Câu hỏi ôn tập cuối kỳ
1. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con
người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ
thuộc vào cảm giác
Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người, là hình
ảnh chủ quan của thế giới khách quan, gắn liền với thực tiễn xã hội
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng. Vật chất có trước, ý thức
có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, song, ý thức không hoàn toàn thụ
động mà nó có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Ví dụ như đối với những đứa trẻ sinh có điều kiện học tập bằng các thiết bị hiện đại thì
này có nhiều kiến thức và hiểu biết hơn, còn những đứa trẻ sinh ta trong hoàn cảnh điều kiện còn
thiếu thốn nhiều về vật chất thì sẽ hạn chế hơn. Song, ý thức không hoàn toàn thụ động mà nó có
thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Vai trò của vật chất đối với ý thức
Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức : ý thức chỉ xuất hiện khi loài người
xuất hiện và bộ óc người phát triển. Ý thức còn là kết quả của quá trình phản ánh hiện thực khách
quan, gắn liền với hoạt động lao động và biểu hiện thông qua ngôn ngữ. Do đó, nếu không có vật
chất, cụ thể là bộ óc người, sự tác động của thế giới khách quan lên bộ óc người, quá trình phản
ánh, lao động, ngôn ngữ thì ý thức không thể sinh ra, tồn tại và phát triển.
Điều đó còn được thể hiện rõ khi bộ não con người bị tổn thương thì hoạt động ý thức
cũng bị rối loạn.
Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức : ý thức là “hình ảnh” của thế giới khách
quan cho nên nội dung của nó là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người
trên cơ sở của thực tiễn
Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức : ý thức con người là sự phản ánh một
cách tự giác, tích cực và sáng tạo thế giới khách quan. Do đó, hoạt động thực tiễn, cải biến thế
giới của con người là cơ sở để hình thành, phát triển ý thức
Ví dụ như trong khó khăn chung là dịch bệnh Covid19, có nhiều doanh nghiệp thất bại,
song cũng có nhiều doanh nghiệp phát triển nhờ có bước đi đúng đắn, chiến lược sáng tạo, người
lãnh đạo, nhân viên năng động, biến nguy cơ thành cơ hội...
Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức : khi đời sống vật chất thay
đổi thì đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm cũng sẽ thay đổi theo
Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Thứ nhất, tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ ý thức có “đời sống riêng”,
quy luật vận động, biến đổi và phát triển không phụ thuộc một cách máy móc vào vật chất. Do
đó, ý thức có thể thay đổi nhanh hoặc chậm hơn so với hiện thực
Thứ hai, sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực tiễn của
con người. Con người dựa trên tri thức về thế giới khách quan, hiểu biết quy luật khách quan để
đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp và ý chí quyết tâm thực hiện mục tiêu
Ví dụ như con người cải tạo đất nhiễm phèn, nhiễm mặn bằng tri thức, kinh nghiệm để
phục vụ sản xuất là dùng ý thức tác động lên thế giới vật chất.
Thứ ba, ý thức chỉ đạo, hướng dẫn con người trong thực tiễn, nó có thể quyết định làm
cho hoạt động con người đúng hay sai, thành công hay thất bại.
Một là, khi phản ánh đúng hiện thực, ý thức có thể dự báo, tiên đoán một cách chính xác
cho hiện thực, từ đó mang lại hiệu quả, thành công trong thực tiễn
Ví dụ như từ nhận thức đúng đắn về thực tế kinh tế đất nước. Từ sau Đại hội VI, đảng ta
chuyển nền kinh tế từ tự cung, quan liêu sang nền kinh tế thị trường, để sau gần 30 năm bộ mặt
nước ta đã thay đổi hẳn.
Hai là, khi phản ánh sai lệch, xuyên tạc hiện thực từ đó gây ra hậu quả, tổn thất trong thực
tiễn.
Ví dụ như sa đọa tệ nạn, rượu chè, ảnh hưởng xấu đến gia đình và xã hội...
Thứ tư, trong thời đại ngày nay, những tư tưởng tiến bộ, những tri thức khoa học đóng vai
trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội
Ví dụ như giáo dục cho học sinh kiến thức, kĩ năng về văn hóa, xã hội, khoa học công
nghệ..., đi đôi với xây dựng chuẩn mực đạo đức phù hợp với pháp luật
Thế giới vật chất cùng với quy luật của nó tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý
thức con người. Vì vậy, mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn phải tôn trọng quy luật khách quan
của thế giới vật chất, chống chủ quan, duy ý chí. Ý thức có vai trò rất quan trọng, cần phát huy
tính năng động đề cao vai trò năng động, sáng tạo của con người, vai trò của tri thức khoa học, ý
chí, niềm tin, chống bảo thủ trì trệ.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, cần phải căn cứ vào điều kiện tự nhiên của đất nước, như khí
hậu, thổ nhưỡng, nguồn nước, sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Để rồi tập trung phát triển các
loại cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên của đất nước, như lúa, ngô, cao su, cà
phê,... Ngoài chú tâm vào những yếu tố đó, ta cần phải có tinh thần cầu tiến, ham học hỏi, không
ngừng cập nhật những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới để việc sản xuất hiệu quả hơn, nâng cao
năng suất, chất lượng sản phẩm.
2. Quy luật chuyển hóa giữa thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và
ngược lại
Lượng là khái niệm dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật, hiện tượng về mặt quy
mô, trình độ phát triển, các yếu tố biểu hiện ở số lượng các thuộc tính, ở tổng số các bộ phận, ở
đại lượng, ở tốc độ và nhịp điệu vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.
Chất là khái niệm dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là
sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính, yếu tố tạo nên sự vật, hiện tượng làm cho sự vật, hiện
tượng là nó mà không phải là sự vật, hiện tượng khác.
Ví dụ như Một người học từ mầm non đến đại học, trình độ nhận thức qua từng năm là
chất, thời gian trải qua là lượng
Mỗi sự vật, hiện tượng là sự thống nhất giữa hai cặp đối lập chất và lượng. Hai mặt đối
lập không tách rời nhau mà tác động qua lại biện chứng làm cho sự vận động, biến đổi theo cách
thức từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất của sự vật và ngược lại.
Mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất khi lượng đổi dẫn đến chất đổi:
Khi sự vật đang tồn tại, chất và lượng thống nhất với nhau ở một độ nhất định.
Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa chất và lượng, là khoảng giới hạn
mà trong đó, sự thay đổi về lượng vẫn chưa đủ để làm thay đổi về chất.
Trong giới hạn của một độ nhất định, lượng thường xuyên biến đổi còn chất tương đối ổn
định. Sự thay đổi về lượng của sự vật có thể làm chất thay đổi ngay lập tức nhưng cũng có thể
làm thay đổi dần dần chất cũ. Lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định có xu hướng tích lũy đạt
tới điểm nút, nếu có điều kiện sẽ diễn ra bước nhảy làm thay đổi chất của sự vật.
Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đã đủ
để làm thay đổi về chất của sự vật.
Muốn chuyển từ chất cũ sang chất mới phải thông qua bước nhảy
Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất do sự thay đổi về
lượng.
Bước nhảy kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng và mở đầu cho một giai đoạn phát
triển mới. Đó là gián đoạn trong quá trình vận động liên tục của sự vật, đồng thời là một tiền đề
cho một quá trình tích lũy liên tục về lượng tiếp theo.
Ví dụ như trong xã hội TBCN có sự đấu tranh của các giai cấp, quá trình đấu tranh này
được hiểu là độ, cuộc đấu tranh diễn ra đến đỉnh điểm: gọi là điểm nút, khi mà CNTB bị lật đổ và
CNCS lên thay thế thì được gọi là bước nhảy.
Và khi chất mới ra đời, nó tác động trở lại lượng mới, làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình
độ nhịp điệu của sự vận động phát triển của sự vật.
Chẳng hạn như khi học sinh vượt qua điểm nút là kỳ thi THPT để trở thành sinh viên.
Trình độ văn hóa của họ sẽ cao hơn trước và tạo điều kiện cho họ thay đổi kết cấu, quy mô, trình
độ tri thức, giúp họ tiến lên trình độ cao hơn
Như vậy, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt
chất và lượng. Sự thay đổi về lượng tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông qua bước
nhảy. Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới. Quá trình đó liên tục diễn ra,
tạo thành phương thức phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
trong tự nhiên, xã hội, tư duy.
Nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa thay đổi về lượng và thay đổi về chất
chúng ta sẽ rút ra được ý nghĩa phương pháp luận quan trọng cho hoạt động nhận thức và hoạt
động thức tiễn. Để có tri thức đầy đủ về sự vật, ta phải nhận thức cả mặt lượng và mặt chất của
nó. Những nhận thức ban đầu về chất (thấy sự khác nhau) của các sự vật chỉ trở nên đúng đắn và
được làm sâu sắc thêm khi đạt tới tri thức về sự thống nhất giữa chất và lượng của các sự vật đó.
Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng bắt đầu bằng quá trình tích lũy dần dần về
lượng đến một giới hạn nhất định, thực hiện bước nhảy để chuyển về chất. Do đó, trong hoạt
động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải biết từng bước tích lũy về lượng để làm biến đổi về
chất theo quy luật và chống cả hai khuynh hướng: “Tả khuynh” là tư tưởng chủ quan, duy ý chí,
nôn nóng, chưa có sự tích lũy về lượng đã muốn thực hiện bước nhảy về chất. Hoặc coi nhẹ sự
tích lũy về lượng, chỉ nhấn mạnh đến các bước nhảy, từ đó dẫn đến hành động phiêu lưu mạo
hiểm. Ngược lại “hữu khuynh” là tư tưởng bảo thủ, trì trệ, ngại khó, không dám thực hiện bước
nhảy về chất. Hoặc tư tưởng chỉ nhấn mạnh đến sự biến đổi dần dần về lượng, từ đó rơi vào chủ
nghĩa cải lương và tiến hoá luận. Sự thay đổi về chất của sự vật còn phụ thuộc vào sự thay đổi
phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật. Do đó, trong hoạt động của mình, chúng ta
phải biết cách tác động vào phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật trên cơ sở hiểu
rõ bản chất, quy luật, kết cấu của sự vật đó.
