
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI Phan
Thị Mai Hương
GIÁO TRÌNH
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRONG
TÂM LÝ HỌC
Hà Nội 12 – 2013
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
TRONG TÂM LÝ HỌC

Phương pháp nghiên cứu trong Tâm lý học
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu
Phần 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU TRONG TÂM LÝ HỌC
Chương 1: Tổng quan về phương pháp luận nghiên cứu trong
tâm lý học
1.1 Nguyên tắc phương pháp luận trong nghiên cứu tâm lý học
1.2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu của tâm lý học
1.3 Phương pháp nghiên cứu trong tâm lý học
1.4 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu tâm lý học
Chương 2: Qui trình thực hiện nghiên cứu tâm lý học
2.1 Tên đề tài
2.2 Câu hỏi nghiên cứu
2.3 Tổng quan tài liệu
2.4 Khung lý thuyết
2.5 Giả thuyết nghiên cứu
2.6 Thiết kế nghiên cứu
2.7 Thu thập thông tin
2.8 Xử lý thông tin
2.9 Viết báo cáo
2.10 Công bố kết quả nghiên cứu
Chương 3: Đo lường trong tâm lý học
3.1 Đánh giá và đo lường trong nghiên cứu tâm lý học
3.2 Thang đo
3.3 Biến số
3.4 Độ tin cậy và độ hiệu lực trong đo lường
Phần 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRONG TÂM LÝ
HỌC
Chương 4: Quan sát
4.1 Khái niệm
4.2 Các loại hình quan sát
4.3 Các chiến lược quan sát
4.4 Các kỹ thuật thực hiện quan sát
4.5 Báo cáo kết quả quan sát
4.6 Độ tin cậy và độ hiệu lực của phương pháp quan sát
4.7 Ưu điểm và hạn chế
Chương 5: Phỏng vấn
5.1 Khái niệm
5.2 Mục đích sử dụng thông tin phỏng vấn
5.3 Phân loại phỏng vấn
2

Phan Thị Mai Hương
5.4 Quá trình phỏng vấn
5.5 Đặt câu hỏi trong phỏng vấn
5.6 Ưu điểm và hạn chế
Chương 6: Nghiên cứu trường hợp
6.1 Khái niệm
6.2 Phân loại nghiên cứu trường hợp
6.3 Qui trình nghiên cứu trường hợp
6.4 Chọn mẫu trong nghiên cứu trường hợp
6.5 Các nguồn thông tin trong nghiên cứu trường hợp
6.6 Các thông tin cần thu thập trong nghiên cứu trường hợp
6.7 Phân tích thông tin
6.8 Viết báo cáo ca
6.9 Ưu điểm và hạn chế
6.10 Giới thiệu phương pháp phân tích câu chuyện cuộc đời
Chương 7: Khảo sát bằng bảng hỏi
7.1 Khái niệm
7.2 Các hình thức khảo sát
7.3 Chọn mẫu khảo sát
7.4 Xây dựng bảng hỏi
7.5 Các dạng câu hỏi
7.6 Những yếu tố kỹ thuật
7.7 Thử nghiệm bảng hỏi
Chương 8: Trắc nghiệm
8.1 Khái niệm
8.2 Đặc điểm của trắc nghiệm
8.3 Các bộ phận của trắc nghiệm
8.4 Phân loại trắc nghiệm
8.5 Xây dựng trắc nghiệm
8.6 Thích nghi và chuẩn hóa trắc nghiệm
8.7 Giới thiệu về một số trắc nghiệm tâm lý
Chương 9: Thực nghiệm
9.1 Khái niệm
9.2 Các yếu tố của thực nghiệm
9.3 Các dạng thực nghiệm
9.4 Qui trình tiến hành thực nghiệm
9.5 Các thiết kế thực nghiệm
9.6 Viết báo cáo thực nghiệm
9.7 Giới thiệu một số thực nghiệm tâm lý học nổi tiếng
Tài liệu tham khảo
3

Phương pháp nghiên cứu trong Tâm lý học
Phụ lục
Phụ lục 1: Bản dịch “Câu chuyện cuộc đời, thuyết đạo đức và
hành vi: sự chú giải kinh thánh của xã hội”
Phụ lục 2: Một số công thức ước tính cỡ mẫu
LỜI NÓI ĐẦU
Tâm lý học là một ngành khoa học còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Các cơ
sở đào tạo về tâm lý học như một khoa học độc lập ở nước ta mới có lịch sử hình
thành khoảng 20 năm, một thời gian còn khá ngắn ngủi cho sự phát triển một
ngành khoa học.
Để khoa học tâm lý phát triển, phương pháp nghiên cứu là một cấu thành
quan trọng và không thể thiếu. Nó giúp cho quá trình nhận thức về các hiện
tượng tâm lý, vốn rất ẩn trong tâm trí con người, trở nên khách quan.
Trong khi những giáo trình về phương pháp nghiên cứu tâm lý học còn
xuất hiện khá ít ở nước ta, thì đây là cuốn giáo trình giúp người học, và cả những
người mới bước chân vào công tác nghiên cứu tâm lý học nắm được cách thức
tiến hành một nghiên cứu, hướng dẫn họ cách áp dụng phương pháp khoa học
vào nhiệm vụ nghiên cứu của mình.
Phương pháp nghiên cứu tâm lý học không tồn tại độc lập mà có sự giao
thoa với phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội nói chung. Người đọc có thể
tìm thấy ở đây những điểm chung với các phương pháp nghiên cứu của các
ngành khoa học xã hội khác, nhưng cũng có thể nhận ra những nét đặc thù riêng
của khoa học tâm lý.
Cuốn giáo trình này này chủ yếu phục vụ môn học “Phương pháp nghiên
cứu tâm lý học”, gồm 2 phần, trình bày về cách thức tiến hành một nghiên cứu
tâm lý học và các phương pháp thu thập dữ liệu. Riêng phần phương pháp phân
tích định lượng không nằm ở đây bởi nó vượt quá khuôn khổ của một môn học.
Hy vọng trong thời gian tới, tác giả sẽ viết tiếp để có một nội dung trọn vẹn cho
phương pháp nghiên cứu trong tâm lý học.
4

