CÂU HỎI THI VĂN HỌC
1. Bài tập ứng dụng các chức năng của văn học:
* Chức năng giáo dục:
- Văn học khêu gợi tư tưởng tình cảm, nuôi dưỡng tâm hồn.
- Giúp con người tự hoàn thiện nhân cách.
* Chức năng nhận thc:
- Văn học cung cấp tri thức bách khoa về cuộc sống.
- Nhận thức cái khái quát qua cái cụ thể, cái mới lạ qua cái quen thuộc, làm cho
con người có khả năng tự nhận thức.
- Tính lịch sử của nội dung nhận thc.
* Chức năng thẩm mĩ:
- Thỏa mãn nhu cầu thẩm m.
- Hình thành thị hiếu thẩm mỹ và lí tưởng thẩm mỹ.
- Tính lịch sử của nội dung thẩm mỹ.
2. Phân loại nhân vật dựa vào các tiêu chí.
* Dựa vào kết cấu, cốt truyện: nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm.
* Xét về phương diện hệ tư tưởng, quan hệ đối với lí tưởng: nhân vật chính
diện, nhân vật phản diện, nhân vật trung gian.
* Dựa vào thể loại văn học: nhân vạt tự sự, nhân vật trữ tình, nhân vật kịch.
* Dựa vào cấu trúc hình tượng:
- Nhân vật chức năng: làm một công việc duy nhất( vd: Thần trụ trời làm chức năng xây
dựng cột trời, Tâm hiền lành, chăm chỉ, tốt bụng,...)→truyện cổ tích.
- Nhân vật “loại hình”: đại diện cho một tính cách nào đó, xuyên suốt.
- Nhân vật tính cách: mâu thuẫn nội tại, nghịch lí, nhân vật không đồng nhất với chính
nó( Thúy Kiều, Chí Phèo, ...)
- Nhân vật tư tưởng: thông qua nhân vật để lại một tư tưởng nào đó.
VD: Phân loại nhân vật truyên “Cây Khế”
- Kết cấu, cốt truyện:
+ Nhân vật chính: người anh, người em.
+ Nhân vật phụ: con quạ, vợ người anh, vợ người em.
- Hệ tư tưởng, lí tưởng:
+ Nv chính diện: vợ chồng người em.
+ Nv phản diện: vợ chồng người anh.
+ Nv trung gian: con quạ.
- Thể loại: nhân vật tự sự.
- Cấu trúc hình tượng:
+ Nv chức năng:
Con quạ→thử thách người anh, người em.
3. Phân biệt đề tài và chủ đề và các sự kiện chính tạo nên một tác phẩm cụ thê.
* Đề tài:
- Viết về một khía cạnh nào đó của cuộc ssongs.
- Giới hạn đề tài có thể rộng hoặc hẹp.
- Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều đề tài tạo thành một hệ đề tài.
* Chủ đề:
- Nội dung chính, nội dung khái quát của tác phẩm.
VD: Đề tài, chủ đề, các sự kiện chính của “ Dế mèn phiêu lưu kí
- Đề tài:
+ Thế giới loài vật, côn trùng.
+ Tình bạn.
+ Cảnh đẹp thiên nhiên, đất nước.
- Chủ đề:
+ Nói về thanh thiếu niên trước CMT8: học có tính cách, hoài bão, khát vọng tự do,
ước vọng đoàn kết, lí tưởng hòa bình nhân ái.
+ Ca ngợi tình bạn thân thiết.
+ Đề cao vẻ đẹp thiên nhiên qua cuộc sông phiêu lưu của Dế Mèn.
- Các sự kiện chính:
+ Gây ra cái chết cho Dế Choắt.
+ Bị trẻ con bắt làm trò chơi
+ Bị bác Xén Tóc dạy cảnh cáo.
+ Cứu chị nhà Trò thoát khỏi lũ nhện ăn thịt.
+ Dế Mèn cứu Dế Trũi thoát khỏi Bọ Mõm, cùng đi du lịch.
+ Lạc vào tổng Châu Chấu.
+ Dế Mèn chiến đấu với chiến sĩ Bọ Ngựa thành phó chánh tổng Châu Chấu.
+ Được Dế Trũi và các bạn Châu Chấu Voi cứu.
+ Lạc vào sứ xở kiến.
+ Gặp kiến chúa và xóa bỏ hiểu lầm.
+ Kêu gọi lí tưởng muôn loài đoàn kết, kết thành anh em.
4. Phân biệt bố cục, kết cấu của một tác phẩm.
- Bố cục: sự bố trí, sắp xếp các phần, các đoạn theo một trình tự, một hệ thống rành
mạch và hợp lý.
- Kết cấu: các yếu tố tạo nên tác phẩm(sự kiện, nhân vật, thời gian, biện pháp tu từ....)
VD: Phân biệt bố cục, kết cấu của truyện “Dế Mèn phiêu lưu kí”
- Bố cục: 10 chương.
- Kết cấu: tổ chức hệ thống nhân vật, thời gian, không gian hiện thực, hệ thống sự
kiện, tổ chức điểm nhìn trần thuận, biến cố sự kiện yếu tố tình huống khác nhau qua nhân
vật Dế Mèn, nhân vật xưng tôi để kể lại hành trình phiêu lưu. (phân tích cụ thể)
5. Chỉ ra các thành phần cốt truyện của một tác phẩm cụ
thể. (5 thành phần)
- Phần trình bày: giới thiệu bối cảnh xã hội và lai lịch nhân vật.
- Phần nút thắt: những sự kiện và hành động, tính cách nhân vậtvà mâu thuẫn bước
đầu bộc lộ.
- Phần phát triển: sự vận động của các quan hệ và mâu thuẫn đã xảy ra ( biến cố,
hành động, sự việc).
- Phần đỉnh điểm: đỉnh cao của mâu thuẫn, xung đột.
- Phần mở nút: mâu thuẫn, xung đột được giải quyết.
VD: Trình bài các thành phần cốt truyện của truyện “Cây khế”
- Trình bày: Truyện kể về hai anh em có tính cách trái ngược nhau.
- Thắt nút: Khi chia gia sản, người anh lấy hết tài sản chỉ chia cho người em cây khế
ngọt và mảnh vườn nhỏ.
- Phát triển: Đến mùa khế ra rất nhiều quả. Bỗng một hôm con chim lạ đến ăn
khế. Người em than khóc đại ng liền bảo người em may túi ba gang để chim trả ơn.
Chim đưa người em ra đảo lấy vàng và người em trở nên giàu có nhất vùng.
- Cao trào: Người anh hay tin, lân la đến hỏi đổi cả gia tài của mình để lấy
mảnh vườn cây khế. Đến mùa khế chín, chim đại bàng lại đến và cũng ngỏ ý sẽ trả ơn.
