Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Khoa Kinh tế & Kinh doanh quốc tế TIỂU LUẬN
TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Đề tài : Phân biệt giữa ý thức và trí tuệ nhân tạo . Vai trò của trí tuệ nhân
tạo trong việc đẩy mạnh CNH- HĐH ở Việt Nam hiện nay.
Nhóm thực hiện : Nhóm 6
Lớp học phần : 2176MLNP0221
Giảng viên hướng dẫn:ThS Nguyễn Quỳnh Hương Hà Nội - năm 2021 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................2
NỘI DUNG...............................................................................................................3
CHƯƠNG 1: PHÂN BIỆT GIỮA Ý THỨC VÀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO................3
1.NGUỒN GỐC..................................................................................................3
2 .KHÁI NIỆM...................................................................................................5
3.BẢN CHẤT......................................................................................................6
CHƯƠNG 2. VAI TRÒ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG VIỆC ĐẨY MẠNH
CNH-HĐH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY..................................................................12
1.THỰC TRẠNG CNH-HĐH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY...............................12
1.1. Khái niệm CNH-HĐH..........................................................................12
1.2. Thực trạng CNH-HĐH ở nước ta hiện nay........................................12
2. VAI TRÒ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG VIỆC ĐẨY MẠNH CNH-
HĐH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY..............................................................................15
2.1. Đối với nền kinh tế................................................................................16
2.2. Đối với nền giáo dục.............................................................................19
2.3. Đối với ngân hàng ................................................................................23
2.4. Đối với y tế.............................................................................................28
2.5. Đối với ngành du lịch ...........................................................................32
KẾT LUẬN.............................................................................................................36
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................37 1 LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế của nước ta từ một điểm xuất phát thấp, tiềm lực kinh tế và kỹ
thuật yếu, nhưng trong điều kiện sự biến đổi khoa học- công nghệ trên thế giới lại
diễn ra rất nhanh, liệu ta có thể đạt được những thành công mong muốn trong việc
tạo ra nền khoa học- công nghệ đạt tiêu chuẩn quốc tế trong một thời gian ngắn
được hay không? Chúng ta cần phải làm gì để tránh được nguy cơ tụt hậu so với
các nước trong khu vực và trên thế giới? Hiện nay, trí tuệ con người ( ý thức) và trí
tuệ nhân tạo đang là 2 nhân tố được chú trọng và đầu tư trong công cuộc CNH- HĐH.
Ý thức là hình thức cao của sự phản ánh của thực tại khách quan, hình thức
mà riêng con người mới có. ý thức con người là cơ năng của cái “ khối vật chất đặc
biệt phức tạm mà người ta gọi là bộ óc con người”. Tác động của ý thức đối với
con người là vô cùng to lớn. Nó không những là kim chỉ nam cho hoạt động thực
tiễn mà con là động lực thực tiễn. Sự thành công, thất bại của thực tiễn, tác động
tích cực hay tiêu cực của ý thức đối với phát triển của tự nhiên, xã hội chủ yếu
thuốc vào vai trò chỉ đạo của ý thức mà biểu hiện ra là vai trò của khoa học văn hoá và tư tưỏng.
Chúng ta đang bước vào kỷ nguyên trong đó trí tuệ nhân tạo có những tác
động to lớn và sâu sắc đến đời sống hàng ngày. Ví dụ, thị giác máy tính và trí tuệ
nhân tạo lập kế hoạch tạo ra các trò chơi điện tử giờ đây trở thành một ngành công
nghiệp giải trí lớn hơn Hollywood. Học sâu là một hình thức học máy dựa trên các
lớp đại diện của biến số được xem như các mạng thần kinh, đã làm cho việc hiểu
lời nói trở thành thực tế trên điện thoại và trong căn bếp của chúng ta. Xử lý ngôn
ngữ tự nhiên cùng với lý giải và thể hiện tri thức đã cho phép một máy tính đánh
bại nhà vô địch Jeopardy và mang lại sức mạnh mới cho tìm kiếm Web. Dù các tiến
bộ trong trí tuệ nhân tạo chắp vá và không thể đoán trước, nhưng lĩnh vực này đã
có những bước tiến đầy ý nghĩa từ khi bắt đầu sáu mươi năm trước.
Kết hợp với những lí luận của bộ môn Triết học Mác-Lênin, bài tiểu luận của
em xin trình bày về chủ đề: “Phân biệt giữa ý thức và trí tuệ nhân tạo. Vai trò
của trí tuệ nhân tạo trong việc đẩy mạnh CNH-HĐH ở nước ta”.