Phan Thị Mai Hương
Cuốn giáo trình này là sản phẩm của nhiều năm sưu tầm tài liệu, đúc kết
kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu của tác giả. Một số tư liệu trong cuốn sách
này là tư liệu chung được chia sẻ trong nhóm các giảng viên dạy môn phương
pháp nghiên cứu liên ngành của Viện Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện
Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam): PSG.TS. Nguyễn Hữu Minh, PGS.TS. Vũ
Thị Thanh Hương, PGS.TS. Vũ Mạnh Lợi và TS. Trương Huyền Chi. Các nội
dung có sự chia sẻ dữ liệu nhiều nhất là: qui trình nghiên cứu, quan sát, phỏng
vấn, và xây dựng bảng hỏi. Từ góc độ phương pháp nghiên cứu khoa học, đây
cũng là những nội dung có sự giao thoa mạnh nhất giữa tâm lý học với các
ngành khoa học xã hội khác.
Tác giả bày tỏ sự trân trọng tới nhóm giảng viên liên ngành, những người
đã kết nối đam mê, biến những kiến thức về phương pháp tưởng như khô cứng
trở nên sống động. Tác giả cũng chân thành cảm ơn những người thầy, người
bạn, các đồng nghiệp cùng các trò thân yêu đã chia sẻ thông tin và động viên tác
giả hoàn thành cuốn sách này.
Hà nội, ngày 18 tháng 12 năm 2013
Phan Thị Mai Hương
PHẦN I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
5

Phương pháp nghiên cứu trong Tâm lý học
VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
TRONG TÂM LÝ HỌC
Chương 1:
TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU
TRONG TÂM LÝ HỌC
Ø Nguyên tắc phương pháp luận trong nghiên cứu tâm lý
học
Ø Đối tượng và mục đích nghiên cứu của tâm lý học
Ø Phương pháp nghiên cứu trong tâm lý học
Ø Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu tâm lý học
1.1. Nguyên tắc phương pháp luận trong nghiên cứu tâm lý học
Bản chất của nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá, phát hiện các
tri thức mới, giải thích các qui luật vận động, phát triển cũng như mối quan hệ
giữa các sự vật, hiện tượng một cách khoa học. Để thực hiện được điều này,
người làm khoa học không những phải nắm được các phương pháp, kỹ thuật tiến
hành nghiên cứu, sử dụng một cách thành thạo, mà còn phải được dẫn dắt bởi
các nguyên tắc phương pháp luận làm cơ sở tư duy cho nghiên cứu.
Nghiên cứu tâm lý con người được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, coi tâm lý người là sự phản ánh chủ quan
6

Phan Thị Mai Hương
về thế giới khách quan bên ngoài. Có thể thấy, sự phản ánh này phải thông qua
chủ thể là con người. Trong tâm lý học Mác xít, đó là chủ thể của hoạt động
sống, hoạt động tích cực và sáng tạo. Trong hoạt động sống đó, tâm lý người
hình thành và phát triển. Đó là luận điểm cơ bản mang tính phương pháp luận
khi nghiên cứu tâm lý người. Dưới đây sẽ nêu một số nguyên tắc làm cơ sở
phương pháp luận cụ thể mang tính hướng dẫn để tiến hành các nghiên cứu về
tâm lý người.
1.2.1 Sự thống nhất yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong phát triển tâm lý
người
Con người vốn sinh ra là một thực thể tự nhiên, mang những đặc điểm
sinh học nhất định. Những yếu tố sinh học bao gồm: yếu tố di truyền, sinh lý
thần kinh, tư chất thiên bẩm, các đặc điểm bẩm sinh và các yếu tố cấu tạo sinh
học khác. Các yếu tố sinh học có vai trò quan trọng cho sự hình thành và phát
triển tâm lý người. Đó là tiền đề cho tâm lý người.
Bên cạnh các yếu tố sinh học thì các yếu tố xã hội cũng có đóng góp
không nhỏ cho sự hình thành và phát triển tâm lý người. Các yếu tố xã hội chính
là các điều kiện, hoàn cảnh, môi trường xã hội bên ngoài, cũng như các qui định
về mặt xã hội đối với con người. Theo Leonovich, (dẫn theo Đỗ Long
1
, 1999),
các yếu tố này bao gồm: lao động, quan hệ người - người, môi trường sống do
con người tạo ra, các di sản tư tưởng của con người.
Trong lịch sử tâm lý học, tồn tại những quan điểm tuyệt đối hóa vai trò
của yếu tố sinh học đối với tâm lý người. Ví dụ, theo nhà hành vi học người Áo
Lorenz, thì trong những điều kiện nhất định, bản năng hiếu chiến của con người
cũng giống như động vật, thể hiện sự chiến đấu chống lại đồng loại của mình.
Ông giải thích rằng, hành vi đó của người là do bị chế định bởi các gen di truyền
1 Đỗ Long (Chb. 1999), Yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong sự phát triển tâm lý người, NXB
Khoa học xã hội, tr. 25.
7

