Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
VIỆN ĐÀO TẠO QUỐC TẾ ---- - --- BÀI THẢO LUẬN
BỘ MÔN: TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN TÊN ĐỀ TÀ
I : PHÂN TÍCH CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM
PHÁT TRIÊN. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM NÀY TRONG THỜI
KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn: NGUYỄN THỊ LIÊN
Lớp học phần: 232_MLNP0221-17
Nhóm thực hiện: NHÓM 3
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC STT Họ và tên MSV Nhiệm vụ 1 Nguyễn Thị Trà My 23D105025 Nhóm trưởng, Word, mở đầu+kết luận 2 Nguyễn Thành Luân 23D105023 Thuyết trình 3 Đào Bảo Ngọc 23D105026 Nội dung 2.2.2 4
Dương Thị Minh Nguyệt 23D105027 Nội dung 2.3 5 Trần Ngọc Ninh 23D105030 Nội dung chương I 6 Vũ Đức Nhật 23D105028 Thuyết trình 7 Phùng Thị Mai Phương 23D105031 Nội dung 2.1 8 Phạm Đức Tài 23D105034 Nội dung 2.2.1 9 Trần Phương Thuý 23D105035 Powerpoint 10 Trần Thị Lệ Quyên 23D105032 Nội dung 2.1 1 MỤC LỤC
I.MỞ ĐẦU...........................................................................................................3
II.NỘI DUNG......................................................................................................4
CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN.................4
1.1: Khái niệm phát triển.......................................................................… ...........4
1.2: Tính chất của sự phát triển.............................................................................5
1.3: Nguyên nhân của sự phát triển.......................................................................6
1.4: Ý nghĩa nguyên lý về sự phát triển.................................................................6
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN TRONG THỜI KÌ
QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY......................7
2.1: Những nội dung cơ bản của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội............….....7
2.2: Thực trạng của quan điểm phát triển trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam...............................................................................................……….….11
2.3: Phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và giải pháp nhằm khắc
phục những hạn chế của thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam ta ...............….....16
III. KẾT LUẬN........................................................................................……......20 2 I. MỞ ĐẦU
Ngày nay, triết học là một bộ phận cấu thành của bất kỳ hình thức phát triển kinh tế
nào. Nhận thức giữa lý luận và thực tiễn, những vấn đề triết học và phép biện chứng
luôn là cơ sở, phương hướng, kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát
triển xã hội. Nếu xuất phát từ quan điểm triết học đúng đắn, con người có thể có những
giải pháp phù hợp cho các vấn đề trong cuộc sống. Chấp nhận hay không chấp nhận
một quan điểm triết học nào đó không chỉ là chấp nhận một thế giới quan nhất định,
một cách giải thích nhất định về thế giới mà còn là chấp nhận cơ sở phương pháp luận
nhất định và một hướng dẫn lập pháp nhất định.Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý
luận khoa học để định hướng về việc nhận thức và cải tạo những vấn đề trong thực
tiễn. Phát triển là khuynh hướng tất yếu,chung của thế giới mà mọi sự vật hiện tượng
đều luôn hướng tới, khuynh hướng này có tính phổ biến, thể hiện trong mọi lĩnh vực:
tự nhiên,xã hội và tư duy.Sự phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ kém
hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, theo chiều hướng đi lên của sự vật. Nhìn chung mọi sự
vật đều ra đời,biến đổi phát triển và biến mất nhưng đều có khuynh hướng chung là
luôn phát triển, cái mới thay thế cái cũ, cái sau tiến bộ hơn cái trước và Theo quan
điểm siêu hình, phát triển ở đây chỉ là sự tăng lên hoặc giảm đi về mặt lượng, chỉ là sự
tuần hoàn, lặp lại mà không có sự thay đổi về chất và diễn ra theo một vòng tròn khép
kín hoặc là quá trình tiến lên liên tục. Đối lập với quan điểm siêu hình, quan điểm biện
chứng cho rằng phát triển là sự thay đổi về cả mặt chất và mặt lượng của sự vật, là một
quá trình tiến lên từ thấp đến cao dẫn đến sự ra đời của cái mới thay thế cho cái cũ.
Đặc điểm chung của sự phát triển là tính tiến lên theo đường xoáy ốc, có những bước quanh co, phức tạp.
Sau khi được cô Nguyễn Thị Liên giảng dạy và hỗ trợ trong bộ môn triết học Mác-
Lênin, chúng em nhận thấy tầm quan trọng của nguyên lý về sự phát triển và việc Vận
dụng quan điểm này vào thực tiễn những vấn đề trong cuộc sống, sau đây nhóm em
xin được tiến hành phân tích đề tài “Phân tích cơ sở lý luận của quan điểm phát triển,
và từ đó vận dụng quan điểm này trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay ” 3 II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN 1.1.Khái niệm phát triển
- Theo góc nhìn của quan điểm biện chứng, phát triển là quá trình vận động
theo khuynh hướng đi lên của sự vật, hiện tượng, từ thấp đến cao, từ kém
hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ chất cũ đến chất mới ở trình độ cao hơn. Vì
vậy, phát triển không hoàn toàn đồng nhất với vận động, vì vận động là mọi
sự biến đổi nói chung của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư
duy, và phát triển chỉ là một trường hợp đặc biệt của vận động, nó khái quát
khuynh hướng chung của vận động là sự vận động đi lên của sự vật, hiện
tượng; cái cũ mất đi, sự vật, cái mới ra đời thay thế. Ví dụ như trong tự nhiên
có sự phát triển của loài sinh vật sống, các giống loài phát triển từ bậc thấp
lên bậc cao. Còn trong lịch xã hội loài người thì thời đại sau luôn phát triển
hơn thời đại trước cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, tư duy…, từ các hình thức
tổ chức xã hội như bộ lạc, thị tộc thời nguyên thủy tới các hình thức tổ chức
như vương triều, nhà nước…Thế hệ sau luôn kế thừa và có những biểu hiện cao hơn thế hệ trước.
