Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING ---------- HỌC PHẦN
TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN
“Phân tích cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện ?vận dụng quan điểm toàn
diện để phân tích ảnh hưởng của đại dịch covid đến các vấn đề đời sống xã
hội ở việt nam hiện nay”
Mã lớp học phần: 2278MNLP0221
Giảng viên: NGUYỄN THỊ LIÊN Nhóm thực hiện: 02 Hà Nội, 11/2022 LỜI MỞ ĐẦU
Đã bốn năm kể từ khi đại dịch covid hoành hành
khắp thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Nó đi
qua khiến cho gam màu chủ đạo của bức tranh xã hội ở
Việt Nam là “ xám tối’’trong bối cảnh đời sống nhân
dân ngày càng đi xuống một cách trầm trọng. Đại dịch
covid-19 là một cú sốc mạnh đến đời sống xã hội của
nhân dân ta. Vậy mục đích của việc nghiên cứu tác
động của đại dịch covid gây nên nhằm tìm hiểu rõ
ràng, tường tận về ảnh hưởng về mặt tiêu cực lẫn tích
cực mà nó gây ra từ đó chúng ta có những biện pháp,
chính sách có sự phối hợp đồng bộ và nhanh chóng

để hạn chế sự ảnh hưởng không tốt đến đời sống xã hội nhân dân.
Nhiệm vụ của nghiên cứu là làm rõ cơ sở lý luận về
quan điểm toàn diện từ đó làm rõ được sự ảnh hưởng
của đại dịch Covid-19 đến đời sống xã hội của Việt
Nam hiện tại như kinh tế,giáo dục, y tế và môi trường
cũng như biện pháp để đất nước ta có thể đẩy lùi nó
một cách thành công mĩ mãn như hiện tại
Chương 1 : Lý thuyết 1.1Khái niệm
-Quan điểm toàn diện là quan điểm mà khi nghiên
cứu và xem xét đối tượng, sự vật hay sự việc, ta phải
quan tâm đến tất cả các yếu tố kể cả khâu gián tiếp hay
trung gian có liên quan đến sự vật, hiện tượng.
1.2Cơ sở lý luận
-Chúng được xây dựng trên cơ sở lý giải theo quan
điểm duy vật biện chứng về tính khách quan, tính phổ
biến và tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ và
sự phát triển của tất cả các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy
-Với chủ nghĩa duy vật biện chứng, những phản ánh
trên sự vật đều được giải thích và cần phải giải thích.
khi những nguyên nhân luôn tồn tại và sự vật tác động
lẫn nhau. khi đó, việc nhìn nhận và đánh giá muốn
mang đến hiệu quả phải dựa trên những tính chất phản
ánh đầy đủ nhất. xác định đúng đắn mới mang đến hiệu
quả trong quan điểm thể hiện. do đó mà tính chất toàn
diện là tính chất cần thiết , quan trọng
-Trong tính chất duy vật biện chứng, những nhìn
nhận và đánh giá phải được xây dựng từ nhiều chiều. nó
giải thích cho những phản ánh kết quả tồn tại trên thị
trường. những nguyên nhân được tìm ra có nguyên
nhân trực tiếp hay tác động không trực tiếp. và phản
ánh năng lực, khả năng và cái nhìn nhiều chiều của một chủ thể 1.4Yêu cầu
-Đòi hỏi con người phải chú ý và biết phân biệt từng
mối liên hệ. Các nhìn nhận trên các khía cạnh khác
nhau phản ánh những đặc trưng riêng biệt. Nó làm nên
tính đa dạng của chủ thể trong các thể hiện trên thực tế.
Do đó mà việc quan tâm và phân tích từng yếu tố cũng
được thể hiện trên cơ sở của nó. Cụ thể hơn đó là các
mối quan hệ chủ yếu với tất yếu, mối liên hệ bên trong
và bên ngoài, mối liên hệ về bản chất. Chỉ có như vậy
chúng ta mới có thể hiểu rõ được bản chất của sự việc.