Phương pháp nghiên cứu trong Tâm lý học
từ tổ tiên (dẫn theo Đỗ Long
1
, 1999). Hoặc một số nhà tâm lý học Mỹ cho rằng,
phần lớn những khó khăn của người da đen là do những khiếm khuyết về sinh
học của họ. Họ nghèo là do họ kém thông minh hơn và không thể thay đổi được
gì vì năng lực trí tuệ đã được gen qui định từ trước (dẫn theo Đỗ Long
2
, 1999).
Tuy nhiên, cũng có một số học giả khác lại cho rằng các yếu tố xã hội có
vai trò quyết định tuyệt đối đối với tâm lý và tinh thần của con người. Họ phủ
nhận vai trò của yếu tố sinh học, cho rằng con người là sản phẩm thuần túy của
văn hóa, kinh tế, xã hội. Ví dụ, Selo cho rằng mọi thành tựu và giá trị của con
người bắt nguồn từ ngôn ngữ, lương tâm, công cụ, vũ khí, ý niệm … của họ về
các hiện tượng tâm lý, tinh thần.
Cả hai quan điểm hoặc tuyệt đối hóa yếu tố sinh học, hoặc tuyệt đối hóa
yếu tố xã hội đối với sự phát triển tâm lý người đều bộc lộ những hạn chế nhất
định khi lý giải bản chất của các hiện tượng tâm lý, tinh thần của con người.
Trên cơ sở phương pháp luận Mác xít, quan điểm cho rằng con người là một
chỉnh thể thống nhất giữa các yếu tố sinh học và các yếu tố xã hội đang được
chấp nhận rộng rãi. Hay nói khác đi, con người là một chỉnh thế sinh học – xã
hội, mang cấu tạo sinh học, nhưng có bản chất xã hội. Trên cơ sở đó, tâm lý
người, vốn là sự phản ánh chủ quan về thế giới khách quan cũng chịu sự chi phối
của cả hai hệ thống sinh học và xã hội. Thật khó phân định ranh giới giữa cái
sinh học và cái xã hội, giữa bản năng và tính xã hội trong một hiện tượng tâm lý
người cụ thể bởi cái lằn ranh đó là vô hình và bởi tâm lý người là sự thống nhất
giữa tính sinh học và tính xã hội. Sự thống nhất giữa cái sinh học và cái xã hội
trong tâm lý người chính là quan điểm mang tính phương pháp luận khi nghiên
cứu các vấn đề trong tâm lý học.
1 Đỗ Long (1999), Sđd, tr. 43.
2 Đỗ Long (1999), Sđd, tr. 58.
8

Phan Thị Mai Hương
1.2.2 Quyết định luận duy vật của các hiện tượng tâm lý
Các hiện tượng tâm lý không tồn tại độc lập mà phụ thuộc một cách tất
yếu và có tính qui luật vào các điều kiện xã hội – lịch sử cụ thể. Các điều kiện xã
hội - lịch sử bao gồm toàn bộ những điều kiện, đặc điểm của hoàn cảnh xã hội
lịch sử cụ thể, các đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, đặc điểm môi
trường xã hội với tất cả các mối quan hệ xã hội của cá nhân, các điều kiện sống
và làm việc của cá nhân.
Lý luận Mác – Lênin cho rằng sự tác động của các điều kiện xã hội - lịch
sử đóng vai trò quyết định đến tâm lý con người nhưng sự tác động đó không
đơn giản, một chiều mà tác động thông qua các điều kiện bên trong.
Các điều kiện bên trong chính là những cái qui định đặc điểm tâm sinh lý
cá thể, bao gồm các đặc điểm sinh học, các đặc điểm hoạt động thần kinh cấp
cao, các đặc điểm tâm lý của nhân cách.
Quan điểm về quyết định luận duy vật các hiện tượng tâm lý cần được cụ
thể hóa trong quá trình thực hiện nghiên cứu tâm lý học. Tức là, khi nghiên cứu
đánh giá các hiện tượng tâm lý người phải nhìn thấy những yếu tố mang tính
quyết định từ điều kiện xã hội – lịch sử cụ thể, trong các mối quan hệ xã hội cụ
thể của con người. Đồng thời, phải xem xét các điều kiện bên trong của cá nhân,
xem xét hiện tượng, vấn đề nghiên cứu trong mối liên hệ với các yếu tố sinh học,
đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh cấp cao, các trạng thái, thuộc tính tâm lý
của nhân cách. Đây là điều kiện để có thể đưa ra những đánh giá khách quan từ
các kết quả nghiên cứu tâm lý học.
1.2.3 Nguyên tắc hoạt động: Tâm lý người hình thành và phát triển thông
qua hoạt động
Quan điểm hoạt động của tâm lý học Mác xít đóng vai trò quan trọng
trong nghiên cứu tâm lý con người. Quan điểm này cho rằng việc nghiên cứu
9

