Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN.
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM NÀY TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM NHÓM: 06
LỚP HP: 232_MLNP0221_22
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ HÀ NỘI
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ Đánh giá ST THọ và tên Nhiệm vụ Nhóm tự của giảng xếp loại viên 1Nguyễn Thu Nga 2.3 Chương 2, Thuyết trình A 2Nguyễn Thị Nga 1.2 Chương 1 B+ 3Ngô Thị Kim Ngân 2.1 Chương 2, Tổng hợp word B+ 4Nguyễn Thị Nhung 2.4 Chương 2, Powerpoint A
5Nguyễn Phương Oanh 3.1 Chương 3, Powerpoint A 6Lê Vũ Bảo Nhật 2.2 Chương 2 B+ 3.2 Chương 3, Lời mở đầu, lời 7Thạch Thu Phương cảm ơn, kết luận, A Kiểm tra nội dung 8Trần Hồng Quân 1.3 Chương 1, Thuyết trình A 9Trần Ánh Ngọc 1.1 Chương 1 B+
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 24 tháng 3 năm 2024
BIÊN BẢN CUỘC HỌP (1) - NHÓM 6
Thời gian: từ 22h đến 23h ngày 24 tháng 3 năm 2024
Địa điểm: Online qua Google meet
Thành viên tham dự: 9/9
Nội dung cuộc họp:
Tìm hiểu nội dung đề tài thảo luận. Viết đề cương cho bài thảo
luận. Đặt yêu cầu và chú ý về nội dung thảo luận
Nhóm trưởng giải đáp một số thắc mắc của thành viên trong nhóm và
thống nhất hạn nộp nhiệm vụ. Chủ toạ Phương Thạch Thu Phương
BIÊN BẢN CUỘC HỌP (2) - NHÓM 6
Thời gian: từ 15h đến 17h ngày 12 tháng 04 năm 2024
Địa điểm: Phòng 3, tầng 4 tại Thư viện TMU
Thành viên tham dự: 9/9
Nội dung cuộc họp:
Tổng hợp lại bài thảo luận. Đưa ra các ý kiến về nội dung bài thảo luận.
Chỉnh sửa lại nội dung bài thảo luận. Tập dẫn thuyết trình.
Đánh giá về chất lượng bài làm, hoạt động teamwork của thành viên. Kết quả:
Sau cuộc họp nhóm 6 thống nhất kết quả xếp loại. Chủ toạ Phương Thạch Thu Phương MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................1
LỜI CẢM ƠN........................................................................................................2
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN.................3
1.1 Khái niệm phát triển................................................................................3
1.2 Tính chất của sự phát triển......................................................................3
1.3 Ý nghĩa của sự phát triển........................................................................5
CHƯƠNG 2. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN TRONG THỜI KỲ
QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM........................................7
2.1 Khái niệm và đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam...............................................................................................................7
2.2. Khả năng tiến hành quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam..............13
2.3 Nguyên nhân quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.........................15
2.4.Thực trạng của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay 18
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ
GIẢI PHÁP NHẰM KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ CỦA THỜI KÌ QUÁ
ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM................................................26
3.1. Phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.......................26
3.2 Giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế của thời kì quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay...............................................................28
KẾT LUẬN.........................................................................................................31
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................32 LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại hiện đại, quan điểm về phát triển không chỉ là một khía cạnh
của kinh tế hay xã hội mà còn là một trụ cột quan trọng của sự tiến bộ của mỗi
quốc gia. Phân tích cơ sở lý luận của quan điểm phát triển là một bước đầu tiên
quan trọng để hiểu rõ về hướng đi của một xã hội, từ đó xây dựng các chiến lược
phát triển hiệu quả. Trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay, khi đất nước đang
trải qua giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, việc áp dụng và điều chỉnh quan
điểm này trở nên càng trọng yếu hơn bao giờ hết.
Theo quan điểm triết học Mác- Lê nin về sự vật hiện tượng là tiền đề cho
cơ sở lý luận của quan điểm phát triển. Mỗi sự vật, hiện tượng đều có quá trình
ra đời, biến đổi, phát triển và mất đi. Sự phát triển là xu thế tất yếu trong mọi
lĩnh vực đời sống xã hội, được diễn ra dưới ba hình thức: từ thấp đến cao, đơn
giản đến phức tạp và từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện Theo quan niệm biện
chứng, sự phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao, không nhất thiết
diễn ra theo đường thẳng mà thường là một quá trình phức tạp, với những bước
nhảy vọt và thậm chí có những thời điểm tạm thời của sự lùi bước. Ngược lại,
theo quan điểm siêu hình, sự phát triển chỉ là sự tăng lên, giảm đi thuần túy về
lượng mà không thay đổi về bản chất của sự vật. Hoặc nếu có thay đổi về bản
chất, thì nó cũng diễn ra theo một chu trình đóng và mở, không tạo ra cái mới
với những đặc tính mới..