- Ngược lại với quan điểm biện chứng, quan điểm siêu hình phủ nhận sự phát
triển, chỉ xem phát triển là sự tăng, giảm thuần túy về lượng nhưng không có
sự thay đổi gì về chất của sự vật; hoặc nếu có sự thay đổi nhất định về chất thì
sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng khép kín, chứ không có sự hình
thành ra cái mới. Những người theo quan điểm này xem sự phát triển như là
một quá trình tiến lên liên tục, không trải qua các bước quanh co, phức tạp,
tuyệt đối hóa sự ổn định của sự vật, hiện tượng.
- Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết những mâu thuẫn khách
quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là quá trình thống nhất giữa các yếu tố tiêu
cực và kế thừa, nhằm nâng cao yếu tố tích cực từ sự vật, hiện tượng cũ trong
hình thái của sự vật, hiện tượng mới.
- Tựu chung lại, phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận
động của sự vật theo khuynh hướng đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Khuynh hướng chung là đi lên,
điều đó không có nghĩa là sự phát triển của sự vật theo con đường thẳng mà nó
là một con đường quanh co phức tạp theo đường xoáy ốc.
Ví dụ: Chúng ta thừa nhận kinh tế Việt Nam trong những năm vừa qua, đặc biệt
là từ công cuộc đổi mới đất nước có đi lên, khuynh hướng chung là đi lên.
Nhưng điều đó không có nghĩa nó là con đường thẳng. Không phải là tất cả mọi 4
thành phần kinh tế đều đi lên, không phải mọi tất cả các doanh nghiệp đều thành
công, mà trong sự phát triển đó, khuynh hướng chúng là nền kinh tế Việt Nam
đi lên là điều chính xác, nhưng không phải là mọi thành phần kinh tế, có doanh
nghiệp hoạt động bị chững lại, bị phá sản. Nhưng điều đó lại không phủ nhận
kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hiện nay và từ đổi mới đến nay là đi lên với
con đường rất quanh co, phức tạp theo đường xoáy ốc.
1.2. Tính chất của sự phát triển 1.2.1. Tính khách quan
Nguồn gốc của sự phát triển nằm trong chính bản thân sự vật, hiện tượng chứ không
phải do tác động từ bên ngoài và đặc biệt không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.
Ví dụ: Muốn phát triển về năng lực, trình độ, bằng cấp... thực chất là giải quyết hàng
loạt các mâu thuẫn trong chính sự vật, trong chính quá trình nhận thức chứ không thể
trông chờ, cầu mong vào bất cứ ai, không thể cầu mong vào một thế lực siêu nhiên nào
đó ban phát cho... Phải giải quyết hàng loạt mâu thuẫn, xem trong bản thân có bao
nhiêu mâu thuẫn, có giải quyết được cái đó thì mới phát triển. 1.2.2. Tính phổ biến
Tính phổ biến được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong các lĩnh vực của
thế giới khách quan, trong tất cả sự vật, hiện tượng và trong mọi quá trình, giai đoạn
của chúng. Ở mỗi quá trình biến đổi đã có thể bao hàm khả năng dẫn đến sự ra đời của
cái mới, phù hợp với quy luật khách quan.
Ví dụ: Trong tự nhiên, sự phát triển thực vật → động vật → con người...; sự phát triển
của các hình thái kinh tế xã hội từ cộng sản nguyên thủy...→ Cộng sản chủ nghĩa. 1.2.3. Tính kế thừa
Tính kế thừa được thể hiện ở sự vật, hiện tượng mới ra đời không thể là sự phủ định
tuyệt đối, loại bỏ triệt để đối với sự vật, hiện tượng cũ. Sự vật, hiện tượng mới ra đời
từ sự vật, hiện tượng cũ chứ không phải ra đời từ hư vô. Vì vậy, sự vật, hiện tượng mới
sẽ giữ lại có chọn lọc và cải tạo những yếu tố còn có tác dụng, thích hợp với chúng,
trong khi gạt bỏ mặt tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu của sự vật, hiện tượng cũ đang gây cản
trở sự vật hiện tượng mới tiếp tục phát triển.
Ví dụ: Sự ra đời học thuyết Mác kế thừa 3 tiền đề lý luận.
1.2.4. Tính phong phú, đa dạng
Tính đa dạng, phong phú thể hiện rằng: mỗi sự vật, hiện tượng đều có quá trình phát
triển không giống nhau cả từ bên trong (giai đoạn, chu kỳ phát triển) lẫn bên ngoài
(hình thức phát triển, không gian phát triển, thời gian phát triển, điều kiện phát triển). 5
Đôi khi sự vật, hiện tượng có chiều hướng thụt lùi tạm thời, có thể phát triển về mặt
này và thoái hóa ở mặt khác.
