Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN
TRIẾT HỌC MARX-LENIN ĐỀ TÀI
Phân tích cơ sở lý luận của quan điểm phát triển
Vận dụng quan điểm này trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam hiện nay NHÓM: 8 LỚP HP: 231_MLNP0221_18 CHUYÊN NGÀNH: KIỂM TOÁN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: NGUYỄN QUỲNH HƯƠNG NĂM HỌC : 2023-2024 1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 23 tháng 11 năm 2023
BIÊN BẢN HỌP NHÓM THẢO LUẬN
Nhóm 8 lớp 231_MLNP0221_18
Thời gian: 14h ngày 23/11/2023
Địa điểm: Google meet Thành phần:
Tất cả thành viên Nhóm 8 lớp học phần Triết học Marx-Lenin lớp học phần 231_MLNP0221_18 tham gia đầy đủ :
Tô Mạnh Tâm (Nhóm trưởng) Nguyễn Phương Thảo Ngô Xuân Thụ Phan Thanh Thảo Trần Anh Thư Sòi Thị Phương Thảo Bạch Thủy Tiên Vũ Phương Thảo
Nguyễn Anh Tiến (Thư ký) Trương Thu Thảo Nguyễn Thị Quỳnh Trang Đỗ Trân Trân Hoàng Ngọc Trâm Đặng Thanh Tùng Tô Mạnh Tâm Nguyễn Khánh Vân Vũ Diệu Vy
Nội dung cuộc họp:
1. Thảo luận về các cơ sở lý luận của quan điểm phát triển
2. Thảo luận về việc vận dụng quan điểm này trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
3. Thảo luận và giải quyết các vấn đề liên quan.
Buổi thảo luận kết thúc vào lúc 17h ngày 23/11/2023. Biên bản đã được tất cả các thành viên
trong nhóm đọc. Cả nhóm đã đồng ý với những điều đã viết như trên. Nhóm truởng. 2 BẢNG ĐÁNH GIÁ STT Họ và Tên
Nhận xét đánh giá của nhóm Mức độ đánh giá Chữ ký
đối với thành viên 1Tô Mạnh Tâm 2Ngô Xuân Thụ 3Chu Thị Như Quỳnh 4Nguyễn Mạnh Tài 5Nguyễn Thế Tài
6Nguyễn Phương Thảo 7Phan Thanh Thảo
8Sòi Thị Phương Thảo 9Trương Thu Thảo 10 Vũ Phương Thảo 3 MỤC LỤC A. LÝ THUYẾT.
1.CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH HÀNH VI VI PHẠM HÀNH CHÍNH.
1.1. Dấu hiệu về mặt khách quan.
1.2. Dấu hiệu về mặt chủ quan.
1.3. Dấu hiệu về mặt chủ thể.
1.4. Dấu hiệu về mặt khách thể .
2. VẤN ĐỀ VỀ XỨ PHẠT HÀNH CHÍNH. 2.1. Khái niệm. 2.2. Đặc điểm.
2.3. Nguyên tắc về xử phạt hành chính.
2.4. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính.
2.5. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
2.6. Biện pháp xử lý hành chính khác.
2.7. Các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính.
2.8. Các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra.
3. CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CƠ BẢN CỦA THAM NHŨNG. 3.1. Khái niệm.
3.2. Các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tham nhũng.
4. CÁC LOẠI HÀNH VI THAM NHŨNG.
5. XỬ LÝ HÀNH VI THAM NHŨNG VÀ TÀI SẢN THAM NHŨNG. 5.1. Đối tượng.
5.2. Xử lý hành vi tham nhũng.
5.3. Xử lý tài sản tham nhũng.
6. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG Ở NƯỚC TA. 4 1.Các khái niệm:
1.1: Cơ sở lý luận là gì?
- Lý luận (hay lý luận khoa học) là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực
tiễn, phản ánh mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật, hiện tượng được
biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù.
Lý luận có các đặc trưng như sau:
+ Lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao và tính lô gíc chặt chẽ. Bản thân của lý luận là hệ
thống tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn; thu được từ kinh nghiệm, từ quan sát và thực nghiệm khoa học.
+ Cơ sở của lý luận là những trí thức kinh nghiệm thực tiễn, không có kinh nghiệm thực tiễn thì
không có cơ sở để khái quát lý luận.
+ Lý luận phản ánh được bản chất của sự vật, hiện tượng; nó phản ánh được mối liên hệ bản chất,
tất nhiên, mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng.
- Cơ sở lý luận là các giả thuyết đã được kiểm chứng và khẳng định. Đồng thời, cơ sở lý luận là
việc đánh giá một cách hiệu quả các tài liệu về đề tài nghiên cứu trên cơ sở liên hệ với nghiên cứu Quý vị đang thực hiện.
1.2: Khái niệm phát triển
1.2.1: Theo quan điểm phương pháp tư duy siêu hình
- Phát triển chỉ là sự tăng lên, giảm thuần túy về lượng
- Không có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật
- Nếu có sự thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng khép kín,
chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới.
- Phủ nhận sự phát triển, tuyệt đối hóa mặt ổn định của sự vật, hiện tượng.
1.2.2: Theo quan điểm phương pháp biện chứng
Phát triển là một phạm trù triết học chỉ khái quát quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ đơn
giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn; nguồn gốc của sự phát triển là mâu
thuẫn giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiện tượng và giải quyết mâu thuẫn đó là động lực của
sự phát triển; phát triển vừa diễn ra dần dần, vừa nhảy vọt đi theo đường xoáy ốc, dường như lặp
lại sự vật, hiện tượng cũ nhưng trên cơ sở cao hơn; thể hiện tính quanh co, phức tạp, có thể có
những bước thụt lùi tương đối trong sự phát triển.
1.2.3: Phân biệt khái niệm “ phát triển” với “tiến hóa”, “tiến bộ” và “ vận động”
– Phân biệt khái niệm “vận động” và khái niệm “phát triển“:
+ Vận động là thuộc tính cố hữu, là phương thức tồn tại của vật chất; vận động được hiểu như sự
thay đổi nói chung. “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn
tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi
quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”.
