Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING ------------------
BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN Đề tài:
PHÂN TÍCH CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM
TOÀN DIỆN. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM NÀY ĐỂ PHÂN
TÍCH NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID 19
ĐẾN CÁC VẤN ĐỀ CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM
HIỆN NAY Nhóm 2
Lớp học phần: 22108MLNP0221
Giảng viên hướng dẫn: Cô Phạm Thị Hương 0 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU..................................................................................................................2
1, TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI ĐỐI VỚI COVID 19.....................................2
2, MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.......................................................3
2.1 Mục tiêu...........................................................................................................3
2.2 Nhiệm vụ..........................................................................................................3
3, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.......................................................3
4, ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI.....................................................................................3
4.1 Về lý luận.........................................................................................................3
4.2 Về thực tiễn......................................................................................................3
PHẦN NỘI DUNG..............................................................................................................3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN..................................4
1, QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN....................................................................................4
1.1 Khái niệm quan điểm toàn diện.........................................................................4
1.2 Nguồn gốc của quan điểm toàn diện.................................................................4
1.3 Vai trò thực tiễn, ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm toàn diện..........4
2, CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN..........................................6
2.1 Khái niệm.........................................................................................................6
2.2 Tính chất của mối liên hệ phổ biến...................................................................7
Chương 2: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM
NÀY ĐỂ PHÂN TÍCH NHỮNG ẢNH
HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID 19 ĐẾN CÁC VẤN ĐỀ CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT
NAM HIỆN NAY.........................................................................................................................7
1, TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID 19 ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
GIÁO DỤC, Y TẾ Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY................................7
1.1 Thực trạng giáo dục và y tế trong giai đoạn đại dịch covid 19 bùng phát......7
1.2 Những ảnh hưởng tích cực.............................................................................10
1.3 Những ảnh hưởng tiêu cực.............................................................................10
1.4 Nguyên nhân của những ảnh hưởng tiêu cực................................................11
2, PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC HẠN CHẾ VÀ TIẾP TỤC
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC, Y TẾ TRONG THỜI GIAN TỚI.........................................11
2.1 Phương hướng.................................................................................................11
2.2 Giải pháp..........................................................................................................13
3. LIÊN HỆ BẢN THÂN..........................................................................................16
3.1. Áp dụng trong học tập.....................................................................................16
3.2. Áp dụng trong cuộc sống hàng ngày..............................................................17
PHẤN KẾT LUẬN............................................................................................................18
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................19 1 PHẦN MỞ ĐẦU
1, TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI ĐỐI VỚI COVID 19
Ngày 8/12/2019, tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, miền Trung Trung Quốc, bệnh
nhân đầu tiên của dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (COVID-19) đã
được phát hiện, sau đó diễn biến rất phức tạp do tốc độ lây lan của dịch bệnh tính theo cấp số mũ.
Đến ngày 31/12/2019, Trung Quốc chính thức thông váo với tổ chức Y Tế (WHO) về bùng phát
đại dịch. Trước tình hình đó, ngày 31/1/2020 WHO tuyên bố tình trạng khẩn cấp toàn cầu đối với
dịch viêm phổi cấp do virus Corona gây ra. Rồi cho đến hiện nay, thế giới nói chung đang phải
đối mặt với những ảnh hưởng kinh hoàng mà đại dịch gây ra.Từ các lĩnh vực trước mắt như kinh
tế, xã hội, nó còn gây ra nhiều tác động tiêu cực đến ngành du lịch, quan hệ chính trị, ngoại giao giữa các nước.
Bên cạnh đó, đại dịch COVID-19 cũng đã có những tác động rất lớn đến ngành
giáo dục của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Từ khi dịch bùng phát đến nay, tất
cả các trường học và cơ sở giáo dục công lập, ngoài công lập, tư thục đã phải dừng việc giảng dạy
và học trực tiếp, thay vào đó là tình trạng dạy học trực tuyến kéo dài, tạo ra nhiều ảnh hưởng tiêu
cực khó lường. Thực tiễn đã đòi hỏi nền Giáo Dục hay nói cách khác là Đảng và Nhà nước ta cần
có những chính sách, phương hướng phù hợp và phải đứng trên Quan điểm toàn diện để đổi mới.
Quan điểm toàn diện mà cơ sở lý luận của nó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến,
là một trong những nội dung quan trọng của phép biện chứng duy vật Mac-Lenin, là cẩm nang
giúp con người tránh được những đánh giá phiến diện sai lệch về sự vật hiện tượng. Nguyên lý
này chỉ rõ tất cả các sự vật, hiện tượng đều nằm trong mối liên hệ. Đúng như Lenin đã từng viết:
“ Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các
mối liên hệ và
“ Quan hệ gián tiếp của sự vật đó” chúng ta không thể làm được điều đó một cách
hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xem xét tất cả các mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi
phạm sai lầm và cứng nhắc.”
– (V.I Lenin: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1976)
Chính bởi vậy, việc nghiên cứu về Nguyên lý mối quan hệ phổ biến và vận dụng ý
nghĩa phương pháp luận của nó vào đời sống đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần
định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động cải tại hiện thực con người.
Nhằm có được nhận thức đúng đắn hơn về quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà
nước, vì vậy Nhóm 2 lựa chọn đề tài: “ Phân tích cơ sở lý luận của Quan điểm toàn diện để làm
rõ những ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến các vấn đề của đời sống, xã hội Việt Nam hiện nay.”
2
2, MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu
Phân tích làm rõ nội dung, tính chất của cơ sở lý luận quan điểm toàn diện, từ đó chỉ
ra những vấn đề đặt ra với đời sống xã hội của Việt Nam tại thời điểm đại dịch COVID-19 còn
phức tạp để chúng ta đưa ra các giải pháp khắc phục hạn chế trong thời gian tới. 2.2 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu trình bày nội dung hệ thống cơ sở lý luận và ý nghĩa phương pháp luận
- Từ cơ sở lý luận quan điểm toàn diện, chỉ ra nhiều vấn đề đặt ra thực trạng vấn đề đời
sống xã hội ở Việt Nam trong đại dịch COVID-19
- Đưa ra các giải pháp cụ thể.
3, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu sự vận dụng cơ sở lý luận của Quan điểm toàn diện của
Đảng ta về đổi mới căn bản toàn diện trong thời đại bị ảnh hưởng, tác động của dịch COVID-19
đến các vấn đề trong xã hội và đời sống ở Việt Nam.
4, ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
4.1 Về lý luận
Bài tiểu luận là sự khái quá về Quan điểm toàn diện
sự vận dụng của Đảng, Nhà
nước trong quá trình đổi mới căn bản toàn diện để khắc phục những tác động xấu do COVID gây
ra trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề.
4.2 Về thực tiễn
Bài luận có thể trở thành tài liệu tham khảo cho mọi người học tập, nghiên cứu với nội dung liên quan. 3 PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
1, QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
1.1 Khái niệm quan điểm toàn diện

Quan điểm toàn diện là quan điểm được phản ánh trong phương pháp luận triết
học. Khi các nhìn nhận phải được thể hiện một cách toàn diện. Quan điểm này mang đến tính
đúng đắn trong hoạt động xem xét hay đánh giá một đối tượng nhất định. Các nhà nghiên cứu chỉ
ra tính hợp lý cần thiết trong nhu cầu phản ánh chính xác và hiệu quả đối tượng. Từ đó mà các
đánh giá mới mang đến tính chất khách quan, hiệu quả. Trên thực tế, quan điểm này giữ nguyên
giá trị của nó. Khi mà những cần thiết trong đánh giá hay phán xét đối tượng.