Ví dụ: Trong cùng một lớp học, cùng một thầy giáo dạy, cùng kiến thức đó nhưng sau
này sự phát triển của các bạn học sinh chắc chắn sẽ khác nhau. Cùng học một thầy cô
nhưng kết quả đánh giá, sự vận dụng kiến thức đó trong đời sống của mỗi người cũng khác nhau.
1.3. Nguyên nhân của sự phát triển
Nguồn gốc của sự phát triển là quá trình giải quyết mâu thuẫn trong bản thân sự vật.
Theo đó, nguồn gốc của sự phát triển xuất phát từ "mâu thuẫn" theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Quy trình để dẫn đến phát triển là sự vận động của các sự vật, hiện tượng mà trong đó
mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động.
Từ xưa đến nay, mỗi mâu thuẫn sẽ bao hàm sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt
đối lập, làm cho sự vật hiện tượng không thể giữ nguyên trạng thái cũ. Đến một thời
điểm nhất định, những mâu thuẫn cũ mất đi thì những mâu thuẫn mới sẽ được hình
thành, những sự vật và hiện tượng cũ cũng từ đó mà được thay thế bằng những sự vật, hiện tượng mới.
Từ mâu thuẫn dẫn đến đấu tranh, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập chính là nguồn gốc
vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng trong xã hội.
1.4. Ý nghĩa nguyên lý về sự phát triển
Ý nghĩa phương pháp luận
- Nguyên lý phát triển cho thấy trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con
người phải tôn trọng nguyên tắc phát triển.
Yêu cầu của nguyên tắc phát triển:
+ Thứ nhất, khi nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, cần đặt đối tượng vào sự vận
động, phát triển, không chỉ nhận thức nó ở trạng thái hiện tại mà còn dự báo
khuynh hướng phát triển trong tương lai, khả năng chuyển hóa của chúng, cần
tìm hình thức, phương pháp tác động phù hợp để thúc đẩy hoặc kìm hãm sự
phát triển đó; tạo điều kiện cho nó phát triển, chống lại quan điểm bảo thủ, định
kiến, cần kế thừa và phát triển, sáng tạo những mặt tích cực.
Ví dụ: Lựa chọn ngành nghề để học đại học của học sinh; việc xây dựng một
chiến lược phát triển kinh tế (địa phương, quốc gia) phải dự báo được khuynh
hướng phát triển trước hiện tại nhiều năm (căn cứ vào quá khứ, hiện tại) để dự báo tương lai… 6
+ Thứ hai, phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc
điểm, tính chất, hình thức khác nhau nên cần tìm hình thức, phương pháp tác
động phù hợp để thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển đó.
Ví dụ: Sự phát triển về trình độ, bằng cấp...của học sinh tiểu học → THCS →
THPT → Đại học... ứng nó là sự phát triển của học sinh → sinh viên, mỗi giai
đoạn đó có đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau
+ Thứ ba, phải sớm chủ động phát hiện và ủng hộ đối tượng mới hợp quy luật,
tạo điều kiện, thúc đẩy nó phát triển. Vì sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động
nên cách tư duy của chúng ta với sự vật, hiện tượng phải luôn linh hoạt, mềm
dẻo, tránh bảo thủ, trì trệ, định kiến vì điều này đi ngược với sự phát triển
tất yếu của sự vật, hiện tượng, vi phạm quy tắc phát triển.
Ví dụ: Mọi sự vật đều thay đổi, cái mới ra đời, phủ định cái cũ là tất yếu...sự ra
đời của khoán 10 là kết quả của quá trình thai nghén từ khoán chui → Nảy sinh
từ việc canh tác trong hợp tác xã không hiệu quả; một sáng kiến mới trong một
tập thể để thay đổi cách làm, quản lý cũ chúng ta cần trân trọng, ủng hộ; một
người lầm lỡ mắc phải sai lầm thì tập thể, người quản lý cần phải nhân văn, chỉ cho họ thấy sai..
+ Thứ tư, trong quá trình phát triển, phải biết kế thừa các yếu tố thích hợp, còn
tác dụng từ đối tượng cũ và phát triển sáng tạo chúng trong điều kiện mới,
đồng thời loại bỏ các yếu tố tiêu cực, lỗi thời gây cản trở sự phát triển. Vì vậy,
muốn nắm được bản chất và khuynh hướng phát triển của đối tượng cần “phải
xét sự vật trong sự phát triển, trong “sự tự vận động”… trong sự biến đổi của nó”.
Ví dụ: Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội phải kế thừa thành tựu của chủ nghĩa tư bản.
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN TRONG THỜI KỲ QUÁ
ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1: Những nội dung cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
2.1.1: Khái niệm thời kỳ quá độ.
Thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để và
toàn diện từ xã hội cũ sang xã hội mới- xã hội XHCN. Nó diễn ra trong toàn bộ
nền các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra các tiền đề vật chất, tinh thần cần
thiết để hình thành một xã hội mới mà trong đó những nguyên tắc căn bản của
xã hội XHCN từng bước được thực hiện. Thời kỳ này bắt đầu từ khi giai cấp vô
sản giành được chính quyền, bắt tay vào xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và kết
thúc khi đã xây dựng xong về cơ bản cơ sở vật chất- kỹ thuật của xã hội. 7
Ví dụ: Một số nước đã quá độ lên chế độ xã hội chủ nghĩa như: Liên Xô (trước
khi sụp đổ vào năm 1991) và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Trong cả
hai trường hợp này, quyền lực tập trung, kiểm soát quá mức từ chính phủ và
việc kiểm duyệt thông tin đã dẫn đến nhiều vấn đề về tự do cá nhân và phát
triển kinh tế. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Trong quá khứ, chính phủ của
Lào đã thực hiện kiểm soát chặt chẽ trên mọi khía cạnh của đời sống xã hội và
kinh tế, giới hạn tự do cá nhân và quản lý sâu rộng tất cả các khía cạnh của nền
kinh tế. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Lào đã có những cải cách để mở
cửa cho nền kinh tế và hướng tới việc thúc đẩy sự phát triển. 2.1.2. Tính tất yếu
Ở nước ta, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bắt đầu từ năm 1954 ở miền Bắc
và từ năm 1975, sau khi đất nước đã hoàn toàn độc lập và cả nước thống nhất,
cách mạng dân tộc - dân chủ nhân dân đã hoàn toàn thắng lợi trên phạm vi cả
nước thì cả nước cùng tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, cùng quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thời kỳ quá độ là thời kỳ lịch sử mà bất cứ một quốc gia nào đi lên chủ nghĩa
xã hội cũng đều phải trải qua, ngay cả đối với những nước đã có nền kinh tế rất
phát triển, bởi lẽ, ở các nước này, tuy lực lượng sản xuất đã phát triển cao,
nhưng vẫn còn cần phải cải tạo và cần xây dựng quan hệ sản xuất mới, xây
dựng nền văn hoá mới. Dĩ nhiên, đối với những nước thuộc loại này, về khách
quan có nhiều thuận lợi hơn, thời kỳ quá độ có thể sẽ diễn ra ngắn hơn. Đối với
nước ta, một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa, thì lại càng phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là
một thời kỳ lịch sử mà: "nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây
dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,... tiến dần lên chủ
nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá và khoa học
tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền
kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và
lâu dài" (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.10, tr. 13)
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử đối với nước ta, vì:
Toàn thế giới đã bước vào thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã
hội. Thực tiễn đã khẳng định chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội đã lỗi thời về
mặt lịch sử, sớm hay muộn cũng phải được thay bằng hình thái kinh tế - xã hội 8
cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là giai đoạn xã hội xã hội chủ nghĩa. Cho
dù hiện nay, với những cố gắng để thích nghi với tình hình mới, chủ nghĩa tư
bản thế giới vẫn đang có những thành tựu phát triển nhưng vẫn không vượt ra
khỏi những mâu thuẫn cơ bản của nó, những mâu thuẫn này không dịu đi mà
ngày càng phát triển gay gắt và sâu sắc. Chủ nghĩa tư bản không phải là tương
lai của loài người. Đặc điểm của thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Quá trình cải biến
xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa không phải là quá
trình cải lương, duy ý chí, mà là quá trình cách mạng sôi động trải qua nhiều
giai đoạn phát triển khách quan, hợp với quy luật của lịch sử. Chủ nghĩa xã hội
khoa học, tự do, dân chủ và nhân đạo mà nhân dân ta và loài người tiến bộ đang
vươn tới luôn đại diện cho những giá trị tiến bộ của nhân loại, đại diện lợi ích
của người lao động, là hình thái kinh tế - xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản. Quá
trình cách mạng đó vì sự nghiệp cao cả là giải phóng con người, vì sự phát triển
tự do và toàn diện của con người, vì tiến bộ chung của loài người. Đi theo dòng
chảy của thời đại cũng tức là đi theo quy luật phát triển tự nhiên của lịch sử.
Cách mạng Việt Nam phát triển theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội. Tính tất yếu lịch sử ấy xuất hiện từ những năm 20 của thế kỷ
XX. Nhờ đi con đường ấy, nhân dân ta đã làm Cách mạng Tháng Tám thành
công, đã tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến hoàn thành sự nghiệp giải
phóng dân tộc. Ngày nay, chỉ có đi lên chủ nghĩa xã hội mới giữ vững được độc
lập, tự do cho dân tộc, mới thực hiện được mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh. Sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, như vậy là sự lựa chọn của chính lịch sử dân
tộc lại vừa phù hợp với xu thế của thời đại. Điều đó cũng đã thể hiện sự quá độ
lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta là một tất yếu lịch sử.
Nguyên nhân phải quá độ lên XHCN:
+ Khách quan: Bất bình đẳng xã hội (Khi bất bình đẳng xã hội trở nên quá
lớn và không thể chấp nhận được, nhóm nhân dân cảm thấy cần có sự can
thiệp mạnh mẽ từ chính phủ để cân bằng lại tình hình.). Bất ổn xã hội (Những
xung đột xã hội và biến động kinh tế có thể khiến người dân mất niềm tin vào
hệ thống hiện tại và tìm kiếm sự ổn định thông qua các hình thức chính trị
mới, bao gồm cả chế độ xã hội chủ nghĩa.). Sự bùng nổ của phong trào cách
mạng (Trong một số trường hợp, sự bùng nổ của phong trào cách mạng hoặc
sự lên tiếng của các nhóm xã hội có thể thúc đẩy việc thực hiện các chế độ xã
hội chủ nghĩa mạnh mẽ hơn.). Sự tìm kiếm sự bảo đảm (Trong một số tình 9
huống, người dân có thể tìm kiếm sự bảo đảm từ chính phủ trong bối cảnh
khủng hoảng kinh tế hoặc xã hội, dẫn đến việc hỗ trợ cho các chính sách xã hội chủ nghĩa.)