+ Phát triển là sự vận động có khuynh hướng tạo ra cái mới hợp quy luật. Phát triển gắn liền với sự ra đời của cái mới. 5
Nhờ có sự phát triển, cơ cấu tổ chức, phương thức tồn tại và vận động của sự vật cũng như chức
năng vốn có của nó ngày càng hoàn thiện hơn. Như thế, phát triển là một trường hợp đặc biệt của sự vận động.
– Phân biệt khái niệm “phát triển” với “tiến hóa” và “tiến bộ”
+ Tiến hóa là: một dạng của phát triển, diễn ra từ từ; là sự biến đổi hình thái của tồn tại từ đơn giản
đến phức tạp.Thuyết tiến hóa tập trung giải thích khả năng sống sót và thích ứng của cơ thể xã hội
trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Còn khái niệm tiến bộ đề cập đến sự phát triển có giá trị tích cực.
Tiến bộ là: quá trình biến đổi hướng tới cải thiện thực trạng xã hội từ chỗ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
2. Tính chất của sự phát triển 2.1: Tính khách quan
– Tất cả các sự vật, hiện tượng trong hiện thực luôn vận động, phát triển một cách khách quan, độc
lập với ý thức của con người. Đây là sự thật hiển nhiên, dù ý thức của con người có nhận thức
được hay không, có mong muốn hay không.
Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngày trong chính bản thân của sự vật, hiện tượng. Đó là sự thống
nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập thuộc mỗi sự vật, hiện tượng.
Phát triển là quá trình tự thân (tự nó, tự mình) của mọi sự vật, hiện tượng.
– Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về tính khách quan của sự phát triển đã phủ nhận
quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và quan điểm siêu hình về sự phát triển.
Quan điểm duy tâm cho rằng nguồn gốc của sự phát triển ở các lực lượng siêu nhiên, phi vật chất
(thần linh, thượng đế), hay ở ý thức con người. Tức là đều nằm ở bên ngoài sự vật, hiện tượng.
Quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng về cơ bản là “đứng im”, không phát triển.
Hoặc phát triển chỉ là sự thay đổi đơn thuần về mặt lượng (số lượng, kích thước…) mà không có
sự biến đổi về chất.
Ví dụ: Hạt lúa, hạt đầu khi có nước, đất, chất dinh dưỡng, ánh sáng dù không có con người nhưng nó vẫn phát triển
2.2. Tính phổ biến của sự phát triển
Sự phát triển diễn ra ở tất cả mọi lĩnh vực từ tự nhiên, xã hội và tư duy, trong mọi sự vật, hiện
tượng, mọi quá trình và giai đoạn của chúng và kết quả là cái mới xuất hiện.
Trong hiện thực, không có sự vật, hiện tượng nào là đứng im, luôn luôn duy trì một trạng thái cố
định trong suốt quãng đời tồn tại của nó. Ví dụ:
+ Trong tự nhiên : Tăng cường khả năng thích nghi cơ thể trước sự biến đổi của môi trường
Ví dụ: Người ở Miền Nam ra công tác làm việc ở Bắc thời gian đầu với khí hậu thay đổi họ sẽ khó
chịu nhưng dần họ quen và thích nghi.
+ Trong xã hội: Nâng cao năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội, tiến tới mức độ ngày càng
cao trong sự nghiệp giải phóng con người.
Ví dụ: hình thái Nhà nước: Cộng sản nguyên thủy → chiếm hữu nô lệ → phong kiến → tư bản chủ
nghĩa → xã hội chủ nghĩa. 6
+ Trong tư duy : Khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn với tự nhiên và xã hội.
Ví dụ: Trình độ hiểu biết của con người ngày càng cao so với trước đây: từ không biết → biết ít → biết nhiều
2.3. Tính kế thừa của sự phát triển
Sự phát triển tạo ra cái mới phải trên cơ sở chọn lọc, kế thừa, giữ lại, cải tạo ít nhiều những bộ
phận, đặc điểm, thuộc tính… còn hợp lý của cái cũ; đồng thời cũng đào thải, loại bỏ những gì tiêu
cực, lạc hậu, không tích hợp của cái cũ. Đến lượt nó, cái mới này lại phát triển thành cái mới khác
trên cơ sở kế thừa như vậy.
Đó là quá trình phủ định biện chứng. Là sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất. Quá
trình này diễn ra vô cùng, vô tận theo hình xoáy trôn ốc.
2.4. Tính phong phú, đa dạng của sự phát triển
Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng, song mỗi sự vật, hiện tượng, mỗi
lĩnh vực hiện thực lại có quá trình phát triển không hoàn toàn giống nhau
Ví dụ: ngày nay trẻ em phát triển nhanh hơn cả về thể chất lẫn trí tuệ so với trẻ em ở các thế hệ
trước do chúng được thừa hưởng những thành quả, những điều kiện thuận lợi mà xã hội mang lại
Sự phong phú của các dạng vật chất và phương thức tồn tại của chúng quy định sự phong phú của
phát triển. Môi trường, không gian, thời gian và những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau tác động
vào các sự vật, hiện tượng cũng làm cho sự phát triển của chúng khác nhau. Ví dụ:
+ Cây lúa khi có nhiều nước sẽ lá xanh và cây phát triển, còn khi khô hạn thì thân cây nhỏ, lá dần
ngả màu vàng và kém phát triển hơn.
+ Cây hoa súng trồng ngập dưới nước nhỏ và nhọn, nổi trên mặt nước lá to và tròn
+ Cây rau muống khi trồng ở nơi nhiều nước thì thân cây to, lá xanh mơn mởn, còn khi trồng ở nơi
ít nước thì lá cây hơi ngả vàng và thân cây nhỏ.
+ Cáo tuyết có lông màu trắng, vào mùa tuyết tan màu lông chuyển sang màu nâu 2.5: Tính phức tạp
- Theo quan điểm phương pháp biện chứng, phát triển không theo đường thẳng tắp đơn giản,
không theo vòng tròn khép kín, mà có biểu hiện rất phức tạp, quanh co, theo đường xoắn ốc.
3. Cơ sở lý luận của quan điểm phát triển
Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển là nội dung nguyên lý về sự phát triển.