-Đòi hỏi con người nắm bắt được khuynh hướng phát
triển của sự vật trong tương lai. Những nhìn nhận mang
đến phản ánh như thế nào cho mức độ phù hợp hay cơ
sở phát triển trong tương lai. Hoặc những yếu tố biến
động cũng có thể được đánh giá để mang đến nhận định
cần thiết. Nó giúp cho việc thực hiện các hoạt động tác
động trên sự vật được tiến hành hiệu quả. Đáp ứng các
mong muốn của chủ thể tiến hành. 1.4Ví dụ
Chương 2 : Áp dụng thực tiễn
- Sự ảnh hưởng của đại dịch covid-19 lên đời sống xã hội
-Tầm quan trọng của việc sử dụng phương pháp luận
để vận dụng và đánh giá các vấn đề thực tiền
-Theo khái niệm và cơ sở lý luận của quan điểm toàn
diện (đã được nêu rõ ở phần I.1 và I.2), có thể khẳng
định quan điểm toàn diện đóng vai trò cốt yếu trong
thế giới quan triết học và phương pháp luận duy vật
biện chứng
. Bởi lẽ, khi xem xét mối liên hệ giữa con
người với thế giới, ta luôn thấy những mối quan hệ lệ
thuộc, ảnh hưởng, ràng buộc và quy định
lẫn nhau
giữa các sự vật. Đồng thời, sự vật không chỉ tồn tại,
hiện hữu trong thế giới mà còn sinh thành, phát triển và tiêu vong.
-Ở luận điểm thứ nhất, ta đặt các sự vật hay sự việc
trong mối liên hệ phổ biến, có nghĩa là mọi sự vật hay
sự việc tồn tại đều có những mối liên hệ với nhau chứ
không tồn tại đơn lẻ. Để chứng minh được tầm quan
trọng của quan điểm toàn diện trong luận điểm này, ta
sẽ xét một sự vật hoặc sự việc cụ thể trong trạng thái
riêng biệt, độc lập. Ví dụ cụ thể được đặt ra để chứng
minh luận điểm thứ nhất là chủ nghĩa duy khoa học.
-Chủ nghĩa duy khoa học là một niềm tin cho rằng
khoa học tự nhiên và các phương pháp khoa học tự
nhiên là hệ quy chiếu có giá trị duy nhất trong việc định
hình và đánh giá mọi chuẩn mực. Một số nhà khoa học
nhất quyết ủng hộ chủ thuyết này có thể kể đến như
Stephen Hawking hoặc Neil deGrasses Tyson.
-Có ba biểu hiện cơ bản của chủ nghĩa duy khoa học:
(i) Chủ nghĩa khoa học phương pháp luận, (ii) Chủ
nghĩa khoa học bành trướng, (iii) Chu nghĩa khoa học duy lý
.
Sơ đồ minh họa biểu hiện của chủ nghĩa duy khoa học
-Biểu hiện đầu tiên được gọi là chủ nghĩa khoa học
phương pháp luận.
Theo Tom Sorrells, một giáo sư triết
gia người Canada cho rằng: “Các phương pháp luận
khoa học xã hội bao gồm lịch sử, pháp luật hay tâm lý

học đều nằm ở giai đoạn tiền khoa học, những phương
pháp luận này cần tiến hóa cho đến khi đạt ngưỡng của
phương pháp luận khoa học tự nhiên
”. Hiểu một cách
đơn giản, người theo chủ nghĩa duy khoa học ở trường
hợp này có sự áp đặt về vai vế giữa các loại khoa học.
Họ coi khoa học xã hội ở một vị trí thấp hơn so với khoa học tự nhiên.
-Biểu hiện thứ hai là chủ nghĩa duy khoa học bành
trướng, có nghĩa là mọi giá trị trong đời sống xã hội loài
người như đạo đức, chính trị, thẩm mỹ, tôn giáo chỉ có
thể được coi trọng khi chúng tuân theo nguyên tắc của khoa học tự nhiên.
-Cuối cùng, biểu hiện thứ ba là chủ nghĩa duy khoa
học duy lý. Nó cho rằng, nhiệm vụ của khoa học là
chứng minh sự thật, tuy nhiên cũng có những sự thật mà
khoa học không thể chứng minh. Ví dụ, khoa học không
thể chứng minh linh hồn hoặc chiều không gian thứ tư
không tồn tại. Khoa học cũng không thể chứng minh sự
trường kỳ và rộng lớn của vũ trụ không phải do một thế
lực siêu nhiên nào đó tạo ra. Bởi lẽ đó, việc tin vào
những điều trên không được gọi là phản khoa học
nhưng đồng thời khoa học cũng không công nhận những điều đó.