Do khuôn khổ của bài viết có hạn nên em rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến khoa học của các thầy cô cũng như bạn đọc để bài viết này thêm phần hoàn thiện hơn. 2 NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: PHÂN BIỆT GIỮA Ý THỨC VÀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO. 1. NGUỒN GỐC Đặc điểm Ý thức Trí tuệ nhân tạo
Nguồn Nguồn gốc tự nhiên: Ý thức là - Năm :
1943 Hệ thống mạng gốc
một thuộc tính của vật chất có tổ
thần kinh (trí tuệ nhân tạo) đầu
chức cao là bộ óc người. Bộ não tiên được phát minh
người và sự phản ánh khách quan nhưng
không thể tạo ra kì tích
vào trong bộ não con người chính như
là nguồn gốc tự nhiên của ý thức. hiện nay. Bộ não người:
- 10/ 1950 : ý tưởng xây dựng
-Bộ não người là cơ quan vật chất
một chương trình AI xuất hiện của ý thức.
khi nhà bác học Alan Turing
- Ý thức là chức năng của bộ óc
xem xét vấn đề “liệu máy tính người. có khả năng suy nghĩ hay -
Ý thức phụ thuộc vào hoạt động
bộ óc người, do đó khi bộ óc bị tổn không?” . thương thì hoạt động ý thức sẽ - :
1956 Tại hội nghị do Marvin
không bình thường hoặc bị rối Minsky và John McCarthy tổ loạn.
chức tại Mỹ , tên gọi AI được
-Ý thức không thể diễn ra, tách rời
chính thức công nhận và được
hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người. dùng cho đến ngày nay.
- Chỉ có con người mới có ý thức,
không một kết cấu vật chất nào
khác, kể cả những con vật thông minh.
Sự tác động của thế giới khách quan:
- Phản ánh là thuộc tính chung, phổ
biến của mọi đối tượng vật chất 3 -
Thuộc tính này được biểu hiện ra
trong sự liên hệ, tác động qua lại
giữa các đối tượng vật chất với nhau.
- Phản ánh là sự tái tạo những đặc
điểm của một hệ thống vật chất này
ở hệ thống vật chất khác trong quá
trình tác động qua lại của chúng.
- Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc
vào cả hai vật – vật tác động và vật nhận tác động.
Nguồn gốc xã hội: ý thức là sản
phẩm của sự phát triển xã hội, nó
phụ thuộc và xã hội, và ngay từ
đầu đã mang tính chất xã hội. Lao động:
- Nhờ có lao động con người tác động
vào các đối tượng hiện thực, bắt
chúng phải bộc lộ những thuộc tính,
những kết cấu, những quy luật vận
động của mình thành những hiện
tượng nhất định và các hiện tượng
này tác động vào bộ óc người.
- Ý thức được hình thành chủ yếu là
do hoạt động của con người cải tạo
thế giới khách quan làm biến đổi thế giới đó.
- Con người có ý thức chính vì con
người chủ động tác động vào thế
giới thông qua hoạt động thực tiễn Trí tuệ nhân tạo:
để cải tạo thế giới, con người chỉ có Được
ý thức do có tác động vào thế giới hình thành dựa trên trí thông minh của con Ngôn ngữ:
người, là sản phẩm do con 4
- Không có hệ thống tín hiệu này – tức
người tạo ra để hỗ trợ con
ngôn ngữ , thì ý thức không thể tồn
người, giúp tự động hóa
tại và thể hiện được
các tác vụ cơ bản và nâng
Ý thức là khả năng bẩm sinh,
cao năng suất làm việc. Ý
nội tại của một con người. Khi
thức phát triển, ngày càng
con người chào đời, ý thức đã xâm nhập vào tầng sâu
được hình thành. Ý thức xuất
của thế giới hiện thực, gắn
hiện là kết quả của quá trình
nhận thức với cải tạo thế
tiến hóa lâu dài của tự nhiên,
giới. Ý thức nhân đôi thế
của lịch sử trái đất đồng thời là
giới trong tinh thần , nhờ
kết quả trực tiếp của thực tiễn
đó con người sáng tạo ra
xã hội- lịch sử con người, trong
các thế hệ “ người máy
đó nguồn gốc tự nhiên là điều thông minh” giúp con
kiện cần, nguồn gốc xã hội là
người khắc phục được
điều kiện đủ. Thực tiễn là động
những hạn chế của mình.
lực to lớn thúc đẩy ý thức hình thành và phát triển. 2 . KHÁI NIỆM Đặc điểm Ý thức Trí tuệ nhân tạo Khái
-Là một phạm trù được quyết định
- Trí tuệ nhân tạo hay trí thông niệm
với phạm trù vật chất , theo đó ý minh nhân tạo (AI) là trí thông
thức là sự phản ảnh thế giới vật minh được thể hiện bằng máy chất khách quan vào bộ óc con móc.
Là trí tuệ do người lập
người và có sự cải biến và sáng tạo trình tạo nên với mục tiêu giúp
.Ý thức có mối quan hệ biện chứng máy tính có thể tự động hóa các với vật chất. hành vi thông minh như con người.
- Là một ngành thuộc lĩnh vực 5
khoa học máy tính nghiên cứu
về lý thuyết ,ứng dụng của trí tuệ
Ý thức là đặc tính và sản phẩm nhân tạo.
của vật chất và cũng là thuộc
Trí tuệ nhân tạo là ngành
tính phản ánh của một dạng vật
khoa học ứng dụng việc tự
chất có tổ chức cao, đó là bộ động hóa của máy tính,
não người. Ý thức là sự phản
giúp máy tính có được trí
ánh sáng tạo những gì con
tuệ của con người như :
người đã tiếp thu trong quá
biết suy nghĩ và lập luận
trình quan hệ qua lại với thế
giải quyết vấn đề, biết
giới khách quan. Nhờ sự hỗ trợ
giao tiếp ngôn ngữ, tiếng
của ý thức, chúng ta có thể suy
nói, biết học và tự thích
nghĩ, học hỏi kinh nghiệm, hiểu nghi,..