Phương pháp nghiên cứu trong Tâm lý học
tâm lý người một cách khách quan đòi hỏi phải phân tích hoạt động thực tế của
con người. Có như vậy mới hiểu được “sự khác biệt về chất giữa tâm lý người và
tâm lý động vật, làm rõ bản chất của ý thức, nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa
cái ý thức và cái vô thức, làm rõ các qui luật khách quan điều khiển sự phát triển
của các quá trình tâm lý, các thuộc tính và các trạng thái tâm lý” (Lomov B.P.
1
,
2000).
Trong tâm lý học, hoạt động được chú ý nghiên cứu gồm cả hoạt động cá
nhân và hoạt động nhóm. Tuy nhiên, nghiên cứu hoạt động cá nhân cần xem xét
nó trong toàn bộ bối cảnh xã hội chứ không đơn thuần chỉ ở quan hệ chủ thể -
khách thể. Điều đó có nghĩa là phải quan tâm đến môi trường mà trong đó hoạt
động được diễn ra, bao gồm điều kiện vật chất và môi trường xã hội. Điểm cốt
yếu của môi trường xã hội chính là các mối quan hệ xã hội. Như vậy, cần xem
xét hoạt động cá nhân trong hệ thống các mối quan hệ xã hội mà cá nhân có liên
quan.
Khi nói đến hoạt động của con người, các ngành khoa học khác có thể
quan tâm đến quan hệ chủ thể - khách thể của hoạt động. Nhưng trọng tâm
nghiên cứu của tâm lý học trong hoạt động cá nhân chính là chủ thể của hoạt
động đó. Những đặc điểm của chủ thể trong hoạt động là những thuộc tính tâm
lý của chủ thể, là quá trình tâm lý của chủ thể diễn ra trong quá trình hoạt động
đó. Như Lomov
2
(2000) đã nhận định: “Khi thực hiện hoạt động mà con người
không tiếp thu, không suy nghĩ, không trải nghiệm thì hoạt động đơn thuần
không thể tồn tại”. Quan hệ chủ thể - khách thể tồn tại trong hoạt động không bất
biến mà có thể có sự chuyển hóa lẫn nhau. Theo Leonchev A.N. (dẫn theo
1 Lomov B.P (2000), Những vấn đề lý luận và phương pháp luận Tâm lý học, NXB Đại học Quốc
gia Hà nội, tr. 288.
2 Lomov B.P (2000), Những vấn đề lý luận và phương pháp luận Tâm lý học, NXB Đại học
Quốc gia Hà nội, tr. 305.
10

Phan Thị Mai Hương
Lomov B.P.
1
, 2000), hoạt động là quá trình mà trong đó có sự chuyển hóa lẫn
nhau giữa chủ thể và khách thể.
Trong tâm lý học, quan điểm hoạt động đòi hỏi xem xét hoạt động của con
người như một hiện tượng phức tạp, gồm nhiều mặt, ở nhiều mức độ khác nhau.
Tổng hợp các quan điểm khác nhau về hoạt động, Lomov
2
(2000), đã chỉ ra các
cấu thành của hoạt động cá nhân gồm: động cơ, mục đích, lập kế hoạch hoạt
động, xử lý thông tin hiện thời, hình ảnh thao tác (và các mô hình quan niệm), ra
quyết định hành động, kiểm tra kết quả và điều chỉnh hành động.
Có thể thấy, hoạt động ở đây không giống như hành vi được nói đến trong
học thuyết hành vi. Nó bao quát mảng rộng hơn khi nghiên cứu tâm lý người.
Động cơ - mục đích phản ánh nỗ lực của chủ thể và xu hướng của hoạt động, và
cũng là “nhân tố điều chỉnh chủ đạo cho hoạt động, quyết định cấu tạo và động
thái của tất cả các yếu tố cấu thành khác của hoạt động” (Lomov
3
, 2000). Hoạt
động tạo ra sự vận động, sự phát triển của nhân cách.
Theo quan điểm hoạt động, chỉ trong hoạt động thì tâm lý con người mới
được biểu hiện rõ rệt. Lấy quan điểm hoạt động khi thực hiện nghiên cứu tâm lý
học, các nhà nghiên cứu phải quan tâm đến con người trong toàn bộ hoạt động
của họ, các khía cạnh tâm lý khác nhau của chủ thể hoạt động, môi trường diễn
ra hoạt động đó cũng như sự tương tác qua lại giữa các yếu tố của môi trường
với chủ thể.
1.2.4 Sự thống nhất giữa tâm lý, ý thức và hoạt động
Quan điểm hoạt động đã nêu rõ cần nghiên cứu tâm lý con người trong
hoạt động của họ và thông qua hoạt động sẽ nảy sinh, hình thành và phát triển
1 Lomop (2000), Sđd, tr. 287.
2 Lomop (2000), Sđd, tr. 322.
3 Lomop (2000), Sđd, tr. 323.
11