-Nói chung, dù ở biểu hiện nào đi nữa, chủ nghĩa duy
khoa học cũng đều khẳng định vị trí tối cao của mình
với mọi nguồn tri thức khác của nhân loại. Qua đó, ta có
thể thấy vấn đề rằng, việc đặt một niềm tin quá lớn
vào khoa học có thể làm phi nhân tính các giá trị của
con người nói chung và giá trị của các cộng đồng nói
riêng.
Giáo sư Richard Dawkins, một chuyên gia về
sinh vật học tiến hóa của Oxford đã trả lời khi được hỏi
về mục đích sống của nhân loại: “Chúng ta những cỗ
máy sinh học được xây dựng bởi DNA với mục tiêu duy
nhất là tạo ra những bản thể khác với cùng một chuỗi
DNA. Đó là mục tiêu duy nhất của con người. Nhân
giống DNA là ý nghĩa duy nhất của cuộc sống với tư
cách là một quá trình tự duy trì.
” Xét quan điểm này,
mọi giá trị như văn hóa, truyền thống, thậm chí cảm xúc
của con người cũng trở nên vô nghĩa bởi chúng không
giúp ích gì được cho quá trình nhân giống DNA như
Dawkins đã mô tả. Đặt ra câu hỏi cũng chiếu theo quan
điểm trên, liệu chúng ta có quyền lựa chọn DNA tốt cho
quá trình nhân giống hay không? Hay liệu chúng ta có
quyền loại bỏ những chuỗi DNA không phù hợp hay
không? Theo ngôn ngữ của khoa học thì đây là điều
hoàn toàn có thể, nhưng nếu xét trên nhiều khía cạnh,
những câu hỏi lại gợi ra những vấn đề vô cùng nhức
nhối. Điều này đã được chứng minh trong lịch sử thông
qua những thiệt hại nặng nề về con người hay những đổ
vỡ về tinh thần trong cuộc diệt chủng Holocaust đầy tai
tiếng hoặc thời kỳ đen tối của trào lưu xuất hiện ưu sinh
tại Anh và Mỹ vào thế kỷ XIX.
-Đây chính là điểm mấu chốt nguy hiểm nhất của chủ
nghĩa duy khoa học, đồng thời cũng là bằng chứng cho
thấy khi thiếu đi quan điểm toàn diện trong phương
pháp luận nói chung, con người có thể bị lệch hướng
trong tư duy và hoạt động.

-Ở luận điểm thứ hai, ta đặt sự vật hoặc sự việc
trong một quy trình vận động có sinh thành, phát triển
và tiêu vong. Về bản chất, sự vật hoặc sự việc luôn vận
động trong hình thái này hay hình thái khác. Trong
trường hợp ngược lại, khi xét sự vật trong trạng thái
đứng yên, tĩnh tại một cách tuyệt đối ta có thể chứng
minh được ý nghĩa của quan điểm toàn diện. Ví dụ
được đưa ra nói về sự bảo thủ trong tư duy của
McDonald’s dẫn đến thất bại trong kinh doanh.
-Thị hiếu và nhu cầu của khách hàng là vô tận, luôn
luôn biến đổi không ngừng, thậm chí còn có sự đa dạng
về cách phân loại dựa theo vùng miền, giới tính, độ tuổi
hay nghề nghiệp. Quay ngược trở về những năm sau thế
chiến thứ II, mọi người có nhu cầu thưởng thức những
món ăn vừa túi tiền và phải được phục vụ nhanh nhất có
thể. Dựa vào yếu tố đó, anh em nhà McDonald và Ray
Kroc đã biến McDonald trở thành một trong những mô
hình đồ ăn nhanh phổ biến nhất nước Mĩ. Đến năm
1987, McDonald's đã phục vụ ¼ bữa sáng cho người
dân trên toàn nước Mỹ. Trong thế kỷ 21, McDonald's
tiếp tục chứng tỏ vị thế của mình trong ngành đồ ăn
nhanh trên toàn thế giới. Cũng không ngoa khi nhận
định rằng vì McDonald’s nên chiếc bánh Hamburger đã
thành biểu tượng của nước Mỹ hay người ta nghĩ tới
nước Mỹ ngay khi nhắc về McDonald’s.
-Tuy nhiên, từ năm 2013 cho tới năm 2017, doanh
thu hàng năm của McDonald’s liên tục giảm. Quý 1
năm 2017, doanh thu giảm 3,9% xuống còn 5,68 tỷ
USD và thậm chí doanh thu giảm 11 quý liên tiếp.