được những vấn đề phức tạp,
giải quyết các phép toán, lưu
trữ thông tin, suy luận và đưa ra
quyết định và giao tiếp với đồng loại. 3. BẢN CHẤT Đặc điểm Ý thức Trí tuệ nhân tạo Bản
Ý thức là sự phản ánh, cái phản chất
Trí tuệ nhân tạo không có
ánh,còn vật chất là cái được phản
khả năng tự ý thức: ánh.
-Trí tuệ nhân tạo là loại trí tuệ
-Cái được phản ánh (tức vật chất) tồn
tại khách quan, bên ngoài và độc lập
thông minh biểu đạt các hành với cái phản ánh (tức ý thức). Ý
vi và mô phỏng cảm cảm xúc
thức là hình ảnh tinh thần của sự vật
thông qua các loại máy móc.
khách quan. Vì vậy, không thể đồng -AI phải được lập trình bởi
nhất hoặc tách rời ý thức với vật
con người mới có khả năng 6 chất. suy nghĩ và hành động.
Ý thức là sự phản ánh có tính chủ
-Là loại trí tuệ máy móc tự
động, năng động, sáng tạo.
động hóa, không có tư duy vì
-Trong quá trình lao động để cải tạo
vậy nó không có mục đích
thế giới khách quan, con người tác
riêng và mục đích duy nhất
động vào sự vật một cách có định
do con người tạo ra ban cho
hướng, chọn lọc, tùy theo nhu cầu
nó mà thôi. Chúng không biết
của mình (xây nhà, cày ruộng, đào
tư duy, không thể loại suy và
mương, xây cầu…). Chính vì thế, ý
không thể phân biệt dữ liệu
thức của con người là sự phản ánh
năng động, sáng tạo, có định hướng,
tốt – xấu, vô nghĩa- có nghĩa.
chọn lọc về hiện thực khách quan.
-Dù trí tuệ nhân tạo không thể
-Trên cơ sở những cái đã có, ý thức
nhận thức và tư duy nhưng
có thể tạo ra tri thức mới về sự vật,
chúng có thể xâu chuỗi các
có thể tưởng tượng ra cái không có
sự kiện để đưa ra kết quả
trong thực tế. Nó có thể tiên đoán,
tổng thể, phân tích và đưa ra
dự báo tương lai một cách tương đối quyết định phù hợp.
chính xác, hoặc có thể tạo ra những
ảo tưởng, huyền thoại. Thậm chí,
một số người còn có khả năng tiên
tri, ngoại cảm, thấu thị…
Trí tuệ nhân tạo không có
Ý thức là quá trình phản ánh đặc
biệt, là sự thống nhất của 3 mặt cảm xúc: -Trí tuệ nhân tạo không sau: có cảm xúc bẩm sinh như
-Một là, trao đổi thông tin giữa chủ con
thể (con người) và đối tượng phản
người để đưa ra các quyết
ánh (núi, sông,mưa,…). Sự trao đổi
định nhanh chóng về sự vật
này mang tính hai chiều, có định và hiện tượng.
hướng, chọn lọc các thông tin cần -Sự sáng tạo để đem đến cảm thiết.
nhận sâu sắc cho con người
-Hai là, con người mô hình hóa (tức là một trí thông minh
là vẽ lại, lắp ghép lại…) đối tượng khó trong tư duy dưới dạng hình ảnh
khăn mà bất cứ một máy móc 7
tinh thần. Thực chất đây là quá trình
tự động hóa nào cũng không
ý thức sáng tạo lại hiện thực, là sự thể “ bắt chước”.
mã hóa các đối tượng vật chất thành
các ý tưởng tinh thần phi vật chất.
-Trí tuệ nhân tạo không bao
giờ có khả năng vô hạn và
-Ba là, chủ thể chuyển mô hình từ
trong óc hiện ra hiện htuwjc khách
không thể có những tình cảm
quan .Đây là quá trình hiện thực hóa
phong phú như con người
tư tưởng , thông qua hoạt động thực
Để trí tuệ nhân tạo hoạt động
tiễn để biến quan niệm của mình trong lĩnh vực nào, chúng
thành dạng vật chất trong cuộc
phải học rồi mới biết xem sống.
xét, phân tích tình huống.
Ý thức là một hiện tượng xã hội
Trí tuệ nhân tạo thực ra là
và mang bản chất xã hội.
một quá trình vật lý do con
- Chỉ khi con người xuất hiện, tiến người tạo ra:
hành hoạt động thực tiễn để cải tạo -Hệ thống thao tác của “người
thế giới khách quan theo mục đích
máy thông minh” được con của mình, ý thức mới xuất hiện.
người lập trình phỏng theo
Như thế, ý thức không phải là một
một số thao tác tư duy của
hiện tượng tự nhiên thuần túy, mà
bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử – xã con người.
hội, phản ánh những quan hệ xã hội -Máy móc chỉ là những kết khách quan.
cấu do con người tạo ra và
-Ý thức bị chi phối không chỉ bởi các
không thể nào sáng tạo lại
quy luật tự nhiên, mà chủ yếu bởi
hiện thực dưới tinh thần trong
các quy luật xã hội. Ở những thời bản thân nó.