Quan điểm này thể hiện vai trò của người thực hiện các phân tích trên đối
tượng. Khi nghiên cứu và xem xét hiện tượng, sự vật hay sự việc. Chúng ta phải quan tâm đến tất
cả các yếu tố kể cả khâu gián tiếp hay trung gian có liên quan đến sự vật. Tức là tất cả những tác
động có thể lên chủ thể đang quan tâm. Không chỉ nhìn nhận với tính chất tiêu cực hay tích cực
theo cả xúc. Mà phải là những tiến hành trên lý trí, kinh nghiệm và trình độ đáng giá chuyên môn.
Như vậy các hướng tác động mới nếu có mới mang đến hiệu quả.
1.2 Nguồn gốc của quan điểm toàn diện
Điều này xuất phát từ mối liên hệ nằm trong nguyên lý phổ biến của các hiện
tượng, sự vật trên thế giới. Với các tính chất trong tác động và phản ánh kết quả khác nhau. Bởi
phải có quan điểm toàn diện vì bất cứ mối quan hệ nào cũng tồn tại sự vật, sự việc. Không có bất
cứ sự vật nào tồn tại một cách riêng biệt, hay chỉ chịu tác động từ duy nhất một yếu tố. Có khả
năng tồn tại cô lập, độc lập với các sự vật khác. Tính chất trong những ảnh hưởng từ chủ quan và
khách quan là rất đa dạng. Nghiên cứu và phân tích cho thấy rằng, nếu muốn đánh giá chủ thể
một cách hiệu quả nhất, cần nhìn nhận vào toàn diện và bày tỏ quan điểm.
1.3 Vai trò thực tiễn, ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm toàn diện.
a) Vai trò thực tiễn của quan điểm toàn diện
Quan điểm này thể hiện trong tất cả các hoạt động có tác động của phản ánh
quan điểm. Như những ví dụ trong đánh giá một con người với những mặt khác nhau phản ánh
trong con người họ. Không thể chỉ thực hiện quan sát phiến diện từ những thể hiện bên ngoài để
đánh giá tính cách hay thái độ, năng lực của họ. Cũng không thể chỉ dựa trên một hành động để
phán xét con người và cách sống của họ.
Khi đánh giá, cần có thời gian cho sự quan sát tổng thể. Từ những phản ánh trong
bản chất con người, các mối quan hệ của người này với người khác. Cách cư xử cũng như việc
làm trong quá khứ và hiện tại. Những nhìn nhận và đánh giá trên từng khía cạnh và kết hợp với
nhau sẽ cho ra những quan điểm toàn diện. Từ đó mà cách nhìn nhận một người được thực hiện
hiệu quả với các căn cứ rõ ràng. Nó không phải là những phù phiếm của nhận định. Chỉ khi hiểu
hết về người đó bạn mới có thể đưa ra các nhận xét. 4
b) Ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm toàn diện
Từ nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến phép biện chứng duy vật đòi
hỏi chủ thể trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải tôn trọng quan điểm toàn diện.
Quan điểm toàn diện được thể hiện ở các nội dung như sau:
Thứ nhất, khi nghiên cứu, xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt nó trong chỉnh thể
thống nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố các thuộc tính, các mối liên hệ của chính
thể đó. Mà như Lênin đã nói: “Muốn thực sự hiểu sự vật, cần nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả
các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó”. Xét trong thực tiễn nước ta: Trong
Nghị quyết Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt 10 mối quan hệ
lớn: Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa
Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và
tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội... Đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy
luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta, cần
tiếp tục được phát triển, bổ sung cho phù hợp với sự thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi đảng và nhà
nước và nhân dân ta phải nhận thức đúng, đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả.
Thứ hai, chủ thể phải rút ra được các mặt, các mối liên hệ tất yếu của đối tượng
đó và nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại. Chỉ có như vậy chủ thể mới có thể hiểu
rõ bản chất của sự vật – một tồn tại khách quan với nhiều thuộc tính, nhiều mối liên hệ, quan hệ
tác động qua lại bên trong đối tượng. Vận dụng vào sự nghiệp đổi mới của nước ta: Từ nhận thức
về 10 mối quan hệ lớn và mối liên hệ hữu cơ giữa chúng, Đại hội XIII của Đảng đã đưa ra quan
điểm chỉ đạo: “Chiến lược phát triển tổng thể của đất nước ta là đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ
công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và bền vững đất nước; bảo đảm gắn kết chặt chẽ và triển khai
đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then
chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường
xuyên”. Đảng đã nhấn mạnh đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về chủ nghĩa xã hội là khâu
đột phá và đổi mới kinh tế là trọng tâm.
Thứ ba, cần xem xét đối tượng này trong mối liên hệ với đối tượng khác và với
môi trường xung quanh, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian, gián tiếp.
Thứ tư, quan điểm toàn diện khác với quan điểm phiến diện, một chiều, chỉ thấy
mặt này mà không thấy mặt khác “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”; hoặc chú ý đến nhiều mặt
nhưng lại xem xét dàn trải, không thấy mặt bản chất, căn bản, chủ yếu nhất của đối tượng nên dễ
rơi vào thuật ngụy biện và chủ nghĩa chiết trung. Chính vì vậy, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng
ta phải đi từ những tri thức từ nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến những tri thức khái
quát nhất để rút ra những bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng. Bởi
vậy, không phải ngẫu nhiên mà Đại hội XIII của Đảng khẳng định “Tiếp tục phát triển nhanh và
bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó, phát triển kinh
tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt”. 5
Như vậy, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đã khái quát toàn bộ thế giới trong
những mối liên hệ, ràng buộc chằng chịt lẫn nhau, khái quát được những đặc tính chung nhất của
các mối liên hệ, nghiên cứu khái quát những mối liên hệ phổ biến nhất của sự vật, hiện tượng
trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Từ đó, rút ra quan điểm toàn diện góp phần quan trọng trong việc
góp phần định hướng, chỉ đạo nhận thức và hoạt động cải tạo hiện thực của thế giới.
2, CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN 2.1 Khái niệm
Quan điểm toàn diện là nguyên tắc phương pháp luận được rút ra từ nguyên lý về
mối liên hệ phổ biến trong phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Hay nói cách
khác cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - một
trong hai nguyên lý cơ bản của phép duy vật biện chứng. Đây là một phạm trù của phép biện
chứng duy vật dùng để chỉ sự quy định, tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật
hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan a) Mối liên hệ
Các sự vật, hiện tượng có mối liên hệ rất đa dạng và phong phú: có mối liên hệ
bên trong, mối liên hệ bên ngoài; có những mối liên hệ chung của toàn bộ thế giới hoặc trong
những lĩnh vực rộng lớn của thế giới lại có những mối liên hệ riêng từng lĩnh vực, từng sự vật,
từng hiện tượng riêng biệt; có mối liên hệ trực tiếp giữa hai hoặc nhiều sự vật, hiện tượng với
nhau, và có những mối liên hệ gián tiếp, trong đó các sự vật, hiện tượng liên hệ, tác động qua lại
lẫn nhau thông qua một hay nhiều khâu trung gian mới phát huy được tác dụng; có mối liên hệ tất
nhiên, ngẫu nhiên; mối liên hệ cơ bản, thuộc về bản chất của sự vật, đóng vai trò quyết định sự
tồn tại và phát triển của sự vật, cũng có những mối liên hệ không cơ bản, chỉ đóng vai trò hỗ trợ,
bổ sung cho sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng. Các mối liên hệ này tồn tại phổ biến
trong tự nhiên, trong xã hội loài người cũng như trong ý thức của con người.
b) Mối liên hệ phổ biến
Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới. Bởi lẽ,
bản chất của thế giới là vật chất. Vật chất có thuộc tính chung nhất là tồn tại khách quan. Các sự
vật trong thế giới đa dạng đến đâu thì cũng chỉ là những hình thức tồn tại cụ thể của vật chất,
chúng đều chịu sự chi phối của quy luật vật chất, nên chúng có liên hệ chặt chẽ với nhau
Các mối liên hệ có tính phổ biến bởi bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào, ở bất kỳ
không gian, thời gian nào đều có mối liên hệ với những sự vật, hiện tượng khác. Còn trong cùng
một sự vật, hiện tượng thì bất kỳ một thành phần nào, yếu tố nào cũng có mối liên hệ với những
thành phần khác, yếu tố khác. Không có sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ. Và nó còn
tồn tại trong tất cả các mặt: tự nhiên, xã hội và tư duy.
Mối liên hệ phổ biến có tính đa dạng, phong phú bởi các sự vật, hiện tượng
trong thế giới vô cùng đa dạng, đa trạng thái chính vì vậy cũng có vô hạn những mối liên hệ khác
nhau. Dựa vào tính chất và vai trò của mối liên hệ, có thể phân chia các mối liên hệ thành: mối 6
liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài; mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản; mối
liên hệ chung và mối liên hệ riêng; mối liên hệ trực tiếp, mối liên hệ gián tiếp; mối liên hệ chủ
yếu và mối liên hệ thứ yếu… Tuy nhiên, việc phân loại các mối lên hệ cũng chỉ mang tính tương
đối. bởi vì các mối liên hệ của các đối tượng rất phức tạp, không thể tách chúng khỏi tất cả các
mối liên hệ khác. Mọi liên hệ còn cần được nghiên cứu cụ thể trong sự biến đổi và phát triển cụ thể của chúng
2.2 Tính chất của mối liên hệ phổ biến
Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ phổ biến có tính khách quan,
tính phổ biến, tính đa dạng, phong phú. a) Tính khách quan
oMối liên hệ mang tính khách quan, nó là vốn có của một sự vật, hiện tượng,
không phụ thuộc vào ý thức của con người.
oVD: mối liên hệ giữa con gà và quả trứng. b) Tính phổ biến
o Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật hiện tượng khác, không có
sự vật hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ.
oVD: Khi làm bài kiểm tra Toán, Lý, Hóa, chúng ta phải vận dụng kiến thức văn
học để phân tích đề bài, đánh giá đề thi.
c) Tính đa dạng, phong phú
oSự vật hiện tượng trong thế giới là phong phú, đa dạng, vì vậy hình thức liên hệ
giữa chúng cũng rất đa dạng. Tuy nhiên, có thể căn cứ vào vị trí, phạm vi vai trò,
tính chất mà phân chia ra thành những mối liên hệ khác nhau như: mối liên hệ bên
trong – mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ bản chất- mối liên hệ không bản chất,
mối liên hệ trực tiếp - mối liên hệ gián tiếp v.v… Nhưng sự phân chia này cũng
chỉ mang tính tương đối.
oVD: các loại cá, chim, thú đều có quan hệ với nước nhưng mối quan hệ giữa cá
với nước khác hoàn toàn mối quan hệ của nước với chim, thú. Cá không thể sống
thiếu nước nhưng các loài chim, thú khác không sống trong nước thường xuyên được. 7
Chương 2: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM NÀY ĐỂ PHÂN TÍCH NHỮNG ẢNH HƯỞNG
CỦA ĐẠI DỊCH COVID 19 ĐẾN CÁC VẤN ĐỀ CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY.
1, TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA GIÁO
DỤC, Y TẾ Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1 Thực trạng giáo dục và y tế trong giai đoạn đại dịch covid 19 bùng phát (diễn biến
của dịch và quá trình thực hiện hoạt động giáo dục và y tế) a) Thực trạng giáo dục
Kể từ khi Covid- 19 bùng phát tại Vũ Hán, Trung Quốc, rồi lan rộng ra toàn cầu,
trở thành một cuộc khủng hoảng y tế: số ca nhiễm mới tăng lên mỗi ngày, số ca tử vong vì đại
dịch cũng không hề suy giảm. Bên cạnh đó Covid-19 cũng có những tác động mạnh lên chính trị,
xã hội, nó khiến các hàng quán phải đóng cửa, giao thông bị phong tỏa, kinh tế bấp bênh rơi vào
trạng thái bất ổn định và nghiêm trọng là đại dịch đã tạo ra sự gián đoạn hệ thống giáo dục lớn
nhất trong lịch sử. Toàn thế giới phải hứng chịu sự chênh lệch của nền giáo dục trong đó có Việt Nam.
Trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, các trường hợp phải tạm thời đóng
cửa để bảo đảm giãn cách trong công tác phòng chống dịch. Kế hoạch năm học bị đứt đoạn,
chương trình và nội dung giáo dục phải điều chỉnh; gần 20 triệu trẻ em, học sinh, sinh viên và hơn
1 triệu giáo viên phải tạm dừng đến trường, chuyển sang dạy học trực tuyến, dạy học qua truyền
hình trong nhiều tháng liên tiếp; hơn 70.000 sinh viên không thể ra trường đúng hạn. Việc học
sinh phải ở nhà kéo dài, không có sự giao lưu, tiếp xúc trực tiếp đã ảnh hưởng tới chất lượng giáo
dục, sự phát triển phẩm chất, năng lực toàn diện của trẻ em, học sinh, đặc biệt là sức khỏe thể chất
và sức khỏe tâm thần. Bên cạnh đó, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh gặp rất nhiều khó
khăn cả về đời sống và trong hoạt động học tập: trẻ em mất đi môi trường lành mạnh để phát triển
kiến thức, thể chất và tinh thần. Đối với đa số học sinh, trường học là nơi thiết yếu để các em có
thể giao lưu với các bạn cùng lứa tuổi, được hỗ trợ, tiếp cận các dịch vụ y tế và chăm sóc sức
khỏe. Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc khuyến cáo việc đóng cửa các trường học đã tạo ra một cuộc
khủng hoảng tiềm ẩn cho trẻ em. Ngoài sự chậm trễ trong việc học hành, nhiều trẻ em phải chịu
sự cô lập xã hội và mức độ lo lắng tăng cao, thậm chí phải tiếp xúc với lạm dụng và bạo lực; một
số nơi, việc đóng cửa trường học không chỉ ảnh hưởng tới nhà trường và các cơ sở đào tạo, mà
còn cả các bậc phụ huynh, giáo viên. Nhiều trường học và cơ sở giáo dục tư nhân đối mặt với
nguy cơ đóng cửa vĩnh viễn và hệ quả là phá sản. Từ đó, gây ảnh hưởng tới tiền lương, khả năng
mất việc của giáo viên và đội ngũ nhân viên, và hàng triệu học sinh, sinh viên bị gián đoạn việc học.