Người anh vì tham lam nên đã may túi to để dựng được nhiều vàng.
- Mở nút: Trên đường đi lấy vàng về quá nặng nên người anh đã bị rơi xuống biển
và chết.
6. Chỉ ra các phương thức chuyển nghĩa( biện pháp tu từ)
Một số biện pháp tu từ: ẩn dụ, hoán dụ, ví von, nhân hóa, mỉa mai, tượng trưng,
phúng dụ, biểu trưng, chơi chữ.
7. Phân biệt truyền thuyết - cổ tích.
Truyền thuyết Cổ tích
Nội dung
- Kể về nhân vật lịch sử,
sự kiện lịch sử ảnh
hưởng quốc gia, dân tộc.
- Thể hiện lòng tự hào, ca
ngợi anh hùng công
với đất nước, qua đó giáo
dục ý thức, trách nhiệm
của con người với cộng
đồng dân tộc.
+ Quan niệm, đặc điểm
công liax hội về một
cuộc sống tốt đẹp hơn
của nhân dân lao
động.
+ Phản ánh mâu thuẫn
hội, gia đình,
nhân....
Nhân vật
- Các nhân vật lịch sử,
nhân vật bán thần.
- Nhân vật vừa thực vừa
hư cấu.
- Nhân vật tầm
thường nhỏ không
tiếng nói trong
cuộc sống, có vai trò
thấp kém trong các
mối quan hệ xã hội.
- Nhân vật hư cấu.
8. Tính nguyên hợp và sinh hoạt của văn học nhân gian. Cho VD.
Tính nguyên hợp:
- Biểu hiện nội dung phản ánh, cùng một lúc tổng kết được nhiều tri thức của nhân
dân (đa chức năng).
VD: Truyền thuyết “Sơn Tinh Thủy Tinh”
- Chức năng văn học: ca ngợi công cuộc chinh phục dòng sông của nhân dân.
- Chức năng lịch sử: những buổi đầu dựng nước của dân tộc gắn liền với nền văn
minh nông nghiệp lúa nước.
- Địa lí thiên văn: biết được quy luật nước dâng lên ở đồng bằng sông Hồng.
- Chức năng dân tộc học: tục thách cưới, thú bên nhà chồng, chế độ quần hôn bị
đẩy lùi thay thế bằng hôn nhân một vợ một chồng...
Tính sinh hoạt: Đây đặc trưng thẩm mỹ của văn học dân gian, mỗi thể loại văn học
dân gian gắn với một loại hình diễn xướng khác nhau. ( dạng kể: truyện cổ dân gian; dạng
nói: tục ngữ, thành ngữ; dạng hát: ca dao, dân ca)
VD: Hát ru để trẻ ngủ, để điều phối s phối hợp các thao tác lao động. đưa lính
không chỉ nỗi niềm của sinh ly tử biệt, những triết về kiếp người còn phương
tiện để điều hành tang lễ.
9. Phân biệt thành ngữ - tục ngữ.
- Thành ngữ: 1 hình ảnh, chưa rõ nghĩa. Kết cấu là 1 cụm.
- Tục ngữ: 1 nội dung nhất định ( nhận định, phán đoán) đã nghĩa. Một câu trọn
vẹn (có kết cấu chủ vị).
10. Phân biệt tục ngữ - ca dao:
Tục ng Ca dao
Dung lượng
- Ngắn nhất: 3 tiếng.
- i nhất: một cặp lục
bát.
- Ngắn nhất: một cặp lục bát.
- Dài nhất: không xác định.
Nội dung
- Kinh nghiệm trên tất cả
lĩnh vực đời sống.
- Thể hiện tình cảm.
Văn học nước ngoài
- Chủ đề 1: Tài năng trí tuệ của con người: Truyện con quạ thông minh, ác sĩ sói.
* Con quạ thông minh ( La Phông-ten): Có một con quạ khát nước. Nó bay rất lâu để tìm
nước uống nhưng chẳng thấy đâu một giọt nước nào. Mệt quá, quạ đậu xuống
một tảng đá. Bỗng nhìn thấy một cái lọ ngay bên cạnh tảng đá. Quạ mừng rỡ,
xuống bên cái lọ, ngó cổ nhìn vào. Dưới đáy lọ ít nước nhưng clọ lại quá cao, quạ
không làm sao thò mỏ vào uống được. Con quạ thông minh bèn nghĩ ra một kế. lấy
mỏ gắp từng hạt sỏi dưới đất bỏ o lọ. Sỏi bỏ vào đến đâu nước dần dần dâng lên đến
đấy. Thế là quạ tha hồ uống những giọt nước mát lành.
Bài học rút ra: Nhờ vào trí thông minh và sự cố gắng nỗ lực của bản thân mà quạ đã cứu
sống được chính bản thân mình, thoát ra khỏi hoàn cảnh khó khăn nhất.Sự kiên trìchìa
khóa để giải quyết bất kỳ vấn đề nào cuối cùng cho tình hình nghiêm trọng đi
chăng nữa, thì bạn cũng sẽ tìm thấy một giải pháp. Khi gặp khó khăn, chớ vội nản lòng từ
bỏ, hãy suy nghĩ tìm cách giải quyết, lặp đi lặp lại thử nghiệm vì ý tưởng của bạn có lẽ sẽ
không tệ như bạn nghĩ.
- Chủ đề 2: Khát vọng khám phá, chinh phục thiên nhiên: Ông Mạnh thắng thần
gió, Trên con tàu vũ trụ
* Ông Mạnh thắng thần gió (Phỏng theo A-NHÔNG): Xa xưa, con người biết dựng
nhà,m cửa, sinh sống chủ yếu hang núi, sau chuyển về đồng bằng vùng ven biển.
Đây cũngnơi thần Gió hoành hành.Trong một lần tình cờ, thần Gió gặp người đàn ông
tên Mạnh, thần Gió đã xô ngã Mạnh để chứng tỏ sức mạnh. Mạnh lồm cồm bò dậy mắng
thần Gió độc ác. Thần Gió bay đi, tiếng cười ngạo nghễ. Để chống lại sự hoành hành của
thần Gió, ông Mạnh đã vào rừng lấy gỗ, dựng thành nhà nhưng cả 3 lần xây lên đều bị
thần Gió thổi đổ. Lần cuối cùng ông Mạnh xây một căn nhà vững chắc với cây cột lớn
đá to làm tường.Thần Gió đã đến muốn thổi bay ngôi nhà nhưng không đượcn rất tức
giận. Mấy tháng sau, thần Gió đến nhà ông Mạnh, tỏ vẻ ăn năn. Ông Mạnh an ủi mời
thần Gió thỉnh thoảng tới nhà mình chơi. Kể từ đó, mỗi lần đến thăm ông Mạnh, thần Gió
thường mang theo không khí mát lạnh từ biển và hương thơm ngào ngạt của các loài hoa.