đại khác nhau, thậm chí trong cùng
một thời đại, ý thức về cùng một sự -Trí tuệ nhân tạo có khả năng
vật, hiện tượng có thể khác nhau ở
học tập về một lĩnh vực nào các chủ thể khác nhau.
đó, thông thạo và sẽ khiến nó trở nên linh hoạt hơn.
- Nhờ có trí tuệ con người đã
tạo ra trí tuệ AI - hoạt động
hiệu quả và mang đến những 8
thay đổi mạnh mẽ và sâu sắc
cho thế giới, hiện thực hóa những mong muốn của con người. Tính
-Với trí tuệ con người chúng ta có
-Trí tuệ nhân tạo lại sử dụng vạn
thể học cách làm chủ vô vàn các kỹ
hàng kilowats năng lượng để năng
năng khác nhau trong cuộc đời. thực hiện các tác vụ.
-Con người có thể làm việc với nhiều
nhiệm vụ và có thể thay đổi liên tục. Khả
-Trí tuệ nhân tạo thì cần một năng
lượng lớn thời gian để dạy đa
máy móc học một tác vụ nào nhiệm đó.
-Trí tuệ con người có thể học cách ra
-Trí tuệ nhân tạo thì ngay cả Khả
quyết định từ kinh nghiệm.
những phát minh tiên tiến năng
nhất cũng không thể so sánh ra
được khả năng quyết định quyết định của một trẻ em
- Trí tuệ con người ở trạng thái
Trạng Analogue - Trí tuệ nhân tạo ở trạng thái thái Digital -Con người sử dụng ghi nhớ nội Sử
-Robot sử dụng các hướng dẫn dung và vùng suy nghĩ.
tích hợp, được thiết kế dụng bởi bộ con người. nhớ Cách
-Trí tuệ con người sáng tạo hơn trí
- Vẫn chưa thể tạo ra một trí thức tuệ nhân tạo. tuệ vượt trội sáng tạo Tốc -Con người
không thể “đánh bại”
-Tốc độ xử lý dữ liệu của máy độ xử
những máy móc, công cụ áp dụng móc nhanh hơn con người lý
trí tuệ nhân tạo về mặt tốc độ công 9 việc Độ
-Trong quá trình xử lý công việc,
-Khi xử lý công việc, trí tuệ chính chúng ta
không thể đảm bảo độ
nhân tạo thường hoạt động xác
chính xác lên đến 100% mà không
dựa trên những cơ chế thiết
phạm phải những sai sót nhỏ. Tính
lập sẵn. Vì vậy dộ chính xác
tuyệt đối vượt quá tầm kiểm soát của chúng sẽ cao hơn con của con người. người Năng
-Bộ não con người thường tiêu thụ -Những máy móc, công cụ lượng
khoảng 25 watt năng lượng
hiện đại thường chỉ tiêu thụ 2 tiêu watt năng lượng thụ Tính -Tư duy của con người cực kì đa
-Tính rập khuôn, khuôn khổ là linh
nhiệm. Chúng ta có thể đưa ra phán
đặc trưng cơ bản của trí tuệ hoạt
đoán, suy luận một cách linh hoạt nhân tạ o. Chúng ít hoặc
và thực hiện nhiều nhiệm vụ cùng
không có khả năng thực hiện lúc.
nhiều nhiệm vụ khác nhau cùng lúc
Tương -Con người là một thực thể của tự
-Làm việc độc lập, không có tác với
nhiên- xã hội có ý thức và có khả
khả năng tương tác hoặc biểu xã hội
năng tương tác với xã hội như: làm thị tín hiệu xã hội việc nhóm, trao đổi, hợp
tác,..Những hoạt động này thường
được thực hiện dựa trên cảm xúc,
nhận thức, suy luận và sự nhạy cảm trước đồng loại. Khả
-Con người có khả năng kết nối với
-Trí tuệ nhân tạo không có tư năng
những cảm xúc trừu tượng như: duy và cũng không có cảm kết
đam mê, khả năng nhận biết và
xúc, chúng chỉ thực hiện các nối
động lực phát triển bản thân. Yếu tố
nhiệm vụ do con người lập 10 với
này giúp con người chinh phục
trình sẵn phỏng theo một số những
được những sứ mệnh khó khăn và thao tác tư duy của con cảm
phức tạp trong hoạt động cải tạo thế người. xúc tư giới duy, trừu tượng
Ý thức là hình thức phản ánh cao
Trí thông minh nhân tạo dù
nhất chỉ có ở bộ óc con người về
có hiện đại đến đâu chăng
hiện thực khách quan trên cơ sở
nữa cũng không hoàn thiện
thực tiễn xã hội- lịch sử, nói
như bộ óc con người. Trái với ý thức con người,
cách khác, chỉ có con người mới trí
có ý thức. Sự hoàn thiện trong
thông minh nhân tạo chỉ là
cỗ máy không hồn, không có
cấu trúc vật chất của bộ óc con
khả năng nhận thức và cũng
người và hoạt động thực tiễn xã
không thể sáng tạo lại hiện
hội phong phú đã tạo ra những
thực dưới dạng tinh thần
tiền đề vật chất đầy đủ cho đặc trong bản thân nó. Chúng
tính phản ánh- ý thức người phát
chỉ có thể thực hiện các
triển. Sự phản ánh sáng tạo, tái
nhiệm vụ do con người lập
tạo lại hiện thực chỉ có ở ý thức
trình sẵn phỏng theo một số
con người, song đây là sự phản thao tác tư duy của con
ánh đặc biệt, gắn liền với thực
người.Trí tuệ nhân tạo là
tiễn sinh động cải tạo thế giới
một sản phẩm đại diện cho sức sáng tạo của ý
khách quan theo nhu cầu của con thức người.
trong tinh thần và sức sáng
tạo của con người trong thực tiễn.