Nhiều học sinh, sinh viên phải chuyển sang học trực tuyến việc này đã góp phần
tang chi tiêu gia đình lên rất nhiều bởi học sinh học trực tuyến cần có đủ thiết bị trực tuyến như
điện thoại, máy tính, tai nghe, loa, mic… Hay đối với gia đình nào có hai con thì đối với các thiết
bị như này cần hai bộ để như vậy nguyên chi phí để đầu tư cho các con học của các bậc phụ
huynh cũng mất ít nhất là 10 triệu đồng. Thậm chí có nhiều nhà ở vùng sâu, vùng xa điều kiện
kinh tế eo hẹp không thể có khả năng chi trả cho khoản kinh phí này những bạn học sinh của 8
những gia đình đó thường xuyên phải đi mượn thiết bị học tập hoặc phải mắc một túp lều nhỏ
dưới chân núi để bắt sóng mạng để có thể học trực tuyến. Nhiều trường hợp mạng bị nghẽn không
thể nghe được lời cô giảng dẫn đến thiếu hụt kiến thức và không hiểu bài.
Đối với sinh viên, sự xáo trộn do việc đóng cửa đột ngột các khu học xá và
chuyển đổi nhanh chóng sang giáo dục trực tuyến đã làm gián đoạn cuộc sống của sinh viên. Việc
phải ở nhà trong nhiều tháng khiến một vài sinh viên không thể tiếp xúc được môi trường giảng
dạy ở giảng đường, không thể gặp được thầy cô, bạn bè dẫn đến mất đi tinh thần làm việc nhóm
hay tinh thần tham gia các hoạt động xã hội ngày càng trì trệ khiến tinh thần của các sinh viên suy
giảm nặng nề. Nhiều sinh viên năm nhất sau khi trải qua kì thi căng thẳng đỗ được vào trường
nhưng cũng không thể được xuống trường, được gặp mặt thầy cô bạn bè gây nên sự thiếu thốn và
khó khăn hơn đối với các anh chị đi trước. Ngoài ra học trực tuyến sẽ có rất nhiều cám dỗ bên
trong và bên ngoài khiến các sinh viên không thể tập trung vào bài giảng dẫn đến tình trạng học
tập giảm sút, sinh viên nợ môn và rớt môn ngày càng tăng cao.
Dịch bệnh cũng làm ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng tổ chức các kì thi và kiểm
tra thường xuyên. Điển hình trong kì thi Trung học phổ thông Quốc Gia (2020 – 2021) vừa qua,
nước ta đã phải tổ chức đến 2 đợt kì thi để vừa đảm bảo chất lượng và công bằng của kì thi vừa
phải đảm bảo an toàn phòng chống cho các thi sinh. Nhiều cơ sở giáo dục đại học đã phải vật lộn
với những khó khăn thách thức về đánh giá thi cử trực tuyến khi nguy cơ gian lận ngày càng gia tăng. b) Thực trạng y tế
Đối với lĩnh vực y tế, theo Ủy ban Về các vấn đề xã hội, do vừa phải đảm bảo công
tác khám bệnh, chữa bệnh thường xuyên, vừa đảm nhiệm công tác phòng, chống dịch bệnh
COVID-19 (giám sát dịch, hỗ trợ các tuyến, cách ly người nhiễm và nghi nhiễm, điều trị người
nhiễm, hỗ trợ các tuyến trong phòng, chống dịch…) nên một số cơ sở y tế xuất hiện tình trạng quá
tải kéo dài và tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nhất là nguy cơ lây nhiễm chéo vi rút SARS-Cov2. Nhiều cơ
sở y tế đã tăng ca làm việc để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh, sàng lọc, tổ chức cách ly,
giám sát và điều trị bệnh nhân nhiễm và nghi nhiễm COVID-19. Tuy nhiên, nếu dịch kéo dài, sẽ
gây ra áp lực lớn, khó khăn trong việc bảo đảm tính liên tục các hoạt động của hệ thống y tế dự
phòng, thiếu nhân lực điều tra dịch tễ, lấy mẫu xét nghiệm, việc tổ chức cách ly và xử lý môi
trường với số lượng lớn, thời gian ngắn.
Trong danh mục dự trữ quốc gia mới chỉ có thuốc phòng, chống dịch bệnh mà chưa
có một số trang thiết bị, vật tư y tế, đồ bảo hộ thiết yếu phục vụ công tác phòng, chống dịch, công
tác khám bệnh, chữa bệnh cho người mắc dịch bệnh nên nếu dịch lan rộng, số người mắc nhiều sẽ
ảnh hướng lớn đến công tác khám bệnh, chữa bệnh và có nguy cơ lây nhiễm đối với đô †i ngũ cán
bô † y tế. Trên thực tế, ngành y tế trong thời gian chống dịch vừa qua đã xảy ra tình trạng thiếu
khẩu trang y tế. Bên cạnh đó, khó khăn trong việc đặt mua các thiết bị y tế như máy thở, máy xét
nghiệm, máy X-quang, Kit test xét nghiệm COVID-19… do nguồn cung khan hiếm và giá bị đẩy lên cao. 9
1.2 Những ảnh hưởng tích cực
Đại dịch Covid-19 cũng đã có tác động kích thích đổi mới trong ngành GDĐT.
Nhiều phương pháp tiếp cận sáng tạo được thúc đẩy như học tập qua radio, Internet, truyền hình.
Hàng loạt giải pháp đào tạo từ xa được phát triển nhờ phản ứng nhanh chóng của chính phủ và
các đối tác giáo dục trên khắp thế giới nhằm hỗ trợ nền giáo dục đa sắc thái. Ở Việt Nam, từ khi
dịch bùng phát đến nay, tất cả các trường học và cơ sở giáo dục công lập, ngoài công lập và tư
thục đã “Biến nguy thành cơ” từ việc học online mùa dịch Covid-19... phải dừng việc dạy và học
trực tiếp sang học trực tuyến qua Internet và trên truyền hình…chính là cơ hội chuyển đổi số ngành GDĐT.
1.3 Những ảnh hưởng tiêu cực
Tổ chức thực hiện có nơi, có lúc còn lúng túng, bị động, bất ngờ với chủng virus
Delta, nhất là trong giai đoạn đầu; thiếu nguồn lực, hệ thống y tế còn nhiều khó khăn cả về con
người và cơ sở vật chất, trang thiết bị; y tế dự phòng tại các cấp, nhất là cấp cơ sở chưa được quan
tâm, đầu tư đúng mức; không chủ động được vaccine, thuốc điều trị, sinh phẩm xét nghiệm… cho
phòng, chống dịch do đều phải nhập khẩu dẫn đến tiến độ cung ứng không kịp thời, chịu nhiều rủi
ro. Việc triển khai công tác cứu trợ, bảo đảm an sinh xã hội tại một số địa bàn, nhất là khu cách
ly, phong tỏa còn khó khăn do số lượng người cần được hỗ trợ rất lớn. Theo thống kê bước đầu,
khoảng hàng chục triệu người cần hỗ trợ trong cùng một thời điểm; riêng Thành phố Hồ Chí
Minh hỗ trợ cả 3 đợt lên đến khoảng 7,5 triệu người.