Vận dụng trong thực tiễn cách mạng ở Việt Nam rất sinh động: Ngày nay, trong công
cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế đất nước, chúng ta cũng ứng dụng phương pháp luận của quy
luật lượng chất. Quá trình phát triển nền kinh tế đất nước trong giai đoạn hiện nay không thể
nóng vội. Phải xây dựng cơ sở vật chất từ đầu, phải tích lũy và tận dụng sức mạnh của các thành
phần kinh tế, phát động sức mạnh của toàn dân, của các nguồn lực kinh tế của đất nước, nông
nghiệp, công nghiệp, thủy sản, năng lượng dầu khí, du lịch, dịch vụ… tất cả tạo nên sức mạnh to
lớn của nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy, nền kinh tế nước ta hiện nay đã đạt được những thành
tựu to lớn. Tổng thu nhập GDP đã đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch.
3. Thực tiễn vai trò thực tiễn đối với nhận thức
Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản không chỉ của lý luận
nhận thức mácxít mà còn của toàn bộ triết học Mác - Lênin nói chung.
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất - cảm tính, có tính lịch sử - xã hội của con
người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ nhân loại tiến bộ.
Nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác, sáng tạo hiện thực khách quan vào bộ
óc con người tri thức về nó. Sự phản ánh giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức.
Thực tiễn có đặc trưng cơ bản như sau
Thứ nhất, thực tiễn không phải toàn bộ hoạt động của con người mà chỉ là những hoạt
động vật chất - cảm tính.
Thứ hai, Hoạt động thực tiễn là những hoạt mang tính lịch sử - xã hội của con người.
Thứ ba, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ
con người.
Thực tiễn rất đa dạng với nhiều hình thức, song có ba hình thức cơ bản là : hoạt động sản
xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học
Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức hoạt động đóng vai trò quyết định, đầu tiên của
thực tiễn, con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên, tạo ra của cải vật chất nhằm
duy trì sự tồn tại và phát triển.
Ví dụ như thời nguyên thủy, con người đã chế tạo cung tên săn bắt động vật làm thức ăn
để tồn tại và phát triển.
Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động nhằm cải biến quan hệ chính trị - xã hội để thúc
đẩy xã hội phát triển
Ví dụ như đấu tranh giai cấp dẫn đến cách mạng xã hội, làm thay đổi toàn bộ các mặt
kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng
Thực nghiệm khoa học là hình thức đặc biệt, quan trọng của thực tiễn, được tiến hành
trong những điều kiện gần giống, giống những trạng thái tự nhiên, xã hội nhằm xác định bản chất,
quy luật vận động, phát triển của đối tượng
Ví dụ như cuộc cách mạng công nghệ 4.0 phát triển nhanh chóng, đòi hỏi phải có những
nghiên cứu, phát minh, sáng chế để bắt kịp bước phát triển. Từ đó, dẫn đến sự triển khai những
quy trình sản xuất mới, công nghệ mới vào trong các lĩnh vực
Mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ, tác động qua lại giữa các hình thức cơ bản của thực
tiễn, trong đó hoạt động sản xuất vật chất là quan trọng nhất, quyết định đối với các hoạt động
khác. Hoạt động chính trị - xã hội và thực nghiệm khoa học có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm
hoạt động sản xuất vật chất.
Như vậy, thực tiễn có vai trò rất quan trọng đối với nhận thức
Một là, thực tiễn là cơ sở cho nhận thức.Từ hoạt động sản xuất vật chất, sử dụng công cụ
lao động cải tạo tự nhiên để phục vụ nhu cầu của mình, mà còn người đã có được tri thức, kinh
nghiệm, lý luận, năng lực tư duy logic không ngừng được củng cố.
Ví dụ như người tối cổ thông qua hoạt động săn bắt, hái lượm, dần dần phát triển tứ chi,
bộ xương và trở thành người tinh khôn.
Hai là, thực tiễn là động lực của nhận thức. Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức,
khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức, thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các
ngành khoa học.
Ví dụ như thực tiễn dịch Covid 19 hoành hành trên thế giới, các nhà khoa học cần phải
tìm ra phương thuốc mới phòng bệnh
Ba là, thực tiễn là mục đích của nhận thức. Ứng dụng các tri thức khoa học để phục vụ
cho sản xuất và phục vụ nhu cầu con người.
Ví dụ như sử dụng kiến thức, kinh nghiệm bản thân để đấu tranh cho quyền bình đẳng
giới, tuyên truyền hạn chế tệ nạn xã hội....
Bốn là, thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý. Thực tiễn không ngừng kiểm nghiệm,
bổ sung, điều chỉnh, phát triển và hoàn thiện nhận thức
Ví dụ như thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 - 1975) chứng tỏ
đường lối cách mạng Việt Nam do Đảng đề ra là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo.
Từ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, đòi hỏi phải quán triệt quan điểm thực tiễn là
việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn. Nghiên cứu lý luận phải đi đôi với thực tiễn; học phải
đi đôi với hành và không cho phép con người biến một hiểu biết bất kỳ thành chân lý vĩnh viễn,
bất biến cho mọi lúc, mọi nơi. Xa rời thực tiễn dẫn đến bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, quan
liêu. Nhưng không được tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn, tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn sẽ
rơi vào chủ nghĩa thực dụng, Đồng thời phải chống mọi biểu hiện của bệnh kinh nghiệm và bệnh
giáo điều trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn. Rèn luyện khả năng nắm bắt thực tiễn,
nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Trong quá trình học tập và làm việc, chúng ta cần phải kết hợp chặt chẽ lý thuyết và thực
hành song song với nhau, bổ trợ cho nhau để có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề.
4. Nguyên lý mối liên hệ phổ biến
Mối liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc tương hỗ, quy định
và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với
nhau.
Ví dụ như, mối liên hệ giữa đồng hóa và dị hóa trong cơ thể sinh vật, cơ thể con người
với môi trường xã hội, tự nhiên,…
Mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của
thế giới, trong đó mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng
của thế giới.
Ví dụ như, trong cơ thể người sự liên kết của các phân tử trong một chất hay mối liên hệ
giữa cái riêng - cái chung, nguyên nhân - kết quả,...
Khi khái quát từ những biểu hiện cụ thể của mối liên hệ xảy ra trong các lĩnh vực khác
nhau của thế giới, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến được phát biểu như sau:
Một là, thế giới có vô vàn các sự vật, hiện tượng nhưng chúng tồn tại trong mối liên hệ
trực tiếp hay gián tiếp với nhau, tức là chúng luôn tồn tại trong sự quy định lẫn nhau, tác động ,
biến đổi và chuyển hóa lẫn nhau.
Hai là, mỗi sự vật, hiện tượng của thế giới cũng là một hệ thống được cấu thành từ nhiều
yếu tố, nhiều mặt, tồn tại trong mối liên hệ ràng buộc, chi phối và làm biến đổi lẫn nhau. Vì vậy,
một sự vật, hiện tượng có vô vàn mối liên hệ.
Căn cứ vào sự vận động, phát triển của giới tự nhiên, đời sống xã hội và hoạt động thực
tiễn của con người, đồng thời dựa trên những thành tựu của khoa học hiện đại, phép biện chứng
duy vật khẳng định rằng mối liên hệ phổ biến có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng.
Tính khách quan: Tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới đều là những dạng cụ thể
của vật chất, chúng tồn tại một cách khách quan ở bên ngoài và độc lập với ý thức của con người.
Thông qua các mối liên hệ, con người có thể phát hiện ra quy luật, nguyên lý của thế giới khách
quan.
Ví dụ như, sự phụ thuộc cơ thể sinh vật vào môi trường, môi trường thay đổi thì cơ thể
sinh vật cũng thay đổi để thích ứng. Mối liên hệ đó không ai tạo ra mà là tính vốn có của thế giới
vật chất.
Tính phổ biến: Tất cả mọi sự vật đều có mối liên hệ với sự vật hiện tượng khác. Không có
sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ. Mối liên hệ được biểu hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau tùy theo trình độ, kết cấu vật chất nhất định.
Ví dụ như sự liên hệ qua lại bên trong cơ thể người có thể ảnh hưởng tới mối quan hệ
giữa người với người.
Tính đa dạng, phong phú : mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau thì mối liên hệ
khác nhau, một sự vật, hiện tượng có nhiều mối liên hệ khác nhau (bên trong - bên ngoài, chủ yếu
- thứ yếu, cơ bản - không cơ bản,...), chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát
triển của sự vật, hiện tượng đó. Một mối liên hệ trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau thì
tính chất, vai trò cũng khác nhau
Ví dụ như cùng là mỗi người khác nhau thì có mối liên hệ với cha, mẹ, anh em, bạn bè
khác nhau. Hay, cùng là mối liên hệ giữa cha mẹ với con cái nhưng trong mỗi giai đoạn khác
nhau có tính chất và biểu hiện khác nhau.
Các tính chất trên có liên hệ với nhau, trong đó tính phổ biến đã bao hàm trong nó tính
khách quan và tính đa dạng. Vì vậy, ta gọi nguyên lý này là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Từ nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, phép biện chứng khái quát thành
quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể với những yêu cầu đối với chủ thể hoạt động
nhận thức và thực tiễn như sau:
Quan điểm toàn diện: Khi xem xét các sự vật, hiện tượng, ta phải xem xét các sự vật, hiện
tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của
chính sự vật, hiện tượng và trong sự tác động qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó với các sự vật,
hiện tượng khác. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng, chính xác về sự vật, hiện tượng và
xử lý có hiệu quả các vấn đề của cuộc sống thực tiễn. Như vậy, quan điểm toàn diện đối lập với
quan điểm phiến diện, siêu hình, chiết trung, ngụy biện trong nhận thức và thực tiễn.
Quan điểm lịch sử - cụ thể: Mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong không – thời gian
nhất định và mang dấu ấn của không – thời gian đó. Do vậy, ta nhất thiết phải quán triệt quan
điểm lịch sử – cụ thể khi xem xét, giải quyết mọi vấn đề do thực tiễn đặt ra. Từ đó đòi hỏi chúng
ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể,
môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển. Trong lịch sử triết học, khi xem
xét các hệ thống triết học bao giờ chúng ta cũng xem xét hoàn cảnh ra đời và phát triển của các hệ
thống đó. Phải xét đến những tính chất đặc thù, xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của đối tượng
đó trong mối liên hệ cụ thể, trong những tình huống cụ thể. Từ đó, chúng ta mới có được những
giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn. Đồng thời, chống lại
cách đánh giá sự vật, hiện tượng một cách dàn trải, lệch lạc, coi mọi mối liên hệ là như nhau.