Bài học rút ra: Con người chiến thắng thiên nhiên nhờ quyết tâm lao động. Con
người cần sống thân ái, hòa thuận với thiên nhiên.
- Chủ đề 3 : Lòng nhân ái
*Người ăn xin: 1 hôm , 1 cậu đang đi trên phố; đột nhiên 1 ông lão ăn xin già lọm
khọm đứng ngay trước mặt cậu, hai hàng nước mắt trên mi cứ rơi xuống; ông chìa bàn
tay thôi ráp ra xin cậu ít tiền. Cậu đã lục đủ các túi áo của mình nhưng chẳng cả,
ông lão vẫn đợi , tay cậu run lẩy bẩy. Chẳng còn cách khác, cậu liền nắm chặt lấy bàn
tay ông lão, nói :"Xin ông đừng giận cháu, cháu chẳng gì để cho ông cả " Ông liền nói
"Cảm ơn cháu...". Ông lão đi mất, cậu hiểu ra rằng :"Cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận
chút gì đó từ ông lão”.
Bài học cho HS tiểu học: Bài đọc Người ăn xin TV 4 ý nghĩa sâu sắci học cuộc
sống. Dạy các em biết trân trọng, thông cảm với người hoàn cảnh khó khăn, biết đồng
cảm, thương xót trước mảnh đời bất hạnh, qua đó đề cao lòng nhân ái sự đùm bọc lẫn
nhau giữa những con người cùng cảnh ngộ.
-Chủ đề 4: Tình yêu quê hương đất nước
*Đất quý đất yêu
Hai vị khách đi thăm thú khắp các nơi trên đất nước Ê-ti-ô-pi-a. Họ được vua Ê-ti-ô-pi-a
tiếp đãi nồng hậu, mời vào cung điện, mời tiệc chiêu đãi và tặng họ nhiều quà quý.
Khi hai vị khách sắp bước xuống tàu để về nước thì viên quan dẫn đường yêu cầu họ cởi
giày ra cho người cạo sạch đất cát bám vào đế giày. Điều này làm họ hết sức ngạc
nhiên.
Thấy khách tỏ vẻ ngạc nhiên, viên quan giải thích rõ phong tục của người Ê-ti-ô-pi-a. Đất
đai của Tổ quốc được coi cha mẹ, anh em ruột thịt, tài sản thiêng liêng quý
giá nhất đối với họ. Qua đây ta thấy được người Ê- ti- ô- pi-a rất yêu quý trân trọng
mảnh đất quê hương.
Bài học rút ra cho HS tiểu học: Đất đai Tổ quốc thứ thiêng liêng, cao quý nhất.
Phong tục trong câu chuyện nói lên tình cảm yêu quý trân trọng của người Ê-ti-ô-pi-a
đối với quê hương.
PHÂN TÍCH TÁC PHẨM
NGẮM TRĂNG - HCM
Nhắc đến Hồ Chí Minh, bất kì ai cũng dành cho Người sự biết ơn kính trọng. Tuy
Bác đã ra đi nhưng hình ảnh Người mãi tồn tại trong trái tim người Việt với tất cả những
gì đẹp nhất, sáng ngời và cao quý nhất. Bác không chỉ là nhà lãnh tụ tài ba còn là một
nhà thơ nổi tiếng với những vần thơ thật đẹp nói về tình yêu Tổ quốc tình yêu thiên
nhiên dào dạt. Một trong những bài thơ hay viết về tinh thần của người chiến cách
mạng phải kể đến là bài thơ “Ngắm trăng”, tuy ngắn gọn nhưng toát lên một khí chất ngút
trời.
Bài thơ được Bác sáng tác khi bị giam cầm nhà Tưởng Giới Thạch với những
vần đẹp nhất.
Ngục trung vô tửu diệc vô hoa
Đối thử lương tiêu nại nhược hà
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt
Nguyệt tòng song khích khán thi gia
Dịch thơ:
Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng dòm khe cửa ngắm nhà thơ
Những câu thơ nhẹ nhàng dễ dàng thấm sâu vào tâm hồn bạn đọc với một niềm ngưỡng
mộ đầy cảm kích. Bài thơ “Ngắm trăng” nhưng lại trong một hoàn cảnh rất đặc
biệt và lạ thường:
Trong tù không rượu cũng không hoa
Người xưa, mỗi khi ngắm trăng thường bạn hiền, vừa nhâm nhi chén rượu cay nồng
vừa thưởng thức vẻ đẹp của vầng ánh sáng dịu hiền đang chiếu rọi xuống nhân gian. Họ
ngắm trăng bên vườn hoa rực rỡ sắc màu và hương thơm. Trên trời, dưới đất, thiên nhiên,
con người hòa quyện o nhau, say đắm trong nhau để cảm nhận được hết cái đẹp, cái
nên thơ của tạo vật. Nhưng đây, Bác ngắm trăng trong một không gian lạ thường quá.
Đã không hoa, không bạn lại còn bị giam cầm trong không gian tối tăm của chốn
ngục tù. cuộc sống khó khăn chật chội cũng không đủ ngăn cản tâm hồn bay
bổng của người binh. Để từ đó, ta cảm nhận được, Bác yêu thiên nhiên đến thế nào.
Khi trong hoàn cảnh ấy, con người thường đớn đau trước cái đói, cái lạnh thì Bác vẫn
hướng tới thiên nhiên, quên hết đi thực tại của số phận. Tình yêu thiên nhiên trong con
người Bác đủ để vượt qua tất cả và cũng bởi cảnh đẹp quá, không thể chối từ.
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Vầng trăng ấy tròn trịa, sáng vằng vặc trong cái đêm nhẹ nhàng của những cơn gió
chút tĩnh lặng của không gian. Cảnh đẹp vậy, nên thơ vậy, làm sao con người thể
hững hờ mà bỏ qua nhất là đối với một tâm hồn yêu thiên nhiên, đất trời như Bác. Dường
như, trong hoàn cảnh bị giam cầm về thể xác nhưng tâm hồn Bác vẫn bay bổng cùng với
gió trăng bởi như Người đã viết:
Thân thể trong lao
Tinh thần ở ngoài lao
Họ có thể trói buộc Bác, giam cầm Bác nhưng làm sao thể kìm hãm được tình yêu đối
với thiên nhiên vẫn luôn trực trào trong tâm hồn của Bác. Người, đã vượt qua tất cả
để được thả hồn cùng ánh trăng dịu hiền.