CHƯƠNG 2. VAI TRÒ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG VIỆC ĐẨY
MẠNH CNH-HĐH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 11
1. THỰC TRẠNG CNH-HĐH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1. Khái niệm CNH-HĐH
Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động
sản xuất từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách
phổ biến sức lao động dựa trên sự phát triển của công nghiệp cơ khí.
Hiện đại hóa là quá trình ứng dụng và trang bị những thành tựu khoa học
và công nghệ tiên tiến, hiện đại vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ và quản lí kinh tế - xã hội.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các
hoạt động kinh tế và quản lí kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là
chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ,
phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
1.2 Thực trạng CNH-HĐH ở nước ta hiện nay
Trong nhiều thập niên qua, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang là xu hướng phát
triển chung của nhiều nước trên thế giới, kể cả ở Viê ‚t Nam. Đối với nước ta, quá
trình đổi mới, thực hiện các chủ trương, đường lối về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đã góp phần quan trọng trong sự phát triển, góp phần đưa đất nước thoát khỏi nạn
nghèo và lạc hậu, đồng thời nâng cao mức sống của nhân dân. Đánh giá chung về
thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, ta có thể khái quát được một số nét như sau:
Thành tựu :
Nhờ thực hiện nhất quán đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa trên nền tảng khoa học - công nghệ, trong những năm qua,
đất nước ta đã đạt được mô ‚t số thành tựu to lớn:
Cơ cấu các ngành công nghiệp có sự chuyển biến tích cực, tăng tỷ trọng
của công nghiệp chế biến, chế tạo và giảm tỷ trọng của ngành khai
khoáng, phù hợp với định hướng tái cơ cấu ngành. Tỷ trọng GDP của
nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng từ 14,6% bình quân giai
đoạn 2011 - 2015 lên 16,2% năm 2016, 17,4% năm 2017 và 18,3% ước
cho năm 2018; của nhóm ngành khai khoáng giảm từ 8,8% bình quân 12
giai đoạn 2011 - 2015 xuống 7,6% năm 2016, 6,6% năm 2017 và 6% ước cho năm 2018.
Gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động đã có
sự chuyển đổi tích cực nhằm phục vụ tốt hơn các mục tiêu CNH, HĐH.
Nếu như ở năm 2015, cơ cấu lao động khu vực nông , lâm nghiệp và
thủy sản chiếm tới 45,73%; khu vực công nghiệp, khai khoáng, xây
dựng chiếm 24,19%; khu vực dịch vụ chiếm 30,08%, thì đến năm 2020
tỷ trọng lao động trong các khu vực này lại lần lượt là: 34,78%; 32,65%; 32,57%.
Sản xuất công nghiệp liên tục tăng trưởng với tốc độ khá cao, là ngành
có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các ngành kinh tế quốc dân với
đóng góp xấp xỉ 30% GDP. Trong giai đoạn 2006 - 2017, tổng giá trị sản
xuất công nghiệp tăng liên tục (tăng bình quân 6,79%/năm). Năm 2018,
trong mức tăng trưởng của toàn nền kinh tế, khu vực công nghiệp tăng
8,79%, đóng góp 2,85 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng
thêm của toàn nền kinh tế. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước
tính tăng 10,2%, vượt mức chỉ tiêu kế hoạch đã được đặt ra từ đầu năm
trong năm 2018 (tăng 9%). Đồng thời, công nghiê ‚p đã trở thành ngành
mang lại giá trị xuất khẩu chủ lực của đất nước, góp phần đưa Việt Nam
lên vị trí thứ 22 trong số các quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới vào năm 2018
Các ngành điện tử, dệt may, da - giày, chế biến thực phẩm là những
ngành đã có sự phát triển vượt bậc. Đồng thời, số lượng doanh nghiệp có
trình độ công nghệ trung bình và trình độ công nghệ cao đang trên đà
tăng. Hơn hết, đã có một số doanh nghiệp có quy mô lớn và có khả năng
cạnh tranh trên thị trường nội địa và quốc tế. Các doanh nghiệp có thể kể
đến là Tập đoàn VinGroup, Trường Hải, Thành Công; trong lĩnh vực sản
xuất chế biến sữa và thực phẩm là Vinamilk, TH; trong lĩnh vực sắt thép,
kim khí là Tập đoàn Hoa Sen, Tập đoàn Hòa Phát, Công ty TNHH Hòa
Bình Minh, Công ty thép Pomina, Công ty CP thép Nam Kim. 13
Phát triển công nghiệp đã góp phần tích cực trong giải quyết việc làm và
nâng cao đời sống của nhân dân. Bình quân mỗi năm, ngành công
nghiệp tạo thêm khoảng 300.000 việc làm mới, góp phần giảm đi tỉ lê ‚
thất nghiê ‚p, kéo theo đó là tỉ lê ‚đói nghèo ở nhân dân cũng được phần nào giảm sút.