Trong học tập:
Mỗi ngày luôn phải làm mới bản thân, học tập thêm nhiều thứ mới mẻ từ nhiều nguồn tài
liệu khác nhau để không bị tụt hậu. Và khi học tập thêm nhiều thứ mới, tư duy mở rộng thì mới
không bị bảo thủ, cố chấp giữ nguyên ý nghĩ ban đầu về một thứ. Học phải biết khiêm tốn, học
phải hỏi, học ở mọi người. Học phải gắn liền với hành thì việc học mới có kết quả nhanh hơn.
Tuy nhiên, nếu chăm chỉ vào học tập thì vẫn chưa đủ, cần phải rèn luyện cả về phẩm chất, đạo
đức như Bác đã từng dạy “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì
làm việc gì cũng khó”. Thế nên chúng ta hiện nay đang là những sinh viên, là những người đang
trong quá trình phát triển về mọi mặt cả về thể lực và trí lực, tri thức và trí tuệ nhân cách...cho
nên thời kì này phải tranh thủ điều kiện để hoàn thiện bản thân, rèn luyện cả phẩm chất, năng lực,
cả đức cả tài, học hỏi bạn bè, gia đình, nhà trường và xã hội.
Trong cuộc sống:
Khi mới nhập học thì hầu như là không quen biết nhau. Khi nhìn thấy 1 bạn nào đấy, chắc
chắn chúng ta đều có ấn tượng đầu tiên là về ngoại hình, tính cách của bạn đó. Nhưng chỉ qua 1
vài lần gặp mặt mà chúng ta đã đánh giá bạn là người xấu hay người tốt, dễ tính hay khó tính.
Cách đánh giá như vậy là phiến diện, chủ quan trái với quan điểm toàn diện. Chúng ta không thể
chỉ nhìn bề ngoài mà phán xét về phẩm chất, đạo đức của người đó. Vẻ bề ngoài không nói lên
được tất cả, có thể bạn đó có gương mặt lạnh lùng nhưng tính bạn rất cởi mở, hòa đồng, dễ gần.
Vì vậy nên khi muốn đánh giá một con người cần phải có thời gian tiếp xúc lâu dài, nhìn nhận
học trên phương diện, ở từng thời điểm, từng hoàn cảnh khác nhau. Trong mối quan hệ giữa con
người với con người đối với những người bề trên như ông, bà, bố, mẹ, thầy cô... thì chúng ta cần
có thái độ cư xử lễ phép, tôn trọng họ. Đối với bạn bè thì có những hành động, thái độ thoải mái,
tự nhiên. Khi xem xét nguyên nhân của một vấn đề nào đó để giải quyết, chúng ta cần xem xét
chúng trong các mối liên hệ để xem nguyên nhân từ đâu để có cách giải quyết, xử lý tốt. Ví dụ
như khi ta học kém đi, điểm số giảm cần tìm nguyên nhân do đâu khiến ta như vậy. Do lười học
hay là do không hiểu bài, không làm bài tập, không có thời gian học,...Nếu tìm được nguyên nhân
cụ thể, chủ yếu thì sẽ tìm được cách giải quyết đúng đắn.
Muốn thay đổi cơ cấu cây trồng ở Tây Nguyên và Nam Bộ, cần có những biện pháp thích
hợp, cụ thể đối với từng vùng, vì vị trí địa lý, khí hậu khác nhau.
5. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một
quy luật phổ biến và có tác động mạnh mẽ đến cuộc sống của con người. Trong đó, lực lượng sản
xuất là nội dung vật chất còn quan hệ sản xuất là hình thái xã hội của sự tồn tại, phát triển của
phương thức sản xuất.
Lực lượng sản xuất là phương thức kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo
ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo
nhu cầu nhất định của con người và xã hội.
Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người trong
quá trình sản xuất vật chất. Bao gồm : quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ
chức - quản lý quá trình sản xuất và quan hệ trong phân phối kết quả của quá trình sản xuất.
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất biện
chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trở
lại lực lượng sản xuất. Có khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn.
Một là, Lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với
Sự vận động và phát triển của phương thức sản xuất bắt đầu từ sự biến đổi của lực lượng
sản xuất. lực lượng sản xuất là nội dung của quá trình sản xuất có tính năng động, cách mạng,
thường xuyên vận động và phát triển; quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất
có tính ổn định tương đối. Trong sự vận động của mâu thuẫn biện chứng đó, lực lượng sản xuất
quyết định quan hệ sản xuất. lực lượng sản xuất như thế nào về trình độ thì quan hệ sản xuất sẽ
phù hợp như thế ấy.
Chẳng hạn như, Hiện nay con người ngày càng phát triển, có thêm nhiều công cụ lao
động tiên tiến năng suất cao nên quan hệ sản xuất thay đổi phù hợp với lực lượng sản xuất có
thêm nhiều hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, quản lý và phân phối sản phẩm theo khả năng lao
động của con người.
Ngày nay, khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức phát triển đã trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp mà lực lượng sản xuất phát triển đến mức độ nào đó, quan hệ sản xuất cũ không
còn phù hợp nữa nó sẽ cản trở hoặc mâu thuẫn gay gắt với lực lượng sản xuất. Để tiếp tục phát
triển, lực lượng sản xuất phải phá vỡ quan hệ sản xuất cũ thiết lập quan hệ sản xuất mới, phù hợp
với trình độ mới của lực lượng sản xuất.
Chẳng hạn như, trong thời kỳ công nghiệp hóa, công nghệ ngày càng được ứng dụng
nhiều hơn trong sản xuất. Do đó, quan hệ sản xuất phù hợp là quan hệ tư bản, trong đó chủ sở
hữu tư bản sử dụng công nghệ mới để tối ưu hoá quy trình sản xuất và tăng hiệu quả sản xuất.
Hai là, Quan hệ sản xuất tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Do là hình thức xã hội của quá trình sản xuất có tính độc lập tương đối nên tác động mạnh
mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất. Vai trò của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
được thực hiện thông qua sự phù hợp biện chứng giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất.
Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì nó sẽ thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển. Quan hệ sản xuất không phù hợp thì nó kìm hãm, thậm chí phá vỡ lực
lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất là phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất khi nó tạo ra
những tiền đề, những điều kiện cho các yếu tố của lực lượng sản xuất kết hợp với nhau một cách
hài hòa để sản xuất phát triển và đưa lại năng suất cao.
Chẳng hạn như, trong xã hội hiện nay, quan hệ sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp không còn
phù hợp với lực lượng sản xuất. Nó sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, dẫn đến trình độ
sản xuất nhỏ, manh mún, cơ giới hóa nông nghiệp khó thực hiện.
Sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất không phải chỉ thực hiện một lần
là xong mà diễn ra cả một quá trình. Mỗi khi sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất bị phá vỡ là mỗi lần điều chỉnh, thay bằng sự phù hợp khác cao hơn.
Như vậy, muốn xã hội tiến bộ, phát triển phải sản xuất ra của cải vật chất. Để sản xuất
phát triển phải thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, phải ứng dụng những công cụ lao động tiên
tiến vào sản xuất, không ngừng nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động, phải làm rõ các
quan hệ sở hữu, cách thức tổ chức, quản lý quá trình sản xuất, các hình thức phân phối phù hợp
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển không ngừng.
Ở Việt Nam, để xây dựng phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, chúng ta chủ trương
phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Như vậy việc bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ
nghĩa về thực chất là bỏ qua chế độ chính trị tư bản, chúng ta lại kế thừa những giá trị của chủ
nghĩa tư bản với tư cách là lực lượng sản xuất, để hướng nền sản xuất đi lên sản xuất lớn xã hội
chủ nghĩa.
Tóm lại, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
là quy luật phổ biến tác động toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại. Sự thay thế, phát triển đi lên của
lịch sử xã hội loài người từ chế độ công xã nguyên thuỷ qua chế độ chiếm hữu nô lệ chế độ
phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản chủ nghĩa tương lai là sự tác động
của các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất, nó chi phối các quy luật khác.
6. Quy luật phát triển cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
Trong hệ thống quan điểm duy vật biện chứng, mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ
tầng và kiến trúc thượng tầng được xem là một quy luật chung chi phối sự vận động và phát triển
của xã hội loài người.
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất của một xã hội trong sự vận động hiện
thực của chúng hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội đó.
Cấu trúc của cơ sở hạ tầng bao gồm: quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư,
quan hệ sản xuất của xã hội tương lai tồn tại dưới dạng mầm mống.
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng xã hội với những thiết chế xã
hội tương ứng cùng những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất
định.
Cấu trúc của kiến trúc thượng tầng bao gồm toàn bộ những quan điểm tư tưởng về chính
trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học... cùng những thiết chế xã hội tương ứng
như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể và tổ chức xã hội khác.
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt của đời sống xã hội, chúng thống nhất
biện chứng với nhau, trong đó cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng
tầng, kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng.
Thực chất của quy luật là sự hình thành, vận động và phát triển của các quan điểm, tư
tưởng củng với những thể chế chính trị - xã hội tương ứng. Xét đến cùng, phụ thuộc vào quá trình
sản xuất và tái sản xuất các quan hệ kinh tế.
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng thể hiện ở
Một là, cơ sở hạ tầng sinh ra kiến trúc thượng tầng. Cơ sở hạ tầng của một xã hội nhất
định như thế nào, tính chất của nó ra sao, giai cấp đại diện cho nó thế nào thì hệ thống tư tưởng,
chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết học,…và các quan hệ, các thể chế tương ứng với những tư
tưởng ấy cũng như vậy.
Ví dụ như, Trong xã hội phong kiến, quan hệ sản xuất phong kiến là cơ sở hạ tầng, quyết
định đến kiến trúc thượng tầng phong kiến. Trong quan hệ sản xuất phong kiến địa chủ chiếm
hữu ruộng đất, nông nô phải lao động cưỡng bức trên ruộng đất của địa chủ. Quan hệ sản xuất
này đã quyết định đến kiến trúc thượng tầng phong kiến.
Hai là, cơ sở hạ tầng quyết định sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng. Sự biến đổi đó xảy
ra trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, cũng như từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái
kinh tế - xã hội khác. Trong xã hội có đối kháng giai cấp, sự biến đổi đó diễn ra thông qua cuộc
đấu tranh giai cấp gay go phức tạp. Tuy nhiên, có những bộ phận của kiến trúc thượng tầng thay
đổi nhanh chóng, cũng có những nhân tố chậm hơn và cả những nhân tố cũ được kế thừa để xây
dựng mới.