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ
Bác phóng tầm mắt của mình đi xa hơn, cao hơn, chạm tới tận vầng trăng. Vầng trăng
cũng như để đáp lại tinh thần ấy hướng xuống nhìn người thi đang say trong vẻ
đẹp của đất trời. Con người thiên nhiên hòa hợp, đan xen vào nhau. Một sự đồng điệu
như chính tâm hồn của những người tri kỉ, luôn dành ánh mắt i nhìn về phía đối
phương. Tình yêu thiên nhiên vượt n trên gian khó của Bác đã làm cho vầng trăng, một
vật vô tri
giác thể thấu hiểu để rồi sẵn sàng đáp lại. Điều đó giúp ta thấu được vẻ đẹp trong
tâm hồn Bác, một vẻ đẹp rạng ngời sáng soi như chính thứ ánh sáng dịu dàng đẹp
đẽ của vầng trăng. Bác yêu thiên nhiên, thiên nhiên thấu hiểu tâm hồn ấy. Cả hai ngắm
nhìn nhau, đắm trong nhau như những trái tim đồng điệu, đong đầy tình nghĩa sự
mến yêu.
Như vậy, qua bốn câu thơ của bài “Ngắm trăng”, ta đã cảm nhận được tinh thần yêu
thiên nhiên của Bác Hồ thật cao đẹp. Qua đó, ta ng thêm ngưỡng mộ tinh thần lạc
quan của người lãnh tụ đại, gian nan vất vả đến đâu, Bác vẫn giữ vững niềm tin
hy vọng về những gì tốt đẹp, tươi sáng nhất cho tương lai phía trước.
NHỚ VIỆT BẮC – TỐ HỮU
Tố Hữu luôn viết về tưởng, về lẽ sống, lòng trung thành với cách mạng, một
trong những nhà thơ lớn, tiêu biểu nhất của nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Ông người
tấm lòng yêu dân, yêu nước sâu sắc, vậy các sáng tác của ông rất gần gũi với nhân
dân. Bài thơ Việt Bắc một bức tranh trữ tình hoành tráng, bao quát cả một không
gian toàn bộ Việt Bắc một bài thơ dài, không phải đoạn nào viết cũng đều tay. Nhưng
những đoạn quả thật đặc sắc đó người đọc thấy được vẻ đẹp của ngòi bút Tố
Hữu.
Đoạn thơ 10 câu dưới đây trích từ câu 43 đến câu 52 trong bài thơ “Việt Bắc” nói lên
bao nỗi nhớ vô cùng thắm thiết thủy chung đối với Việt Bắc:
Ta về, mình có nhớ ta
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
Hai câu thơ đầu lời hỏi đáp của “ta”, của người cán bộ kháng chiến về xuôi, ta hỏi
mình “có nhớ ta”. về xuôi, xa cách nhưng lòng ta vẫn gắn thiết tha với Việt
Bắc: “Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”. Chữ “ta”, chữ “nhớ” được điệp lại thể hiện
một tấm lòng thủy chung son sắt. Nỗi nhớ ấy hướng về “những hoa cùng người”, hướng
về thiên nhiên núi rừng Việt Bắc và con người Việt Bắc thân yêu:
“Ta về, mình có nhớ ta,
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”.
Rừng xanh, hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”.
Hai chữ “mình ta” xuất hiện tần số cao trong bài thơ, cũng như trong hai câu thơ
này đã thể hiện một cách rất đẹp tình cảm lứa đôi hòa quyện trong mối tình Việt Bắc,
đồng thời làm cho giọng thơ trởn thiết tha bồi hồi như tiếng hát giao duyên thuở nào.
Đó là sắc điệu trữ tình và tính dân tộc trong thơ Tố Hữu.
Nhớ mùa đông nhớ màu “xanh” của núi rừng Việt Bắc, nhớ màu “đỏ tươi” của hoa chuối
như những ngọn lửa thắp sáng rừng xanh. Nhớ người đi nương đi rẫy “dao gài thắt lưng”
trong thế mạnh mẽ o hùng đứng trên đèo cao “nắng ánh…”. Con dao của người đi
nương rẫy phản quang “nắng ánh” rất gợi cảm.
Màu “xanh” của rừng, màu “đỏ tươi” của hoa chuối, màu sáng lấp lánh của “nắng ánh” từ
con dao; màu sắc ấy hòa hợp với nhau, làm nổi bật sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của
thiên nhiên Việt Bắc, của con người Việt Bắc đang làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời
trong kháng chiến.
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”.
Nhớ ngày xuân Việt Bắc nhớ hoa “nở trắng rừng”. Chữ “trắng” tính từ chỉ màu
sắc được chuyển từ loại thành bổ ngữ “nở trắng rừng”, gợi lên một thế giới hoa bao
phủ khắp mọi cánh rừng Việt Bắc màu trắng thanh khiết mênh mông và bao la.
Nhớ “mơ nở trắng rừng”, nhớ người thợ thủ công đan nón “chuốt rừng sợi giang”.
“Chuốt” nghĩa làm bóng lên những sợi giang mỏng mảnh. khéo léo, kiên nhẫn, tỉ
mỉ mới thể “chuốt từng sợi giang” để đan thành những chiếc nón, chiếc phục vụ
kháng chiến. Người đan nón được nhà thơ nói đến tiêu biểu cho vẻ đẹp tài hoa, tính sáng
tạo của đồng bào Việt Bắc.
“Ve kêu rừng phách đổ vàng,
Nhớ cô em gái hái măng một mình”.
Nhớ về Việt Bắc nhớ mùa với tiếng ve kêu làm nên khúc nhạc rừng, nhớ màu
vàng của rừng phách, nhớ thiếu nữ đi “hái măng một mình” giữa rừng vầu, rừng
nứa, rừng trúc:
Một chữ “đổ” tài tình. Tiếng ve kêu như trút xuống “đổ” xuống thúc giục ngày trôi
nhanh, làm cho rừng phách thêm vàng.Đây những vần thơ n họa nên nhạc, tạo nên
một không gian nghệ thuật đẹp và vui, đầy màu sắc âm thanh.
“Cô em gái hái măng một mình” vẫn không cảm thấy lẻ loi, đang lao động giữa
nhạc rừng, hái măng để góp phần “nuôi quân” phục vụ kháng chiến. Cô gái hái măng
một nét trẻ trung, yêu đời trong thơ Tố Hữu.
Nhớ mùa hè rồi nhớ mùa thu Việt Bắc, nhớ khôn nguôi, nhớ trăng ngàn, nhớ tiếng hát:
“Rừng thu trăng rọi hòa bình,
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”.