Thứ nhất: Nguyên tắc phát triển (quan điểm phát triển) yêu cầu, khi xem xét sự vật, hiện tượng,
phải đặt nó trong trạng thái vận động, biến đổi, chuyển hoá để không chỉ nhận thức sự vật, hiện
tượng trong trạng thái hiện tại, mà còn phải thấy được khuynh hướng phát triển của nó trong tương
lai. Cần chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển là mâu thuẫn, còn động lực của sự phát triển là đấu
tranh giữa các mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng đó.
Thứ hai: Nguyên tắc phát triển yêu cầu, phải nhận thức sự phát triển là quá trình trải qua nhiều
giai đoạn, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Mỗi
giai đoạn phát triển lại có những đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau; bởi vậy, phải phân tích
cụ thể để tìm ra những hình thức hoạt động, phương pháp tác động phù hợp để hoặc, thúc đẩy,
hoặc kìm hãm sự phát triển đó. 7
Thứ ba: Nguyên tắc phát triển đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải nhạy
cảm với cái mới, sớm phát hiện ra cái mới, ủng hộ cái mới hợp quy luật, tạo điều kiện cho cái mới
phát triển; phải chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến v.v. Sự thay thế cái cũ bằng cái mới
diễn ra rất phức tạp, nhiều khi cái mới hợp quy luật chịu thất bại tạm thời, tạo nên con đường phát
triển không thẳng mà quanh co, phức tạp; tránh lạc quan và bi quan thái quá trong quá trình phát
triển của sự vật, hiện tượng.
Thứ tư: Trong quá trình thay thế cái cũ bằng cái mới phải biết kế thừa những yếu tố tích cực đã
đạt được từ cái cũ mà phát triển sáng tạo chúng trong điều kiện mới.
Phát triển là khó khăn, phức tạp. Vì vậy, trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn khi
gặp khó khăn, thất bại tạm thời phải bình tĩnh, tin tưởng vào tương lai. Như vậy, quan điểm triết
học Mác-Lênin về phát triển là cơ sở lý luận của quan điểm phát triển.
4. Tôn trọng nguyên tắc phát triển
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, tôn trọng nguyên tắc phát triển sẽ mang lại:
Sự phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn, nguyện vọng, ý chí, ý
thức con người. Dù con người có muốn hay không muốn, sự vật vẫn phát triển theo khuynh
hướng chung nhất của thế giới vật chất. Tôn trọng nguyên tắc phát triển giúp các sự vật
hiện tượng phát triển theo đúng quy luật của nó dần dẫn tới sự tiến bộ, tiến hóa
Tránh được sự lạc hậu không còn phù hợp trong hoạt động nhận thức và thực tiễn tránh nguy cơ bị đào thải.
Giúp khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Ngược lại, không tôn trọng nguyên tắc phát triển sẽ mang lại hậu quả sau:
Xuất hiện những tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, các sự vật hiện tượng không ngừng vận động và
phát triển, nếu ta kìm hãm hoặc lở đi sự vận động phát triển đó sẽ trở nên lạc hậu , không
còn phù hợp dẫn đến nguy cơ bị đào thải.
Nếu không tôn trong nguyên tắc phát triển mà cố gắng tác động vào quá trình phát triển tự
nhiên của nó sẽ gây ra những tác dụng ngược, những hậu quả không đáng có, mang lại
những kết quả không như mong muốn.
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I. KHÁI NIỆM THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1. Chủ nghĩa xã hội là gì ?
Về thuật ngữ chủ nghĩa xã hội được tiếp cận dưới bốn nghĩa:
- Một là, chủ nghĩa xã hội là ước mơ, nguyện vọng, nhu cầu của nhân dân lao động về một xã hội
không có chế độ tư hữu, giai cấp, áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu, cạnh tranh và tội ác...trong
đó xã hội đó, nhân dân được giải phóng và có quyền làm chủ.
- Hai là, chủ nghĩa xã hội với ý nghĩa là phong trào đấu tranh thực tiễn của người dân lao động
chống chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, bất công, đòi quyền dân chủ. 8
- Ba là, chủ nghĩa xã hội với tư cách ;à những tư tưởng, lý luận, học thuyết về giải phóng xã hội
loài người khỏi chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, bất công, nghèo nàn, lạc hậu. Về xây dựng xã hội
mới dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, không có sự phân chia giai cấp và sự khác nhau
về tài sản, không có bất công, không có cạnh tranh - một xã hội tốt đẹp nhất trong lịch sử nhân loại từ trước tới nay.
- Bốn là, chủ nghĩa xã hội với ý nghĩa là một chế độ xã hội mà nhân dân lao động xây dựng trên
thực tế dưới sự lãnh đạo của Đảng tiên phong của giai cấp công nhân.
2.Thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội là gì ?
Thời kỳ quá độ là thời kì diễn ra với giai đoạn trong thay đổi tính chất xã hội. Cải tạo cách
mạng xã hội Tư bản chủ nghĩa thành xã hội Xã hội chủ nghĩa. Khi đó hàng hoạt các chính sách
được thay đổi đáp ứng với chiến lược đề ra. Mang đến các chuyển hóa để đi đến thành công trong
xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Kết quả sau thời kỳ này là quốc gia tiến lên chủ nghĩa xã hội. Ở một
số quốc gia, có thể có bước nhảy vọt lên Chủ nghĩa xã hội mà không trải quan Tư bản chủ nghĩa.
Nhưng tất cả các tính chất diễn ra trong giai đoạn này vẫn đảm bảo cho thời kỳ quá độ được phản ánh.
II. TÍNH TẤT YẾU CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Ở nước ta, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bắt đầu từ năm 1954 ở miền
Bắc và từ năm 1975, sau khi đất nước đã hoàn toàn độc lập và cả nước thống nhất,
cách mạng dân tộc - dân chủ nhân dân đã hoàn toàn thắng lợi trên phạm vi cả nước
thì cả nước cùng tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, cùng quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thời kỳ quá độ là thời kỳ lịch sử mà bất cứ một quốc gia nào đi lên chủ nghĩa
xã hội cũng đều phải trải qua, ngay cả đối với những nước đã có nền kinh tế rất phát triển, bởi lẽ, ở
các nước này, tuy lực lượng sản xuất đã phát triển cao, nhưng vẫn còn cần phải cải tạo và cần xây
dựng quan hệ sản xuất mới, xây dựng nền văn hoá mới.