Hạn chế :
Bên cạnh các thành tựu trên, vẫn còn tồn tại mô ‚t số hạn chế mà cần được
phải khắc phục để nước ta có thể đẩy nhanh tốc đô ‚ phát triển, đi đến hoàn
thiê ‚n quá trình CNH, HĐH:
Tốc độ tăng trưởng công nghiệp có xu hướng tăng song vẫn chưa cao so
với yêu cầu công nghiệp hóa. Trong nhiều năm qua, tỷ trọng của công
nghiệp trong GDP thay đổi không lớn. Tốc độ tăng trưởng vẫn còn thấp
so với tiềm năng đang có và còn thấp hơn nhiều nước trong khu vực thời
kỳ đầu công nghiệp hóa. Vì vâ ‚y, mục tiêu thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa theo hướng rút ngắn đứng trước nhiều thách thức cần phải vượt qua.
Các ngành công nghiệp được định hướng là công nghiệp ưu tiên của Việt
Nam trong thời kì Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại hóa (gồm có điện tử -
công nghệ thông tin, chế biến nông - thủy sản, đóng tàu, máy nông
nghiệp, môi trường - tiết kiệm năng lượng, và sản xuất ô tô/ phụ tùng ô
tô) chưa thực sự đạt được mục tiêu dẫn đầu đã đề ra. Điều này là do các
ngành công nghiệp chưa tận dụng triệt để lợi thế về công nghệ và nguồn
lực đầu tư nước ngoài để tạo tính lan toả, thúc đẩy sản xuất trong nước
phát triển tương xứng, cũng như là chưa được đầu tư và phát triển hiệu quả.
Viê ‚ c nghiên cứu khoa học, kĩ thuâ ‚t còn chưa thực sự phát triển, các sản
phẩm có hàm lượng tri thức cao còn ít. Năng lực khoa học và công nghệ
quốc gia còn yếu; kết quả ứng dụng những công trình, bằng sáng chế
phát minh khoa học còn ít và thấp so với các nước; thị trường KH&CN
(khoa học và công nghệ) chậm được hình thành. Việt Nam hiện nay chủ
yếu chỉ có thể tham gia vào khâu gia công, lắp ráp cho các chuỗi sản xuất 14
sản phẩm quốc tế do có nguồn nhân công rẻ và chuyên môn thấp. Ngược
lại, phần lớn các sản phẩm công nghiệp do Việt Nam sản xuất đều có yếu
tố công nghệ thấp, ngoại trừ hàng điện tử đến từ khu vực FDI (các khu
công nghiệp vốn nước ngoài và do các doanh nghiệp nước ngoài nắm giữ).
Phát triển công nghiệp gắn kết chưa chặt chẽ với các ngành kinh tế khác,
đặc biệt là nông nghiệp. Với thế mạnh là một nước nông nghiệp, công
nghiệp Việt Nam có thể được hưởng lợi ích về chi phí đầu vào cho các
ngành như chế biến công nghiệp (chế biến nông, lâm, thủy sản); ngược
lại, công nghiệp cung cấp lợi thế gia tăng sản xuất cho các ngành trồng
trọt, chăn nuôi nông nghiệp Việt Nam. Dù có mối tương quan và quan hệ
cộng sinh bền vững, tuy nhiên, các định hướng liên kết giữa công nghiệp
và các ngành kinh tế khác, đặc biệt là nông nghiệp, còn thiếu chặt chẽ và
gây lãng phí tài nguyên, đầu tư của Chính phủ. Cụ thể, chỉ số ICOR (Chỉ
số hiê ‚u quả vốn đầu tư – Trong đó chỉ số thấp tức là đầu tư có hiê ‚u quả
và ngược lại ) ngày càng cao, cao hơn nhiều so với các nước trong khu
vực ở vào thời điểm có trình độ phát triển như nước ta.
2. VAI TRÒ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG VIỆC ĐẨY MẠNH CNH-HĐH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang đi vào cuộc sống một cách mạnh mẽ, thay thế
nhiều công việc thủ công, tốn sức lao động. Trên thế giới, các cường quốc
đều xây dựng chiến lược phát triển riêng cho AI, lấy công nghệ AI làm cốt
lõi cho sự tăng tốc của nền kinh tế. Tại Việt Nam, Chính phủ xác định công
nghệ AI là sự đột phá, mũi nhọn cần được triển khai nghiên cứu : kinh tế ,
giáo dục, y tế , du lịch,... Nhờ thực hiện nhất quán đường lối đổi mới, đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học - công nghệ,
trong những năm qua, đất nước ta đã đạt được thành tựu to lớn.
5 lĩnh vực tiêu biểu mà trí tuệ nhân tạo có vai trò lớn trong việc đẩy mạnh
CNH-HĐH ở nước ta hiện nay :
Đối với nền kinh tế.
Đối với nền giáo dục. Đối với ngân hàng. 15 Đối với y tế. Đối với du lịch.
2.1. Đối với nền kinh tế.
Vai trò của trí tuệ nhân tạo đới với nền kinh tế.