Bên cạnh đó, về lâu dài, do dịch Covid-19 kéo dài, việc học trực tuyến là giải pháp
bắt buộc khi học sinh không thể đến trường. Chưa bàn đến chất lượng mà chỉ xét trên phương
diện kinh tế, việc học trực tuyến sẽ làm tăng chi phí giáo dục. Học sinh học trực tuyến cần có đủ
các thiết bị như máy tính, loa, tai nghe có micro, máy in và cước phí internet, mạng 4G phải trả
hàng tháng. Mô hình học trực tuyến chỉ khả thi khi điều kiện kinh tế của gia đình học sinh đáp
ứng được các đòi hỏi về trang thiết bị học tập. Nhưng hiện nay, đại đa số học sinh đều có gia cảnh
không khá giả, nhất là học sinh Dân tộc thiểu số ở miền núi thì học trực tuyến vẫn quá tầm tay và
các cơ sở giáo dục - đào tạo đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ chức triển khai chương 10
trình năm học mới; gặp khó khăn lớn về tài chính, giữ và trả lương cho giáo viên và các ảnh
hưởng tiêu cực khó lường khác.
1.4 Nguyên nhân của những ảnh hưởng tiêu cực
Nguyên nhân khách quan cơ bản là do dịch COVID-19 diễn biến nhanh, phức tạp,
ảnh hưởng nghiêm trọng và gây hậu quả nặng nề, khiến nhiều địa phương, trường học, phải thực
hiện tăng cường giãn cách xã hội trong thời gian dài.
Nguyên nhân chủ quan chủ yếu là do công tác chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện
có lúc, có nơi còn lơ là, mất cảnh giác, chủ quan, bị động, lúng túng hoặc cứng nhắc, chưa đồng
bộ trong lãnh đạo, chỉ đạo xử lý các tình huống cụ thể, đột xuất; còn hạn chế, bất cập trong phân
tích, dự báo tình hình để xây dựng và triển khai thực hiện các kế hoạch, phương án vừa phòng,
chống dịch, năng lực một bộ phận cán bộ còn hạn chế; việc thực hiện các biện pháp, chỉ đạo,
hướng dẫn của Trung ương về phòng, chống dịch, tổ chức an toàn có lúc, có nơi chưa kịp thời,
chưa nghiêm, áp dụng thiếu nhất quán, chưa linh hoạt. Công tác phối hợp giữa các bộ, ngành, địa
phương chưa thật sự chặt chẽ, hiệu quả chưa cao; chưa kịp thời sửa đổi, bổ sung, ban hành mới
các cơ chế, chính sách đáp ứng yêu cầu thực tiễn diễn biến nhanh, khó lường; thủ tục hành chính
cho các trường học, đơn vị y tế,...
2, PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC HẠN CHẾ VÀ TIẾP TỤC
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC, Y TẾ TRONG THỜI GIAN TỚI
2.1 Phương hướng a) Đối với ngành y tế
Đẩy mạnh triển khai Đề án Xây dựng và phát triển mạng lưới y tế cơ sở trong tình hình mới.
Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để giảm quá tải, nâng cao chất lượng dịch vụ các tuyến.
Đẩy mạnh thực hiện đồng bộ các giải pháp giảm tử vong bà mẹ, trẻ em, nhất là
vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số; Triển khai thực hiện Chương trình phát triển y
dược cổ truyền, kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại đến năm 2030 được Thủ tướng
Chính phủ phê ngày 25/12/2019; Tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính y tế, thực hiện lộ trình bảo
hiểm y tế toàn dân tăng cường trao quyền tự chủ, phân cấp cho các đơn vị nhưng có kiểm soát về
khám chữa bệnh theo yêu cầu, nhân lực làm việc tại các cơ sở xã hội hóa; Phát triển nguồn nhân
lực, khoa học công nghệ y tế, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý y tế, khám
chữa bệnh, giám định thanh toán bảo hiểm y tế.
Tiếp tục tập trung nâng cao năng lực của hệ thống y tế dự phòng để ứng phó với các
tình huống khẩn cấp và sự cố y tế công cộng, bảo đảm an ninh y tế, an toàn thực phẩm; Tăng
cường và đổi mới mạnh mẽ y tế cơ sở trong tình hình mới hướng tới thực hiện bao phủ sức khỏe
toàn dân; Nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh phục vụ người dân hướng tới sự hài lòng
của người bệnh; Triển khai quyết liệt chuyển đổi số ngành Y tế; Ứng dụng khoa học công nghệ;
Tăng cường công tác quản lý dược, thực phẩm, trang thiết bị y tế; Tiếp tục triển khai các nhiệm 11
vụ, giải pháp về công tác dân số trong tình hình mới; Đẩy mạnh công tác truyền thông, hợp tác
quốc tế để nâng cao hơn nữa vai trò, vị thế của y tế Việt Nam...
Thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, nghiên cứu sản xuất vắc
xin, thuốc chữa bệnh và trang thiết bị y tế.
Triển khai quyết liệt chuyển đổi số ngành Y tế với các chương trình như hệ thống
chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh thông minh (hồ sơ sức khỏe điện tử, theo dõi, cảnh báo dịch
bệnh, ứng dụng cung cấp kiến thức chăm sóc sức khỏe...), hệ thống khám bệnh, chữa bệnh thông
minh (khám chữa bệnh trực tuyến, bệnh án điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, ứng dụng trí
tuệ nhân tạo...), hệ thống quản trị y tế thông minh (quản lý, điều hành điện tử, dịch vụ công trực
tuyến mức độ 4, thống kê y tế điện tử, cơ sở dữ liệu y tế quốc gia)...
b) Đối với ngành giáo dục
Trước yêu cầu cấp thiết của thời đại về nguồn nhân lực, những thách thức to lớn mà
giáo dục phải đương đầu, UNESCO đã chủ trương đẩy mạnh phát triển giáo dục với chiến lược
bao gồm 21 điểm với một số tư tưởng chính:
oGiáo dục thường xuyên là điểm chủ đạo của mọi chính sách giáo dục; hướng tới nền
giáo dục suốt đời, giáo dục bằng mọi hình thức, xây dựng một xã hội học tâp. Giáo dục
phải làm cho mỗi người trở thành người dạy và người kiến tạo nên sự tiến bộ văn hóa của bản thân mình
oGiáo dục không chỉ dạy để có học vấn mà phải thực hành thực nghiệm để có tay nghề,
để vào đời có thể lao động ngay được, không bỡ ngỡ
oPhát triển giáo dục gắn liền với phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt chú ý đến giáo dục
hướng nghiệp để giúp người học tập lập thân, lập nghiệp
oGiáo dục trẻ em trước tuổi đến trường phải là mục tiêu lớn trong chiến lược phát triển giáo dục
oGiáo viên được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục hơn là những chuyên gia
truyền đạt kiến thức. Việc giảng dạy phải phù hợp với người học chứ không phải là sự
áp đặt máy móc bắt người học phải tuân theo.
Đến năm 2030 Việt nam đặt mục tiêu đối với ngành giáo dục là phát triển toàn diện
con người Việt Nam, phát huy tối đa tiềm năng khả năng của mỗi bản thân làm mục tiêu cho khả
năng dân giàu nước mạnh dân chủ, công bằng, văn minh, đất nước phồn vinh và hạnh phúc. Đồng
thời, xây dựng hệ thống giáo dục mở, phục vụ học tập suốt đời, công bằng và bình đẳng, theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế.