Chẳng hạn như, khi cơ sở hạ tầng biến đổi từ xã hội phong kiến sang chủ nghĩa tư bản.
Nhà nước và chế độ pháp luật biến đổi để bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản. Còn tôn giáo, đạo
đức sẽ từ từ thay đổi vì lạc hậu, bảo thủ, khó tiếp thu cái mới.
Ba là, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng là quy luật phổ biến của mọi hình
thái kinh tế - xã hội.
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng tùy thuộc vào bản chất của
mỗi yếu tố trong kiến trúc thượng tầng, phụ thuộc vào vị trí, vai trò của nó và những điều kiện cụ
thể
Một là, phương thức tác động của các yếu tố khác tới cơ sở kinh tế xã hội thường phải
thông qua yếu tố nhà nước mới có thể phát huy mạnh mẽ vai trò thực tế của nó. Nhà nước là yếu
tố có tác động trực tiếp nhất và mạnh mẽ nhất tới cơ sở hạ tầng của xã hội.
Ví dụ như, Nhà nước đề ra các văn bản luật, hiến pháp bảo vệ quyền sở hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất ở các nước tư bản chủ nghĩa
Hai là, sự tác động diễn ra theo nhiều xu hướng, các xu hướng không chỉ khác nhau mà
còn đối lập, phản ánh tính chất mâu thuẫn lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp xã hội khác nhau
và đối lập nhau
Chẳng hạn như, Thời phong kiến, giai cấp địa chủ chiếm hữu nhiều ruộng đất nhưng
không có khả năng lao động, nông dân thì ít hoặc không có ruộng nhưng có kinh nghiệm làm
việc... từ đó dẫn đến mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa hai giai cấp, làm mất cân bằng quan hệ sản
xuất.
Ba là, sự tác động diễn ra theo xu hướng tích cực hoặc tiêu cực. Điều đó phụ thuộc vào sự
phù hợp hay không phù hợp của các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng đối với nhu cầu khách
quan của sự phát triển kinh tế. Nếu phù hợp sẽ có tác dụng tích cực, nếu không phù hợp sẽ kìm
hãm, phá hoại sự phát triển kinh tế trong một phạm vi, mức độ nhất định
Ví dụ, nhà nước quản lý xã hội một cách công bằng,nghiêm minh thì sẽ hạn chế tệ nạn xã
hội, đời sống người dân ổn định thì kinh tế, xã hội phát triển và ngược lại.
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ra với những xu hướng,
mức độ khác nhau, nhưng nó vẫn không thể giữ vai trò quyết định đối với cơ sở hạ tầng. Nếu kiến
trúc thượng tầng kìm hãm phát triển kinh tế thì sớm hay muộn, bằng cách này hay cách khác,
kiến trúc thượng tầng cũ sẽ được thay thế bằng kiến trúc thượng tầng mới tiến bộ để thúc đẩy
kinh tế tiếp tục phát triển.
Vì kinh tế quyết định chính trị, do vậy, muốn hiểu đúng các hiện tượng chính trị, văn hóa,
xã hội thì phải xem xét chúng từ cơ sở kinh tế đã làm nảy sinh các hiện tượng đó nhưng chính trị,
văn hóa, xã hội lại có khả năng tác động trở lại kinh tế. Vì vậy, cần phải phát huy vai trò tác động
tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của chúng tới cơ sở kinh tế.
Vận dụng vào nước ta hiện nay của quy luật, Việt Nam chúng ta phải thực hiện đổi mới
toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi
mới về chính trị, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Nói tóm lại, nước ta phải tập trung phát
triển kinh tế, xây dựng một nền kinh tế, ổn định chính trị xã hội bằng định hướng kinh tế, kinh tế
quyết định chính trị, nhưng chính trị tác động mạnh mẽ qua lại với kinh tế.
7. Quy luật tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
Trong hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử, nguyên lý tồn tại xã hội quyết
định ý thức xã hội là một nguyên lý cơ bản, đánh dấu sự đối lập căn bản giữa thế gian quan duy
vật và thế giới quan duy tâm về xã hội.
Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã
hội. Tồn tại xã hội bao gồm các yếu tố cơ bản là phương thức sản xuất vật chất và điều kiện tự
nhiên, hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số,… trong đó phương thức sản xuất vật chất là yếu
tố cơ bản nhất.
Ví dụ như phương thức kỹ thuật canh nông lúa nước là nhân tố cơ bản tạo thành điều kiện
sinh hoạt vật chất truyền thống của người Việt Nam hay các điều kiện khí hậu, đất đai, sông hồ,...
tạo nên đặc điểm riêng có của không gian sinh tồn của cộng đồng xã hội.
Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng
cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống…của cộng đồng xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội
và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.
Ý thức xã hội bao gồm tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội. Trong hệ tư tưởng xã hội thì
quan trọng nhất là các quan điểm, các học thuyết và các tư tưởng. Trong tâm lý xã hội có tình
cảm, tâm trạng, truyền thống...nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội ở những giai
đoạn phát triển nhất định.
Chẳng hạn như về ý thức xã hội điển hình có sự nổi bật trong truyền thống yêu nước,
nhân đạo nhân nghĩa của dân tộc và nhân dân Việt Nam thì rất cần cù chăm chỉ với truyền thống
hiếu học được truyền từ đời này sang đời khác. Ngoài ra Việt Nam có hệ thống tư tưởng lớn và
chi phối dân tộc Việt trong nhiều thế kỷ, nhất là phong kiến là tư tưởng Nho giáo.
Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội là mối quan hệ biện chứng, trong đó tồn
tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội có tính độc lập tương đối
Do đó, tồn tại xã hội nào thì có ý thức xã hội ấy. Tồn tại xã hội quyết định nội dung, tính
chất, đặc điểm và xu hướng biến đổi, phát triển của ý thức xã hội. Khi tồn tại xã hội, nhất là
phương thức sản xuất, thay đổi thì những tư tưởng, quan điểm về chính trị, pháp luật và triết học
sớm hay muộn cũng sẽ có những sự thay đổi nhất định.
Chẳng hạn như, trong xã hội phong kiến, khi quan hệ sản xuất tư bản được hình thành và
phát triển thì đã xuất hiện tư tưởng cho rằng chế độ phong kiến là trái với luân thường đạo lý,
không phù hợp với nhân quyền, tâm lý của con người và cần phải được thay thế bởi một chế độ
phù hợp, công bằng, tiên tiến hơn.
Tuy nhiên, ý thức xã hội không phải là yếu tố hoàn toàn thụ động hay tiêu cực. Mặc dù
chịu sự quy định của tồn tại xã hội nhưng ý thức xã hội không những có tính độc lập tương đối.
Thứ nhất, ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội không phản ánh kịp những
thay đổi của tồn tại xã hội do thói quen, truyền thống, tập quán và tính bảo thủ của một số hình
thái ý thức xã hội,... tiếp tục tồn tại sau khi những điều kiện lịch sử sinh ra chúng đã mất đi từ lâu,
do lợi ích nên không chịu thay đổi
Ví dụ như, ở xã hội hiện nay vẫn còn tồn tại những ý thức, tư tưởng lạc hậu so với thời
đại như mê tín dị đoan, những quan niệm nuôi con sai lầm như thương cho roi cho vọt,...
Thứ hai, ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội. Trong những điều kiện nhất định,
những tư tưởng khoa học có thể vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội
Ví dụ như, Từ một nước đói nghèo là phổ biến, nhờ chính sách “Khoán 10” (Cải tiến
quản lý lao động hợp tác xã) của Bí thư Kim Ngọc, tháo bỏ sự ràng buộc, kìm hãm cơ chế quản
lý lạc hậu, Việt Nam đã có dự trữ lương thực, trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới.
Thứ ba, ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của nó. Ý thức xã hội ra đời sau
không chỉ phản ánh tồn tại xã hội mà nó còn tiếp thu yếu tố tư tưởng của thời đại trước.
Chẳng hạn như, Đảng ta chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc. Không những phản ánh tồn tại xã hội mới đưa Việt Nam phát triển mà còn giữ
lại những truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta.
Thứ tư, sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của chúng.
Các hình thái ý thức xã hội đều có nguồn gốc từ tồn tại xã hội nhưng khác nhau về hình thức
phản ánh và phương diện phản ánh nên nó không thể thay thế nhau trong quá trình phát triển.
Ví dụ như, trong thời Lý - Trần, mặc dù nhiều học thuyết, quan điểm khác nhau, nhưng
Phật giáo vẫn chi phối đời sống tinh thần, xã hội …
Thứ năm, ý thức xã hội có khả năng tác động trở lại tồn tại xã hội. Những ý thức, tư
tưởng tiến bộ, cách mạng phản ánh đúng hiện thực khách quan thúc đẩy tồn tại xã hội phát triển
và ngược lại.
Ví dụ như, thời đại ngày nay, nếu vẫn còn duy trì tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, thì sẽ
cản trở sự phát triển, đóng góp của người phụ nữ trong phát triển kinh tế, chính trị, xã hội.
Vì vậy, công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới phải được tiến hành đồng thời
trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Cần thấy rằng, thay đổi tồn tại xã hội là điều kiện
cơ bản nhất để thay đổi ý thức xã hội. Mặt khác, cũng cần thấy rằng, những tác động của đời sống
tinh thần xã hội, với những điều kiện xác định cũng có thể tạo ra những biến đổi mạnh mẽ, sâu
sắc trong tồn tại xã hội. Nếu chỉ thấy tính quyết định của tồn tại xã hội một cách máy móc sẽ rơi
vào duy vật tầm thường. Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của ý thức xã hội sẽ rơi vào chủ
nghĩa duy tâm. Trong hoạt động thực tiễn và nhận thức phải luôn đấu tranh khắc phục cả hai
khuynh hướng đó. Trong cải tạo xã hội cũ, xã hội xã hội mới phải tiến hành cả trên hai lĩnh vực
tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
Quán triệt nguyên tắc phương pháp luận đó trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta. Một mặt phải coi trọng cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá, phát huy vai trò tác động tích
cực của đời sống tinh thần xã hội đối với quá trình phát triển kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Mặt khác phải tránh tái phạm sai lầm chủ quan duy ý chí trong việc xây dựng văn
hoá, xây dựng con người mới. Để xây dựng được đời sống tinh thần của CNXH, cần phải cải tạo
triệt để phương thức sinh hoạt vật chất tiểu nông truyền thống và xác lập, phát triển được một
phương thức sản xuất mới trên cơ sở thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.