Dĩ nhiên, đối với những nước thuộc loại này, về khách quan có nhiều thuận lợi hơn,
thời kỳ quá độ có thể sẽ diễn ra ngắn hơn. Đối với nước ta, một nước nông nghiệp lạc
hậu đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thì lại càng phải trải qua
một thời kỳ quá độ lâu dài.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là
một thời kỳ lịch sử mà: "Nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền
tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,... tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có
công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá và khoa học tiên tiến. Trong quá
trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng
nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài." (Hồ Chí Minh: Toàn
tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.10, tr. 13) 9
Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được lý giải từ các căn cứ sau đây:
Một là, bất kỳ quá trình chuyển biến từ một xã hội này lên một xã hội khác đều nhất định phải
trải qua một hời kỳ gọi là thời kỳ quá độ. Đó là thời kỹ còn có sự đan xen lẫn nhau giữa các yếu tố
mới và cũ trong cuộc đấu tranh với nhau. Có thể nói đây là thời kỳ của cuộc đấu tranh “ai thắng
ai” giữa cái cũ và cái mới mà nói chung theo tính tất yếu phát triển lịch sử thì cái mới thường
chiến thắng cái cũ, cái lạc hậu. Từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội không là ngoại lệ lịch sử.
Hơn nữa, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là một bước nhảy lớn và căn bản về chất so với
các quá trình thay thế từ xã hội cũ lên xã hội mới đã từng diễn ra trong lịch sử thì thời kỳ quá độ
lại càng là một tất yếu, thậm chí có thể kéo dài. Nhất là đối với những nước còn ở trình độ tiền tư
bản thực hiện thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì “những cơn đau đẻ” này còn có thể rất dài
với nhiều bước quanh co.
Hai là, sự ra đời của một xã hội mới bao giờ cũng có những sự kế thừa nhất định từ những
nhân tố do xã hội cũ tạo ra. Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là sự kế thừa đối với chủ nghĩa tư bản,
đặc biệt là trên phương diện kế thừa cơ sở vật chất kỹ thuật đã được tạo ra bởi sự phát triển của
nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội mặc dù cũng
là nền sản xuất đại công nghiệp nhưng đó là nền sản xuất đại công nghiệp xã hội chủ nghĩa chứ
không phải là nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa. Do đó nó cũng cần phải có thời kỳ quá độ của
bước cải tạo, kế thừa và tái cấu trúc nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa. Đối với những nước chưa
từng trải qua quá trình công nghiệp hóa tiến lên chủ nghĩa xã hội, thời kỳ quá độ cho việc xây
dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội càng có thể kéo dài với nhiệm vụ trọng tâm của
nó là tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Đó là một nhiệm vụ vô cùng to lớn và đầy khó
khăn, không thể “đốt cháy giai đoạn” được.
Ba là, các quan hệ xã hội của chủ nghĩa xã hội không tự phát nảy sinh trong lòng chủ nghĩa tư
bản, chúng là kết quả của quá trình xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển của chủ
nghĩa tư bản, dù đã ở trình độ cao cũng chỉ có thể tạo ra những điều kiện, tiền đề cho sự hình thành
các quan hệ xã hội mới xã hội chủ nghĩa, đo vậy cũng cần phải có thời gian nhất định để xây dựng
và phát triển những quan hệ đó.
Bốn là, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là một công việc mới mẻ, khó khăn và phức tạp.
Với tư cách là người chủ của xã hội mới, giai cấp công nhân và nhân dân lao động không thể ngay
lập tức có thể đảm đương được công việc ấy, nó cần phải có thời gian nhất dịnh.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở các nước có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác
nhau có thể diễn ra khoảng thời gian dài, ngắn khác nhau. Đối với những nước đã trải qua chủ
nghĩa tư bản phát triển ở trình độ cao khi tiến lên chủ nghĩa xã hội thì thời kỳ quá độ có thể tương
đối ngắn. Những nước đã trải qua giai đoạn phát triển chĩ nghĩa tư bản ở trình độ trung bình, đặc
biệt là những nước còn ở trình độ phát triển tiền tư bản, có nền kinh tế lạc hậu thì thời kỳ quá độ
thường kéo dài với rất nhiều khó khăn, phức tạp.
III. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội tiền
tư bản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa sang xã hội chủ nghĩa. 10
Đặc điểm cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải tạo cách
mạng sâu sắc, triệt để xã hội tư bản chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực, kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội xây dựng từng bước cơ sở vật chất- kỹ thuật và đời sống tinh thần
của chủ nghĩa xã hội. Đó là thời kỳ lâu dài, gian khổ bắt đầu từ khi giai cấp công
nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền đến khi xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội. Có thể khái quát những đặc điểm cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội như sau:
+ Trên lĩnh vực kinh tế:
Thời kỳ quá độ là thời kỳ tất yếu còn tồn tại một nền kinh tế nhiều thành phần trong một hệ
thống kinh tế quốc dân thông nhất. Đây là bước quá độ trung gian tất yếu trong quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội, không thể dùng ý chí để xóa bỏ ngay kết cấu nhiều thành phần của nền kinh tế,
nhất là đối với những nước còn ở trình độ chưa trải qua sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được xác lập trên
cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều loại hình sở hữu về tư liệu sản xuất với những hình thức tổ
chức kinh tế đa dạng, đan xen hỗn hợp và tương ứng với nó là những hình thức phân phối khác
nhau, trong đó hình thức phân phối theo lao động tất yếu ngày càng giữ vai trò là hình thức phân phối chủ đạo.
+ Trên lĩnh vực chính trị:
Do kết cấu kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đa dạng, phức tạp, nên kết cấu
giai cấp của xã hội trong thời kỳ này cũng đa dạng phức tạp. Nói chung, thời kỳ này thường bao
gồm: giai cấp công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức, những người sản xuất nhỏ, tầng lớp tư sản và
một số tầng lớp xã hội khác tuỳ theo từng điều kiện cụ thể của mỗi nước. Các giai cấp, tầng lớp
này vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau.
+ Trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá:
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều yếu tố tư tưởng và văn hoá khác
nhau. Bên cạnh tư tưởng xã hội chủ nghĩa còn tồn tại tư tưởng tư sản, tiểu tư sản, tâm lý tiểu nông,
V.V.. Theo V.I. Lênin, tính tự phát tiểu tư sản là “kẻ thù giấu mặt hết sức nguy hiểm, nguy hiểm
hơn so với nhiều bọn phản cách mạng công khai”. Trên lĩnh vực văn hoá cũng tồn tại các yếu tố
văn hoá cũ và mới, chúng thường xuyên đấu tranh với nhau.
+ Trên lĩnh vực xã hội:
Do kết cấu của nền kinh tế nhiều thành phần qui định nên trong thời kỳ quá độ còn tồn tại
nhiều giai cấp , tầng lớp và sự khác biệt giữa các giai cấp tầng lớp xã hội, các giai cấp, tầng lớp
vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau. Trong xã hội của thời kỳ quá độ còn tồn tại sự khác biệt giữa
nông thôn, thành thị, giữa lao động trí óc và lao động chân tay. Bởi vậy, thời kỳ quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, về phương diện xã hội là thời kỳ đấu tranh giai cấp chống áp 11
bức, bất công, xóa bỏ tệ nạn xã hội và những tàn dư của xã hội cũ để lại, thiết lập công bằng xã hội
trên cơ sở thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động là chủ đạo.
Phải thực hiện việc khắc phục những tệ nạn xã hội do xã hội cũ để lại; từng bước khắc phục
sự chênh lệch phát triển giữa các vùng miền, các tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm thực hiện mục
tiêu bình đẳng xã hội; xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người theo mục tiêu lý tưởng
tự do của người này là điều kiện, tiền đề cho sự tự do của người khác.
IV. KHẢ NĂNG TIẾN HÀNH QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
KHẢ NĂNG KHÁCH QUAN
Yếu tố khách quan quan trọng đầu tiên giúp chúng ta tiến lên chủ nghĩa xã hội là Liên Xô
lúc đó đã tiến hành thành công cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa và sẵn sàng giúp đỡ chúng ta cả
về vật chất và tinh thần. Sau đó hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu tan rã đưa ra cho
chúng ta tấm gương khá sinh động về sự thành công và thất bại sâu sắc và chi tiết đến mức có thể
từ đó đưa ra những giải pháp điển hình cho sự lãnh đạo và thực hiện tiến trình cách mạng.
Ngày nay, xu thế quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới đã đóng vai trò tích
cực, không những làm cho quá độ bỏ qua chủ nghĩa tư bản là tất yếu mà còn đem lại điều kiện và
khả năng khách quan cho sự quá độ này. Quá tình quốc tế hoá sản xuất, toàn cầu hoá với sự phát
triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã tạo khả năng cho những nước kém phát triển
đi sau tiếp thu, vận dụng đưa vào nước ta lực lượng sản xuất hiện đại và kinh nghiệm của những
nước đi trước cũng như tạo khả năng khách quan cho việc khắc phục khó khăn về nguồn vốn, kĩ
thuật hiện đại. Điều kiện đó giúp chúng ta tranh thủ được cơ hội, tận dụng, khai thác, sử dụng có
hiệu quả những thành tựu mà nhân loại đã đạt được để rút ngắn thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. KHẢ NĂNG CHỦ QUAN
Sự lãnh đạo của Đảng và liên minh công nông vững chắc là yếu tố quan trọng bậc nhất cho
mọi thành công của chúng ta đạt được. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin luôn
luôn nhấn mạnh vai trò của Đảng vô sản trong việc lãnh đạo cách mạng nói chung và trong việc
thực hiện quá tình phát triển rút ngắn ở các nước tiền tư bản nói riêng. Ở Việt Nam, Đảng công sản
Việt Nam là một nhân tố có vai trò quyết định đối với
việc đẩy nhanh sự phát triển đất nước. Trong công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo
đã thu được những kết quả khả quan như: Đã củng cố và khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội của chúng ta là đúng đắn. Sự lựa chọn con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản
chủ nghĩa của nước ta là phù hợp với sự lựa chọn của nhân dân ta. Các tầng lớp lao động công
nhân, nông dân và trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng đã cùng nhau chiến đấu, hy sinh để giành lại
độc lập dân tộc và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Do đó họ sẵn sàng liên minh chặt chẽ với
nhau và cùng với Đảng để vượt qua mọi khó khăn, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. 12
Khả năng và nguồn lực trong nước có thể đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Chúng ta có lực lượng lao động dồi dào, chăm chỉ, khéo léo, dễ dàng đào tạo, sẵn
sàng đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới. Tài nguyên thiên nhiên của nước ta cũng hết sức giàu
có và phong phú tạo điều kiện hoàn thành sự công nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
tạo tiền đề xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa.