Tại Việt Nam, việc áp dụng quan điểm phát triển trong giai đoạn quá độ lên
chủ nghĩa xã hội đặt ra nhiều thách thức và cũng mang lại nhiều cơ hội. Việc
đảm bảo sự cân đối giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, giữa hiện tại và
tương lai là một trong những thách thức lớn nhất. Tuy nhiên, qua việc vận dụng
các nguyên tắc cơ bản của quan điểm phát triển, chính sách và chiến lược phát
triển có thể được xây dựng và thực thi một cách hiệu quả, hướng tới mục tiêu
xây dựng một xã hội công bằng, tiến bộ và bền vững.
Việc nghiên cứu, phân tích cơ sơ lý luận của quan điểm phát triển sẽ cho ta
thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của nó. Từ đó vận dụng quan điểm này vào thời
kì quá độ của chủ nghĩa xã hội của Việt Nam hiện nay 1 LỜI CẢM ƠN
Bài thảo luận về đề tài: “Phân tích cơ sở lý luận của quan điểm phát triển.
Vận dụng quan điểm này trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong Việt
Nam hiện nay.” thuộc bộ môn Triết học Mác - Lênin là kết quả của quá trình
học tập, tiếp thu kiến thức tại trường, lớp và cả những tìm tòi, nghiên cứu của
nhóm 6 chúng em và sự chỉ dạy tận tình của thầy Hồ Công Đức - giảng viên học
phần Triết học Mác- Lênin đã tạo điều kiện giúp chúng em có những trải
nghiệm tuyệt vời với những bài giảng đầy tâm huyết, bổ ích cùng với đó là
sự hỗ trợ nhiệt tình đến từ thầy để giúp nhóm 6 hoàn thành đề tài thảo luận trong học phần này.
Mặc dù đã dành nhiều thời gian và nỗ lực để hoàn thành bài tiểu luận này,
nhưng do sự hạn chế về mặt kiến thức nên bài làm khó tránh khỏi những thiếu
sót. Chúng em kính mong nhận được những lời góp ý của thầy để bài làm ngày càng hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! 2
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN
1.1 Khái niệm phát triển
Sự phát triển cũng có những quan điểm khác nhau, đối lập với nhau: quan
điểm siêu hình và quan điểm biện chứng.
- Theo quan điểm siêu hình: Sự phát triển là sự tăng lên hay sự giảm đi đơn
thuần về mặt lượng, không có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật; hoặc nếu có
sự thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng
lặp khép kín, chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới.
Nguyên nhân của sự phát triển nằm bên ngoài sự vật.
- Theo quan điểm biện chứng: Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là
kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là
quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như
sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn. Nguyên nhân của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật.
Trên cơ sở khái quát sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong
hiện thực, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định, phát triển là một phạm trù
triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật.
1.2 Tính chất của sự phát triển a, Tính khách quan
Phát triển có tính khách quan thể hiện ở chỗ nguồn gốc của nó nằm trong
chính bản thân sự vật, hiện tượng, chứ không phải do tác động từ bên ngoài và
đặc biệt không phụ thuộc vào ý thích, ý muốn chủ quan của con người.
Ví dụ: Muốn phát triển về năng lực, trình độ, bằng cấp... thực chất là giải
quyết hàng loạt các mâu thuẫn trong chính sự vật, trong chính quá trình nhận
thức chứ không thể trông chờ, cầu mong vào bất cứ ai, không thể cầu mong vào
một thế lực siêu nhiên nào đó ban phát cho... Phải giải quyết hàng loạt mâu
thuẫn, xem trong bản thân có bao nhiêu mâu thuẫn, có giải quyết được cái đó thì mới phát triển. 3 b, Tính phổ biến
Phát triển có tính phổ biến, sự phát triển có mặt khắp nơi trong các lĩnh vực
tự nhiên, xã hội, tư duy.