Bộ tranh này kết thúc bằng bức tranh thu. Ba bức tranh trên cảnh ngày, riêng bức này
cảnh đêm. Bức tranh vẽ ra những ánh trăng rọi qua vòm tạo thành một khung cảnh
huyền ảo"Rừng thu trăng rọi hoà bình". Đây đúng khung cảnh trữ tình dành cho những
cuộc hát giao duyên. Cho nên cảnh cuối cùng: "Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy
chung". Chữ "ai" là cách nói bóng gió, ám chỉ người đang hát cùng với mình, làm cho lời
lẽ trở nên tình tứ hơn. Và qua tiếng hát chúng ta thấy được phẩm chất ân tình, chung thuỷ
của người Việt Bắc.
thể nói nhà thơ Tố Hữu đã rất thành công khi vẽ lên một bức tranh thiên nhiên
bốn mùa nơi Việt Bắc núi cao, đèo lớn. Những hình ảnh thiên nhiên ấy gắn liền với hai từ
Việt Bắc, con người nơi đây hiện lên với những nét đẹp tâm hồn tính cách chăm chỉ,
kiên trì, làm chủ, gan góc, tình nghĩa. Những đức tính ấy cũng góp phần làm nên chiến
thắng cho dân tộc ngày hôm nay.
ĐOÀN TUYỀN ĐÁNH CÁ – HUY CẬN
Nhắc đến phong trào thơ mới không thể không nhắc tới nhà thơ Huy Cận. Trong suốt
cuộc đời làm thơ của mình, ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm hay như trụ ca, Lửa
thiêng. Giọng thơ của Huy Cận sự biến chuyển theo thời cuộc mang hơi thở của
cuộc sống. Năm 1958, ông đã sáng tác bài thơ Đoàn thuyền đánh khi đang tham gia
chuyến thực tế dài ngày Hòn Gai. Bài thơ nằm trong tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng
tiêu biểu cho thơ ca hiện đại Việt Nam.
Đọc tựa đề người đọc thể mường tượng ra một khung cảnh lao động hăng say của
những con người làm nghề chài lưới, đánh bắt. Vẻ đẹp của con người kết hợp với vẻ đẹp
của thiên nhiên tạo nên một bức tranh vô cùng hoàn mĩ.
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm với gió khơi.
Bài thơ mở đầu bằng cách i hiện lại khoảnh khắc hoàng hôn trên biển. Cảnh tượng ấy
mới thật huy hoàng và lộng lẫy làm sao. Mặt trời lúc này trở nên thật gần và cũng thật to.
Mặt trời đang xuống biển, đỏ rực như một hòn lửa. Lời thơ sự von thật tinh tế
thật đẹp. Sóng cũng đã “cài then”, đêm cũng chuẩn bị “sập cửa” để nghỉ ngơi sau một
ngày i. Đây lúc lẽ ra mọi người phải được ngơi nghỉ thì đoàn thuyền đánh lại
bắt đầu ra khơi. Từ “lại” giúp cho người đọc thấy được sự lặp đi lặp lại của hành động.
Không phải hôm nay đoàn thuyền mới ra khơi ngày nào cũng vậy. Họ căng buồm lên
và rồi cất cao tiếng hát đầy say mê.
Hát rằng: Cá bạc biển Đông lặng
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
Đến dệt lưới ta đàn cá ơi
Giữa cảnh nh mông sông nước cùng với đêm tôi nhưng những người đi đánh vẫn
giữ trong mình một tinh thần vui tươi, yêu đời. Họ nhìn thấy được cái đẹp của biển cả
vào ban đêm. Cái đẹp ấy đến từ những mẻ đầy tôm cá. Mỗi ngày cất ra khơi chỉ
mong được biển hào phóng ban tặng cho cá, cho tôm. Lời hát vừa như để thể hiện tinh
thần yêu đời của mình, vừa như để cảm ơn sự giàu của biển. Câu thơ cất lên khiến
người đọc cũng cảm thấy rộn rã.
Bằng con mắt trữ tình của mình, nhà thơ Huy Cận như hóa thân vào chính những người
đánh cá. Họ làm việc một cách hăng say quên đi những mệt mỏi những hiểm nguy
luôn rình rập. Trước mắt họ chỉ nhìn thấy niềm vui trong lao động:
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng
những câu thơ này, tác giả Huy Cận đã thể hiện được cái tài hoa của mình. Ông sử
dụng phong vị thơ cổ điển qua những hình ảnh như “lái gió”, “buồm trăng”, “mây cao”,
“biển bằng” nhưng vẫn đậm chất hiện thực. Công cuộc đánh cũng giống như một trận
đánh chứ không hề đơn giản c thả lưới xong. Những người ngư dân cũng phải
thăm dò ra đậu dặm xa để tìm được đâu là bãi cá. Rồi “dàn đan thế trận” giống như người
lính bài binh bố trận để vây bắt quân thù. Buông lưới làm sao để sớm mai trở về với một
thuyền đầy cá. Quả thực nghĩ đến thôi cũng thấy đầy phấn khích.
Đối với người ngư dân, biển chính linh hồn của họ. Họ gắn mật thiết với biển
nếu như không biển cuộc sống sẽ trở nên m tối. Chính sự gắn ấy khiến họ thuộc
biển như trong lòng bàn tay. Những cái tên của những loài cá, rồi thì thói quen của chúng
họ đều biết cả:
nhụ chim cùng đé
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long
Giữa đêm tốii mặt biển, ánh trăng trở nên long lanh hơn. Ánh trăng phản chiếu xuống
mặt biển, chạm vào những chú cá khiến chúng cũng như đang phát sáng. Câu thơ miêu tả
cùng với ánh sáng thật diệu kì. trở thành những ngọn đuốc lấp lánh giữa trời.
Chúng quẫy đuôi khiến trăng trở nên vàng chóe. Ánh trăng chính người bạn soi sáng
cho ngư dân bắt được mẻ cá đầy.
Đêm dần chuyển mình, ánh mặt trời đã sắp lên, nhịp độ công việc càng trở nên gấp gáp.
Những câu thơ vang lên khiến cho người đọc cảm thấy như đang được chứng kiến tận
mắt cảnh kéo lưới với những tiếng hô theo nhịp rộn ràng:
Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
Vảy bạc đuôi vàng lóe rạng đông
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng
Những câu thơ làm hiện lên dáng người ngư dân đang kéo lưới, họ dồn hết sức mạnh vào
đôi bàn tay để kéo cho được mẻ lên. Câu thơ “ta kéo xoăn tay chùm nặng” không
khiến người đọc cảm thấy nặng nề chỉ thấy một niềm khoan khoái bởi kéo được mẻ
nặng một sự thành công lớn. Rạng đông đang lóe sáng, buồm lại căng để đón nắng
hồng. Đoàn thuyền đánh cá cũng chuẩn bị trở về:
Câu hát căng buồm với gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi
Khổ thơ cuối bài, tiếng hát của sự lao động hăng say vẫn được cất n. Dường như sau
một đêm, chẳng khiến cho người ngư dân cảm thấy mệt mỏi. Họ bắt đầu chạy đua
cùng với mặt trời để làm sao trở về đất liền vào trước lúc mặt trời lên. Đó cuộc chạy
đua với thiên nhiên nhưng cũng là cuộc chạy đua với cuộc sống. Bài thơ khép lại với hình
ảnh của một ngày mới bắt đầu. Đómột màu sắc mới, mặc dù cũng biển đấy, cũng
mặt trời đấy nhưng mang đến một sự tươi mới. Câu thơ như báo hiệu rằng người ngư
dân vẫn sẽ tiếp tục ra biển vào những ngày sau và đó cũng là những cuộc đánh cá mới.