Preview text:

Câu hỏi ôn tập cuối kỳ
1. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con
người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người, là hình
ảnh chủ quan của thế giới khách quan, gắn liền với thực tiễn xã hội
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng. Vật chất có trước, ý thức
có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, song, ý thức không hoàn toàn thụ
động mà nó có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Ví dụ như đối với những đứa trẻ sinh có điều kiện học tập bằng các thiết bị hiện đại thì
này có nhiều kiến thức và hiểu biết hơn, còn những đứa trẻ sinh ta trong hoàn cảnh điều kiện còn
thiếu thốn nhiều về vật chất thì sẽ hạn chế hơn. Song, ý thức không hoàn toàn thụ động mà nó có
thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Vai trò của vật chất đối với ý thức
Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức : ý thức chỉ xuất hiện khi loài người
xuất hiện và bộ óc người phát triển. Ý thức còn là kết quả của quá trình phản ánh hiện thực khách
quan, gắn liền với hoạt động lao động và biểu hiện thông qua ngôn ngữ. Do đó, nếu không có vật
chất, cụ thể là bộ óc người, sự tác động của thế giới khách quan lên bộ óc người, quá trình phản
ánh, lao động, ngôn ngữ thì ý thức không thể sinh ra, tồn tại và phát triển.
Điều đó còn được thể hiện rõ khi bộ não con người bị tổn thương thì hoạt động ý thức cũng bị rối loạn.
Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức : ý thức là “hình ảnh” của thế giới khách
quan cho nên nội dung của nó là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người
trên cơ sở của thực tiễn
Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức : ý thức con người là sự phản ánh một
cách tự giác, tích cực và sáng tạo thế giới khách quan. Do đó, hoạt động thực tiễn, cải biến thế
giới của con người là cơ sở để hình thành, phát triển ý thức
Ví dụ như trong khó khăn chung là dịch bệnh Covid19, có nhiều doanh nghiệp thất bại,
song cũng có nhiều doanh nghiệp phát triển nhờ có bước đi đúng đắn, chiến lược sáng tạo, người
lãnh đạo, nhân viên năng động, biến nguy cơ thành cơ hội...
Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức : khi đời sống vật chất thay
đổi thì đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm cũng sẽ thay đổi theo
Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Thứ nhất, tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ ý thức có “đời sống riêng”,
quy luật vận động, biến đổi và phát triển không phụ thuộc một cách máy móc vào vật chất. Do
đó, ý thức có thể thay đổi nhanh hoặc chậm hơn so với hiện thực
Thứ hai, sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực tiễn của
con người. Con người dựa trên tri thức về thế giới khách quan, hiểu biết quy luật khách quan để
đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp và ý chí quyết tâm thực hiện mục tiêu
Ví dụ như con người cải tạo đất nhiễm phèn, nhiễm mặn bằng tri thức, kinh nghiệm để
phục vụ sản xuất là dùng ý thức tác động lên thế giới vật chất.
Thứ ba, ý thức chỉ đạo, hướng dẫn con người trong thực tiễn, nó có thể quyết định làm
cho hoạt động con người đúng hay sai, thành công hay thất bại.
Một là, khi phản ánh đúng hiện thực, ý thức có thể dự báo, tiên đoán một cách chính xác
cho hiện thực, từ đó mang lại hiệu quả, thành công trong thực tiễn
Ví dụ như từ nhận thức đúng đắn về thực tế kinh tế đất nước. Từ sau Đại hội VI, đảng ta
chuyển nền kinh tế từ tự cung, quan liêu sang nền kinh tế thị trường, để sau gần 30 năm bộ mặt
nước ta đã thay đổi hẳn.
Hai là, khi phản ánh sai lệch, xuyên tạc hiện thực từ đó gây ra hậu quả, tổn thất trong thực tiễn.
Ví dụ như sa đọa tệ nạn, rượu chè, ảnh hưởng xấu đến gia đình và xã hội...
Thứ tư, trong thời đại ngày nay, những tư tưởng tiến bộ, những tri thức khoa học đóng vai
trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội
Ví dụ như giáo dục cho học sinh kiến thức, kĩ năng về văn hóa, xã hội, khoa học công
nghệ..., đi đôi với xây dựng chuẩn mực đạo đức phù hợp với pháp luật
Thế giới vật chất cùng với quy luật của nó tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý
thức con người. Vì vậy, mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn phải tôn trọng quy luật khách quan
của thế giới vật chất, chống chủ quan, duy ý chí. Ý thức có vai trò rất quan trọng, cần phát huy
tính năng động đề cao vai trò năng động, sáng tạo của con người, vai trò của tri thức khoa học, ý
chí, niềm tin, chống bảo thủ trì trệ.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, cần phải căn cứ vào điều kiện tự nhiên của đất nước, như khí
hậu, thổ nhưỡng, nguồn nước, sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Để rồi tập trung phát triển các
loại cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên của đất nước, như lúa, ngô, cao su, cà
phê,... Ngoài chú tâm vào những yếu tố đó, ta cần phải có tinh thần cầu tiến, ham học hỏi, không
ngừng cập nhật những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới để việc sản xuất hiệu quả hơn, nâng cao
năng suất, chất lượng sản phẩm.
2. Quy luật chuyển hóa giữa thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại
Lượng là khái niệm dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật, hiện tượng về mặt quy
mô, trình độ phát triển, các yếu tố biểu hiện ở số lượng các thuộc tính, ở tổng số các bộ phận, ở
đại lượng, ở tốc độ và nhịp điệu vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.
Chất là khái niệm dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là
sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính, yếu tố tạo nên sự vật, hiện tượng làm cho sự vật, hiện
tượng là nó mà không phải là sự vật, hiện tượng khác.
Ví dụ như Một người học từ mầm non đến đại học, trình độ nhận thức qua từng năm là
chất, thời gian trải qua là lượng
Mỗi sự vật, hiện tượng là sự thống nhất giữa hai cặp đối lập chất và lượng. Hai mặt đối
lập không tách rời nhau mà tác động qua lại biện chứng làm cho sự vận động, biến đổi theo cách
thức từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất của sự vật và ngược lại.
Mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất khi lượng đổi dẫn đến chất đổi:
Khi sự vật đang tồn tại, chất và lượng thống nhất với nhau ở một độ nhất định.
Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa chất và lượng, là khoảng giới hạn
mà trong đó, sự thay đổi về lượng vẫn chưa đủ để làm thay đổi về chất.
Trong giới hạn của một độ nhất định, lượng thường xuyên biến đổi còn chất tương đối ổn
định. Sự thay đổi về lượng của sự vật có thể làm chất thay đổi ngay lập tức nhưng cũng có thể
làm thay đổi dần dần chất cũ. Lượng biến đổi đến một giới hạn nhất định có xu hướng tích lũy đạt
tới điểm nút, nếu có điều kiện sẽ diễn ra bước nhảy làm thay đổi chất của sự vật.
Điểm nút là phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đã đủ
để làm thay đổi về chất của sự vật.
Muốn chuyển từ chất cũ sang chất mới phải thông qua bước nhảy
Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất do sự thay đổi về lượng.
Bước nhảy kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng và mở đầu cho một giai đoạn phát
triển mới. Đó là gián đoạn trong quá trình vận động liên tục của sự vật, đồng thời là một tiền đề
cho một quá trình tích lũy liên tục về lượng tiếp theo.
Ví dụ như trong xã hội TBCN có sự đấu tranh của các giai cấp, quá trình đấu tranh này
được hiểu là độ, cuộc đấu tranh diễn ra đến đỉnh điểm: gọi là điểm nút, khi mà CNTB bị lật đổ và
CNCS lên thay thế thì được gọi là bước nhảy.
Và khi chất mới ra đời, nó tác động trở lại lượng mới, làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình
độ nhịp điệu của sự vận động phát triển của sự vật.
Chẳng hạn như khi học sinh vượt qua điểm nút là kỳ thi THPT để trở thành sinh viên.
Trình độ văn hóa của họ sẽ cao hơn trước và tạo điều kiện cho họ thay đổi kết cấu, quy mô, trình
độ tri thức, giúp họ tiến lên trình độ cao hơn
Như vậy, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt
chất và lượng. Sự thay đổi về lượng tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông qua bước
nhảy. Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới. Quá trình đó liên tục diễn ra,
tạo thành phương thức phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
trong tự nhiên, xã hội, tư duy.
Nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa thay đổi về lượng và thay đổi về chất
chúng ta sẽ rút ra được ý nghĩa phương pháp luận quan trọng cho hoạt động nhận thức và hoạt
động thức tiễn. Để có tri thức đầy đủ về sự vật, ta phải nhận thức cả mặt lượng và mặt chất của
nó. Những nhận thức ban đầu về chất (thấy sự khác nhau) của các sự vật chỉ trở nên đúng đắn và
được làm sâu sắc thêm khi đạt tới tri thức về sự thống nhất giữa chất và lượng của các sự vật đó.
Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng bắt đầu bằng quá trình tích lũy dần dần về
lượng đến một giới hạn nhất định, thực hiện bước nhảy để chuyển về chất. Do đó, trong hoạt
động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải biết từng bước tích lũy về lượng để làm biến đổi về
chất theo quy luật và chống cả hai khuynh hướng: “Tả khuynh” là tư tưởng chủ quan, duy ý chí,
nôn nóng, chưa có sự tích lũy về lượng đã muốn thực hiện bước nhảy về chất. Hoặc coi nhẹ sự
tích lũy về lượng, chỉ nhấn mạnh đến các bước nhảy, từ đó dẫn đến hành động phiêu lưu mạo
hiểm. Ngược lại “hữu khuynh” là tư tưởng bảo thủ, trì trệ, ngại khó, không dám thực hiện bước
nhảy về chất. Hoặc tư tưởng chỉ nhấn mạnh đến sự biến đổi dần dần về lượng, từ đó rơi vào chủ
nghĩa cải lương và tiến hoá luận. Sự thay đổi về chất của sự vật còn phụ thuộc vào sự thay đổi
phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật. Do đó, trong hoạt động của mình, chúng ta
phải biết cách tác động vào phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật trên cơ sở hiểu
rõ bản chất, quy luật, kết cấu của sự vật đó.