- Trong tự nhiên: Tăng cường khả năng thích nghi cơ thể trước sự biến đổi của môi trường
Ví dụ: Người ở Miền Nam ra công tác làm việc ở Bắc thời gian đầu với khí
hậu thay đổi họ sẽ khó chịu nhưng dần họ quen và thích nghi.
- Trong xã hội: Nâng cao năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội, tiến
tới mức độ ngày càng cao trong sự nghiệp giải phóng con người. Ví dụ: Mức
sống của dân cư xã hội sau lúc nào cũng cao hơn so với xã hội trước.
- Trong tư duy : Khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn
hơn với tự nhiên và xã hội. Ví dụ: Trình độ hiểu biết của con người ngày càng cao so với trước đây. c, Tính thừa kế
Phát triển có tính kế thừa, sự vật, hiện tượng mới ra đời không thể là sự phủ
định tuyệt đối, phủ định sạch trơn, đoạn tuyệt một cách siêu hình đối với sự vật
hiện tượng cũ. Sự vật, hiện tượng mới ra đời từ sự vật hiện tượng cũ, chứ không
phải ra đời từ hư vô. Vì vậy trong sự vật, hiện tượng mới còn giữ lại có chọn lọc
và cải tạo các yếu tố còn tác dụng, còn thích hợp với chúng, trong khi loại bỏ
mặt tiêu cực, lỗi thời lạc hậu của sự vật, hiện tượng cũ đang gây cản trở sự vật,
hiện tượng mới phát triển.
Ví dụ: Sự ra đời học thuyết Mác kế thừa 3 tiền đề lý luận.
d,Tính phong phú đa dạng
Phát triển có tính đa dạng, phong phú, tuy sự phát triển diễn ra trong mọi
lĩnh vực tự nhiên, xã hội, tư duy, nhưng mỗi sự vật, hiện tượng lại có quá trình
phát triển không giống nhau. Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển còn phụ
thuộc vào không gian và thời gian, vào các yếu tố, điều kiện tác động lên sự phát triển đó…
Ví dụ: Trong cùng một lớp học, cùng một thầy giáo dạy, cùng kiến thức đó
nhưng sau này sự phát triển của các bạn học sinh chắc chắn sẽ khác nhau. Cùng 4
học một thầy cô nhưng kết quả đánh giá, sự vận dụng kiến thức đó trong đời
sống của mỗi người cũng khác nhau.
1.3 Ý nghĩa của sự phát triển
Trong quá trình nghiên cứu, việc đưa đối tượng vào tình trạng chuyển động
là cực kỳ quan trọng để phát hiện xu hướng biến đổi của nó. Điều này giúp
chúng ta không chỉ nhận thức đối tượng ở trạng thái hiện tại mà còn có thể dự
báo được hướng phát triển của nó trong tương lai.
Khi đánh giá một hiện tượng, việc phải tiếp cận một cách khách quan là
không thể phủ nhận. Chúng ta cần nhìn vào quá khứ để hiểu sự hình thành của
nó, đồng thời phải đánh giá hiện tại để biết hiện tại đang ở trạng thái nào.
Quan trọng nhất là khả năng dự đoán xu hướng và biến đổi của hiện tượng trong tương lai.
Quan điểm này hoàn toàn trái ngược với quan điểm bảo thủ và tĩnh lặng,
bởi vì mọi hiện tượng đều trải qua quá trình vận động và biến đổi. Ví dụ, một
học sinh có thành tích học tập yếu có thể phát triển và tiến bộ thành một học
sinh giỏi nếu sự nỗ lực và phát triển liên tục được duy trì.
- Quá trình phát triển của sự vật không diễn ra theo một hành trình thẳng
đơn giản, mà thường điều này đi kèm với sự phức tạp và không đồng đều. Đối
với các hiện tượng và sự vật, cũng cần một khoảng thời gian để trải qua quá
trình phát triển, và do đó, chúng ta cần phải chấp nhận tính phức tạp và quanh co
của quá trình này như một phần tự nhiên. Thay vì bị lùi bước bởi những thách
thức và rắc rối trong quá trình phát triển, chúng ta cần phải tự động viên và
khuyến khích sự tiến triển.
Thay vì trở nên bi quan trước những khó khăn và trở ngại, chúng ta cần
phải tìm kiếm những cách để thúc đẩy sự phát triển của sự vật hoặc hiện tượng
đó. Ví dụ, khi một đứa trẻ mắc sai lầm, thay vì sử dụng biện pháp cưỡng chế,
chúng ta nên sử dụng phương pháp dạy dỗ nhẹ nhàng để hướng dẫn chúng nhận
thức và phát triển theo hướng tích cực.