Phương pháp nghiên cứu trong Tâm lý học
tâm lý và ý thức của con người. Sự thống nhất giữa tâm lý, ý thức và hoạt động
thể hiện ở sự gắn bó hữu cơ: tâm lý được thể hiện trong hoạt động và hoạt động
là cơ sở để hình thành và phát triển tâm lý, ý thức. Sự thống nhất này được thể
hiện trong suốt cả quá trình tồn tại và phát triển người.
Như vậy, nghiên cứu tâm lý, ý thức con người, phải quan tâm nghiên cứu
những biểu hiện hành vi trong hoạt động cụ thể bởi những biểu hiện này sẽ
thống nhất với tâm lý và ý thức của con người. Hoạt động trở thành cơ sở khách
quan để nghiên cứu tâm lý người.
1.2.5 Nguyên tắc phát triển của tâm lý người
Quan điểm phát triển như cơ sở phương pháp luận cơ bản cho nhiều ngành
khoa học dựa trên quan điểm duy vật biện chứng. Quan điểm này cũng được áp
dụng cho nghiên cứu tâm lý học.
Theo quan điểm này, mọi hiện tượng tâm lý đều có quá trình nảy sinh, vận
động, phát triển và biến đổi chứ không bất biến, cố định. Vì thế, nghiên cứu tâm
lý người cũng phải trong sự vận động, phát triển và biến đổi của nó. Trong sự
phát triển này có sự tác động qua lại giữa các yếu tố, các hiện tượng, và cả các
thành phần cấu thành.
Trong quá trình phát triển, sự kế thừa cái cũ và xuất hiện cái mới, sự đồng
nhất và khác biệt, sự duy trì, củng cố và sự biến đổi… quan hệ với nhau một
cách biện chứng.
Quan điểm này đòi hỏi khi nghiên cứu các hiện tượng tâm lý thì phải xem
xét chúng trong sự vận động, để tìm kiếm qui luật của sự vận động này, trên cơ
sở đó có thể đưa ra những dự báo về kết quả trong tương lai.
Những cơ sở phương pháp luận được trình bày trên đây sẽ hỗ trợ nhà
nghiên cứu trong quá trình họ hình thành ý tưởng nghiên cứu, cung cấp cho họ
12

Phan Thị Mai Hương
lối tư duy và cách nhìn nhận đánh giá các hiện tượng tâm lý mà họ quan tâm một
cách khách quan, khoa học.
1.2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu của tâm lý học
Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học
Trước khi tiến hành nghiên cứu, người nghiên cứu không những phải nắm
được cơ sở phương pháp luận để dẫn dắt tư duy cho nghiên cứu của mình. Người
nghiên cứu cũng cần hiểu đối tượng và mục đích nghiên cứu của tâm lý học để
chắc chắn về hướng đi của nghiên cứu đó, sao cho cùng một vấn đề nghiên cứu
nhưng nghiên cứu do mình thực hiện đúng là tiếp cận tâm lý học, khác hẳn với
nghiên cứu xã hội học, giáo dục học, hay văn hóa học.
Ở Việt Nam, tâm lý học là một ngành khoa học được xếp trong hệ thống
các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Ngày nay, đối tượng nghiên cứu của
tâm lý học khá rộng và sẽ ngày càng rộng mở cùng với sự phát triển của khoa
học này. Trong lịch sử phát triển của mình, tâm lý học đã có thời được coi là
khoa học về tâm hồn, tinh thần hay ý thức của con người (Vũ Dũng
1
, 2008,
Nguyễn Xuân Thức
2
, 2011). Theo thời gian, đối tượng nghiên cứu của tâm lý
học cũng dần thay đổi. Tâm lý học được coi là là khoa học về hành vi, là khoa
học về tâm trí, là khoa học về nhận thức … Tất cả những hiện tượng tâm lý, cận
tâm lý, tâm sinh lý con người… đều được khoa học tâm lý nghiên cứu để phát
hiện ra những qui luật hình thành và phát triển của các hiện tượng này.
Theo Lomov B.P
3
(2000), con người là chủ thể của hoạt động sống nên
đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học phải là hoạt động sống của con người.
1 Vũ Dũng (Ch.b., 2008), Từ điển Tâm lý học, NXB Từ điển Bách khoa, tr 733.
2 Nguyễn Xuân Thức (2011), Tâm lý học đại cương, in lần thứ 7, NXB Đại học sư phạm, Hà nội,
tr. 16.
3 Lomop (2000), Những vấn đề lý luận và phương pháp luận Tâm lý học, NXB Đại học Quốc
gia Hà nội, tr. 216.
13

Phương pháp nghiên cứu trong Tâm lý học
Tâm lý học quan tâm đến các lĩnh vực hay khía cạnh của hoạt động sống của con
người như lao động, nhận thức và giao tiếp (Ananhev, 1968, dẫn theo Lomov,
2000, tr. 216). Bên cạnh đó, để hiểu rõ hơn cơ sở phát sinh loài và phát sinh cá
thể ở tâm lý người thì tâm lý học còn nghiên cứu về tâm lý động vật. Những phát
hiện ở các nghiên cứu về hành vi sống của động vật là cơ sở cho các phát hiện về
tâm lý con người.
Cũng như các chuyên ngành khoa học khác, tâm lý học cũng bao gồm
trong đó nhiều phân ngành, chuyên sâu vào từng khía cạnh của đời sống tâm lý
con người. Theo Từ điển Tâm lý học, có khoảng 70 phân ngành tâm lý học (Vũ
Dũng
1
, 2008), và con số này không dừng lại chừng nào khoa học còn phát triển.
Xem xét những phân ngành của Tâm lý học, có thể thấy 2 xu hướng rõ rệt là
chuyên biệt và liên ngành. Xu hướng chuyên biệt định hướng đến những nghiên
cứu chuyên sâu, trong khi xu hướng liên ngành định hướng đến sự liên kết các
kiến thức của nhiều chuyên ngành để giải quyết một vấn đề tâm lý. Cả hai xu
hướng này đều đồng thời cùng tồn tại và đó cũng là lý do để tâm lý học phát
triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Mục đích nghiên cứu của tâm lý học
Ngày nay, không chỉ khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, mà xã hội
cũng có những bước tiến vượt bậc. Con người ngày càng có nhu cầu cao hơn về
sự hiểu biết một cách khoa học những vấn đề phức tạp của con người và cuộc
sống. Những nghiên cứu khoa học nói chung và khoa học tâm lý nói riêng được
thực hiện chính nhằm mục đích cung cấp những hiểu biết khoa học, những tri
thức về tâm lý con người, tâm lý xã hội. Các nghiên cứu sẽ đưa ra những bổ
sung về mặt lý luận, cung cấp những luận điểm mới để hình thành một lý thuyết
mới, hoặc chỉ ra những khía cạnh mà các lý thuyết cũ chưa đụng chạm đến,
những biến đổi văn hóa, xã hội đã khiến cho hệ lý luận cũ không còn thích hợp
để con người nhận thức thế giới mới …..
1 Vũ Dũng (Ch.b., 2008), Từ điển Tâm lý học, NXB Từ điển Bách khoa, tr. 734.
14