V. THỰC TRẠNG CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Việt Nam đang trải qua giai đoạn phát triển kinh tế và chính trị đánh kể trong những năm
qua, với sự gia tăng của chủ nghĩa thị trường và văn hoá tiêu dùng. Tuy nhiên, chủ nghĩa xã hội
vẫn là một mục tiêu lý tưởng và được nhiều người ủng hộ. Hiện nay, chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam còn gặp nhiều khó khăn đi kèm với những thách thức. Một số vấn đề cấp thiết là cải thiện
hệ thống tài nguyên chính, tăng cường quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng giáo dục và đào
tạo, duy trì và phát triển các ngành nghề và dịch vụ cộng đồng, nâng cao quyền lợi cho người
dân và bảo vệ môi trường. Mặc dù chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam còn nhiều khó khăn, nhưng với
niềm tin của mọi người vào sự cố gắng của Chính phủ
VI. THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 (bổ sung phát triển năm2011) và 35 năm đổi mới: “Đất
nước ta đã đạt được nhữngthành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàndiện so
với trước đổi mới. Trình độ nền kinh tế được nâng cao.Đời sống nhân dân về vật chất và tinh
thần được cải thiện rõrệt. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từngbước được
hình thành, phát triển; công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước được đẩy mạnh; kinh tế vĩ mô ổn
định, tốc độ tăngtrưởng kinh tế duy trì ở mức cao, chất lượng tăng trưởng đượccải thiện, quy
mô và tiềm lực kinh tế đất nước tăng lên. Các lĩnhvực văn hóa, xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa
học - công nghệ,phát triển con người,…. Các chính sách, bảo đảm an sinh xã hội,xóa đói giảm
nghèo, chính sách dân tộc, tôn giáo được thựchiện có kết quả. Chính trị xã hội ổn định; quốc
phòng, an ninhđược tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngàycàng sâu rộng, đạt
nhiều thành tựu nổi bật. Sức mạnh đại đoànkết toàn dân tộc được củng cố, dân chủ xã hội chủ
nghĩa đượctăng cường. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩacó nhiều tiến bộ, hoạt
động hiệu lực, hiệu quả hơn; tổ chức bộmáy lập pháp, hành pháp và tư pháp ngày càng được
hoànthiện. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trịđược đẩy mạnh toàn diện,
đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt. Cụ thể như sau: VỀ KINH TẾ 13
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã tích cực thểchế hóa đường lối, chủ trương,
quan điểm của Đảng vềcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bước đầu tạo môi trường
pháp lý bình đẳng và minh bạch cho các doanhnghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cạnh
tranh, phát triển, khơi thông các nguồn lực trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài. Cơ cấu
kinh tế đã bước đầu chuyển dịch theo hướng hiện đại. Tỷ trọng các ngành công nghiệp và
dịch vụ tăng, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm. Trình độ công nghệ sản xuất công nghiệp
đã có bước thay đổi theo hướng hiện đại. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong giá
trị sản xuất công nghiệp tăng, tỷ trọng công nghiệp khai thác giảm dần. Công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn có tiến bộ. Cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, sinh
học hóa được chú trọng gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng nông thôn
mới.Ngành công nghiệp và xây dựng duy trì tốc độ tăng trưởng khá liên tục trong nhiều
năm; tốc độ triển khai ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ được cải thiện, nhiều
dây chuyền công nghệ hiện đại, thiết bị tiên tiến, quy trình quản lý công nghiệp hiện đại
được áp dụng. Khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng khá cao, thị trường được mở
rộng.Một số ngành dịch vụ mới, chủ lực có giá trị gia tăng cao như khoa học - công nghệ,
thiết kế công nghiệp, nghiêncứu thị trường, tài chính, ngân hàng, viễn thông. .. đã hình
thành và từng bước phát triển.
- Ứng dụng công nghệ cao để đẩy mạnh nhiều ngành, lĩnh vực. Nông nghiệp tập trung vào
sản xuất hàng hoá theo hướng hiện đại, giá trị tăng cao, bền vững, liên kết sản xuất theo
chuỗi giá trị và hình thành nhiều mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp
sạch, hữu cơ.Cơ cấu các ngành công nghiệp chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng
ngành khai khoáng, tăng nhanh tỷ trọng ngành chế biến, chế tạo và ứng dụng công nghệ
cao. Công nghiệp hỗ trợ từng bước được hình thành và phát triển.Ngành xây dựng tăng
trưởng mạnh, năng lực xây lắp và chất lượng công trình xây dựng từng bước được cải
thiện.Các ngành dịch vụ phát triển đa dạng, chất lượng ngày càng cao. Ngành du lịch đã có
bước phát triển rõ rệt và đạt được những kết quả quan trọng, cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. VỀ CHÍNH TRỊ
- Bám sát tám phương hướng trong Cương lĩnh bổ sung,phát triển năm 2011, Đảng ta đã cụ
thể hóa, bổ sung, làm sáng tỏ hơn phương hướng phát triển đất nước. Công nghiệp hóa, 14
hiện đại hóa đất nước được tiếp cận theo tưduy mới gắn với đổi mới mô, cơ cấu lại nền kinh
tế; nhấn mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới;
chú trọng chất lượng, hiệu quả,sức cạnh tranh; phát triển nhanh, bền vững. Nhận thức về
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được đầy đủ hơn theo hướng xây
dựng nền kinh tế thịtrường đầy đủ, hiện đại, hội nhập, bảo đảm độc lập, tự chủ, đồng thời
chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.
- Xây dựng tổ chức bộ máy của Đảng có bước chuyển biến mạnh mẽ: Các quy định, nguyên
tắc, cơ chế vận hành tổ chức bộ máy ngày càng hoàn thiện. Các văn bản về công tác cán bộ
và xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng liên tục được bổ sung, được cụ thể, toàn diện, đồng
bộ hơn. Bộ máy của Đảng được đẩy mạnh sắp xếp theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Việc
ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán
bộ,đảng viên bước đầu có kết quả.
- Hệ thống tổ chức của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc,các đoàn thể chính trị - xã hội
được đổi mới; chức năng,nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của từng tổ chức đượcphân định,
điều chỉnh hợp lý hơn, từng bước đáp ứng yêucầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủnghĩa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phát huy tốt hơn vai trò tập hợp, xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, mở rộng tổ chức, phát triển đoàn viên, hội viên, tổ chức
nhiều phong trào thi đua,nhiều cuộc vận động có hiệu quả thiết thực, cùng Nhà nước chăm
lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tham gia quản lý nhà nước,
quản lý xã hội, góp phần tích cực vào những thành tựu của đất nước.
VỀ VĂN HÓA , XÃ HỘI
Xuất phát từ nhận thức về mục tiêu của cuộc cách mạng và bản chất tốt đẹp của chế độ xã
hội chủ nghĩa, Đảng chủ trương đã triển khai bao quát toàn diện các lĩnh vực xã hội, từ giáo
dục,y tế, gia đình, môi trường, xóa đói giảm nghèo, đến an sinh,phúc lợi xã hội, thể dục thể
thao, văn hóa giải trí, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm quyền con người, phòng chống tội
phạm,tệ nạn xã hội. Nhà nước giữ vai trò trung tâm, đồng thời động viên mọi nguồn lực xã hội
cùng tham gia việc giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo cho mọi người dân được thụ hưởng 15
xứng đáng, công bằng những thành tựu của phát triển, tạo lập một xã hội văn minh, hài hòa,
mang lại hạnh phúc ngày càng nhiều hơn cho nhân dân.