Vận dụng trong thực tiễn cách mạng ở Việt Nam rất sinh động: Ngày nay, trong công
cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế đất nước, chúng ta cũng ứng dụng phương pháp luận của quy
luật lượng chất. Quá trình phát triển nền kinh tế đất nước trong giai đoạn hiện nay không thể
nóng vội. Phải xây dựng cơ sở vật chất từ đầu, phải tích lũy và tận dụng sức mạnh của các thành
phần kinh tế, phát động sức mạnh của toàn dân, của các nguồn lực kinh tế của đất nước, nông
nghiệp, công nghiệp, thủy sản, năng lượng dầu khí, du lịch, dịch vụ… tất cả tạo nên sức mạnh to
lớn của nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy, nền kinh tế nước ta hiện nay đã đạt được những thành
tựu to lớn. Tổng thu nhập GDP đã đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch.
3. Thực tiễn vai trò thực tiễn đối với nhận thức
Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản không chỉ của lý luận
nhận thức mácxít mà còn của toàn bộ triết học Mác - Lênin nói chung.
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất - cảm tính, có tính lịch sử - xã hội của con
người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ nhân loại tiến bộ.
Nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác, sáng tạo hiện thực khách quan vào bộ
óc con người tri thức về nó. Sự phản ánh giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức.
Thực tiễn có đặc trưng cơ bản như sau
Thứ nhất, thực tiễn không phải toàn bộ hoạt động của con người mà chỉ là những hoạt
động vật chất - cảm tính.
Thứ hai, Hoạt động thực tiễn là những hoạt mang tính lịch sử - xã hội của con người.
Thứ ba, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ con người.
Thực tiễn rất đa dạng với nhiều hình thức, song có ba hình thức cơ bản là : hoạt động sản
xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học
Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức hoạt động đóng vai trò quyết định, đầu tiên của
thực tiễn, con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên, tạo ra của cải vật chất nhằm
duy trì sự tồn tại và phát triển.
Ví dụ như thời nguyên thủy, con người đã chế tạo cung tên săn bắt động vật làm thức ăn
để tồn tại và phát triển.
Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động nhằm cải biến quan hệ chính trị - xã hội để thúc
đẩy xã hội phát triển
Ví dụ như đấu tranh giai cấp dẫn đến cách mạng xã hội, làm thay đổi toàn bộ các mặt
kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng
Thực nghiệm khoa học là hình thức đặc biệt, quan trọng của thực tiễn, được tiến hành
trong những điều kiện gần giống, giống những trạng thái tự nhiên, xã hội nhằm xác định bản chất,
quy luật vận động, phát triển của đối tượng
Ví dụ như cuộc cách mạng công nghệ 4.0 phát triển nhanh chóng, đòi hỏi phải có những
nghiên cứu, phát minh, sáng chế để bắt kịp bước phát triển. Từ đó, dẫn đến sự triển khai những
quy trình sản xuất mới, công nghệ mới vào trong các lĩnh vực
Mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ, tác động qua lại giữa các hình thức cơ bản của thực
tiễn, trong đó hoạt động sản xuất vật chất là quan trọng nhất, quyết định đối với các hoạt động
khác. Hoạt động chính trị - xã hội và thực nghiệm khoa học có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm
hoạt động sản xuất vật chất.
Như vậy, thực tiễn có vai trò rất quan trọng đối với nhận thức
Một là, thực tiễn là cơ sở cho nhận thức.Từ hoạt động sản xuất vật chất, sử dụng công cụ
lao động cải tạo tự nhiên để phục vụ nhu cầu của mình, mà còn người đã có được tri thức, kinh
nghiệm, lý luận, năng lực tư duy logic không ngừng được củng cố.
Ví dụ như người tối cổ thông qua hoạt động săn bắt, hái lượm, dần dần phát triển tứ chi,
bộ xương và trở thành người tinh khôn.
Hai là, thực tiễn là động lực của nhận thức. Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức,
khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức, thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các ngành khoa học.
Ví dụ như thực tiễn dịch Covid 19 hoành hành trên thế giới, các nhà khoa học cần phải
tìm ra phương thuốc mới phòng bệnh
Ba là, thực tiễn là mục đích của nhận thức. Ứng dụng các tri thức khoa học để phục vụ
cho sản xuất và phục vụ nhu cầu con người.
Ví dụ như sử dụng kiến thức, kinh nghiệm bản thân để đấu tranh cho quyền bình đẳng
giới, tuyên truyền hạn chế tệ nạn xã hội....
Bốn là, thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý. Thực tiễn không ngừng kiểm nghiệm,
bổ sung, điều chỉnh, phát triển và hoàn thiện nhận thức
Ví dụ như thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 - 1975) chứng tỏ
đường lối cách mạng Việt Nam do Đảng đề ra là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo.
Từ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, đòi hỏi phải quán triệt quan điểm thực tiễn là
việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn. Nghiên cứu lý luận phải đi đôi với thực tiễn; học phải
đi đôi với hành và không cho phép con người biến một hiểu biết bất kỳ thành chân lý vĩnh viễn,
bất biến cho mọi lúc, mọi nơi. Xa rời thực tiễn dẫn đến bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, quan
liêu. Nhưng không được tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn, tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn sẽ
rơi vào chủ nghĩa thực dụng, Đồng thời phải chống mọi biểu hiện của bệnh kinh nghiệm và bệnh
giáo điều trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn. Rèn luyện khả năng nắm bắt thực tiễn,
nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Trong quá trình học tập và làm việc, chúng ta cần phải kết hợp chặt chẽ lý thuyết và thực
hành song song với nhau, bổ trợ cho nhau để có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề.
4. Nguyên lý mối liên hệ phổ biến
Mối liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc tương hỗ, quy định
và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau.
Ví dụ như, mối liên hệ giữa đồng hóa và dị hóa trong cơ thể sinh vật, cơ thể con người
với môi trường xã hội, tự nhiên,…
Mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của
thế giới, trong đó mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới.
Ví dụ như, trong cơ thể người sự liên kết của các phân tử trong một chất hay mối liên hệ
giữa cái riêng - cái chung, nguyên nhân - kết quả,...
Khi khái quát từ những biểu hiện cụ thể của mối liên hệ xảy ra trong các lĩnh vực khác
nhau của thế giới, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến được phát biểu như sau:
Một là, thế giới có vô vàn các sự vật, hiện tượng nhưng chúng tồn tại trong mối liên hệ
trực tiếp hay gián tiếp với nhau, tức là chúng luôn tồn tại trong sự quy định lẫn nhau, tác động ,
biến đổi và chuyển hóa lẫn nhau.
Hai là, mỗi sự vật, hiện tượng của thế giới cũng là một hệ thống được cấu thành từ nhiều
yếu tố, nhiều mặt, tồn tại trong mối liên hệ ràng buộc, chi phối và làm biến đổi lẫn nhau. Vì vậy,
một sự vật, hiện tượng có vô vàn mối liên hệ.
Căn cứ vào sự vận động, phát triển của giới tự nhiên, đời sống xã hội và hoạt động thực
tiễn của con người, đồng thời dựa trên những thành tựu của khoa học hiện đại, phép biện chứng
duy vật khẳng định rằng mối liên hệ phổ biến có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng.
Tính khách quan: Tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới đều là những dạng cụ thể
của vật chất, chúng tồn tại một cách khách quan ở bên ngoài và độc lập với ý thức của con người.
Thông qua các mối liên hệ, con người có thể phát hiện ra quy luật, nguyên lý của thế giới khách quan.
Ví dụ như, sự phụ thuộc cơ thể sinh vật vào môi trường, môi trường thay đổi thì cơ thể
sinh vật cũng thay đổi để thích ứng. Mối liên hệ đó không ai tạo ra mà là tính vốn có của thế giới vật chất.
Tính phổ biến: Tất cả mọi sự vật đều có mối liên hệ với sự vật hiện tượng khác. Không có
sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ. Mối liên hệ được biểu hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau tùy theo trình độ, kết cấu vật chất nhất định.
Ví dụ như sự liên hệ qua lại bên trong cơ thể người có thể ảnh hưởng tới mối quan hệ
giữa người với người.
Tính đa dạng, phong phú : mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau thì mối liên hệ
khác nhau, một sự vật, hiện tượng có nhiều mối liên hệ khác nhau (bên trong - bên ngoài, chủ yếu
- thứ yếu, cơ bản - không cơ bản,...), chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát
triển của sự vật, hiện tượng đó. Một mối liên hệ trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau thì
tính chất, vai trò cũng khác nhau
Ví dụ như cùng là mỗi người khác nhau thì có mối liên hệ với cha, mẹ, anh em, bạn bè
khác nhau. Hay, cùng là mối liên hệ giữa cha mẹ với con cái nhưng trong mỗi giai đoạn khác
nhau có tính chất và biểu hiện khác nhau.
Các tính chất trên có liên hệ với nhau, trong đó tính phổ biến đã bao hàm trong nó tính
khách quan và tính đa dạng. Vì vậy, ta gọi nguyên lý này là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Từ nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, phép biện chứng khái quát thành
quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể với những yêu cầu đối với chủ thể hoạt động
nhận thức và thực tiễn như sau:
Quan điểm toàn diện: Khi xem xét các sự vật, hiện tượng, ta phải xem xét các sự vật, hiện
tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của
chính sự vật, hiện tượng và trong sự tác động qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó với các sự vật,
hiện tượng khác. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng, chính xác về sự vật, hiện tượng và
xử lý có hiệu quả các vấn đề của cuộc sống thực tiễn. Như vậy, quan điểm toàn diện đối lập với
quan điểm phiến diện, siêu hình, chiết trung, ngụy biện trong nhận thức và thực tiễn.
Quan điểm lịch sử - cụ thể: Mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong không – thời gian
nhất định và mang dấu ấn của không – thời gian đó. Do vậy, ta nhất thiết phải quán triệt quan
điểm lịch sử – cụ thể khi xem xét, giải quyết mọi vấn đề do thực tiễn đặt ra. Từ đó đòi hỏi chúng
ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể,
môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển. Trong lịch sử triết học, khi xem
xét các hệ thống triết học bao giờ chúng ta cũng xem xét hoàn cảnh ra đời và phát triển của các hệ
thống đó. Phải xét đến những tính chất đặc thù, xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của đối tượng
đó trong mối liên hệ cụ thể, trong những tình huống cụ thể. Từ đó, chúng ta mới có được những
giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn. Đồng thời, chống lại
cách đánh giá sự vật, hiện tượng một cách dàn trải, lệch lạc, coi mọi mối liên hệ là như nhau. Trong học tập:
Mỗi ngày luôn phải làm mới bản thân, học tập thêm nhiều thứ mới mẻ từ nhiều nguồn tài
liệu khác nhau để không bị tụt hậu. Và khi học tập thêm nhiều thứ mới, tư duy mở rộng thì mới
không bị bảo thủ, cố chấp giữ nguyên ý nghĩ ban đầu về một thứ. Học phải biết khiêm tốn, học
phải hỏi, học ở mọi người. Học phải gắn liền với hành thì việc học mới có kết quả nhanh hơn.