Xuất hiện từ những năm 1950, hiện nay trí tuệ nhân tạo (AI) gần như ảnh
hưởng đến tất cả lĩnh vực. Và đương nhiên chúng ta không thể bỏ qua ảnh
hưởng của AI đối với nền kinh tế. Năm 2020 là một năm đầy biến động bởi
sự xuất hiện của Coronavirus. Sự xuất hiện bất ngờ của đại dịch đã đẩy nền
kinh tế gần như lâm vào khủng hoảng. Hàng trăm nhà máy, xí nghiệp đóng
cửa, hàng triệu người thất nghiệp. Từng cú suy thoái va vào nền kinh tế.Tuy
vậy, con người vẫn phải học cách sống chung với đại dịch. Lúc này đây,
chúng ta càng thấy được sự quan trọng của trí tuệ nhân tạo (AI). Làn sóng
mạnh mẽ của AI đã vươn ra toàn thế giới cũng như trên đất nước Việt Nam chúng ta.
AI hữu ích nhất trong việc tạo ra sự tăng trưởng kinh tế theo cách mà động
cơ hơi nước và chip máy tính đã làm được trong các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây.
Trí tuệ nhân tạo có thể thay thế con người trong sản xuất, kinh doanh. Nhờ
thế mà chúng ta có thể thực hiện đầy đủ các quy định của nhà nước trong
công tác phòng tránh dịch bệnh mà không cần phải ra ngoài để sản xuất , kinh doanh…
Văn minh nhân loại đang phát triển, nền kinh tế không thể thụt lùi. Vì thế,
ứng dụng AI vào phát triển kinh tế là một điều hết sức cần thiết. Tại Việt Nam :
oKhông chỉ các tập đoàn lớn chạy đua AI, nhiều startup Việt hoặc có người
Việt Nam sáng lập cũng theo đuổi lĩnh vực này. Một số đã ghi dấu ở thị
trường quốc tế như ELSA Speak hay Harrison-AI. Dù giảm mạnh so với
năm trước đó do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, số vốn đầu tư vào
các startup công nghệ Việt Nam trong năm ngoái vẫn đạt hơn 451 triệu
USD, (theo “Báo cáo đổi mới sáng tạo và đầu tư công nghệ Việt Nam 2020”).
oCùng với việc đầu tư phát triển công nghệ AI của các tập đoàn lớn như
FPT, Viettel, VNPT, Vingroup, nhiều chuyên gia AI giỏi của Việt Nam
tại nước ngoài đã quay trở về nước. 16
o Theo một dự báo: “AI có thể đóng góp 12% cho GDP của Việt Nam vào
năm 2030”- vị chuyên gia của Cục Tin học hóa nói.
Ưu điểm của trí tuệ nhân tạo đối với nền kinh tế .
Mọi giao dịch đều tự động hóa :
oNếu lúc trước, bạn muốn mua một vật dụng cho gia đình thì bạn phải ra
chợ để mua và trả tiền. Nhưng giờ, chỉ cần một cú nhấp chuột bạn đã có
thể “mua cả thế giới”.
oViệc mua và thanh toán đều được diễn ra một cách tự động. Trí tuệ nhân
tạo AI sẽ cho người bán biết thông tin của bạn và bạn chỉ cần đợi đồ về tay mình.
Dễ dàng tiếp cận khách hàng :
oMột doanh nghiệp muốn gia tăng doanh thu thì không thể chào mời từng
khách hàng. Họ cần một công nghệ giúp họ tìm kiếm và tiếp cận khách
hàng. Công nghệ đó chính là AI. Trí tuệ nhân tạo có thể giúp doanh
nghiệp xác định được đối tượng khách hàng tiềm năng. Sau đó tiếp cận họ
và các giao dịch được diễn ra như vậy.
Nắm bắt được số liệu một cách chi tiết, cụ thể :
oNhờ có Artificial Intelligence, các doanh nghiệp không cần thống kê số
liệu bằng phương pháp truyền thống là nhập từng dữ liệu vào máy tính.
Mà nó đã được tự động hóa. Mọi giao dịch, doanh thu, lợi nhuận đều
được thống kê rõ ràng và chi tiết.
Sản xuất nhanh chóng và đảm bảo :
oTrí tuệ nhân tạo có khả năng điều khiển mọi hoạt động thay cho con
người. Máy móc không biết mệt mỏi, vì thế năng suất tăng nhanh và chất
lượng thì tốt hơn so với phương pháp thủ công.
oCó thể thấy, trí tuệ nhân tạo (AI) có rất nhiều lợi ích đối với nền kinh tế.
Từ những giao dịch chứng khoán tỷ đô cho nên những khâu sản xuất
đóng hàng nhỏ nhất, Artificial Intelligence đều có thể làm được.
Nhược điểm của trí tuệ nhân tạo đối với nền kinh tế : Mọi thứ luôn tồn tại
song song hai mặt, có lợi và có hại. Chúng ta không thể vì những lợi ích của
AI mà quên mất mặt hại của nó.
Vấn đề bảo mật thông tin và lừa đảo: 17
oHiện nay tỉ lệ tội phạm công nghệ cao đang có xu hướng tăng vọt. Hơn
25% tin tặc nhắm vào các ngân hàng và các tổ chức tài chính lớn. Hằng
năm số lượng thẻ tín dụng bị xâm phạm tăng lên 212%, tăng 129% lượng
thông tin bị rò rỉ. Và các phần mềm độc hại tràn lan trên thị trường lên tới 102%.
oNhững số liệu này đã cho thấy thất thoát hàng tỷ đô mà nền kinh tế toàn
cầu đang gánh chịu. Vấn đề bảo mật chính là một trong những thách thức lớn nhất của AI.