Phan Thị Mai Hương
Không chỉ có vậy, thực tiễn cũng đặt ra rất nhiều bài toán thách thức đòi
hỏi sự vào cuộc của các nhà tâm lý học. Tại sao một số người có cảm giác hạnh
phúc, còn số khác thì cảm thấy bất hạnh? Điều gì khiến người lao động làm việc
với trách nhiệm cao nhất? Tại sao có hiện tượng vô cảm ở giới trẻ hiện nay, nhìn
thấy bạn cùng lứa với mình bị người khác đánh dã man mà vẫn có thể ngồi xem
và cười đùa khoái trá, thậm chí quay clip để phát tán như một trò tiêu khiển?
Những lý do gì khiến cho nhà nhà bắt trẻ đi học thêm nhiều đến vậy? … Không
thể chỉ đổ tội cho các yếu tố văn hóa xã hội, nền kinh tế thị trường, cho hội nhập,
mở cửa. Cũng không thể chỉ đổ lỗi cho cá nhân con người, có cái nhìn bi quan,
vô ý thức, không chịu rèn luyện … Đằng sau mỗi hiện tượng xã hội bất thường
đều ẩn chứa những vấn đề tâm lý đòi hỏi các nghiên cứu tâm lý phải quan tâm
để tìm ra hướng giải quyết phù hợp nhất. Vì thế, các nghiên cứu tâm lý được
thực hiện còn nhằm mục đích giải quyết những vấn đề của thực tiễn.
Ghi nhớ Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tâm lý học cung cấp nhận thức khoa học về đời
sống tâm lý của con người. Qua đó:
- Góp phần xây dựng, bổ sung cho lý thuyết về tâm lý học
- Giải quyết những vấn đề thực tế một cách khoa học
Các nguồn cung cấp ý tưởng cho nghiên cứu tâm lý học
Quan sát
Quan sát giúp người nghiên cứu phát hiện ra “tính có vấn đề” của các hiện
tượng, sự vật xung quanh và phát triển thành đối tượng của nghiên cứu khoa
học. Quan sát thường diễn ra trước khi bắt đầu vào thực hiện nghiên cứu khoa
học. Quan sát vừa có vai trò như một phương pháp thu thập dữ liệu và còn là
nguồn cung cấp ý tưởng cho các nghiên cứu tâm lý học. Khoa học thường bắt
đầu từ chính những quan sát cuộc sống bằng cái nhìn có phê phán.
Chúng ta có thể quan sát chính mình, quan sát những người xung quanh,
những gì diễn ra trong gia đình, ở cộng đồng dân cư, quan sát các hoạt động ở
các nhóm học tập, làm việc. Quan sát bản thân học tập trong các môi trường
khác nhau, một câu hỏi nảy sinh: sao mình học một mình lại không thích bằng
học với bạn? Trong các bối cảnh khác, quan sát hành vi của bạn bè, có thể có
câu hỏi: Tại sao khi có sự chứng kiến của người khác, bạn mình thích làm đẹp
hơn, hay có nhiều hành vi thể hiện tốt hơn? Tại sao bạn mình lại thích được
15

Phương pháp nghiên cứu trong Tâm lý học
khen? Sao em bé nhà hàng xóm hay quấy khóc với mẹ chứ không phải với người
khác? Quan sát giao thông hỗn loạn ngoài đường phố, có thể xuất hiện câu hỏi:
tại sao người tham gia giao thông lại có những hành vi như vậy; liệu phạt nhiều
có làm hạn chế được tình hình hay không?... Các câu hỏi tương tự như vậy
thường xuất hiện và nhiều câu hỏi trong số đó có thể phát triển thành các ý tưởng
tốt cho nghiên cứu khoa học.
Các tạp chí
Tạp chí chuyên ngành là nơi đăng tải các kết quả nghiên cứu mới nhất về
tâm lý học. Đọc thường xuyên các tài liệu này sẽ giúp nhà nghiên cứu luôn cập
nhật các thông tin, tri thức mới của chuyên ngành tâm lý học, phát hiện ra những
xu hướng nghiên cứu mới, sự kiểm chứng các lý thuyết cũ trong bối cảnh mới,
với nghiệm thể mới, tìm ra các bằng chứng để xây dựng lý thuyết mới. Đồng
thời có thể giúp phát hiện ra những mâu thuẫn trong kết quả nghiên cứu của các
nhà khoa học khác nhau. Bên cạnh đó, mỗi bài tạp chí được tác giả viết dựa trên
kết quả của những điều kiện thực hiện nghiên cứu nhất định (công cụ, kỹ thuật,
bối cảnh, khung mẫu, cách thức tổ chức …). Những ý tưởng về thay đổi điều
kiện nghiên cứu có thể hình thành nên những nghiên cứu mới. Đồng thời, những
đánh giá, nhận xét của chính tác giả về ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu có
thể là những gợi ý tốt cho những nghiên cứu tiếp theo.
Từ đây có thể nảy sinh ra vô vàn những ý tưởng nghiên cứu mà người làm
công tác nghiên cứu có thể nắm bắt để hình thành nghiên cứu của riêng mình.
Các chuyên gia
Chuyên gia ở đây có thể hiểu ở cả hai phương diện: con người và sách vở.
Đó cũng là những nguồn cho ý tưởng nghiên cứu khi ta có hứng thú với các vấn
đề nảy sinh khi đọc sách, trong học tập, nghiên cứu, khi tranh luận, khi trao đổi
với các chuyên gia.
Các phương tiện truyền thông tin đại chúng
16