+ Chủ quan: Lý tưởng và niềm tin: Một số người có lý tưởng về Xã hội
chủ nghĩa và tin rằng chỉ có bằng cách này mới có thể giải quyết được các vấn
đề xã hội và kinh tế. Sự bất mãn: Sự không hài lòng với tình hình xã hội hiện
tại, bao gồm bất công xã hội, bạo lực, và sự phân biệt đối xử, có thể khiến
người ta mong muốn thay đổi hoàn toàn cấu trúc xã hội. Ảo tưởng về sức
mạnh của chính trị: Một số người có thể tin rằng XHCN sẽ mang lại quyền lực
và sức mạnh cho họ hoặc cho nhóm của họ, và họ muốn tận dụng cơ hội này.
Tình hình chính trị và xã hội: Các sự kiện lịch sử, cuộc cách mạng, hoặc các
biến cố chính trị có thể khiến người ta tìm kiếm các giải pháp cách mạng và
muốn tiến tới XHCN. Tuy nhiên, việc quá độ lên XHCN cũng có thể mang lại
các hậu quả không mong muốn, bao gồm sự đàn áp, suy thoái kinh tế, và mất
quyền tự do cá nhân. Điều quan trọng là cân nhắc kỹ lưỡng và đảm bảo rằng
mọi quyết định được đưa ra dựa trên sự hiểu biết và xem xét cẩn thận về tất cả
các khía cạnh của vấn đề.
2.1.3 Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH ở VN: Bỏ qua chế độ của tư bản chủ nghĩa
-Đặc điểm cơ bản của TKQĐ lên CNXH là thời kỳ cải tạo cách mạng sâu sắc, triệt để
xã hội cũ trên tất cả các lĩnh vực.
-> Thời kì lâu dài, gian khổ bắt đầu từ khi giành chính quyền đến khi xây dựng thành công CNXH.
Trên lĩnh vực kinh tế: thời kỳ này tất yếu còn tồn tại nền kinh tế nhiều thành
phần trong một hệ thống kinh tế quốc dân thống nhất. Và tương ứng với nó có
nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng vị trí, cơ cấu và tính chất của
giai cấp trong xã hội đã thay đổi một cách sâu sắc. Sự tồn tại của cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần là khách quan, lâu dài, có lợi cho sự phát triển của lực lượng
sản xuất, tăng trưởng kinh tế.
Nền kinh tế nhiều thành phần được xác lập trên cơ sở khách quan của sự
tồn tại nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất với những hình thức tổ
chức kinh tế đa dạng, đan xen hỗn hợp và tương ứng với nó là những
hình thức phân phối khác nhau trong đó hình thức phân phối theo lao
động tất yếu ngày càng giữ vai trò là hình thức phân phối chủ đạo 10
+VD: Chủ trương "Đổi mới" được khởi xướng từ năm 1986 đã đưa nền kinh tế Việt
Nam từ bao cấp sang thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần thúc đẩy kinh
tế phát triển mạnh mẽ.
Trên lĩnh vực chính trị: các nhân tố của xã hội mới và tàn dư của xã hội cũ tồn
tại đan xen lẫn nhau, đấu tranh với nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống trong xã
hội lúc này tồn tại nhiều thành phần với rất nhiều tư tưởng, ý thức khác nhau.
+VD: Quốc hội Việt Nam đã ban hành nhiều luật quan trọng như: Luật Hiến pháp,
Luật Dân sự, Luật Hình sự, Luật Lao động…
Trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa: Thời kỳ quá độ còn tồn tại nhiều yếu tố tư
tưởng và văn hóa khác nhau. Bên cạnh tư tưởng xã hội chủ nghĩa còn tồn tại tư
tưởng tư sản, tiểu tư sản...., các yếu tố văn hóa cũ và mới thường xuyên đấu tranh với nhau
+VD: Vẫn duy trì, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống như: lễ hội,
phong tục tập quán, di tích lịch sử văn hóa,...và phát triển các loại hình nghệ thuật
truyền thống như: tuồng, chèo, cải lương, múa rối nước,...
Trên lĩnh vực xã hội: Tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau, vừa hợp tác,
vừa đấu tranh với nhau; còn khác biệt thành thị và nông thôn... Đấu tranh chống
bất công, xóa bỏ tàn dư cũ, thiết lập công bằng xã hội, nguyên tắc phân phối
theo lao động là chủ đạo…
+VD: Nhà nước đã xây dựng thành công ‘’chính sách xóa đói giảm nghèo’’, tỷ lệ hộ
nghèo giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 5,81% năm 2022.
-Thực chất của thời kỳ quá độ lên CNXH:Là thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội tiền
TBCN và TBCN sang XH XHCN. Xã hội của TKQĐ là xã hội có sự đan xen của
nhiều tàn dư về mọi phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần của CNTB và những yếu
tố mới mang tính chất XHCN của CNXH mới phát sinh.