Tuy nhiên, nếu chăm chỉ vào học tập thì vẫn chưa đủ, cần phải rèn luyện cả về phẩm chất, đạo
đức như Bác đã từng dạy “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì
làm việc gì cũng khó”. Thế nên chúng ta hiện nay đang là những sinh viên, là những người đang
trong quá trình phát triển về mọi mặt cả về thể lực và trí lực, tri thức và trí tuệ nhân cách...cho
nên thời kì này phải tranh thủ điều kiện để hoàn thiện bản thân, rèn luyện cả phẩm chất, năng lực,
cả đức cả tài, học hỏi bạn bè, gia đình, nhà trường và xã hội. Trong cuộc sống:
Khi mới nhập học thì hầu như là không quen biết nhau. Khi nhìn thấy 1 bạn nào đấy, chắc
chắn chúng ta đều có ấn tượng đầu tiên là về ngoại hình, tính cách của bạn đó. Nhưng chỉ qua 1
vài lần gặp mặt mà chúng ta đã đánh giá bạn là người xấu hay người tốt, dễ tính hay khó tính.
Cách đánh giá như vậy là phiến diện, chủ quan trái với quan điểm toàn diện. Chúng ta không thể
chỉ nhìn bề ngoài mà phán xét về phẩm chất, đạo đức của người đó. Vẻ bề ngoài không nói lên
được tất cả, có thể bạn đó có gương mặt lạnh lùng nhưng tính bạn rất cởi mở, hòa đồng, dễ gần.
Vì vậy nên khi muốn đánh giá một con người cần phải có thời gian tiếp xúc lâu dài, nhìn nhận
học trên phương diện, ở từng thời điểm, từng hoàn cảnh khác nhau. Trong mối quan hệ giữa con
người với con người đối với những người bề trên như ông, bà, bố, mẹ, thầy cô... thì chúng ta cần
có thái độ cư xử lễ phép, tôn trọng họ. Đối với bạn bè thì có những hành động, thái độ thoải mái,
tự nhiên. Khi xem xét nguyên nhân của một vấn đề nào đó để giải quyết, chúng ta cần xem xét
chúng trong các mối liên hệ để xem nguyên nhân từ đâu để có cách giải quyết, xử lý tốt. Ví dụ
như khi ta học kém đi, điểm số giảm cần tìm nguyên nhân do đâu khiến ta như vậy. Do lười học
hay là do không hiểu bài, không làm bài tập, không có thời gian học,...Nếu tìm được nguyên nhân
cụ thể, chủ yếu thì sẽ tìm được cách giải quyết đúng đắn.
Muốn thay đổi cơ cấu cây trồng ở Tây Nguyên và Nam Bộ, cần có những biện pháp thích
hợp, cụ thể đối với từng vùng, vì vị trí địa lý, khí hậu khác nhau.
5. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một
quy luật phổ biến và có tác động mạnh mẽ đến cuộc sống của con người. Trong đó, lực lượng sản
xuất là nội dung vật chất còn quan hệ sản xuất là hình thái xã hội của sự tồn tại, phát triển của phương thức sản xuất.
Lực lượng sản xuất là phương thức kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo
ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo
nhu cầu nhất định của con người và xã hội.
Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người trong
quá trình sản xuất vật chất. Bao gồm : quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ
chức - quản lý quá trình sản xuất và quan hệ trong phân phối kết quả của quá trình sản xuất.
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất biện
chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trở
lại lực lượng sản xuất. Có khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn.
Một là, Lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó
Sự vận động và phát triển của phương thức sản xuất bắt đầu từ sự biến đổi của lực lượng
sản xuất. lực lượng sản xuất là nội dung của quá trình sản xuất có tính năng động, cách mạng,
thường xuyên vận động và phát triển; quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất
có tính ổn định tương đối. Trong sự vận động của mâu thuẫn biện chứng đó, lực lượng sản xuất
quyết định quan hệ sản xuất. lực lượng sản xuất như thế nào về trình độ thì quan hệ sản xuất sẽ phù hợp như thế ấy.
Chẳng hạn như, Hiện nay con người ngày càng phát triển, có thêm nhiều công cụ lao
động tiên tiến năng suất cao nên quan hệ sản xuất thay đổi phù hợp với lực lượng sản xuất có
thêm nhiều hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, quản lý và phân phối sản phẩm theo khả năng lao động của con người.
Ngày nay, khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức phát triển đã trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp mà lực lượng sản xuất phát triển đến mức độ nào đó, quan hệ sản xuất cũ không
còn phù hợp nữa nó sẽ cản trở hoặc mâu thuẫn gay gắt với lực lượng sản xuất. Để tiếp tục phát
triển, lực lượng sản xuất phải phá vỡ quan hệ sản xuất cũ thiết lập quan hệ sản xuất mới, phù hợp
với trình độ mới của lực lượng sản xuất.
Chẳng hạn như, trong thời kỳ công nghiệp hóa, công nghệ ngày càng được ứng dụng
nhiều hơn trong sản xuất. Do đó, quan hệ sản xuất phù hợp là quan hệ tư bản, trong đó chủ sở
hữu tư bản sử dụng công nghệ mới để tối ưu hoá quy trình sản xuất và tăng hiệu quả sản xuất.
Hai là, Quan hệ sản xuất tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Do là hình thức xã hội của quá trình sản xuất có tính độc lập tương đối nên tác động mạnh
mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất. Vai trò của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
được thực hiện thông qua sự phù hợp biện chứng giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì nó sẽ thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển. Quan hệ sản xuất không phù hợp thì nó kìm hãm, thậm chí phá vỡ lực
lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất là phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất khi nó tạo ra
những tiền đề, những điều kiện cho các yếu tố của lực lượng sản xuất kết hợp với nhau một cách
hài hòa để sản xuất phát triển và đưa lại năng suất cao.
Chẳng hạn như, trong xã hội hiện nay, quan hệ sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp không còn
phù hợp với lực lượng sản xuất. Nó sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, dẫn đến trình độ
sản xuất nhỏ, manh mún, cơ giới hóa nông nghiệp khó thực hiện.
Sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất không phải chỉ thực hiện một lần
là xong mà diễn ra cả một quá trình. Mỗi khi sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất bị phá vỡ là mỗi lần điều chỉnh, thay bằng sự phù hợp khác cao hơn.
Như vậy, muốn xã hội tiến bộ, phát triển phải sản xuất ra của cải vật chất. Để sản xuất
phát triển phải thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, phải ứng dụng những công cụ lao động tiên
tiến vào sản xuất, không ngừng nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động, phải làm rõ các
quan hệ sở hữu, cách thức tổ chức, quản lý quá trình sản xuất, các hình thức phân phối phù hợp
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển không ngừng.
Ở Việt Nam, để xây dựng phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, chúng ta chủ trương
phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Như vậy việc bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ
nghĩa về thực chất là bỏ qua chế độ chính trị tư bản, chúng ta lại kế thừa những giá trị của chủ
nghĩa tư bản với tư cách là lực lượng sản xuất, để hướng nền sản xuất đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Tóm lại, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
là quy luật phổ biến tác động toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại. Sự thay thế, phát triển đi lên của
lịch sử xã hội loài người từ chế độ công xã nguyên thuỷ qua chế độ chiếm hữu nô lệ chế độ
phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản chủ nghĩa tương lai là sự tác động
của các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất, nó chi phối các quy luật khác.
6. Quy luật phát triển cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
Trong hệ thống quan điểm duy vật biện chứng, mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ
tầng và kiến trúc thượng tầng được xem là một quy luật chung chi phối sự vận động và phát triển
của xã hội loài người.
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất của một xã hội trong sự vận động hiện
thực của chúng hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội đó.
Cấu trúc của cơ sở hạ tầng bao gồm: quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư,
quan hệ sản xuất của xã hội tương lai tồn tại dưới dạng mầm mống.
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng xã hội với những thiết chế xã
hội tương ứng cùng những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
Cấu trúc của kiến trúc thượng tầng bao gồm toàn bộ những quan điểm tư tưởng về chính
trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học... cùng những thiết chế xã hội tương ứng
như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể và tổ chức xã hội khác.
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt của đời sống xã hội, chúng thống nhất
biện chứng với nhau, trong đó cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng
tầng, kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng.
Thực chất của quy luật là sự hình thành, vận động và phát triển của các quan điểm, tư
tưởng củng với những thể chế chính trị - xã hội tương ứng. Xét đến cùng, phụ thuộc vào quá trình
sản xuất và tái sản xuất các quan hệ kinh tế.
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng thể hiện ở
Một là, cơ sở hạ tầng sinh ra kiến trúc thượng tầng. Cơ sở hạ tầng của một xã hội nhất
định như thế nào, tính chất của nó ra sao, giai cấp đại diện cho nó thế nào thì hệ thống tư tưởng,
chính trị, pháp quyền, đạo đức, triết học,…và các quan hệ, các thể chế tương ứng với những tư
tưởng ấy cũng như vậy.
Ví dụ như, Trong xã hội phong kiến, quan hệ sản xuất phong kiến là cơ sở hạ tầng, quyết
định đến kiến trúc thượng tầng phong kiến. Trong quan hệ sản xuất phong kiến địa chủ chiếm
hữu ruộng đất, nông nô phải lao động cưỡng bức trên ruộng đất của địa chủ. Quan hệ sản xuất
này đã quyết định đến kiến trúc thượng tầng phong kiến.
Hai là, cơ sở hạ tầng quyết định sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng. Sự biến đổi đó xảy
ra trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, cũng như từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái
kinh tế - xã hội khác. Trong xã hội có đối kháng giai cấp, sự biến đổi đó diễn ra thông qua cuộc
đấu tranh giai cấp gay go phức tạp. Tuy nhiên, có những bộ phận của kiến trúc thượng tầng thay
đổi nhanh chóng, cũng có những nhân tố chậm hơn và cả những nhân tố cũ được kế thừa để xây dựng mới.