Phan Thị Mai Hương
Truyền thông đại chúng (tivi, báo, đài, các trang mạng …) là phương tiện
truyền những tin tức thời sự nóng hổi nhất từ mọi miền trên toàn quốc. Quan tâm
tới các thông tin này, người nghiên cứu có thể biết được những gì đang diễn ra
trong xã hội, những vấn đề nào đang là vấn đề mang tính bức xúc mà chưa có lời
giải đáp thỏa đáng từ góc độ khoa học, những vấn đề nào đang có nhiều tranh
cãi, những vấn đề nào đang được nhắc đến nhiều nhất, vấn đề nào chưa được
kiểm chứng, chưa rõ đúng sai… Đây là nơi thể hiện nhu cầu của xã hội muốn
được biết, được hiểu, muốn được giải thích, muốn có những tri thức khoa học để
có thể giải quyết được những vấn đề mà thực tế đặt ra.
Hệ thống lý thuyết tâm lý học
Nghiên cứu khoa học ngoài việc phát hiện những kết quả mới, còn có
nhiệm vụ kiểm chứng lại các lý thuyết. Trong tâm lý học, tồn tại nhiều lý thuyết
khác nhau về nhiều vấn đề. Ngay trong một cùng một vấn đề cũng có nhiều lý
thuyết khác nhau, đưa ra cách nhìn nhận, và giải thích khác nhau. Nghiên cứu lý
thuyết, phát hiện ra những điểm có nhiều tranh luận, xuất hiện những hoài nghi
về mặt khoa học, đó là lúc ý tưởng khoa học xuất hiện với mục đích nhằm kiểm
chứng lý thuyết hiện hành.
Kinh nghiệm và kiến thức của nhà nghiên cứu
Kiến thức và kinh nghiệm của người làm nghiên cứu là tài sản vô giá bởi
đây chính là nền tảng ban đầu để có thể thực hiện một nghiên cứu khoa học.
Kinh nghiệm và kiến thức kết hợp với quan sát, đọc tài liệu, tham khảo ý kiến
chuyên gia cũng như cập nhật tin tức thời sự, chính trị, văn hóa, kinh tế, xã
hội… trên các phương tiện thông tin đại chúng sẽ giúp cho nhà nghiên cứu có độ
nhạy cảm nhất định trước các vấn đề của cuộc sống xã hội và con người, từ đó
có thể hình thành các ý tưởng khoa học, xem xét chúng dưới góc độ tâm lý học
và bắt tay vào nghiên cứu chúng.
Ghi nhớ Nguồn cung cấp ý tưởng nghiên cứu
17

Phương pháp nghiên cứu trong Tâm lý học
- Quan sát bản thân, con người và xã hội xung quanh
- Kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí, sách
- Ý kiến tranh luận của các chuyên gia
- Cập nhật tin tức thời sự trên các phương tiện truyền
thông đại chúng
- Những hoài nghi về lý thuyết tâm lý học hiện hành
- Khối kiến thức và kinh nghiệm cá nhân
Ý tưởng khoa học có thể đến từ rất nhiều nguồn khác nhau, nhưng quan
trọng là nhu cầu muốn giải quyết vấn đề mà người nghiên cứu đã phát hiện từ
các ý tưởng đó. Để có những ý tưởng mới, người nghiên cứu cần có óc quan sát
kết hợp với tinh thần ham học hỏi, không ngại đặt câu hỏi trước những vấn đề đã
được đúc kết.
1.3 Phương pháp nghiên cứu trong tâm lý học
Nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm hiểu có mục đích, có hệ thống
thông qua thu thập, phân tích, và đánh giá thông tin một cách khách quan nhằm
cung cấp những hiểu biết chung, những qui luật về vấn đề nghiên cứu, hiện
tượng nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu khoa học giúp cho hoạt động tìm
hiểu đạt được mục đích đã đặt ra. Tác giả Dương Thiệu Tống
1
(2002) cho rằng
các kết quả mà nghiên cứu khoa học cung cấp phải kiểm chứng được thì mới
được gọi là khoa học.
Phương pháp nghiên cứu khoa học là hệ thống những phương tiện, công
cụ cụ thể, những phương thức được tiến hành nhằm thu thập, xử lý thông tin,
tạo cơ sở để đưa ra những đánh giá một cách khoa học về vấn đề nghiên cứu.
Kế thừa quan điểm trên, phương pháp nghiên cứu tâm lý học là hệ thống
những phương tiện, công cụ, phương thức tiến hành mang tính kỹ thuật để thu
thập và xử lý thông tin về tâm lý người để trên cơ sở đó đưa ra những đánh giá
một cách khách quan, khoa học về đời sống tâm lý của con người.
1 Dương Thiệu Tống (2002), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và tâm lý, NXB Đại
học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
18