2.2: Thực trạng của quan điểm phát triển trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 2.2.1. Thành tựu:
Trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, có một số thành tựu nổi bật
có thể phân tích dựa trên các quan điểm phát triển khác nhau: - Về kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng GDP cao: Nhìn chung, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khá cao, góp
phần nâng cao đời sống vật chất cho người dân.
Giai đoạn 1991 - 2000: GDP bình quân tăng 7,5%/năm.
Giai đoạn 2001 - 2010: GDP bình quân tăng 6,8%/năm
Giai đoạn 2011 - 2020: GDP bình quân tăng 5,9%/năm. 11
Ví dụ: Việt Nam thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao trong khu vực và trên
thế giới; chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao động được nâng
lên rõ rệt; kinh tế vĩ mô ổn định vững chắc hơn, lạm phát được kiểm soát ở mức
thấp (ổn định dưới 4%/năm trong nhiệm kỳ 2016-2020). Các cân đối lớn của
nền kinh tế được cải thiện đáng kể như: tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng
gần 3,5 lần, từ 157,1 tỉ USD năm 2010 lên 543,9 tỉ USD năm 2020, trong đó
xuất khẩu khoảng 281,5 tỉ USD
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, từ
nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp - dịch vụ.
Tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong GDP giảm từ 42,3% năm 1990 xuống 14,2% năm 2020.
Tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 32,7% năm 1990 lên 39,8% năm 2020.
Tỷ trọng khu vực dịch vụ tăng từ 25% năm 1990 lên 45,9% năm 2020.
Ví dụ: Năm 2020, Việt Nam xuất khẩu 281,5 tỷ USD hàng hóa, trong đó xuất
khẩu nông sản đạt 41,3 tỷ USD, công nghiệp - xây dựng đạt 231,2 tỷ USD và dịch vụ đạt 9 tỷ USD.
Mở rộng hội nhập quốc tế: Việt Nam tham gia nhiều tổ chức kinh tế - thương
mại quốc tế và khu vực, thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy xuất khẩu, từng
bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu.
Việt Nam đã ký kết 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA) với 52 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng bình quân 10%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020.
Ví dụ: Năm 2020, Việt Nam tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ
xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA).
Xóa đói, giảm nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt.
Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia giảm từ 37,2% năm 1990 xuống 2,7% năm 2020.
Thu nhập bình quân đầu người năm 2020 đạt 2.188 USD/năm, gấp hơn 10 lần so với năm 1990.
Ví dụ: Chương trình xóa đói, giảm nghèo quốc gia đã giúp hàng triệu người dân
thoát khỏi cảnh nghèo đói, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc hơn. - Về xã hội: 12
Giáo dục - đào tạo: Phát triển giáo dục - đào tạo ở mọi cấp học, nâng cao chất
lượng giáo dục, tỷ lệ người biết chữ và trình độ học vấn của người dân được nâng lên.
Tỷ lệ người biết chữ từ 15 tuổi trở lên tăng từ 89,4% năm 1990 lên 97,2% năm 2020.
Số lượng học sinh trung học phổ thông tăng từ 2,4 triệu em năm 1990 lên 9,3 triệu em năm 2020.
Số lượng sinh viên đại học tăng từ 150.000 em năm 1990 lên 1,7 triệu em năm 2020.
Ví dụ: Chương trình phổ cập giáo dục tiểu học đã giúp 100% trẻ em trong độ
tuổi đi học được đến trường.
Y tế: Mạng lưới y tế được mở rộng, chất lượng khám chữa bệnh được nâng cao,
tuổi thọ trung bình của người dân tăng.
Tuổi thọ trung bình của người dân tăng từ 62,8 tuổi năm 1990 lên 74,2 tuổi năm 2020.
Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 57/1.000 trẻ năm 1990 xuống 13/1.000 trẻ năm 2020.
Tỷ lệ bao phủ y tế bảo hiểm đạt 96% dân số năm 2020.
Ví dụ: Chương trình y tế quốc gia đã giúp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh
cho người dân, đặc biệt là ở khu vực vùng sâu, vùng xa.
Văn hóa: Nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người dân, bảo tồn và phát
huy giá trị văn hóa truyền thống, phát triển văn hóa mới.
Số lượng thư viện, nhà văn hóa, câu lạc bộ văn hóa tăng.
Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch ngày càng phong phú, đa dạng.
Mức độ tiếp cận thông tin, văn hóa của người dân ngày càng cao.
Ví dụ: Các lễ hội truyền thống được tổ chức thường xuyên, thu hút đông đảo du
khách tham gia. Các hoạt động nghệ thuật, giải trí ngày càng phát triển, đáp ứng
nhu cầu tinh thần của người dân.
An ninh - quốc phòng: An ninh - quốc phòng được đảm bảo vững chắc, bảo vệ
chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc.
Nhiều di tích lịch sử, văn hóa được xếp hạng và bảo tồn.
Nhiều ngành nghề thủ công truyền thống được khôi phục và phát triển.
Văn hóa dân gian được sưu tầm, nghiên cứu và giới thiệu rộng rãi.
Ví dụ: Di tích đền Hùng được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.
Nghề dệt lụa, thêu thùa, làm gốm sứ... được khôi phục và phát triển, tạo việc
làm cho người dân và góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương. 13 - Về chính trị:
Hệ thống chính trị ổn định: Hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo được củng cố, phát huy hiệu quả, giữ vững độc lập tự chủ, chủ nghĩa xã hội.