Tầm nhìn đến năm 2045 là xây dựng nền giáo dục Việt Nam hiện đại, kế thừa các
giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu văn minh nhân loại, xây dựng đất nước phồn vinh
và hạnh phúc. Giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến của khu vực vào năm 2030 và đạt trình độ
tiên tiến của thế giới vào năm 2045. 12
Ngoài đặt mục tiêu cho từng bậc học: mầm non, tiểu học, trung học, giáo dục
thường xuyên, đại học, dự thảo chiến lược cũng đưa ra những chỉ số phát triển cụ thể cho từng
bậc học. Những chỉ số này sẽ là thước đo để định lượng được kết quả phát triển qua từng giai
đoạn, tránh được những đánh giá chung chung, mang tính định tính.
2.2 Giải pháp a) Đối với ngành y tế
Khẩn trương triển khai các giải pháp nâng cao chế độ chính sách đãi ngộ, cải thiện
môi trường làm việc, biểu dương khen thưởng để động viên tinh thần lực lượng ngành Y tế yên tâm công tác.
Tập trung công tác xây dựng, hoàn thiện hành lang pháp lý, kịp thời tháo gỡ các
khó khăn, vướng mắc về mua sắm, đấu thầu, bảo đảm thuốc, vật tư, trang thiết bị y tế đáp ứng yêu
cầu; xã hội hóa, quản trị đơn vị sự nghiệp công.
Đổi mới mạnh mẽ tài chính y tế và bảo hiểm y tế. Kiến nghị tăng tỷ trọng chi của
ngân sách Nhà nước và bảo hiểm xã hội trong tổng chi cho y tế; đổi mới phương thức chi trả; điều
chỉnh giá dịch vụ theo hướng tính đúng, tính đủ; giải quyết các vướng mắc trong xã hội hóa. Đẩy
nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Đơn vị phối hợp với BHXH Việt Nam giải quyết tồn tại
về tổng mức thanh toán; đảm bảo việc thanh quyết toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế phù hợp.
Nâng cao năng lực quản trị hệ thống y tế. Nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính
trong thực thi công vụ. Đẩy mạnh phân công, phân cấp, phân quyền theo quy định. Cải cách thủ
tục hành chính. Siết chặt quản lý nhà nước về cấp phép, quản lý chất lượng, mua sắm đấu thầu
thuốc và trang thiết bị y tế. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, phòng chống tiêu cực, tham
nhũng, lợi ích nhóm, xử lý nghiêm các vi phạm.
Phát triển nhân lực và khoa học, công nghệ y tế. Đổi mới việc thi, cấp chứng chỉ
hành nghề, hình thành các trung tâm thi cấp chứng chỉ theo chuẩn mực quốc tế; đào tạo bác sỹ
cho các nước; chú trọng đào tạo nguồn nhân lực y tế chất lượng cho các tỉnh miền núi, dân tộc,
tỉnh khó khăn. Đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ
trong y học; hình thành các trung tâm nghiên cứu y học mạnh gắn với các trường, các viện nghiên
cứu và các bệnh viện. Thúc đẩy việc nghiên cứu, sản xuất vaccine, sinh phẩm trong nước. Đẩy
nhanh tốc độ chuyển đổi số ngành y tế tiến tới y tế số, y tế thông minh phục vụ người dân.
b) Đối với ngành giáo dục
oNâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý
Quản lý là một khâu cực kỳ quan trọng nếu như không nói là yếu tố then chốt đảm
bảo sự thành công cho cả tiến trình đổi mới, nâng cao chất lượng GD&ĐT. Vì vậy, phải nâng cao
chất lượng công tác quản lý một cách toàn diện. Cần đổi mới cơ bản về tư duy và phương thức
quản lý theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả. Thực hiện cải cách hành chính, thể chế hóa vai 13
trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm quản lý GD&ĐT ở các cấp, các ban ngành. Để
có thể quản lý mô †t cách toàn diện nhưng vẫn tránh áp lực quá tải vì ôm đồm những nhiệm vụ quá
cụ thể, cần xây dựng mô †t hệ thống kiểm định chất lượng GD&ĐT có hiệu lực, hiệu quả. Quản lý
chất lượng tại các cơ sở GD&ĐT phải do chính các cơ sở này chịu trách nhiệm. Nhà quản lý ở
tầm vĩ mô chỉ nên đóng vai trò của mô †t nhạc trưởng, thông qua đó kiểm soát, vận hành và kịp thời
khắc phục những tồn tại, bất cập của hệ thống.
oĐa dạng hóa nguồn lực tài chính
Đa dạng hóa nguồn lực tài chính là một trong những giải pháp cơ bản để đảm bảo
nguồn lực vật chất cho việc nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo. Có thể thực hiện đa dạng
hóa nguồn lực tài chính thông qua việc xây dựng chính sách học phí phù hợp. Hiện nay, ở nhiều
quốc gia đang có xu hướng đa dạng hóa mức học phí theo từng mục tiêu, đối tượng, môn học, nội
dung, ngành nghề, các cách thức, phương tiện và dịch vụ hỗ trợ giáo dục. Với đặc điểm về điều
kiện tự nhiên, về kinh tế - xã hội như Việt Nam, cần xây dựng một chính sách học phí hợp lý
không cào bằng, có phân biệt vùng miền, theo từng nhóm đối tượng, đa dạng hóa các loại hình
trường lớp, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ phổ cập giáo dục, đáp ứng yêu cầu giáo dục tiến tới
toàn dân nhưng đồng thời tạo điều kiện để người học có nhiều cơ hội lựa chọn. Tại các cơ sở
GD&ĐT, các viện nghiên cứu có thể chủ động khai thác tiềm lực tài chính thông qua các dự án
nghiên cứu khoa học, hợp đồng chuyển giao công nghệ, hợp tác với doanh nghiệp… Ngoài ra, có
thể khai thác nguồn lực xã hội thông qua việc thực hiện tốt công tác xã hội hóa. Tuy nhiên các
biện pháp nhằm tăng cường năng lực tài chính sẽ kém hiệu quả nếu như thiếu đi những biện pháp
chống lãng phí trong GD&ĐT.
oPhân luồng hiệu quả trong Giáo dục và Đào tạo
Phân luồng là một nội dung được xem là quan trọng và vẫn đang được tiến hành từ
trung ương đến địa phương. Trên thực tế ở nhiều nước phát triển, người dân đến với giáo dục đôi
khi chỉ vì muốn mở mang tri thức. Trong khi đó, ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước
nghèo như Việt Nam, người dân
buô †c phải tính đến lợi ích khi chi phí cho giáo dục. Để giảm thiểu chi phí của xã
hô †i, cần thực hiện phân luồng hiệu quả. Phân luồng trong GD&ĐT không có nghĩa là hạn chế cơ
hô †i của người học mà là gắn nhu cầu của người học với nhu cầu của xã hô †i.
