phát triển nông nghiệp và phải xem nông nghiệp là mặt trận hàng đầu thì
đến đại hội năm này Đảng ta đã xác định nông nghiệp chính là mặt trận hàng đầu và
đặc biệt phải coi ổn định kt xh là nhiệm vụ bức thiết lúc này tiếp đó Hội nghị lần thứ 8
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 5 tháng 6 năm 1985 đi đến chủ trương là phải
dứt khoát xóa bỏ tập trung quan liêu bao cấp thực hiện chế độ tập trung dân chủ hạch
toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa thì mới đẩy mạnh được sản xuất kinh
doanh có hiệu quả xác định giải quyết vấn đề giá-lương-tiền giá này lương tiền là khâu
đột phá để chuyển sang cơ chế mới đây được coi là bước đột phá thứ hai của quá trình
hình thành đường lối đổi mới đất nước bạn trí bức đột phá thứ nhất và bước đột phá
thứ hai tiếp nữa là kết luận kết luận của Bộ chính trị tháng 8 năm 1986 được coi là
bước đột phá thứ ba à cho chúng ta biết rằng Tháng 8 năm 1986 Bộ chính trị đã thảo
luận và đưa ra kết luận quan trọng về một số vấn đề thuộc quan điểm kinh tế thuộc về
quan điểm kinh tế trong đó nhấn mạnh trong việc bố trí cơ cấu kinh tế cơ cấu đầu tư
phải lấy nông nghiệp là mặt trận hàng đầu ra sức phát triển công nghiệp nhẹ trong cải
tạo xã hội chủ nghĩa xác định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của
thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội trong cơ chế quản lý kinh tế lấy kế hoạch hóa làm
trung tâm sử dụng đúng quan hệ hàng hóa tiền tệ dứt khoát xóa bỏ cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp vận dụng quy luật giá trị thực hiện cơ chế một giá kết luận của Bộ
Chính Trị là bước đột phá thứ ba có giá trị quan trọng về lý luận và thực tiễn có vai trò
định hướng cho Đảng cho định đường lối đổi mới tại Đại hội 6 năm 1986