Tiêu thụ nhiều nguồn năng lượng.
Thất nghiệp và sự phân hóa giàu nghèo :
oTheo xu hướng hiện nay, những ai nắm bắt nền công nghệ trí tuệ nhân tạo
AI càng sớm thì càng thu được những lợi ích khổng lồ.
oTrí tuệ nhân tạo sẽ loại bỏ các công việc chân tay thủ công của các ngành
công nghiệp, và cả nông nghiệp. Tỉ lệ người ít tri thức thất nghiệp tăng có
thể dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng như: nghèo đói, bệnh tật, tệ nạn xã hội,…
Từ đó, chúng ta có thể dễ dàng nhìn ra được phân hóa giàu nghèo giữa các
quốc gia hay các tầng lớp trong xã hội ngày càng rõ rệt.
Không có sáng tạo ban đầu :
oSáng tạo hay trí tưởng tượng không phải là sở trường của trí tuệ nhân
tạo.Con người là trí thức với độ nhạy cảm cao. Suy nghĩ của con người
được hướng dẫn bởi những cảm xúc được lập trình sẵn bằng máy móc .
Các khả năng vốn có của con người khó có thể được mở rộng.
Kết luận :
Trí tuệ nhân tạo (AI) đem đến cho nền kinh tế nhiều lợi ích nhưng kèm
theo đó là những rủi ro khôn lường. Vì vậy, chúng ta cần có những biện
pháp để hạn chế những tác hại của công nghệ này đối với nền kinh tế toàn cầu trong tương lai.
Để phát triển AI, trước tiên Việt Nam phải có bước đi phù hợp trong đào
tạo nguồn nhân lực cả bề rộng và chiều sâu. Câu chuyện đào tạo đòi hỏi
sự hợp tác của Bộ GD&ĐT, Bộ KH&CN, Bộ TT&TT và Bộ LĐTB&XH
dưới sự điều hành của Nhà nước và Chiến lược AI.
2.2. Đối với nền giáo dục. 18
AI – trí tuệ nhân tạo ngày càng phát triển nhanh chóng. Nó không còn là một lĩnh
vực riêng lẻ, AI đã có rất nhiều góp sức vào các lĩnh vực khác. Trong đó, không
thể không nhắc đến sự thay đổi mà AI đã tạo ra cho ngành giáo dục.
Chắc hẳn ít người trong chúng ta biết đến thuật ngữ AIED. Nó là viết tắt của từ
Artificial Intelligence in Education. Hay nghĩa là Trí tuệ nhân tạo trong ngành giáo
dục. Ứng dụng của AI với thế giới là điều mà ai cũng đã biết. Vậy trí tuệ nhân tạo
AI có thể làm được những gì cho lĩnh vực giáo dục?
Vai trò của trí tuệ nhân tạo đối với nền giáo dục :
Tự động hóa các hoạt động giáo dục :
oỞ những trường học việc chấm điểm lấy đi một khoảng thời gian đáng kể
trong khi thời gian đó có thể được sử dụng để trao đổi với học sinh, chuẩn
bị trang bị lớp học hay các công việc khác phục vụ thiết yếu cho học tập.
Giờ đây ứng dụng AI trong việc chấm điểm các bài thi trắc nghiệm không còn là xa vời.
oTại Việt Nam : Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng (TP.HCM) đã áp dụng
AI vào việc nhận diện khuôn mặt, giọng nói của sinh viên trong công tác
điểm danh. Trường Đại học FPT (TP.HCM) cũng đưa AI vào quy trình
quản lý sinh viên tại trường và tại kí túc xá với thao tác nhận diện khuôn
mặt. Tương tự tại trường Cao đẳng thực hành FPT Polytechnic (Hà Nội)
cũng thực hiện điểm danh bằng nhận diện khuôn mặt, sinh viên chỉ mất 10s
đứng trước thiết bị quét, hệ thống sẽ tự động ghi nhớ các góc khuôn mặt và
cập nhật các dữ liệu về bạn.
Phần mềm giáo dục được điều chỉnh theo nhu cầu học sinh :
oTất cả các cấp bậc học tập với một con người, từ mẫu giáo đến sau đại học,
trí thông minh nhân tạo đều tác động đến giáo dục thông qua các mức học
tập cá nhân hóa cao hơn. Hệ thống AI đáp ứng nhu cầu của học sinh, tập
trung vào các chủ đề, lặp lại những điều học sinh chưa nắm vững, học sinh
có thể học tập với tốc độ của riêng mình.
oHình thức giáo dục tùy chỉnh là giải pháp hỗ trợ giúp học sinh ở các cấp độ
khác nhau có thể học tập cùng nhau trong một lớp học. Học tập thích ứng
có tác dụng lớn đến giáo dục toàn quốc.
Phát hiện những điểm cần cải thiện trong các khóa học.
oGiáo viên nhiều khi có thể chưa nhận thấy được khoảng trống trong các bài
giảng và tài liệu giáo dục. Trí tuệ nhân tạo giúp ta giải quyết vấn đề đó. Ta 19