Bài thơ khép lại, lòng người đọc vẫn còn thấy rộn ràng. Bài thơ sự ca ngợi nguồn i
nguyên của đất nước, ca ngợi sự cần của những con người lao động ngày ngày làm
giàu cho đất nước. Bài thơ mang đến cho người đọc stươi vui nhận ra được giá trị
của cuộc sống này.
CÂY DỪA – TRẦN ĐĂNG KHOA
Trần Đăng Khoa - nhà thơ lớn với khả năng sáng tác tài ba, ông sở hữu một sự
nghiệp văn thơ đồ sộ. Ông được mệnh danh “thần đồng” của nền thi ca Việt Nam bởi
năm lên m tuổi tác phẩm đầu tay của nhà thơ đã được đăng báo. Thơ của Trần Đăng
Khoa được rất nhiều bạn đọc yêu thích, trong đó không thể không kể đến bài thơ Cây
dừa.
Cây dừa - một loại cây thân thuộc, gần gũi với con người Việt, chúng cùng thân
quen với trẻ chăn trâu, khi chiều chiều vừa chơi đuổi bắt vừa thể nghịch ngợm
trèo lên đó. Ai cũng nhìn thấy, nhưng mấy ai thể quan sát rồi miêu tả một cách
sinh động như nhà thơ Trần Đăng Khoa. Qua những vần thơ của mình, nhà thơ đã khắc
họa hình ảnh cây dừa hiện lên với đầy đủ bộ phận từ gốc đến ngọn, chỗ nào tác giả cũng
có những liên tưởng độc đáo, thú vị.
Mở đầu bài thơ, hiện lên hình ảnh cây dừa dễ mến, như một người bạn mang tâm hồn hào
sảng, phóng khoáng thích tâm giao, kết bạn với thiên nhiên, với vũ trụ bao la:
Cây dừa xanh tỏa nhiều tàu
Dang tay đón gió gật đầu gọi trăng
Bằng biện pháp nhân hóa, tác giả đã cây dừa như hình ảnh của một con người với
những động tác “dang tay”, gật đầu” mềm mại. Trần Đăng Khoa đã sử dụng phép đăng
đối rất chuẩn: Động từ đối với động từ (“dang” đối với “gật”), danh từ đối với danh từ
(“tay” đối với “đầu”, “gió” đối với “trăng”).
“Thân dừa bạc phếch tháng năm
Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao…
Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa.
Cây dừa đã được Trần Đăng Khoa nhân hóa như một người bạn thân thiết, đan xen giữa
hình ảnh một người trẻ tuổi phóng khoáng và một người lao động cần cù. Từ "bạc
phếch" đã tạo ra một màu sắc tháng năm, với hình ảnh của người lao động lam lũ dầm
mưa dãi nắng, nhưng vẫn tràn đầy sức sống. Đồng thời, quả dừa được ví như đàn lợn
con, mang đến một liên tưởng độc đáo và thú vị. Bài thơ thể hiện một tuổi thơ hiếu động,
ngộ nghĩnh và duyên dáng. Quả dừa lại được liên tưởng đến hũ rượu đeo quanh cổ dừa,
mang đến hình ảnh ngọt ngào và thú vị.
người sống gần gũi với thiên nhiên, Trần Đăng Khoa đã những rung cảm trước
thiên nhiên, trước cảnh vật xung quanh mình, bắt đầu từ những hình ảnh giản dị nhất. Tác
giả dường như quan sát vẻ đẹp cảnh vật trong khoảnh khắc cả ngày và đêm. Hình ảnh cây
dừa về đêm mang một vẻ đẹp lung linh huyền diệu. Hoa dừa nở bung cùng sao trời, kết
thành một tấm thảm hoa lung linh rực rỡ. Ánh sao cũng hoa, hoa lại thành sao hòa
quyện vào nhau tỏa sáng lấp lánh tạo nên bức tranh về đêm vô cùng đẹp. Ban ngày, cùng
với những ángy xanh bồng bềnh, cậu ấy cảm nhận y dừa hiện lên như một
gái đang thướt tha dịu dàng chải tóc:
“Đêm hè hoa nở cùng sao
Tàu dừa – chiếc lược chải vào mây xanh
Thông qua miêu tả cây dừa Trần Đăng Khoa đã tái hiện phong cảnh yên bình, giản
đơn của một làng quê Việt Nam với nắng, gió và trăng sao. Khi đó, cây dừa chính là hình
ảnh gắn kết với thế giới thiên nhiên xung quanh, như làn gió, ánh trăng hay mây xanh, và
"tiếng dừa" còn có thể xua tan nắng hè oi bức:
“Tiếng dừa làm dịu nắng trưa
Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo
Trời trong đầy tiếng rì rào
Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra.”
Hình ảnh những rặng dừa che chở, bao bọc, mang lại sự yên bình cho làng quê u dấu
đã trở thành hình ảnh quen thuộc trong văn học nói riêng và trong đời sống của người dân
Việt Nam nói chung. Và hình ảnh đó lại một lần nữa được khắc sâu qua ngòi bút của một
nhà thơ nhỏ tuổi nhưng lại một tình yêu lớn với quê hương với thiên nhiên - nhà thơ
Trần Đăng Khoa.
Với tình yêu ấy, Trần Đăng Khoa đã miêu tả hình ảnh cây dừa với sự ngưỡng mộ tôn
trọng. Những cánh dài thẳng đứng của cây dừa tạo nên một hình ảnh bề thế, vững
chãi, đầy sức mạnh. Nhà thơ sử dụng từ ngữ mượt mà, tươi sáng để thể hiện s vươn lên
của cây dừa, gợi lên cảm giác tự tin sự ung dung của một người lính cầm chắc tay
súng:
“Đứng canh trời đất bao la
CA DAO ĐI CẤY
Ca dao - dân ca nơi giải bày tâm tư, tình cảm của con người nhất người dân
lao động. Trong kho tàng ca dao Việt Nam, rất nhiều bài hay thể hiện được nỗi lòng
của người dân lao động. Trong đó phải nhắc đến bài “Đi cấy”, bài ca dao thể hiện nguyện
vọng của người nông dân mong cho mưa thuận gió hòa để công việc nhà nông được
thuận lợi, vụ mùa bội thu, người nông dân đỡ nhọc nhằn vất vả:
“Người ta đi cấy lấy công,
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.