Nguyên nhân được cho là sự chậm trễ trong việc
chuyển đổi số hóa dẫn đến sụt giảm lượng khách trung
thành cũng như thu hút thêm những khách hàng mới
cho McDonald’s. Ngoài ra, giờ đây khách hàng đã
không còn lựa chọn điểm đến dựa trên việc ai làm
hamburger nhanh hơn, giá ở đâu rẻ hơn hay hamburger
nào ngon hơn mà còn dựa vào việc bảo vệ sức khỏe của chính họ.
-Trong ví dụ này, nhu cầu luôn vận động và biến đổi
trong khi đó dịch vụ và chất lượng dinh dưỡng trong
thức ăn nhanh của McDonald’s thì ngưng trệ. Điều đó
đó cho thấy, McDonald’s đã không xem xét đến sự biến
đổi chóng mặt trong xu thế đồ ăn nhanh và đánh mất đi
một lượng khách hàng lớn trong giai đoạn đó.
-Xét trong quy luật phát triển, khi không vận dụng
quan điểm toàn diện trong phương pháp luận có thể
khiến ta đưa ra những nhận định sai lầm về bản chất
và nguồn gốc của sự vật hay sự việc, từ đó hạn chế
tính năng động, sáng tạo của con người trong quá
trình lao động sản xuất.

1. Bối cảnh chung của Covid-19 trên toàn cầu
-Covid-19 là một đại dịch nghiêm trọng nhất trong
những năm gần đây. Sức ảnh hưởng của nó lan rộng
khắp nơi trên thế giới và trên mọi lĩnh vực. Đây chính
là những ví dụ điển hình nhất cho sự ảnh hưởng của đại dịch trong 2 năm vừa qua.
-Vào thời điểm dịch bùng phát mạnh nhất có hàng
triệu ca nhiễm bệnh và hàng nghìn người chết mỗi
ngày.Cụ thể vào thời điểm đầu 2022 thế giới có hơn 3
triệu ca nhiễm mới mỗi ngày khiến chính phủ nhiều
quốc gia phải ban bố tình trạng phong tỏa khẩn cấp.
-Dịch covid 19 đã gây suy thoái kinh tế toàn cầu,đẩy
thị trường tài chính nhiều quốc gia vào một trong những
đợt bán tháo mạnh nhất lịch sử,khiến nhiều doanh
nghiệp bị phá sản, hàng triệu lao động rơi vào tình trạng
thất nghiệp,làm gián đoạn các hoạt động thương mại
quốc tế do lệnh phong tỏa của các quốc gia.
-Dịch covid 19 còn gây ra tình trạng đứt gãy chuỗi
cung ứng trên toàn cầu, để lại hậu quả nghiêm trọng đối
với nền kinh tế các quốc gia mà cho đến nay nhiều nước
vẫn chưa thể khắc phục. 3 .
Sự ảnh hưởng của đại dịch lên từng khía cạnh của đời sống a. Y tế *Tiêu cực:
-Do vừa phải đảm bảo công tác khám bệnh, chữa
bệnh thường xuyên, vừa đảm nhiệm công tác phòng,
chống dịch bệnh COVID-19 (giám sát dịch, hỗ trợ các
tuyến, cách ly người nhiễm và nghi nhiễm, điều trị
người nhiễm, hỗ trợ các tuyến trong phòng, chống
dịch…) nên một số cơ sở y tế xuất hiện tình trạng quá
tải kéo dài và tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nhất là nguy cơ
lây nhiễm chéo vi rút SARS-Cov2. Đáng chú ý, tới 53%
nhân viên y tế có tiếp xúc COVID-19 hàng ngày và 35,6% nguy cơ mắc COVID-19.
-Nhiều cơ sở y tế đã tăng ca làm việc để phục vụ
công tác khám bệnh, chữa bệnh, sàng lọc, tổ chức cách
ly, giám sát và điều trị bệnh nhân nhiễm và nghi nhiễm
COVID-19.Khoảng 60% nhân viên y tế đã phải cáng
đáng khối lượng công việc và thời gian làm việc tăng
lên đáng kể trong thời gian diễn ra đại dịch COVID-19.
-Nếu dịch kéo dài, sẽ gây ra áp lực lớn, khó khăn
trong việc bảo đảm tính liên tục các hoạt động của hệ
thống y tế dự phòng, thiếu nhân lực điều tra dịch tễ, lấy
mẫu xét nghiệm, việc tổ chức cách ly và xử lý môi
trường với số lượng lớn, thời gian ngắn.