Giải pháp này không nên thực hiện mô †t cách khiên cưỡng, duy ý chí. Phải chuyển nhiệm vụ phân
luồng cho chính chủ thể sử dụng dịch vụ GD&ĐT. Họ phải là người tự phân định được GD&ĐT
đem lại lợi ích gì? Khả năng của họ đến đâu? Ngành nghề nào thì phù hợp? Muốn vậy, trước hết
các chủ thể sử dụng dịch vụ GD&ĐT phải được cung cấp đầy đủ thông tin, họ phải nhận được
những bản cam kết mang tính thực tiễn rằng chất lượng dịch vụ đảm bảo đúng với “nhãn mác”.
Nhằm giảm thiểu rủi ro, tối ưu hóa lợi ích của cả xã
hô †i, cần phải thực hiện nghiêm kiểm định
chất lượng, tạo điều kiện kiểm soát và vận hành hệ thống các cơ sở GD&ĐT hiệu quả. Chính sự
minh bạch trong quản lý sẽ không những đảm bảo lợi ích kinh tế, chất lượng cho chủ thể sử dụng
dịch vụ GD&ĐT, mà còn tạo ra một cơ chế cạnh tranh công bằng, buộc các cơ sở GD&ĐT không
thể không tự mình hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội ngày một tốt hơn. 14
oTừng bước cải thiện chất lượng Giáo dục và Đào tạo miền núi
Nền giáo dục của mô †t quốc gia không thể cất cánh nếu giáo dục ở khu vực miền núi
vẫn còn yếu kém, chậm phát triển. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách quan tâm, ưu đãi
đặc biệt, nhưng phải khẳng định rằng, việc có thể san bằng khoảng cách về chất lượng GD&ĐT
giữa miền núi và miền xuôi là cực kỳ khó khăn, nếu như không nói là không thể. Theo báo cáo
của Bô †GD&ĐT về GD&ĐT miền núi, tỷ lệ học sinh đỗ vào đại học, cao đẳng ở khu vực miền
núi còn thấp. Trong 4 năm (2003-2007), tỷ lệ học sinh đỗ vào đại học, cao đẳng là 41,3%, vào
trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề là 20%, trở về địa phương chưa được đào tạo nghề chiếm
tới 38,7%. Nhiều em không thi đậu tốt nghiệp, không được đào tạo nghề, không có việc làm, thiếu
hiểu biết về khoa học kỹ thuật phù hợp với yêu cầu lao động tại địa phương mình. Các em gần
như “tay trắng” và phải chấp nhận làm những nghề sinh nhai với kỹ năng lao đô †ng giản đơn mà
không cần tới 12 năm đèn sách cũng có thể làm được. Đây là một trong những nguyên nhân căn bản làm cho
đô †ng cơ học tập không được định hình rõ và hệ quả là tỷ lệ học sinh người dân tô †c
thiểu số ở các bậc học cao hơn giảm đi mô †t cách rõ rệt. Năm học 2006 - 2007, trong tổng số
2.522.568 học sinh dân tô †c, bậc tiểu học chiếm 50,83%, bậc trung học cơ sở chiếm 36,43%, bậc
trung học phổ thông chỉ còn 12,73%. Vì vậy, bên cạnh những giải pháp đồng bộ khác, bên cạnh việc tạo nhiều cơ
hô †i có việc làm hơn nữa, nên kết hợp xây dựng những chương trình GD&ĐT
thiết thực, phù hợp với từng vùng miền để nếu các em không thể tiếp tục học tập thì vẫn có thể
chủ đô †ng tham gia lao đô †ng sản xuất, góp phần phát triển kinh tế - xã hô †i.
Ngoài ra, việc dần thay đổi cách nhìn nhận về khả năng học tập của các em học sinh
là người thuộc các dân tô †c ít người vốn vẫn được định vị trên một mặt bằng dân trí thấp kém, là
rất quan trọng. Thực tế, không ít các em có tư chất tốt, có nỗ lực phấn đấu học tập. Các em hoàn
toàn có quyền mong ước về những cơ
hô †i thuận lợi hơn cho việc học tập. Vấn đề là nhiều em còn
thiếu mô †t môi trường thực sự tốt ngay ở trong nước chứ chưa dám nói đến việc đi du học nước
ngoài. Vì vậy, cần có những chính sách
mang tính đô †t phá cho GD&ĐT miền núi nhằm tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao. Chính nguồn nhân lực ấy sẽ là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
xã hô †i của các vùng miền này.
oXây dựng trường đại học đạt chuẩn khu vực:
Định hướng từng bước xây dựng mô †t số trường đại học đạt tiêu chuẩn khu vực, tiến
đến đạt tiêu chuẩn quốc tế nhằm dần khẳng định vị thế về GD&ĐT của Việt Nam trên trường
quốc tế là hết sức cần thiết. Chúng ta không chỉ dừng lại với việc xây dựng một chiến lược phát
triển GD&ĐT mà không có những quyết sách mang tính đột phá. Đây cũng một nội dung phù hợp
với xu thế chung của thời đại. Tuy nhiên, để thực hiện thành công, cần có bước đi chắc chắc, lô †
trình phù hợp. Trước hết, cần có cơ chế chính sách phù hợp. Tiếp đến, nguồn lực tài chính phải
đảm bảo. Đặc biệt, một trường đạt chuẩn khu vực và tiến tới đạt chuẩn quốc tế không thể không
đạt chuẩn về chất lượng nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực ở đây không chỉ là đội ngũ cán bộ quản
lý, giảng viên mà cả sinh viên. Hiện nay Việt Nam không thực sự thiếu các nhà khoa học, cán bộ
quản lý, giảng viên có chuyên môn sâu, có kinh nghiệm và tâm huyết nhưng thiếu cơ chế, chính 15
sách phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi để họ an tâm cống hiến cho sự nghiệp phát triển GD&ĐT
nước nhà. Trước mắt, buộc phải tách mục tiêu hiệu quả kinh tế ra khỏi mục tiêu đảm bảo chất
lượng vượt trội thông qua việc chỉ tuyển chọn những sinh viên thực sự ưu tú. Về lâu dài, đây mới
là sự đầu tư đúng hướng, bởi việc nghiêm ngặt, chuẩn hóa ngay từ khâu tuyển chọn không những
tạo điều kiện thuận lợi cho cả quá trình GD&ĐT, mà chính những sinh viên này khi ra trường sẽ
là những căn cứ thực tiễn minh chứng mô hình mới là hiệu quả, sớm khẳng định vị thế của Việt
Nam về GD&ĐT trên trường quốc tế. Trong điều kiện còn chưa đủ những kinh nghiệm về giáo
dục chất lượng cao (high education), có thể liên kết với các trường đại học có danh tiếng trên thế
giới và dần dần nội lực hóa mục tiêu nêu trên
3. LIÊN HỆ BẢN THÂN
Là một sinh viên thì việc vận dụng quan điểm toàn diện có ý nghĩa rất quan trọng
đối với quá trình học tập và phát triển của chúng ta. Nó góp phần định hướng, chỉ đạo các hoạt
động nhận thức, hoạt động thực tiễn và cải tạo bản thân chúng ta.