Phan Thị Mai Hương
Có thể thấy cơ sở nghiên cứu tâm lý người chính là từ thực tiễn và phương
pháp nghiên cứu cần được sử dụng sao cho những kết quả thu được phải phản
ánh được đúng thực tế đã diễn ra của tâm lý người. Chúng ta biết rằng, tâm lý là
sự phản ánh chủ quan về thế giới khách quan. Vì thế để đưa ra những hiểu biết
về tâm lý con người một cách khách quan khoa học là một đòi hỏi đối với nhà
nghiên cứu và không dễ dàng để đạt được nhận thức chung của nhân loại nếu
nghiên cứu được thực hiện không bằng những phương pháp khoa học khách
quan. Để làm được điều này, phương pháp nghiên cứu tâm lý học cần được sử
dụng sao cho tránh được sự suy lý vô căn cứ, các kết luận rút ra đều phải dựa
trên các bằng chứng khoa học khách quan.
Là một phân ngành của khoa học xã hội, nên tâm lý học cũng có những
phương pháp nghiên cứu chung, cơ bản giống như các ngành khoa học xã hội
khác. Nhưng với đặc thù về đối tượng nghiên cứu của mình thì tâm lý học cũng
có những phương pháp nghiên cứu riêng.
Sự phân loại các phương pháp nghiên cứu trong khoa học xã hội thường
dựa trên cơ sở bản chất của dữ liệu được thu thập và phân tích như thế nào. Vì
thế, có thể phân chia thành các phương pháp nghiên cứu định tính và các phương
pháp nghiên cứu định lượng. Tuy nhiên, cách phân chia như vậy dường như
không thích hợp với tâm lý học, bởi tính chất thông tin định lượng hay định tính
đều có ở trong một phương pháp nghiên cứu. Ví dụ, quan sát trong khoa học xã
hội là phương pháp định tính, nhưng trong tâm lý học, nó vừa là phương pháp
định tính (khi cung cấp và phân tích các thông tin có được từ quan sát dưới dạng
văn bản), vừa là phương pháp định lượng (khi cung cấp và phân tích thông tin
dưới dạng số). Hoặc phương pháp trắc nghiệm, trong tâm lý học vừa có các trắc
nghiệm khách quan (mang đặc điểm định lượng), vừa có các trắc nghiệm phóng
chiếu (mang đặc điểm định tính).
Khoa học tâm lý phân loại các phương pháp nghiên cứu có phần khác với
các ngành khoa học xã hội khác. Ngay trong ngành tâm lý học, các tác giả khác
19

Phương pháp nghiên cứu trong Tâm lý học
nhau cũng có những cách phân loại khác nhau. Ví dụ, dựa trên cách thức tiến
hành nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu tâm lý học có thể gồm: các phương
pháp phi thực nghiệm (quan sát, khảo sát bảng hỏi, phỏng vấn, nghiên cứu tài
liệu …), phương pháp thực nghiệm (các loại thực nghiệm) và phương pháp chẩn
đoán tâm lý (trắc nghiệm, quan sát lâm sàng…) (dẫn theo Hoàng Mộc Lan
1
,
2011). Dựa vào mục đích đánh giá dữ liệu, Morling Beth
2
(2012) chia ra: các
công cụ đánh giá tần suất (khảo sát, quan sát), các công cụ đánh giá tương quan
(nhị biến, đa biến), các công cụ đánh giá quan hệ nhân quả (thực nghiệm 1 biến
độc lập, thực nghiệm nhiều biến độc lập). Elmer D.G.
3
(1995) phân chia thành
nghiên cứu quan sát, nghiên cứu quan hệ và nghiên cứu thực nghiệm.
Dựa trên tiến trình thực hiện một nghiên cứu tâm lý học, các phương pháp
nghiên cứu có thể phân chia thành 3 nhóm: nhóm phương pháp nghiên cứu tài
liệu, nhóm phương pháp thu thập dữ liệu và nhóm phương pháp phân tích dữ
liệu.
Nhóm phương pháp nghiên cứu tài liệu phục vụ cho phần nghiên cứu lý
luận của đề tài nghiên cứu, bao gồm phương pháp tìm tài liệu, đọc và sắp xếp tài
liệu, phân tích tài liệu. Nhóm phương pháp thu thập dữ liệu phục vụ cho việc tập
hợp dữ liệu cho nghiên cứu thực tiễn, gồm: quan sát, điều tra, phỏng vấn, nghiên
cứu trường hợp, nghiên cứu đường đời, chuyện kể, phân tích nội dung, thực
nghiệm, trắc nghiệm … Nhóm phương pháp phân tích dữ liệu phục vụ mục đích
xử lý thông tin thu thập được, giúp nhà nghiên cứu diễn giải và đánh giá kết quả,
gồm: phân tích số liệu định lượng và phân tích dữ liệu định tính.
Mỗi nhóm phương pháp đều được sử dụng vào những mục đích nhất định
trong quá trình thực hiện nghiên cứu, và đều phục vụ mục đích nghiên cứu của
nhà khoa học. Trong mỗi nhóm này, các phương pháp đều có những thế mạnh và
1 Hoàng Mộc Lan (2011), Các phương pháp nghiên cứu tâm lý học, Bản thảo giáo trình dành cho
hệ cử nhân khoa Tâm lý học, trường ĐHKHXH và NV.
2 Morling Beth (2012), Research methods in Psychology, W.W. Norton & Company, Inc.
3
Elmer D.G., Kantowitz B.H., Roediger H.L. (1995), Research methods in Psychology, Fifth
edition, West Publishing company.
20
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.