VỀ QUỐC PHÒNG AN NINH
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu của quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, Đảng chủ trương
tiếp tục xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân,
tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng an ninh.Để bảo đảm nền tảng vững chắc cho quốc
phòng, an ninh, Đảngchủ trương phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh
quốc phòng, an ninh; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh. Về xây dựng lực lượng,
Đảng chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh
nhuệ, từng bước hiện đại; kết hợp giữa xây dựng lựclượng quân đội, công an chính quy, có sức
chiến đấu cao với lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ, lực lượng an ninh bán chuyên
trách, các cơ quan bảo vệ pháp luật và phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Tăng
cường sự lãnh đạo tuyệt đối,trực tiếp của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối
vớiQuân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh quốc
gia, trật tự, an toàn xã hội. VỀ ĐỐI NGOẠI
Đường lối nhất quán của Đảng ta là độc lập, tự chủ, hòa bình,hợp tác và phát triển, vì lợi
ích quốc gia, dân tộc, vì một nướcViệt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh. Trong điều kiện thế
giới đã có nhiều thay đổi, sự phát triển mới trong đường lối đối ngoạicủa Đảng ta chính là chủ
trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao
vị thế của đất nước trên trường quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm
trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ
xã hội trên thế giới. Đường lối đối ngoại xây dựng trên cơ sở những đổi mới, sáng tạo trong
nhận thức lý luận của Đảng thời gian qua đã mở ra điều kiện thuận lợi để đất nước hội nhập
quốc tếngày càng sâu rộng, mở mang quan hệ ngoại giao, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, chắt
lọc tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhânloại, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng, phát
triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 16
VII. HẠN CHẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn đổi mới nền kinh tế thịtrường ở Việt Nam hiện nay
Với những thành tựu vô cùng to lớn về kinh tế trong quá trình đổi mới trong những năm
qua đã khẳng định đường lối đúng đắn của mô hình kinh tế tổng quát mà Đảng Cộng sản Việt
Nam đã xác định. Đó cũng chính là thành tựu của sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ
nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn xây dựngchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh
những thành tựu đạt được, nhận thức lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
cũng còn nhiều hạn chế:
-Chưa hình thành được khung lý luận đầy đủ và hệ thống về kinh tế định hướng xã hội chủ
nghĩa, nhất là về một số nội dung của định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị
trường. Nhận thức chưa rõ về bản chất, đặc trung của kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, về vị trí, vai trò và mối quan hệ giữa các chủ thể của kinh tế thị trường.
-Chưa hình thành đầy đủ về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên chưa
nhất quán những nguyên tắc của kinh tế thị trường trong xây dựng, vận hành và xử lý các
vấn đề của nền kinh tế
-Thể chế kinh tế thị trường nói chung còn thiếu đồng bộ,nhất quán, điều này gây ra sự cản
trở trong vận hành cơchế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Nhận thức chưađầy đủ và
thiếu thống về chế độ sở hữu, về phân định vai trò các thành phần kinh tế. Chưa có tư duy
đột phá vềchiến lược phát triển công nghiệp, nông nghiệp
-Chưa làm sáng tỏ vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường do chưa phân định rõ
chức năng Nhà nước – thịtrường. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chungcòn
nhiều yếu kém, việc thực hiện chức năng chủ sở hữuđối với doanh nghiệp nhà nước còn bất cập.
- Chưa có những giải pháp hữu hiệu củng cố và phát triểnkinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước
chưa thực hiện đượcđầy đủ vai trò chủ đạo, định hướng của nó trong nền kinhtế thị trường.
Các vấn đề đặt ra về lý luận và thực tiễn đối với đổi mới chính trị
- Nhận thức về hệ thống chính trị về bản chất, chức năng,nhiệm vụ, cấu trúc, tổ chức, cơ chế vận
hành hệ thống chính trị, phương thức,cơ chế hoạt động của các thành viên có mặt chưa thật 17
rõ,chưa thống nhất, nhất là trước yêu cầu và trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyên,
phát triển thể chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Chưa nghiên cứu
sâu và làm rõ một cách có hệ thống về đổi mới phương thức lãnh đạo – cầm quyền của Đảng
đối với Nhà nước và đối với các thành viên khác của hệ thống chính trị trong mọi cấp độ tổ
chức của hệ thống chính trị. Giữa chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà
nước vẫn có sự chồng chéo ở các cấp, trong nhiều lĩnh vực,dẫn đến định hướng đổi mới nội
dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
thành viên còn có những lúng túng.
- Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền còn những bất cập,chưa đáp ứng được đầy đủ các nguyên
tắc cơ bản: Thượng tôn pháp luật; hoạt động thực sự dân chủ; chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính
đáng của nhân dân, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…, đã hạn chế việc thực hiện đầy đủ
các quyền và điều kiện làm chủ của nhân dân. Còn diễn ra tình trạng lạm quyền, tham quyền,
tha hóa quyền lực gây bức xúc trong xã hội. Giữa nhận thức lý luận với các chế định luật pháp,
cơ chế chính sách và với việc thực thi trong cuộc sống về các giá trị dân chủ vẫn còn những
khoảng cách.Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu đề ra; thủ tục hành chính còn gây phiền hà
cho xã hội và công dân. Tình trạng quan liêu, tiêu cực của một bộ máy hành chính làm cho việc
dân chủ hóa quản lý các quá trình kinh tế - xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
chưa nhanh, nhạy,hiệu quả không cao.
- Trong đổi mới chính trị mục tiêu trước hết là thực hiện tốtdân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ
hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, giữ vững định
hướng xã hội chủ nghĩa. Song quan điểm về dân chủ xã hội chủ nghĩa chưa được nghiên cứu và
nhân thức sâu sắc, đầy đủ; còn xem nhẹ việc thực hành dân chủ, coi nhẹ vai trò làm chủ của
nhân dân; chưa coi trọng đúng mức phát triển các hình thức dân chủ trực tiếp. Dân chủ đại diện
và dân chủ trực tiếp còn những biểu hiện thiếu thực chất, chưa phát huy tốt vai trò. Quyền làm
chủ của nhân dân ở một số nơi, một số lĩnh vực còn bị vi phạm,việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức.