3.1. Áp dụng trong học tập
Đối với bản thân em, đã có đã có kinh nghiệm học tập trực tuyến trong thời gian
dài cùng với việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo quan điểm toàn diện, thì những giải pháp để có thể
trang bị cho bản thân học sinh, sinh viên một tâm thế học tập chủ động, tích cực có thể khái quát lại như sau:
Thứ nhất, cần phải có ý thức cao cùng một sức khỏe tốt. Trong tình trạng học
online tại nhà, học sinh, sinh viên không chỉ đối mặt với những khó khăn về thiết bị học tập, hay
về việc tiếp thu bài giảng trên lớp mà còn tăng khả năng bị xao nhãng trong học tập bởi những
kích thích từ bên ngoài… Chính vì vậy, để việc tiếp thu kiến thức đạt hiệu quả cao nhất, trước hết
mỗi người học cần tạo cho mình mục tiêu để chiến đấu cùng với tinh thần mạnh mẽ, kiên trì, bền
bỉ vượt qua những khó khăn; một ý chí vững vàng để có thể vượt qua những cám dỗ từ bên ngoài.
Đồng thời bên cạnh đó, mỗi người học cần phải tích cực tập luyện thể dục thể thao, ăn uống lành
mạnh để có thể bảo đảm sức khỏe trong quá trình học.
Thứ hai, cần tận dụng tối đa nguồn lực hiện có. Tuy không thể trực tiếp đến trường
nghe giảng trực tiếp, nhưng với sự phát triển của khoa học – công nghệ, hiện nay trên mạng có vô
số nguồn tài nguyên, bài giảng quý báu để người học có thể sử dụng hay những sự trợ giúp từ
thầy cô, bạn bè thông qua những ứng dụng thông minh và vô kể những nguồn lực khác. Nếu biết
tận dụng tối đa những nguồn lực của mình đang có sẽ khiến việc học tập sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.
Và cuối cùng, để có thể thể xây dựng cho mình một phương pháp học tập tích cực,
thì một không gian học tập phù hợp đóng vai trò không nhỏ. Mỗi người học sẽ phù hợp với một
không gian học tập khác nhau, trong mỗi thời điểm khác nhau. Bởi vậy, thông qua quá trình học
tập, người học cần tự tìm hiểu xem đâu là không gian học tập phù hợp nhất với mình, từ đó tạo
cho mình một thời khóa biểu hợp lý để việc học có thể diễn ra một cách hiệu quả và trơn tru. 16
3.2. Áp dụng trong cuộc sống hàng ngày
Trong cuộc sống hằng ngày có vô số các sự vật hiện tượng xảy ra trước mà ta
không nhìn nhận một cách đúng đắn sẽ làm cho ta hiểu sai bản chất vấn đề, không đúng với sự
thật. Ví dụ như việc tìm mua một cuốn sách. Ta thường có xu hướng bị thu hút bởi những thứ có
vẻ ngoài bắt mắt mà bỏ qua những gia trị cốt lõi. Tri thức trong cuốn sách không thể được nhìn
thầy qua trang bài mà cần thời gian để khám phá, nghiền ngẫm. Hay trong việc nhìn nhận con
người, vẻ bề ngoài không phải lúc nào cũng thể hiện được bản chất của một con người. Việc đánh
giá một ai đó thông qua vẻ bề ngoài là một cách đánh giá phiến diện. Con người luôn thay đổi và
phát triển. Bác Hồ từng nói “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.
Việc xây dựng nhân cách một người không thể hoàn thành trong ngày một ngày hai mà là cả một
đời người. Vì vậy, hãy nhìn nhận một con người thông qua quá trình chứ không phải kết quả của
họ để có cách ứng xử phù hợp.
Do đó, khi nhìn nhận một vấn đề, ta cần đặt nó vào trong những mối liên hệ, xem
xét tất cả các mặt để đưa ra những kết luận đúng đắn. Việc áp dụng quan điểm toàn diện vào trong
đời sống không những giúp chúng ta đánh giá đúng bản chất của sự vật, hiện tượng mà còn giúp
chúng ta có những mối quan hệ tốt đẹp với mọi người xung quanh. 17 PHẤN KẾT LUẬN
Nói tóm lại Quan điểm toàn diện là một cách nhìn nhận đúng đắn, hiệu quả. Với
các đánh giá toàn diện trên các mặt, có thể mang đến những nhận định đúng đắn và hiệu quả hơn.
Thay vì những cái nhìn phiến diện trong quan điểm khi đánh giá chủ thể. Nó được nhấn mạnh với
những nội dung từ phương pháp luận của phép biện chứng duy vật. Theo đó, các phản ánh được
thực hiện trên cơ sở lý luận. Nó mang đến những phù hợp trong quan điểm tiến bộ và khoa học.
Khi những mặt khác nhau tác động lên một vấn đề cần được phản ánh toàn diện.
Cũng giống như thực trạng xã hội Việt Nam trong đại dịch COVID-19, bên cạnh
vô vàn tác động tiêu cực, những hạn chế, hay là những khó khăn. Việt Nam với sự chủ động
phòng chống dịch ngay từ ban đầu đã có được kết quả tốt hơn so với một số quốc gia trên thế giới khác.
Qua bài thảo luận này, ta đã phân tích được những ảnh hưởng của đại dịch
COVID-19 đến các vấn đề trong đời sống. Bên cạnh đó nó cũng đã đòi hỏi đối với xã hội nói
chung và nền giáo dục Việt Nam nói riêng phải đưa ra những giải pháp thích hợp để khắc phục
những hạn chế còn tồn tại sau đại dịch. 18 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. https://www.studocu.com/vn/document/hoc-vien-ngan-hang/triet-hoc-mac-lenin/nguyen-
ly-ve-moi-lien-he-pho-bien-va-van-dung-quan-diem-toan-dien-de-phan-tich-nhung-anh-
huong-cua-dai-dich-covid-19-doi-voi-giao-duc-o-viet-nam-hien-nay/22672704
2. https://thutuong.chinhphu.vn/chung-ta-da-no-luc-het-suc-minh-dat-nhieu-ket-qua-quan-
trong-dang-khich-le-10940084.htm
3. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/816339/tac-dong-
xa-hoi-va-ung-pho-cua-viet-nam-truoc-dien-bien-phuc-tap-cua-dai-dich-covid-19.aspx 4. https://www.studocu.com/vn/
document/dai-hoc-kinh-te-quoc-dan/triet-1/thuyet-trinh-
quan-diem-toan-dien-va-y-nghia-cua-viec-nghien-cuu-quan-diem-do-trong-hoc-tap-ren- luyen-cua-sinh-vien/27373478 5. http://www.cema.gov.vn/
phong-chong-dich-covid-19/tu-tac-dong-cua-dich-covid-19-doi-
voi-nganh-giao-duc-them-mot-goc-nhin-ve-dau-tu-cho-giao-duc-vung-dtts.htm
https://dangcongsan.vn/kinh-te/bai-1-giai-phap-nao-phuc-hoi-nen-kinh-te-sau-covid-19- 556546.html
https://thesaigontimes.vn/phuc-hoi-giao-duc-sau-covid-can-chuong-trinh-linh-hoat/
6. https://quochoi.vn/UserControls/Publishing/News/BinhLuan/pFormPrint.aspx?
UrlListProcess=%2Fcontent%2Ftintuc%2FLists
%2FNews&ItemID=44379&fbclid=IwAR191leuCoXwaQzku7CdCac1IUfmtkVHB1qVO Yd6hiTPgzNZb5hzteDWyLY
7. https://thanhhoa.edu.vn/tin-tuc-su-kien/tin-tuc-tu-co-so/mot-so-anh-huong-cua-dai-dich-
covid-19-den-hoat-dong-giao-du.html 19