-Trong danh mục dự trữ quốc gia mới chỉ có thuốc
phòng, chống dịch bệnh mà chưa có một số trang thiết
bị, vật tư y tế, đồ bảo hộ thiết yếu phục vụ công tác
phòng, chống dịch, công tác khám bệnh, chữa bệnh cho
người mắc dịch bệnh nên nếu dịch lan rộng, số người
mắc nhiều sẽ ảnh hướng lớn đến công tác khám bệnh,
chữa bệnh và có nguy cơ lây nhiễm đối với đô Ši ngũ cán
bô Š y tế. Có 14/34 Sở Y tế và 8/21 bệnh viện tuyến
Trung ương báo cáo có tình trạng thiếu trang thiết bị y
tế như các trang thiết bị y tế chuyên sâu: Thiết bị phòng
mổ, thiết bị chuyên ngành thần kinh, tim mạch, nội soi
tai mũi họng, mắt, tiêu hóa, hô hấp, hồi sức tích cực,
thiết bị chẩn đoán hình ảnh, thiết bị xét nghiệm chuyên sâu.
-Ngành y tế trong thời gian chống dịch vừa qua đã
xảy ra tình trạng thiếu khẩu trang y tế. Bên cạnh đó, khó
khăn trong việc đặt mua các thiết bị y tế như máy thở,
máy xét nghiệm, máy X-quang, Kit test xét nghiệm
COVID-19… do nguồn cung khan hiếm và giá bị đẩy
lên cao. Bên cạnh đó, có 26/34 Sở Y tế và 15/21 bệnh
viện tuyến Trung ương báo cáo hiện có tình trạng thiếu
vật tư tiêu hao, hóa chất, chủ yếu là hóa chất dùng xét nghiệm.
-Số lượng người đến khám bệnh, chữa bệnh tại nhiều cơ
sở y tế hiện đang giảm mạnh, một số người có triệu
chứng của bệnh không hợp tác và tuân thủ các biện
pháp cách ly, ảnh hưởng đến sức khoẻ người bệnh và
sức khoẻ cộng đồng, tăng nguy cơ lây nhiễm, thậm chí
là ảnh hưởng đến tính mạng.
-Nếu tình hình dịch bệnh tiếp tục kéo dài có thể tác
động đến kinh phí hoạt động của các cơ sở y tế thực
hiện tự chủ về tài chính.
-Thiếu vắc-xin, thuốc, vật tư phòng bệnh.
-Nhiều y bác sĩ sẵn sàng đến các vùng tâm dịch và đã
có những người hi sinh để ngăn chặn dịch bệnh lây lan.
-Xuất hiện những biến thể mới và đã ghi nhận những ca
lây nhiễm trong cộng đồng. *Tích cực
-Đội ngũ y tế có kinh nghiệm cho những đại dịch có
thể xảy ra trong tương lai.
-Cơ hội để nhà nước thêm quan tâm đến việc đầu tư
cơ sở vật chất cho y tế.
-Góp phần trang bị thêm những kiến thức về phòng
chống bệnh truyền nhiễm cho người dân.
-Cơ hội để nền y tế VN học tập những công nghệ
khám chữa bệnh tiên tiến của y tế thế giới.
-Khẳng định được vị thế và danh tiếng của Việt Nam
trong lĩnh vực y tế khi là một trong những nước có số
ca mắc và số ca tử vong do Covid-19 ít nhất trong thời
điểm đại dịch đang diễn ra. Số ca STT Quốc gia Số ca tử mắc vong 1 Malaysia 2.161 26 2 Thái Lan 1.136 05 3 Indonesia 1.046 87 4 Philippines 803 54 5 Singapore 683 02 6 Việt Nam 169 0 7 Brunei 114 0 8 Campuchia 98 0 9 Lào 06 0 10 Myanmar 05 0 11 Timor- Leste 01 0 Tổng 6.222 174
( Số liệu đc thu thập từ 2020 thời gian dịch covid-19 mới bùng phát )
-Góp phần giúp nhân dân tin tưởng vào dịch vụ y tế
và các phương pháp khám chữa bệnh của nền y học Việt Nam. *Giải pháp
-Tiếp tục thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo
của Ban Bí thư, Thường trực Ban Bí thư và Thủ tướng
Chính phủ, sự chỉ đạo, điều hành thống nhất của Ban
Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống dịch bệnh Covid-19.