Việt Nam là nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Hệ thống chính trị Việt Nam hoạt động hiệu quả, đảm bảo an ninh, chính
trị, trật tự an toàn xã hội.
Việt Nam có quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhiều quốc gia trên thế giới.
Ví dụ: Việt Nam là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực như Liên Hợp Quốc, ASEAN, APEC...
Quân đội: Quân đội nhân dân Việt Nam được tăng cường về mọi mặt, đủ sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.
Quân đội nhân dân Việt Nam được trang bị vũ khí, trang bị hiện đại.
Chất lượng cán bộ, chiến sĩ được nâng cao.
Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng vũ trang chính quy, tinh nhuệ,
trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Ví dụ: Quân đội nhân dân Việt Nam đã tham gia nhiều hoạt động gìn giữ hòa
bình của Liên Hợp Quốc, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Ngoại giao: Mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế của
Việt Nam trên trường quốc tế.
Việt Nam mở rộng quan hệ đối ngoại với nhiều quốc gia trên thế giới.
Việt Nam tham gia nhiều tổ chức quốc tế và khu vực.
Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Ví dụ: Việt Nam là chủ tịch ASEAN nhiệm kỳ 2020. Việt Nam tham gia Hiệp
định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
Những thành tựu này cho thấy sự phát triển toàn diện của Việt Nam trong thời kỳ quá
độ, phản ánh quan điểm phát triển đa chiều, không chỉ tập trung vào kinh tế mà còn
chú trọng đến xã hội, văn hóa và chính trị. 2.2.2 Hạn chế
Trong quá trình phát triển trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam đã đối
mặt với một số hạn chế sau đây: 2.2.2.1: Kinh tế
-Hạn chế về quản lý và thực thi chính sách: Mặc dù đã có nhiều chính sách và quy
định được ban hành để hỗ trợ phát triển, nhưng việc thực thi và quản lý chính sách vẫn 14
còn hạn chế. Đôi khi, sự thiếu minh bạch và hiệu quả trong việc triển khai chính sách
đã gây ra sự bất công và thất thoát tài nguyên.
-Thiếu vốn đầu tư: Mặc dù đã có những nỗ lực trong việc thu hút vốn đầu tư từ trong
và ngoài nước, nhưng Việt Nam vẫn đang mắc phải thiếu hụt vốn đầu tư. Điều này có
thể hạn chế khả năng mở rộng cơ sở hạ tầng, nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy
sự đổi mới công nghệ.
-Thiếu kỹ năng và giáo dục chất lượng: Hệ thống giáo dục Việt Nam vẫn đang phải
đối mặt với thách thức về chất lượng giáo dục và sự thiếu hụt kỹ năng của lao động.
Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và sự phát triển bền vững trong nền kinh tế.
-Ô nhiễm môi trường và sự suy thoái tài nguyên: Quá trình phát triển kinh tế đã gây ra
ô nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên. Việc thiếu nhân thức và ý thức về bảo vệ
môi trường cũng như việc thiếu các biện pháp quản lý môi trường có thể tiếp tục gây
hạn chế và tác động tiêu cực lên sự phát triển.
-Bất bình đẳng xã hội và khu vực: Mặc dù đã có những cải thiện về mức sống, nhưng
bất bình đẳng xã hội và khu vực vẫn còn tồn tại. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các
tầng lớp và khu vực vẫn là một vấn đề cần được giải quyết. 2.2.2.2: Chính trị
-Bất ổn chính trị và pháp lý: Một số tranh chấp chính trị và pháp lý vẫn tồn tại, ảnh
hưởng đến môi trường kinh doanh và đầu tư. Sự không ổn định chính trị và sự thay đổi
liên tục trong các quy định pháp lý có thể tạo ra không chắc chắn và rủi ro cho các hoạt động kinh doanh.
-Hạn chế về quản lý và thực thi chính sách: Mặc dù đã có nhiều chính sách và quy
định được ban hành để hỗ trợ phát triển, nhưng việc thực thi và quản lý chính sách vẫn
còn hạn chế. Đôi khi, sự thiếu minh bạch và hiệu quả trong việc triển khai chính sách
đã gây ra sự bất công và thất thoát tài nguyên.
-Hạn chế về quản lý và tham gia dân chủ: Mặc dù đã có sự phát triển trong việc tham
gia dân chủ và quản lý cơ sở, nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế về sự minh bạch,
trách nhiệm và khả năng tham gia của cá nhân và tổ chức.
2.2.2.3: Tư tưởng, văn hoá và xã hội
-Bất bình đẳng xã hội và khu vực: Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp và khu
vực vẫn là một vấn đề cần được giải quyết. Việc bất bình đẳng trong phân phối tài
nguyên và cơ hội gây ra sự mất cân đối và gây hạn chế trong sự phát triển xã hội và kinh tế. 15
-Hạn chế trong tư tưởng và giá trị văn hóa: Sự thay đổi nhanh chóng trong xã hội cùng
với sự khác biệt về giáo dục và giá trị văn hoá có thể tạo ra những hạn chế trong việc
thúc đẩy sự đoàn kết và phát triển bền vững.
-Kỹ thuật và công nghệ: Trong quá trình phát triển, Việt Nam vẫn gặp khó khăn trong
việc tiếp cận và áp dụng các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Sự thiếu hụt về nghiên
cứu và phát triển cũng như kỹ năng quản lý công nghệ còn là một hạn chế đối với sự phát triển bền vững.