- Để hiểu rõ và thúc đẩy sự phát triển của sự vật hoặc hiện tượng, chúng ta
cần phải dựa vào từng giai đoạn cụ thể và hoàn cảnh đặc biệt của chúng. Sự phát 5
triển thường diễn ra qua nhiều giai đoạn, từ thấp đến cao, từ trạng thái chưa
hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Quan trọng là phát hiện và ủng hộ những điều mới mẻ. Chúng ta cần phải
tích cực và chủ động trong việc nghiên cứu để tìm ra các mâu thuẫn trong mỗi
tình huống. Sau đó, chúng ta có thể xác định các biện pháp phù hợp nhất để giải
quyết mâu thuẫn và thúc đẩy sự phát triển của sự vật hoặc hiện tượng đó. Việc
lựa chọn biện pháp cũng cần phải căn cứ vào từng giai đoạn và hoàn cảnh cụ
thể, do sự phát triển thường diễn ra qua nhiều giai đoạn khác nhau.
Ví dụ: Sự phát triển của học sinh từ trình độ tiểu học đến đại học đều là
một quá trình có nhiều giai đoạn khác nhau. Mỗi giai đoạn này có đặc điểm và
tính chất riêng biệt, từ đó thể hiện sự phát triển của học sinh từ vai trò là học
sinh đến vai trò là sinh viên.
- Hiểu và kế thừa các yếu tố tích cực từ các đối tượng trước và phát triển
sáng tạo chúng trong bối cảnh mới là cách tiếp cận đối phó với sự bảo thủ, trì trệ
và định kiến. Khi hiểu rõ nguyên lý của sự phát triển, chúng ta cần phê phán
những quan điểm lỗi thời, bảo thủ và hạn chế, và quan trọng nhất là tránh bị bám
víu vào những kiểu tư duy và hành động cũ kỹ.
Luôn nỗ lực trong việc tìm hiểu và học hỏi từ các giá trị khoa học và kiến
thức thực tiễn xã hội là điều cần thiết. Trong quá trình chuyển đổi từ các đối
tượng cũ đến mới, việc kế thừa những yếu tố tích cực để phát triển và sáng tạo
trong bối cảnh mới là quan trọng.
Ví dụ: Sự chuyển từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội đòi hỏi việc kế
thừa các yếu tố tích cực từ chủ nghĩa tư bản như khả năng sáng tạo kinh doanh
và quản lý, nhưng cũng cần tìm ra các giải pháp mới để giải quyết các vấn đề xã
hội và đảm bảo sự công bằng và bền vững. 6
CHƯƠNG 2. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN TRONG
THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
2.1 Khái niệm và đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
2.1.1 Khái niệm thời kỳ quá độ:
Thời kỳ quá độ là thời kỳ diễn ra với giai đoạn trong thay đổi tính chất xã
hội. Cải tạo cách mạng xã hội tư bản chủ nghĩa thành xã hội xã hội chủ nghĩa.
Khi đó hàng hoạt các chính sách được thay đổi đáp ứng với chiến lược đề ra.
Mang đến các chuyển hóa để đi đến thành công trong xây dựng Chủ nghĩa xã
hội. Kết quả sau thời kỳ này là quốc gia tiến lên chủ nghĩa xã hội. Ở một số quốc
gia, có thể có bước nhảy vọt lên Chủ nghĩa xã hội mà không trải qua tư bản chủ
nghĩa. Nhưng tất cả các tính chất diễn ra trong giai đoạn này vẫn đảm bảo cho
thời kỳ quá độ được phản ánh.
Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
Học thuyết hình thái kinh tế- xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ:
lịch sử xã hội đã trải qua 5 hình thái kinh tế- xã hội: Cộng sản nguyên thủy,
chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. So với
các hình thái kinh tế xã hội đã xuất hiện trong lịch sử, hình thái kinh tế-xã hội
cộng sản chủ nghĩa có sự khác biệt về chất, trong đó không có giai cấp đối
kháng, con người từng bước trở thành người tự do... Bởi vậy, theo quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội tất yếu phải
trải qua thời kỳ quá độ chính trị. C.Mác khẳng định: “Giữa xã hội tư bản chủ
nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội
này sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và
nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách
mạng của giai cấp vô sản”, V.I Lênin trong điều kiện nước Xô – Viết cũng
khẳng định: “Về lý luận, không thể nghi ngờ gì rằng giữa chủ nghĩa tư bản và
chủ nghĩa cộng sản phải có một thời kỳ quá độ nhất định. Khẳng định tính tất
yếu của thời kỳ quá độ, đồng thời các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học
cũng phân biệt có hai loại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản: 7
Quá độ trực tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản đối với những
đã trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển. Cho đến nay thời kỳ quá độ trực tiếp lên
chủ nghĩa cộng sản từ chủ nghĩa tư bản phát triển chưa từng diễn ra
Quá độ gián tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản đối với những
nước chưa trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển. Trên thế giới một thế kỷ qua, kể
cả Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây, Trung Quốc, Việt Nam và một số
nước xã hội chủ nghĩa khác ngày nay, theo đúng lý luận Mác – Lênin, đều đang
trải qua thời kỳ quá độ gián tiếp với những trình độ phát triển khác nhau.
Xuất phát từ quan điểm cho rằng: chủ nghĩa cộng sản không phải là một
trạng thái cần sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải tuân
theo mà là kết quả của phong trào hiện thực, các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội
khoa học cho rằng: Các nước lạc hậu với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản đã chiến
thắng có thể rút ngắn được quá trình phát triển: “Với sự giúp đỡ của giai cấp vô
sản đã chiến thắng, các dân tộc lạc hậu có thể rút ngắn khá nhiều quá trình phát
triển của mình lên xã hội xã hội chủ nghĩa và tránh được phần lớn những đau
khổ và phần lớn các cuộc đấu tranh mà chúng ta bắt buộc phải trải qua ở Tây
Âu. C.Mác khi tìm hiểu về nước Nga cũng ghi rõ: “Nước Nga... có thể không
cần trải qua đau khổ của chế độ (chế độ tư bản chủ nghĩa) mà vẫn chiếm đoạt
được mọi thành quả của chế độ ấy".
Vận dụng và phát triển quan điểm của C. Mác và Ph.Ăngghen trong điều
kiện mới, sau cách mạng tháng Mười, V.I Lênin khẳng định: “Với sự giúp đỡ
của giai cấp vô sản, các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ
Xô - Viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng
sản không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa (hiểu theo nghĩa con đường rút ngắn.
Quán triệt và vận dụng, phát triển sáng tạo những lý của chủ nghĩa Mác –
Lênin, trong thời đại ngày nay, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội trên phạm vi toàn thế giới, chúng ta có thể khẳng định: Với lợi thế của thời
đại, trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, các nước lạc hậu,
sau khi giành được chính quyền, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản có thể tiến
thẳng lên chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. 8
Bắt đầu từ khi giai cấp công nhân giành được chính quyền và kết thúc khi
xây dựng xong các cơ sở của chủ nghĩa xã hội. Tính chất mang đến các mốc thời
điểm và kết thúc. Không có một khoảng thời gian cụ thể để các quốc gia thực
hiện thành công đi lên chủ nghĩa xã hội. Bởi các phản ánh trong thực tế đất nước
và cách thức lãnh đạo tác động rất lớn lên kết quả. Cho nên, bên cạnh các kinh
nghiệm trên thế giới, các thuận lợi, sáng tạo sẽ giúp các quốc gia nhanh chóng
tiến lên chủ nghĩa xã hội.
2.1.2 Đặc điểm thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam:
Đặc điểm thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
Thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa là thời kỳ cải
biến cách mạng từ xã hội tiền tư bản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa sang xã hội
xã hội chủ nghĩa. Xã hội của thời kỳ quá độ là xã hội có sự đan xen của nhiều
tàn dư về mọi phương tiện kinh tế, đạo đức, tinh thần của chủ nghĩa tư bản và
những yếu tố mới mang tính chất xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa xã hội mới
phát sinh chưa phải chủ nghĩa xã hội đã phát triển trên cơ sở của chính nó.
Đặc điểm nổi bật của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã
hội là sự tồn tại những yếu tố của xã hội cũ bên cạnh những nhân tố mới của chủ
nghĩa xã hội trong mối quan hệ vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.