-Tập trung phòng, chống dịch bệnh theo nguyên tắc:
Ngăn chặn, hạn chế tối đa các nguồn lây nhiễm, nhất là
từ nước ngoài; phát hiện sớm các trường hợp nhiễm
bệnh; điều tra dịch tễ, phân loại, sàng lọc, cách ly chặt
chẽ; khoanh vùng, dập dịch; điều trị kịp thời, hiệu quả.
-Tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức
tự bảo vệ mình, bảo vệ cộng đồng, thực hiện theo quy
định của pháp luật, hướng dẫn của Bộ Y tế và chính
quyền địa phương, khai báo y tế tự nguyện, thông báo
kịp thời với cơ sở y tế về tình hình sức khoẻ nếu có yếu
tố, biểu hiện nghi nhiễm bệnh Covid-19.
-Hoàn thiện các phương án, kịch bản chống dịch bệnh
ở các quy mô khác nhau; bảo đảm đầy đủ các điều kiện
về cơ sở vật chất, trang thiết bị, vật tư và nhân lực để
phòng, chống dịch trong tình huống dịch bùng phát
mạnh.Tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc
trong việc mua sắm trang thiết bị, vật tư phòng, chống
dịch. Có chính sách động viên, hỗ trợ kịp thời những
người tham gia phòng, chống dịch. Các địa phương có
dịch phải ưu tiên mọi điều kiện, nguồn lực để chống dịch, dập dịch.
-Tuyên truyền, thông tin kịp thời, minh bạch tới người
dân về tình hình dịch bệnh, xử lý nghiêm những người
đưa thông tin sai sự thật, ảnh hưởng tới công tác phòng, chống dịch bệnh. b. Giáo dục Tiêu cực
-Giáo viên bị cắt bớt thời gian trên lớp, giảm nhân lực
khiến giáo viên thất nghiệp, bị nợ lương,…
- Các cơ sở đào tạo chưa kịp thời thích ứng với điều
kiện mới, khiến việc dạy học gặp nhiều trục trặc. Nhiều
cơ sở địa phương không đủ nguồn kinh tế để đầu tư các
trang thiết bị điện tử dạy học
- Những học sinh gia đình ở các vùng xa xôi hẻo lánh
hoặc không có điều kiện kinh tế trang bị wifi, máy tính,
điện thoại,… khiến các em phải bỏ học
- Quá trình đào tạo phụ thuộc nhiều vào yếu tố bên
ngoài như: mạng lưới điện, mạng viễn thông,…
- Không theo kịp tiến độ chương trình, kế hoạch năm
học, nhiều sinh viên không thể ra trường đúng hạn
- Một số môn học thực hành bên ngoài bị huỷ hoặc trì
hoãn như: giáo dục quốc phòng an ninh, kỹ năng nghề, …
- Nhiều cuộc thi bị huỷ hoặc hạn chế tổ chức: SAT,…
- Một vấn đề lớn đó là nhận thức, cái nhìn của xã hội
đối với việc đào tạo trực tuyến, cho rằng gdđt là không
hiệu quả, cùng rất nhiều quan điểm trái chiều khiến giáo
viên, phụ huynh và học sinh rất áp lực, nhất là những học sinh cuối cấp
- Đặc biệt khó khăn trong việc trông giữ trẻ mầm non
và dạy dỗ trẻ tiểu học qua các thiết bị điện tử.