- Trong mối quan hệ giữa hệ thống chính trị với kinh tế thể hiện giữa đổi mới chính trị và đổi
mới kinh tế chưa thật đồng bộ, phù hợp. Thể hiện ở chỗ, một mặt, chưa nắm bắt đầy đủ quy
luật của thị trường cũng như yêu cầu và tácđộng của kinh tế thị trường đối với tổ chức và hoạt
động của hệ thống chính trị; mặt khác, chưa thấy hết vai trò thúc đẩy của hệ thống chính trị 18
trong xây dựng và pháttriển thể chế kinh tế mới. Về quan hệ giữa hệ thống chính trị với các tổ
chức chính trị - xã hội hiện cho thấy, nhận thức về vị trí, vai trò, chức năng của các tổ chức
chính trị -xã hội trong hệ thống chính trị còn những điểm chưa đượclàm rõ. Trong thực tế, các
tổ chức chính trị - xã hội tham gia cùng với Mặt trận Tổ quốc trong hệ thống chính trị thựchiện
các nhiệm vụ liên quan đến quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, quyền dân chủ của nhân
dân; các tổ chức này hoạt động với những nội dung mang tính chất kinh tế -xã hội theo cơ chế
tự chủ và tự quản theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, theo điều lệ của từng tổ chức.
Việc chưa nhận thức và phân định rõ hai chức năng này đã dẫn đến việc xác định cơ cấu tổ
chức, cơ chế hoạt động và mốiquan hệ với hệ thống cơ quan nhà nước từ trung ương xuống cơ
sở còn nhiều điểm chưa phù hợp, cồng kềnh, bị hành chính hóa.
VIII. GIẢI PHÁP NHẰM KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
GIẢI PHÁP CỦA ĐẢNG
Trong bối cảnh những thuận lợi và khó khăn hiện nay, Đảng ta chỉ rõ mục tiêu tổng quát
khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là, chúng ta xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của
chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị,tư tưởng, văn hóa phù hợp tạo cơ sở để
nước ta trở thành một nước xã hội chủnghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Cụ thể hơn, Đảng ta
chỉ rõ, đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Đây quả là những nhiệm vụ nặng nề bởi trước hết "xây dựng được về cơ bản nền
tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội" nghĩa là nền kinh tế củachúng ta phải liên tục phát triển vượt
bậc để đến khi kết thúc thời kỳ quá độ chúng ta đạt được nền kinh tế phát triển rất cao đủ cơ sở
hiện thực để đưa xã hội ta bước vào thời kỳ phát triển xã hội xã hội chủ nghĩa; Thứ hai, phải xây
dựng được kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp với hạ tầngcơ sở phát
triển cao như thế. Đây quả là vấn đề không đơn giản như các nhà kinh điển đã chỉ ra. Bởi vì, thời
kỳ quá độ là thời kỳ diễn ra những cuộc biến đổi hết sức sâu sắc và căn bản, nó diễn ra cuộc đấu
tranh quyết liệt giữa cái cũ và cáimới, giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, giữa giai cấp tư
sản, những thế lực phản động và giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Nghĩa là, ở đó chúng ta
không chỉ có xây dựng mà cơ bản hơn là phải đấu tranh quyết liệt để giữ chính quyền, bảo vệ chế
độ và xây dựng những "cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn
vinh, hạnh phúc". Nhận thức đúng những thời cơ và thách thức đang đặt ra để thực hiện được mục
tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ .
Đảng ta chỉ rõ chúng ta phải quán triệt và thực hiện tốt các phương hướng,nhiệm vụ cơ bản:
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền vớiphát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài 19
nguyên, môi trường; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực
hiện tiến bộ và công băng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốcgia, trật tự an
toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, dân chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát
triển; Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế;Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện
đại đoàn kết toàn dân tộc,tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; Xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM
Lịch sử thế giới cho thấy, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan đối với
nhân loại. Tuy nhiên, do những khuyết điểm về nhận thức và tổchức thực hiện những mục tiêu và
nhiệm vụ của thời kỳ quá độ, khiến cho thời kỳ quá độ bị kéo dài, hoặc hoàn toàn chệch hướng, xa
rời mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta cần vững vàng, tỉnh táo, sáng suốt và
sáng tạo trong nhận thức và tổ chức thực hiện những mục tiêu và nhiệm vụ của thời kỳ quá độ.
Trong xã hội, có một số người ráo riết phê phán con đường xã hội chủ nghĩa, cho rằng con đường
đó đã lỗi thời, nên tìm con đường khác, đồng thời phủ nhận vấn đề đã trở thành chân lý của cách
mạng Việt Nam: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Vì vậy, việc hâm nóng lại lý
luận và thực tiễn thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta ở thời điểm hiện nay là một vấn
đề có tính thời sự, có tính cấp thiết đối với một công cuộc đổi mới đúng đắn.Phải kết hợp hài hòa
các lợi ích cá nhân, tập thể, nhà nước thì mới tạo động lực phát triển kinh tế, trong đó lợi ích cá
nhân là động lực trực tiếp, đồng thời phải áp dụng những hình thức kinh tế trung gian, quá độ để
hiện thực hóa thời kỳ quá độ.
LIÊN HỆ BẢN THÂN SINH VIÊN
1. Tích cực học tập, trang bị kiến thức về chủ nghĩa Mác – Lênin, nắm được sự vận động phát triển
của quy luật xã hội, tin tưởng vào đường mà Đảng vàChủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn đó là độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
2. Rèn luyện kỹ năng, phẩm chất tốt để đóng góp công sức vào công cuộc xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội.
3. Hiểu được và thực hiện đúng các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước Pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, tích cực tham gia các đoàn thể trong nhà trường, hoạt động tình nguyện,
… nâng cao ý thức bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.
4. Chủ động tiếp cận khoa học kỹ thuật mới, bảo vệ tài sản của cộng đồng, xã hội, tiếp thu, bổ
sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư
tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp
thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trê, lạc hậu so với cuộc sống. 20