Trên lĩnh vực kinh tế:
Thời kỳ quá độ là thời kỳ tất yếu còn tồn tại một nền kinh tế nhiều thành
phần trong một hệ thống kinh tế quốc dân thống nhất. Đây là bước quá độ trung
gian tất yếu trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, không thể dùng ý chí để
xóa bỏ ngay kết cấu nhiều thành phần của nền kinh tế, nhất là đối với những
nước còn ở trình độ chưa trải qua sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
được xác lập trên cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều loại hình sở hữu về tư
liệu sản xuất với những hình thức tổ chức kinh tế đa dạng, đan xen hỗn hợp
và tương ứng với nó là những hình thức phân phối khác nhau, trong đó hình 9
thức phân phối theo lao động tất yếu ngày càng giữ vai trò là hình thức phân phối chủ đạo.
Trên lĩnh vực chính trị:
Do kết cấu kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đa dạng, phức
tạp, nên kết cấu giai cấp của xã hội trong thời kỳ này cũng đa dạng phức tạp.
Nói chung, thời kỳ thường bao gồm: giai cấp công nhân, nông dân, tầng lớp trí
thức, những người sản xuất nhỏ, tầng lớp tư sản và một số tầng lớp xã hội khác
tùy theo từng điều kiện cụ thể của mỗi nước. Các giai cấp, tầng lớp này vừa hợp
tác, vừa đấu tranh với nhau.
Trên lĩnh vực tư tưởng – văn hoá:
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều yếu tố tư tưởng
và văn hoá khác nhau. Bên cạnh tư tưởng xã hội chủ nghĩa còn tồn tại tư tưởng
tư sản, tiểu tư sản, tâm lý tiểu nông, V.V.. Theo V.I. Lênin, tính tự phát tiểu tư
sản là “kẻ thù giấu mặt hết sức nguy hiểm, nguy hiểm hơn so với nhiều bọn
phản cách mạng công khai”. Trên lĩnh vực văn hoá cũng tồn tại các yếu tố văn
hoá cũ và mới, chúng thường xuyên đấu tranh với nhau.
Thực chất của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là
thời kỳ diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp tư sản đã bị đánh bại không
còn là giai cấp thống trị và những thế lực chống phá chủ nghĩa xã hội với giai
cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động. Cuộc đấu tranh giai cấp diễn
ra trong điều kiện mới là giai cấp công nhân đã nắm được chính quyền nhà
nước, quản lý tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Cuộc đấu tranh giai cấp với
những nội dung, hình thức mới, diễn ra trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng
- văn hóa, bằng tuyên truyền vận động là chủ yếu, bằng hành chính và luật
pháp. Trên lĩnh vực xã hội Tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp và sự khác biệt giữa
các giai cấp tầng lớp xã hội, các giai cấp, tầng lớp vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau.
Trên lĩnh vực xã hội:
Tồn tại sự khác biệt giữa nông thôn, thành thị, giữa lao động trí óc và lao
động chân tay. Đây là thời kỳ đấu tranh giai cấp chống áp bức, bất công, xóa bỏ 10
tệ nạn xã hội và những tàn dư của xã hội cũ để lại, thiết lập công bằng xã hội
trên cơ sở thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động là chủ đạo. Phải thực
hiện việc khắc phục những tệ nạn xã hội do xã hội cũ để lại; từng bước khắc
phục sự chênh lệch phát triển giữa các vùng miền, các tầng lớp dân cư trong xã
hội nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng xã hội; xây dựng mối quan hệ tốt đẹp
giữa người với người theo mục tiêu lý tưởng tự do của người này là điều kiện,
tiền đề cho sự tự do của người khác.
Đặc điểm quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:
Ðặc điểm cơ bản của quá độ lên chủ nghĩa xã hội nước ta là bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa. Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện vừa thuận
lợi vừa khó khăn đan xen, có những đặc trưng cơ bản:
- Xuất phát từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản
xuất rất thấp. Ðất nước trải qua chiến tranh ác liệt, kéo dài nhiều thập kỷ, hậu
quả để lại còn nặng nề. Những tàn dư thực dân, phong kiến còn nhiều. Các thế
lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa và nền độc
lập dân tộc của nhân dân ta.
- Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ,
cuốn hút tất cả các nước mức độ khác nhau. Nền sản xuất vật chất và đời sống
xã hội đang trong quá trình quốc tế hoá sâu sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ phát
triển lịch sử và cuộc sống các dân tộc. Những xu thế đó vừa tạo cơ hội phát triển
nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức gay gắt.
- Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội, cho dù chế độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Các
nước chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại , vừa hợp tác
vừa đấu tranh, canh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh
của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc , dân chủ, phát triển và tiến
bộ xã hội dù gặp nhiều khó khän, thách thức, song theo quy luat tiến hóa của
lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là sự lựa chọn
duy nhất đúng, khoa học, phản ánh đúng quy luật phát triển khách quan của cách 11
mạng Việt Nam trong thời đại ngày nay. Cương lĩnh năm 1930 của Ðảng đã chỉ
rõ: Sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, sẽ tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn dứt khoát và đúng đắn của Đảng, đáp ứng
nguyện vọng thiết tha của dân tộc, nhân dân, phản ánh xu thế phát triển của
thời đại, phù hợp với quan điểm khoa học, cách mạng và sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, như Đại hội
IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (2001) xác định: Con đường đi lên của nước ta
là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức
là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng
tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã
đặt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để
phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại .
Ðây là tư tưởng mới, phản ánh nhận thức mới, tư duy mới của Đảng ta về
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Tư tưởng này
cần được hiểu đầy đủ với những nội dung sau dây:
Thứ nhất, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là
con đường cách mạng tất yếu khách quan, con đường xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nước ta.
Thứ hai, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức
là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng
tầng tư bản chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là trong thời kỳ quá độ còn nhiều hình
thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, song sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và
thành phần kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa không chiếm vai trò chủ đạo; thời
kỳ quá độ còn nhiều hình thức phân phối, ngoài phân phối theo lao động vẫn là
chủ đạo còn phân phối theo mức độ đóng góp và quỹ phúc lợi xã hội; thời kỳ
quá độ vẫn còn có quan hệ bóc lột và bị bóc lột, song quan hệ bóc lột tư bản chủ
nghĩa không giữ vai trò thống trị.
Thứ ba, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đòi
hỏi phải tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đạt được dưới chủ nghĩa 12
tư bản, đặc biệt là những thành tựu về khoa học và công nghệ, thành tựu về quản
lý để phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội, đặc biệt là phát triển nhanh lực
lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại.
Thứ tư, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là tạo
ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực, là sự nghiệp rất khó
khăn, phức tạp, lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế,
xã hội có tính chất quá đòi hỏi phải có quyết tâm chính trị cao và khát vọng lớn
của toàn Ðảng, toàn dân.
2.2. Khả năng tiến hành quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trong những năm đầu của giai đoạn chuyển tiếp sang chủ nghĩa xã hội ở
Nga Xô viết, V. I. Lênin đã rút ra một kết luận chính xác từ thực tiễn rằng mọi
quốc gia đều sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội, điều này không thể tránh khỏi. Tuy
nhiên, mỗi quốc gia sẽ có con đường khác nhau để đi đến chủ nghĩa xã hội, họ
sẽ đóng góp những đặc điểm riêng của mình vào nhiều hình thức của chế độ dân
chủ, vào nhiều loại của chuyên chính vô sản, vào nhiều nhịp độ của việc cải tạo
xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội. Qua đó, xác lập
nên hai hình thức cơ bản của TKQĐ lên CNXH: Quá độ trực tiếp - quá độ lên
CNXH từ chế độ tư bản chủ nghĩa và quá độ gián tiếp - quá độ lên CNXH bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Kết hợp với những điều kiện mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã vạch ra, cùng
với bối cảnh trong và ngoài nước, việc quá độ lên chủ nghĩa xã hội và bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử đối với Việt Nam. Trên quy mô
toàn cầu, thế giới đang trải qua quá trình từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã
hội. Sự lỗi thời của chế độ tư bản đã được chứng minh bởi những mâu thuẫn cơ
bản không thể giải quyết dù đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh
vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học - công nghệ, trong
khi chủ nghĩa xã hội đại diện cho giá trị tiến bộ của nhân loại và lợi ích của
người lao động. Lịch sử của Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám đến từng cuộc
kháng chiến, đã chứng minh rằng chỉ thông qua đường lối độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, Việt Nam mới có thể đạt được độc lập, tự do, và xây dựng một
xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. 13
Và khả năng về quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
ở Việt Nam bao gồm những khả năng khách quan và khả năng chủ quan.
2.2.1. Khả năng khách quan
Yếu tố đầu tiên và quan trọng giúp trong việc đưa Việt Nam tiến tới chủ
nghĩa xã hội là sự hỗ trợ tận tình về cả vật chất lẫn tinh thần từ Liên Xô, một
nước đã thành công trong công cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ.