-Người dạy khó khăn trong việc giám sát quá trình học
tập, thi cử của người học
- Ảnh hưởng nhất đối với học sinh khi học trực tuyến là
không được giao tiếp trực tiếp, tiếp xúc nhiều với màn
hình,… dẫn đến hệ quả nghiêm trọng đối với sức khoẻ:
các vấn đề về mắt, trẻ có nguy cơ chậm phát triển, dễ
mắc các bệnh tâm lý, không an toàn khi ở 1 mình,…
- Việc trẻ em, thanh thiếu niên thường xuyển sử dụng
những phương tiện số sẽ làm gia tăng nguy cơ bị tấn
công, bạo lực mạng, từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến
sức khỏe tinh thần và tâm lý của các bạn  Tích cực:
- Đổi mới phương pháp dạy và học: thay vì hình thức
học trực tiếp truyền thống, nhờ sự trợ giúp của công
nghệ, quá trình đào tạo đã được số hoá
- Phát triển giáo dục điện tử: Các công nghệ hiện đại đã
được phát triển, hỗ trợ học sinh và giáo viên rất nhiều
trong quá trình dạy học. VD: Công nghệ IoT giúp tăng
cường quản lý, giám sát trong các cơ sở giáo dục, theo
dõi hành vi của người học; Công nghệ Big data (dữ liệu
lớn) giúp phân tích hành vi học tập của người học để có
hỗ trợ, tư vấn phù hợp; hay Blockchain giúp xây dựng
hệ thống quản lý thông tin và hồ sơ giáo dục của người
học, cho phép hợp nhất, quản lý và chia sẻ dữ liệu từ
nhiều trường học, ghi chép lại lịch sử học tập, bảng
điểm của người học để đảm bảo thông tin dữ liệu được
đồng nhất, minh bạch,…
- Cơ sở đào tạo vận hành tốt hơn: Việc áp dụng công
nghệ vào vận hành giúp quản lý giáo viên và học viên
triệt để hơn, giảm tải các lãng phí, tăng hiệu suất và
chất lượng làm việc của khối văn phòng và đào tạo.
- Tăng tính tương tác, tính thực hành - ứng dụng: Thực
tế ảo (Virtual Reality - VR), thực tế tăng cường
(Augmented Reality - AR) đang được ứng dụng trong
giáo dục để xây dựng các phòng thí nghiệm ảo, mô hình
thực tế ảo, có khả năng tương tác với người dùng. Hay
các cuốn sách AR, phần mềm Blippar dạy khoa học vũ
trụ,… giúp người học có những trải nghiệm đa giác
quan, dễ hiểu, dễ nhớ. Từ đó nội dung truyền tải phong
phú hơn, khoa học và hấp dẫn hơn đối với người học
- Tạo không gian và thời gian học linh động, thúc đẩy
giáo dục mở - bình đẳng – cá thể hóa: Sự bùng nổ của
các khóa học trực tuyến mở (MOOC) như: Udacity,
Coursera, edX, Udemy, FutureLearn,… và tài liệu
online đã tạo điều kiện cho người học tiếp thu kiến thức
một cách linh động và thuận tiện mọi lúc, mọi nơi mà
không bị giới hạn nội dung hay cản trở địa lý. Người
học còn có thể xem lại bài giảng dễ dàng, không bỏ lỡ
kiến thức do các tác nhân bên ngoài
- Giảm chi phí đào tạo: Các mô hình dạy học trực tuyến
(e-learning) giúp giảm chi phí đào tạo. Cơ sở đào tạo thì
tiết kiệm được chi phí trang bị cơ sở vật chất, chi phí
chi trả cho giảng viên và chuyên gia. Còn học viên tiết
kiệm được học phí và tài liệu học,…
- Học trực tuyến giúp các cá nhân phát triển khả năng
sử dụng công nghệ, khả năng sáng tạo để thích ứng,
nâng cao khả năng tự giác, độc lập
- Đánh giá quá trình dạy học tốt hơn: Từ những phản
hồi của học viên, kết hợp với phân tích dữ liệu, giáo
viên có thể đánh giá và tiến hành điều chỉnh các kế
hoạch giảng dạy tốt hơn.
- Hình thức dạy học trực tuyến giúp gắn kết và phối hợp
chặt chẽ hơn giữa gia đình và nhà trường trong giáo dục
học sinh. Trên thực tế, với việc học sinh tự học online ở
nhà sẽ luôn có sự giám sát, kèm cặp, nhắc nhở của phụ
huynh. Ngoài ra, khi học cùng con, phụ huynh còn có
cơ hội để trực tiếp chiêm nghiệm chất lượng dạy - học,
đào tạo của giáo viên và nhà trường. Đó là những điều
kiện cần thiết để phụ huynh có cái nhìn toàn diện, đầy
đủ hơn về động cơ, năng lực, ý thức học tập của con em
mình cũng như trình độ của giáo viên. Từ đó cùng với
giáo viên và nhà trường uốn nắn kịp thời, điều chỉnh
đúng hướng các hành vi học tập, rèn luyện của các em.
- Đem lại giá trị nhân văn: Đó là việc một số cơ sở đào
tạo vượt lên khó khăn thực tại, bỏ qua lợi nhuận để ban