-Thị trường lao động: Mặc dù đã có sự phát triển về thị trường lao động, nhưng vẫn
còn tồn tại thiếu hụt và không cân đối về kỹ năng và nguồn lao động. Một số ngành
nghề vẫn gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn nhân lực chất lượng cao, trong khi
người lao động không đủ kỹ năng để phù hợp với yêu cầu của thị trường.
-Hệ thống tài chính: Hệ thống tài chính Việt Nam vẫn chưa đạt được sự phát triển
đồng đều và hiệu quả. Thiếu hụt vốn đầu tư và sự kém linh hoạt trong việc cung cấp
tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những hạn chế cần được giải quyết.
-Giao thông và hạ tầng: Mặc dù đã có những đầu tư đáng kể vào cơ sở hạ tầng, nhưng
vẫn còn tồn tại hạn chế về giao thông và hạ tầng ở một số khu vực. Các vấn đề như ùn
tắc giao thông, thiếu hụt cơ sở hạ tầng vùng nông thôn và hạn chế trong việc phát triển
hạ tầng kỹ thuật mới vẫn cần được giải quyết.
-Hạn chế về quản lý và tham gia dân chủ: Mặc dù có sự phát triển trong việc tham gia
dân chủ và quản lý cơ sở, nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế về sự minh bạch, trách
nhiệm và khả năng tham gia của các cá nhân và tổ chức.
2.3: Phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và giải pháp nhằm khắc
phục những hạn chế của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam ta 2.3.1. Phương hướng:
Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về
cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị
và tư tưởng, văn hoá phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa
phồn vinh.Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình lâu dài, trải qua nhiều
chặng đường. Mục tiêu của chặng đường đầu là: thông qua đổi mới toàn diện, xã hội
đạt tới trạng thái ổn định vững chắc, tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau...
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cần nắm vững
những phương hướng cơ bản sau đây: 16
Một là, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp
trí thức làm nền tảng, do đảng cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của
nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi
ích của Tổ quốc và của nhân dân.
Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện
đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm
từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng
cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân.
Ba là, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước
quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu.
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Kinh tế quốc doanh và
kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Thực hiện nhiều
hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu.
Bốn là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá
làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chỉ
đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá
tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại,
xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người,
với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao. Chống tư tưởng, văn
hoá phản tiến bộ, trái với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị cao
quý của loài người, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.
Năm là, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận
dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh.
Thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước;
trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết với các nước xã
hội chủ nghĩa, với tất cả các lực lượng đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Sáu là, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến
lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất
nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng.
Bảy là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức
ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. 17 2.3.2 Giải pháp
2.3.2.1. Trách nhiệm của Đảng:
Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức của cả xã hội về chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam để chủ động xây dựng “hệ miễn dịch” về tư tưởng.
Quá trình hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế cùng với sự bùng nổ
ngày càng phổ biến của công nghệ thông tin, đặt lĩnh vực tư tưởng, lý luận trước
những thách thức gay gắt hơn, quyết liệt hơn. Sự giao lưu, cọ xát tư tưởng sẽ diễn ra
hàng ngày. Đảng ta xác định: "Sự chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài
nước ngày càng điên cuồng, quyết liệt và tinh vi hơn. Trong đó, “chúng luôn coi tư
tưởng, lý luận là những trận địa tiến công, là khâu đột phá”.
Vì vậy, cần thông qua các hình thức tuyên truyền, giáo dục để nâng cao sự nhận
thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Cần tạo ra được không khí, nhu cầu tìm hiểu đối với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước.
Cần đổi mới phương thức tuyên truyền, phát huy hết lợi thế của mạng thông tin toàn
cầu (internet) tăng cường cung cấp thông tin, quan điểm đúng đắn của Đảng, Nhà
nước. Đồng thời cần tuyên truyền, giải đáp kịp thời, thỏa đáng và có sức thuyết phục
những vấn đề lý luận và thực tiễn mà nhân dân quan tâm. Cần tiếp tục làm sáng rõ
nhận thức, quan niệm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Tiếp tục triển khai có hiệu quả việc “học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh” trong toàn xã hội để xây dựng nền tảng đạo đức của toàn xã
hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, kiên quyết và có biện pháp hữu hiệu
đẩy lùi sự thoái hóa đạo đức, lối sống, sự suy thoái về tư tưởng chính trị trong một bộ
phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, tuyên truyền, biểu dương các nhân tố mới, điển hình tiên tiến.
Hai là, đưa vào nội dung giảng dạy những tri thức cơ bản giúp học sinh,
sinh viên nhận thức rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và góp phần đấu tranh với các quan điểm sai trái.
Với mưu đồ hình thành lực lượng lâu dài về sau, nên các thế lực thù địch đã tập
trung tác động vào thế hệ trẻ, họ xem đây như chiến lược con người nhằm chuyển hóa
tư tưởng của học sinh, sinh viên, phai nhạt dần lý tưởng cộng sản. Học sinh, sinh viên
là những lực lượng trẻ, có tri thức lại nhanh nhạy với cái mới và là đối tượng của diễn
biến hòa bình. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, các cuộc biểu tình, đấu tranh, gây sức
ép đối với chính quyền đương nhiệm diễn ra ở các nước thời gian qua, dù được tổ 18