Sau đó là sự suy tàn của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông
Âu đã cho chúng ta bài học quý báu về cả thành công và thất bại, từ đó đưa ra
những giải pháp điển hình cho việc lãnh đạo và thực hiện tiến trình cách mạng.
Tiếp theo phải kể đến xu thế quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn
thế giới. Chúng đóng vai trò tích cực trong việc thức tỉnh các dân tộc, các quốc
gia, biến hình thức quá độ gián tiếp trở thành điều tất yếu và mang lại cơ hội và
điều kiện cho sự quá độ này. Sự toàn cầu hóa sản xuất và phụ thuộc lẫn nhau
giữa các quốc gia đã tạo điều kiện để các nước đi sau tiếp thu và vận dụng
những lực lượng sản xuất hiện đại của thế giới và những kinh nghiệm của các
nước đi trước để rút ngắn con đường phát triển. Mặc dù tiềm ẩn nhiều nguy cơ
và thách thức nhưng cũng mang lại cơ hội cho việc khắc phục khó khăn về vốn
và công nghệ cho các nước chậm phát triển, nếu như có đường lối, chính sách
đúng đắn. Đứng trước điều đó, chúng ta phải biết tận dụng, khai thác, sử dụng
có hiệu quả những thành tựu mà nhân loại đã đạt được để đẩy nhanh quá trình
tiến tới chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
2.2.2. Khả năng chủ quan
Khả năng và nguồn lực trong nước có thể đáp ứng được yêu cầu của thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Là nước có số dân tương đối đông, dồi dào nhân
lực và tài nguyên phong phú. Nhân dân ta đã lập nên chính quyền nhà nước dân
chủ nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm nhiệm vụ lịch sử của
chuyên chính vô sản, đã xây dựng những cơ sở ban đầu về chính trị, kinh tế của
chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo -
một đảng giàu tinh thần cách mạng, sáng tạo, khoa học và trí tuệ, có đường lối
đúng đắn và gắn bó với quần chúng - đó là nhân tố vô cùng quan trọng, bảo đảm 14
cho thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Sự lãnh đạo của Đảng và liên minh công nông vững chắc là yếu tố quan
trọng bậc nhất cho mọi thành công của chúng ta đạt được. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã chiến đấu và hy sinh không chỉ để
giành lại độc lập dân tộc mà còn để thực hiện những ước mong về cuộc sống ấm
no, tự do và hạnh phúc. Những khát vọng này chỉ có thể được đáp ứng bằng chủ
nghĩa xã hội. Vì lý do đó, quyết tâm của nhân dân trở thành một lực lượng vật
chất mạnh mẽ, đủ sức vượt qua mọi thách thức và thành công trong việc xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Trong công cuộc đổi mới được khởi xướng và dẫn dắt bởi Đảng, chúng ta
đã chứng kiến rất nhiều thành tựu đáng kể. Trong lĩnh vực chính trị, sự ổn định
đã được duy trì và củng cố, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững
của đất nước. Môi trường hợp tác đầu tư được tạo lập nhằm khuyến khích sự
tham gia của các nhà đầu tư nội và ngoại. Sự phát triển kinh tế không chỉ tạo ra
cơ hội mới cho các doanh nghiệp và người lao động, mà còn đem lại những lợi
ích đáng kể cho toàn bộ xã hội. Điều này đã làm thay đổi cả bộ mặt của đời sống
dân sinh, từ việc nâng cao chất lượng cuộc sống đến việc tăng cường văn hóa,
giáo dục và y tế cho mọi tầng lớp nhân dân. Những thành tựu này không chỉ là
minh chứng cho sự tiến bộ của đất nước mà còn là bằng chứng rõ ràng, khẳng
định rằng con đường mà chúng ta đã chọn là đúng đắn và có tiềm năng phát
triển bền vững cho tương lai của chủ nghĩa xã hội.
2.3 Nguyên nhân quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Thứ nhất, Theo V.I. Lênin nguyên nhân của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội là do đặc điểm ra đời phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa và cách
mạng vô sản. Chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội khác nhau về bản chất. Chủ
nghĩa tư bản được xây dựng dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa
về tư liệu sản xuất. Trong hình thái kinh tế xã hội tư bản còn tồn tại áp bức bóc
lột bất công , đối kháng giai cấp. Chủ nghĩa xã hội được xây dựng dựa trên chế 15