Chẳng hạn như, khi cơ sở hạ tầng biến đổi từ xã hội phong kiến sang chủ nghĩa tư bản.
Nhà nước và chế độ pháp luật biến đổi để bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản. Còn tôn giáo, đạo
đức sẽ từ từ thay đổi vì lạc hậu, bảo thủ, khó tiếp thu cái mới.
Ba là, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng là quy luật phổ biến của mọi hình thái kinh tế - xã hội.
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng tùy thuộc vào bản chất của
mỗi yếu tố trong kiến trúc thượng tầng, phụ thuộc vào vị trí, vai trò của nó và những điều kiện cụ thể
Một là, phương thức tác động của các yếu tố khác tới cơ sở kinh tế xã hội thường phải
thông qua yếu tố nhà nước mới có thể phát huy mạnh mẽ vai trò thực tế của nó. Nhà nước là yếu
tố có tác động trực tiếp nhất và mạnh mẽ nhất tới cơ sở hạ tầng của xã hội.
Ví dụ như, Nhà nước đề ra các văn bản luật, hiến pháp bảo vệ quyền sở hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất ở các nước tư bản chủ nghĩa
Hai là, sự tác động diễn ra theo nhiều xu hướng, các xu hướng không chỉ khác nhau mà
còn đối lập, phản ánh tính chất mâu thuẫn lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp xã hội khác nhau và đối lập nhau
Chẳng hạn như, Thời phong kiến, giai cấp địa chủ chiếm hữu nhiều ruộng đất nhưng
không có khả năng lao động, nông dân thì ít hoặc không có ruộng nhưng có kinh nghiệm làm
việc... từ đó dẫn đến mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa hai giai cấp, làm mất cân bằng quan hệ sản xuất.
Ba là, sự tác động diễn ra theo xu hướng tích cực hoặc tiêu cực. Điều đó phụ thuộc vào sự
phù hợp hay không phù hợp của các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng đối với nhu cầu khách
quan của sự phát triển kinh tế. Nếu phù hợp sẽ có tác dụng tích cực, nếu không phù hợp sẽ kìm
hãm, phá hoại sự phát triển kinh tế trong một phạm vi, mức độ nhất định
Ví dụ, nhà nước quản lý xã hội một cách công bằng,nghiêm minh thì sẽ hạn chế tệ nạn xã
hội, đời sống người dân ổn định thì kinh tế, xã hội phát triển và ngược lại.
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ra với những xu hướng,
mức độ khác nhau, nhưng nó vẫn không thể giữ vai trò quyết định đối với cơ sở hạ tầng. Nếu kiến
trúc thượng tầng kìm hãm phát triển kinh tế thì sớm hay muộn, bằng cách này hay cách khác,
kiến trúc thượng tầng cũ sẽ được thay thế bằng kiến trúc thượng tầng mới tiến bộ để thúc đẩy
kinh tế tiếp tục phát triển.
Vì kinh tế quyết định chính trị, do vậy, muốn hiểu đúng các hiện tượng chính trị, văn hóa,
xã hội thì phải xem xét chúng từ cơ sở kinh tế đã làm nảy sinh các hiện tượng đó nhưng chính trị,
văn hóa, xã hội lại có khả năng tác động trở lại kinh tế. Vì vậy, cần phải phát huy vai trò tác động
tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của chúng tới cơ sở kinh tế.
Vận dụng vào nước ta hiện nay của quy luật, Việt Nam chúng ta phải thực hiện đổi mới
toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi
mới về chính trị, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Nói tóm lại, nước ta phải tập trung phát
triển kinh tế, xây dựng một nền kinh tế, ổn định chính trị xã hội bằng định hướng kinh tế, kinh tế
quyết định chính trị, nhưng chính trị tác động mạnh mẽ qua lại với kinh tế.
7. Quy luật tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
Trong hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử, nguyên lý tồn tại xã hội quyết
định ý thức xã hội là một nguyên lý cơ bản, đánh dấu sự đối lập căn bản giữa thế gian quan duy
vật và thế giới quan duy tâm về xã hội.
Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã
hội. Tồn tại xã hội bao gồm các yếu tố cơ bản là phương thức sản xuất vật chất và điều kiện tự
nhiên, hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số,… trong đó phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất.
Ví dụ như phương thức kỹ thuật canh nông lúa nước là nhân tố cơ bản tạo thành điều kiện
sinh hoạt vật chất truyền thống của người Việt Nam hay các điều kiện khí hậu, đất đai, sông hồ,...
tạo nên đặc điểm riêng có của không gian sinh tồn của cộng đồng xã hội.
Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng
cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống…của cộng đồng xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội
và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định.
Ý thức xã hội bao gồm tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội. Trong hệ tư tưởng xã hội thì
quan trọng nhất là các quan điểm, các học thuyết và các tư tưởng. Trong tâm lý xã hội có tình
cảm, tâm trạng, truyền thống...nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội ở những giai
đoạn phát triển nhất định.
Chẳng hạn như về ý thức xã hội điển hình có sự nổi bật trong truyền thống yêu nước,
nhân đạo nhân nghĩa của dân tộc và nhân dân Việt Nam thì rất cần cù chăm chỉ với truyền thống
hiếu học được truyền từ đời này sang đời khác. Ngoài ra Việt Nam có hệ thống tư tưởng lớn và
chi phối dân tộc Việt trong nhiều thế kỷ, nhất là phong kiến là tư tưởng Nho giáo.
Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội là mối quan hệ biện chứng, trong đó tồn
tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội có tính độc lập tương đối
Do đó, tồn tại xã hội nào thì có ý thức xã hội ấy. Tồn tại xã hội quyết định nội dung, tính
chất, đặc điểm và xu hướng biến đổi, phát triển của ý thức xã hội. Khi tồn tại xã hội, nhất là
phương thức sản xuất, thay đổi thì những tư tưởng, quan điểm về chính trị, pháp luật và triết học
sớm hay muộn cũng sẽ có những sự thay đổi nhất định.
Chẳng hạn như, trong xã hội phong kiến, khi quan hệ sản xuất tư bản được hình thành và
phát triển thì đã xuất hiện tư tưởng cho rằng chế độ phong kiến là trái với luân thường đạo lý,
không phù hợp với nhân quyền, tâm lý của con người và cần phải được thay thế bởi một chế độ
phù hợp, công bằng, tiên tiến hơn.
Tuy nhiên, ý thức xã hội không phải là yếu tố hoàn toàn thụ động hay tiêu cực. Mặc dù
chịu sự quy định của tồn tại xã hội nhưng ý thức xã hội không những có tính độc lập tương đối.
Thứ nhất, ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội không phản ánh kịp những
thay đổi của tồn tại xã hội do thói quen, truyền thống, tập quán và tính bảo thủ của một số hình
thái ý thức xã hội,... tiếp tục tồn tại sau khi những điều kiện lịch sử sinh ra chúng đã mất đi từ lâu,
do lợi ích nên không chịu thay đổi
Ví dụ như, ở xã hội hiện nay vẫn còn tồn tại những ý thức, tư tưởng lạc hậu so với thời
đại như mê tín dị đoan, những quan niệm nuôi con sai lầm như thương cho roi cho vọt,...
Thứ hai, ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội. Trong những điều kiện nhất định,
những tư tưởng khoa học có thể vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội
Ví dụ như, Từ một nước đói nghèo là phổ biến, nhờ chính sách “Khoán 10” (Cải tiến
quản lý lao động hợp tác xã) của Bí thư Kim Ngọc, tháo bỏ sự ràng buộc, kìm hãm cơ chế quản
lý lạc hậu, Việt Nam đã có dự trữ lương thực, trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới.
Thứ ba, ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của nó. Ý thức xã hội ra đời sau
không chỉ phản ánh tồn tại xã hội mà nó còn tiếp thu yếu tố tư tưởng của thời đại trước.
Chẳng hạn như, Đảng ta chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc. Không những phản ánh tồn tại xã hội mới đưa Việt Nam phát triển mà còn giữ
lại những truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta.
Thứ tư, sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của chúng.
Các hình thái ý thức xã hội đều có nguồn gốc từ tồn tại xã hội nhưng khác nhau về hình thức
phản ánh và phương diện phản ánh nên nó không thể thay thế nhau trong quá trình phát triển.
Ví dụ như, trong thời Lý - Trần, mặc dù nhiều học thuyết, quan điểm khác nhau, nhưng
Phật giáo vẫn chi phối đời sống tinh thần, xã hội …
Thứ năm, ý thức xã hội có khả năng tác động trở lại tồn tại xã hội. Những ý thức, tư
tưởng tiến bộ, cách mạng phản ánh đúng hiện thực khách quan thúc đẩy tồn tại xã hội phát triển và ngược lại.
Ví dụ như, thời đại ngày nay, nếu vẫn còn duy trì tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, thì sẽ
cản trở sự phát triển, đóng góp của người phụ nữ trong phát triển kinh tế, chính trị, xã hội.
Vì vậy, công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới phải được tiến hành đồng thời
trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Cần thấy rằng, thay đổi tồn tại xã hội là điều kiện
cơ bản nhất để thay đổi ý thức xã hội. Mặt khác, cũng cần thấy rằng, những tác động của đời sống
tinh thần xã hội, với những điều kiện xác định cũng có thể tạo ra những biến đổi mạnh mẽ, sâu
sắc trong tồn tại xã hội. Nếu chỉ thấy tính quyết định của tồn tại xã hội một cách máy móc sẽ rơi
vào duy vật tầm thường. Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của ý thức xã hội sẽ rơi vào chủ
nghĩa duy tâm. Trong hoạt động thực tiễn và nhận thức phải luôn đấu tranh khắc phục cả hai
khuynh hướng đó. Trong cải tạo xã hội cũ, xã hội xã hội mới phải tiến hành cả trên hai lĩnh vực
tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
Quán triệt nguyên tắc phương pháp luận đó trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta. Một mặt phải coi trọng cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá, phát huy vai trò tác động tích
cực của đời sống tinh thần xã hội đối với quá trình phát triển kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Mặt khác phải tránh tái phạm sai lầm chủ quan duy ý chí trong việc xây dựng văn
hoá, xây dựng con người mới. Để xây dựng được đời sống tinh thần của CNXH, cần phải cải tạo
triệt để phương thức sinh hoạt vật chất tiểu nông truyền thống và xác lập, phát triển được một
phương thức sản xuất mới trên cơ sở thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.