Trông trời trông đất, trông mây,
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm.
Trông cho chăn cứng đá mềm,
Trời êm bể lặng mới yên tấm
lòng.”
Mở đầu bài ca dao ta có thể thấy được sự lo lắng của người nông dân khi mùa vụ
đang tới gần:
“Người ta đi cấy lấy công,
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.”
Người nông dân nghĩ sao nói vậy, thật giản dị, mộc mạc. Nhưng chính điều này lại tạo
nên sự cảm động chân thành, sâu sắc trong lòng người đọc. Nỗi băn khoăn lo lắng của
người nông dân quá lớn, như đúc lại thành khối nặng nề đè lên đôi vai gầy của họ, khiến
chúng ta không khỏi xót xa, thương cảm. Đi cấy lấy công đi cấy thuê cho người khác
để lấy tiền công. Cấy ít tiền ít, cấy nhiều tiền nhiều. Xong việc chẳng ràng buộc trách
nhiệm với chủ ruộng, vất vả cũng chỉ vất vả tấm thân. Còn mình thì cấy trên
ruộng mình. Sự trông mong, lo lắng nhiều bề cũng bắt nguồn từ đây. Tôi” “trông nhiều
bề” thể hiện sự lo lắng, lo toan nhiều mặt trong cuộc sống khác, thể hiện sự chu đáo,
con mắt nhìn xa trông rộng của một người hay lo toan việc nhà.
lẽ không bài ca dao nào có từ trông lặp lại nhiều đến vậy. Tuy lặp lại nhiều lần
Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi.”
Bài thơ “Cây dừa” được Trần Đăng Khoa sáng tác khi độ tuổi còn nhỏ nhưng qua
những tác giả nhỏ tuổi này gửi gắm ta thấy được đây một con người không chỉ
tình yêu thiên nhiên, quê hương còn cho thấy được sự quan sát sâu sắc, hiểu biết về
văn hóa, tính cách của con người Việt Nam. Dưới ngòi bút của Trần Đăng Khoa, cây dừa
như hiện thân cho con người Việt Nam với đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp: hào phóng,
thân thiện, nhân hậu, thích kết giao bạn; lam lũ, chịu khó; tình yêu quê hương đất
nước nồng nàn, luôn hiên ngang và dũng cảm…
nhưng vẫn thấy mơi mẻ và không nhàm chán. Nếu câu đầu từ trông mang ý nghĩa khái
quát gắn với nhiều bề, làm gợi lên hình ảnh người nông dân thấu đáo thì hai câu giữa
bài 7 từ trông gắn liền 7 từ đối tượng cụ thể khác nhau trong bối cảnh rộng lớn về c
không gian và thời gian:
“Trông trời trông đất, trông mây,
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông
đêm.
Điệp từ “trông” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần thể hiện sự lo lắng, mong mỏi trông chờ,
mưa nắng, thời tiết thể cho cây lúa của người nông dân bị chết bất cứ lúc nào, thể
hiện sự vất vả của nghề nông khi phải phụ thuộc số phận của mình vào thời tiết, thiên tai
thể giáng xuống bất kỳ lúc nào cướp đi công sức, sự hy vọng của người nông dân.
Toàn bội ăn cái mặc của gia đình đều trông cậy vào cây lúa, do vậy s lo lắng của
người nông dân càng tăng lên gấp bội.
Trông cho chăn cứng đá mềm,
Trời êm bể lặng mới yên tấm
lòng.”
“Chân cứng đã mềm” là một thành ngữ chỉ sức mạnh, ý chỉ của con người. Dù cho
khó khăn, vất vả, cực nhọc thì cũng sẽ cố gắng vượt qua. Chỉ trong hai câu ca dao nhưng
dùng đến hai thành ngữ, thể thấy rằng nỗi mong ước, khát vọng mưa thuận gió hòa,
thiên nhiên ủng hộ, thời tiết hòa thuận thì người nông dân mới có thể “yên tấm lòng”. Hai
câu ca dao thể hiện mong muốn của người nông dân được thời tiết an lành, phù hộ
cho công việc đồng áng của người dân. Người dân thì khỏe mạnh để thể chống lại sự
khắc nghiệt của thiên nhiên, thời tiết. Đó mong ước rất chính đáng, của những con
người làm nghề nông.
Thông qua bài ca dao, ta thấy để được hạt gạo điều chẳng dễ dàng, cả
một quá trình gian nan, vất vả của người nông dân. Qua đó, giúp ta thêm trân quý tấm
lòng và sự cần mẫn của người nông dân luôn chịu thương chịu khó.
CHỢ TẾT – ĐOÀN VĂN CỪ
Cứ mỗi dịp Tết đến xuân sang, trăm hoa đua nở, vạn vật đâm chồi như được tiếp thêm
sức sống mới. Người người, nhà nhà nức sắm sửa cây đào, y mai, gói những chiếc
bánh chưng xanh mướt bên bếp than hồng. Trẻ nhỏ vui ca, nô đùa háo hức chờ đợi những
bao đỏ thắm. Những hình ảnh đó chính nét văn hóa đẹp đẽ đáng được lưu giữ từ
bao đời nay. Nét đẹp đó cũng đã được gửi gắm vào thơ ca của các nhà thơ nổi tiếng.
Không thể không kể đến bài thơ “Chợ Tết” của Đoàn Văn Cừ.
“Chợ Tết” bài thơ lột tả được toàn cảnh không khí ngày xuân đón Tết của làng quê
Việt Nam bình dị nhưng chất chứa bao yêu thương chan hòa. Không khí Tết Xuân trong
bài thơ vừa mang nét cổ kính xa xưa, vừa mang nét hiện đại với nhiều hình ảnh, ca từ sắc
nét được thổi hồn sống động bởi tâm hồn thơ ca dạt dào sức sống.
Mở đầu bài thơ ta đã thấy được khung cảnh Tết nhộn nhịp vào buổi sáng tinh mơ khi bình
minh vừa ló dạng
Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi,
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh,
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh,
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết.
Một ngày mới bắt đầu với dải mây trắng đỏ, làn sương hồng rực bởi ánh mặt trời chiếu
rọi như những viên pha lấp lánh ôm lấy nóc nhà tranh. Con đường thôn quê uốn lượn
bên mép đồi như những dải lụa xanh đưa bước người cáp ấp nức, tưng bừng ra chợ
Tết. Tất cả những hình ảnh đó hiện lên bừng sáng, rực rỡ ánh mặt trời bởi nghệ thuật kết
hợp từ ngữ hài hòa, không kém phần đặc sắc.
Qua bức tranh thiên nhiên choáng ngợp, hình ảnh con người nổi bật với tinh thần tươi
mới, niềm vui, niềm hạnh phúc chào đón Xuân sang:
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon
Vài cụ già chống gậy bước lom khom
Cô yếm thăm che môi cười lặng lẽ
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau.
Chợ Xuân náo nhiệt, mỗi người một vẻ nhưng lại hòa quyện đến lạ thường. Những dòng
người nối hàng dài trên đồng cỏ xanh biếc, những bước chân “lon xon” của cậu áo đỏ
tâm trạng háo hức, vui mừng tíu tít chảy hội Xuân. Cụ già chống gậy “lom khom” hay
sự e thẹn của yếm thắm với nụ cười duyên dáng, em nép đầu bên yếm mẹ bỡ
ngỡ, e ngại lần đầu được đi chợ Xuân. Tất cả điều đó góp phần cho bức trnah màu Xuân
thêm sinh động. Tăng thêm phần dí dỏm, ngộ nghĩnh là hai hình ảnh người gánh lợn chạy
đi đầu và chú bò vàng đuổi theo sau. Ta cảm nhận được nhà thơ dường như cũng đang nở
nụ cười trước khung cảnh ngày Xuân tưng bừng, nhộn nhịp. Cảnh vật đen sen con người
khiến không khí chợ Tết quê hương vô cùng rực rỡ.
Dưới ánh nắng bình minh buổi sớm, mọi cảnh vật con người hiện lên thật tráng lệ với
dấu ấn thời gian:
Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh
Người mua bán ra vào đầy cổng chợ.
Từ giọt sương trắngrỏ” đầu cành đến tia nắng tía “nháy” hoài, núi “uốn” mình bởi màu
xanh biếc của rừng cây, dải đồi đỏ rực nhưu “thoa” son bởi ánh bình minh. Cảnh vật đó
được tác giả khéo léo nhân hóa mang đậm nét tình người. Thiên nhiên tươi đẹp chiếu rọi
lên những hoạt động của con người, đồ vật. Người mua bán tấp nập ra vào chợ, chú trâu
vờ ngủ nghe lỏm những câu chuyện bô, anh hàng tranh hăng hái quẩy đôi bồ để đem
đi bán, thầy khóa chăm chú lưng viết thơ Xuân, cụ đồ nho thể hiện tài viết câu đối đỏ.
Hình ảnh cụ tóc bạc trắng nhuốm màu thời gian trôi chính minh chứng cho thời
gian, dòng chảy của thời gian vẫn không ngừng chảy trôi nhưng con người chỉ sống
được một đời. Từ đó nói lên tâm đầy sâu lắng về con người hiền từ, nhân hậu. Đoàn
Văn Cừ sử dụng những câu từ giản dị để miêu tả phiên chợ sống động với các sản phẩm
đặc trưng, mang đậm bản sắc dân tộc Việt.
Bài thơ “Chợ Tết” của Đoàn Văn Cừ khắc họa thành công bức tranh dân gian đầy thơ
mộng, bình dị của chợ Xuân làng quê. Qua đó cũng thể hiện cuộc sống bình yên, tâm hồn
tươi mới của con người giữa bộn bề tấp nập. Đồng thời, đậm bản sắc văn hóa đẹp đẽ
của dân tộc, khát khao được hòa mình vào nét đẹp truyền thống đã bị phai nhạt dần
bởi nhịp sống hiện đại.
AI DẬY SỚM – VÕ QUẢNG
Nhà văn Quảng cây bút xuân sắc về văn học thiếu nhi. Ông rất nhiều tác phẩm
hay được các bạn trẻ đón nhận nồng nhiệt và đưa vào giảng dạy tiếng việt tiểu học. Trong
đó, tác phẩm “Ai dậy sớm” trong chương trình giảng dạy lớp 5 một trong những tác
phẩm tiêu biểu về văn chương của ông. Phân tích bài thơ ai dậy sớm cho thấy đây một
tác phẩm có màu sắc vui tươi, âm nhạc rộn rã, dễ thuộc rất hay. Tác phẩm cũng mang
tính nhân văn cao, giúp con người sống vui vẻ, hạnh phúc tạo động lực để sống giá trị
n.
Mở đầu bài thơ tác giả đã dùng các hình ảnh tính phỏng cao bằng những hình
ảnh đơn giản làm cho các bé thêm thích thú:
Ai dậy sớm
bước ra nhà
cau ra hoa
đang chờ đón.
Tác giả sdụng hình ảnh cau ra hoa như muốn gợi thêm cho các sự chào đón nhiệt
tình, không những vậy bằng mùi hương hoa lại tạo cho thêm yêu thiên nhiên, yêu
cuộc sống mới này.
Ai dậy sớm
đi ra đồng
cả vừng đông
đang chờ đón.
Tiếp theo ở đoạn thơ kế tiếp tác giả còn đưa buổi sáng bình minh lấp ló vào, bên cạnh đó
màu sáng của bầu trời tạo cho cảm giác thích thú hơn. Không chỉ vậy bình
minh này còn che lấp đi cái bóng đêm, cái u tối của những giấc mơ lạ.
Nói tiếp những cái niềm vui tươi sáng hơn qua những câu thơ cuối đây những ước
khát vọng của các bé. Tác giả sử dụng động từ chạy muốn nhắn gửi đến các phải
chạy đua cùng ước của mình không nên từ bỏ ước đó . Tác giả đây muốn
đưa các bé tới một niềm vui tươi sáng cùng nhưng điều ước nhỏ nhoi và thành hiện thực.
Ai dậy sớm
chạy lên đồi
cả đất trời
đang chờ đón.
Bên cạnh đó tác giả còn muốn các dậy để chào đón những điều kỳ lạ của cuộc sống
mới Không những vậy còn phần thưởng của người dậy sớm, của em dậy sớm
hương hoa, ánh bình minh, cả đất trời mênh mông buổi sáng đang chờ đón em. Chỉ
có những người dậy sớm, những người yêu cuộc sống và trân trọng đời sống mới có được
điều ấy.
Tác giả đã dùng nhiều hình ảnh đẹp để tạo nên một bức tranh muôn màu hấp dẫn các
bé. Và những hình ảnh đó về với tâm trí e tao cho thêm có động lực, sức sống mới với
ngày mai tươi sáng.
BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH – PHẠM TIẾN DUẬT
Tác giả Phạm Tiến Duật là một trong những nhà thơ trẻ tiêu biểu trong thời kháng
chiến chống Mỹ cứu nước. Ông có nhiều bài thơ viết về hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam qua
hình tượng của những gái thanh niên xung phong, những anh bộ đội trên tuyến đường
Trường Sơn. Tác phẩm "Bài thơ về tiểu đội xe không kính” một trong những sáng tác
để lại nhiều ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc.
Hình ảnh chiếc xe không kính độc đáo chân thực nhưng mới lạ được tác giả thể hiện qua
2 câu thơ đầu: