Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du siêu hay | Ngữ văn 9

Nguyễn Du là một danh nhân văn hóa, một đại thi hào của dân tộc ta. Ông đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam một kiệt tác lớn được bạn bè quốc tế yêu thích đó chính là tác phẩm Truyện Kiều. Bên cạnh giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo truyện Kiều của Nguyễn Du thành công về mặt nghệ thuật với bút pháp tả cảnh ngụ tình và miêu tả nội tâm nhân vật xuất sắc. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!

Chủ đề:

Văn mẫu 9 425 tài liệu

Môn:

Ngữ Văn 9 0.9 K tài liệu

Thông tin:
7 trang 1 tuần trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du siêu hay | Ngữ văn 9

Nguyễn Du là một danh nhân văn hóa, một đại thi hào của dân tộc ta. Ông đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam một kiệt tác lớn được bạn bè quốc tế yêu thích đó chính là tác phẩm Truyện Kiều. Bên cạnh giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo truyện Kiều của Nguyễn Du thành công về mặt nghệ thuật với bút pháp tả cảnh ngụ tình và miêu tả nội tâm nhân vật xuất sắc. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!

5 3 lượt tải Tải xuống
Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du
siêu hay
1. Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích mẫu 1
Nguyễn Du là một danh nhân văn hóa, một đại thi hào của dân tộc ta. Ông đã để lại cho kho tàng văn học
Việt Nam một kiệt tác lớn được bạn bè quốc tế yêu thích đó chính là tác phẩm Truyện Kiều. Bên cạnh giá trị
hiện thực và giá trị nhân đạo truyện Kiều của Nguyễn Du thành công về mặt nghệ thuật với bút pháp tả
cảnh ngụ tình và miêu tả nội tâm nhân vật xuất sắc. Nguyễn Du đã đạt đến tình cao trong lịch sử với đoạn
trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, miêu tả thành công nỗi cô đơn buồn tủi và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của
Kiều.
Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích nằm trong phần Gia biến và lưu lạc. Đoạn thơ dài 22 câu không chỉ biểu
lộ tình cảm xót thương của Nguyễn Du đối với số phận người phụ nữ tài hoa nhưng bạc mệnh mà còn thể
hiện bút pháp đặc sắc về tự sự việc tả cảnh ngụ tình với những ngôn từ độc thoại nội tâm để biểu đạt nỗi
lòng và tâm trạng của Thúy Kiều
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng
Với nét bút tả cảnh ngụ tình Nguyễn Du đã miêu tả thành công tâm trạng của Thúy Kiều với những các từ
khóa xuân đã cho thấy tình cảnh của Kiều lâm vào cảnh chim lồng cá chậu bị giam lỏng và khóa kín tuổi
xuân của mình. Từ khóa xuân không phải nói tới những cô gái bị cấm cung mà chính là sự mỉa mai chua xót
cho thân phận nàng Kiều. Kiều trơ trọi giữa thời gian mênh mông với không gian hoang vắng trong hoàn
cảnh tha hương đôi đất khách quê người, cô đơn bị đày vào chốn lầu xanh.
Lầu Ngưng Bích vốn là một nơi có phong cảnh tuyệt đẹp, khung cảnh hữu tình thơ mộng được thể hiện qua
các từ ngữ non xa, trăng gần, cát vàng, cồn nọ, bụi hồng, dặm kia. Tuy nhiên từ xưa đến nay Người buồn
cảnh có vui đâu bao giờ. Trong tình cảnh bị giam cầm và tha hương cô đơn như thế, Kiều nhìn khung cảnh
với con mắt buồn thảm vắng lặng, nhìn trăng nàng chỉ thấy vầng trăng đơn côi, nhìn đất thì chỉ thấy cồn cát
nhấp nhô phía bên là bụi hồng.
Ta có thể thấy lầu Ngưng Bích chỉ là một chấm nhỏ giữa thiên nhiên giữa mênh mang trời nước. Trong cái
không gian quẩn quanh mây sớm Đèn Khuya chính là một vòng tuần hoàn khép kín của thời gian tất cả như
kìm hãm Tuổi Thanh Xuân của Kiều sự sống của Kiều đã bị những thế lực tàn ác của xã hội phong kiến bóc
chết từ đó khắc sâu thêm nỗi buồn nỗi cô đơn khiến Kiều càng thấy bẽ bàng buồn tủi bởi không ai chia sẻ
và nàng chỉ biết làm bạn với mây với đèn với cảnh vật hoang vu. Trong nỗi cô đơn tuyệt vọng ấy kiều cảm
thấy xa cách hoang vắng, bị giam cầm cách biệt với nơi đất khách quê người.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Chân trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
Khi ở lầu Ngưng Bích Kiều đã nhớ về Kim Trọng. Đây là một nét bút đặc sắc độc đáo và phù hợp với tâm lý
thể hiện lòng chung thủy của Thúy Kiều. Các từ ngữ tưởng, trông chờ trong ngôn ngữ độc thoại nội tâm của
Kiều đã làm nổi bật lên nỗi nhớ Kim Trọng khôn nguôi của nàng Kiều. Càng nhớ về lời thề đôi lứa lời hẹn
ước năm nào lại càng thương cho Kim Trọng. Chén rượu thề còn ở đây mà nay mỗi người một ngả khiến
Thúy Kiều ân hận, xót xa giống như mình là một kẻ phụ tình chàng.
Nàng tưởng tượng Kim Trọng đang hướng về mình uổng công vô ích khiến nàng càng thêm xót xa, lo âu
cho dù mỗi người một phương nhưng tình cảm của nàng dành cho kim trọng là mãi mãi và không thể phai
mờ. Càng nghĩ kều càng thấy lo lắng phải bật lên câu hỏi tu từ. Phải biết đến bao giờ nàng mới có thể rửa
sạch được những ô uế của tấm lòng son chung thủy để có thể đáp lại tình yêu của Kim Trọng. Không chỉ
nhớ người yêu, ở nơi lầu cao ấy nàng cũng nhớ về cha mẹ của mình:
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm
Ngôn ngữ độc thoại kết hợp với lối viết cổ, tâm trạng buồn của Kiều hiện lên thật rõ nét. Các từ ngữ hôm
mai, cách mấy nắng mưa diễn tả nỗi nhớ mong cha mẹ dài theo năm tháng. Kiều thương cho cha mẹ mình
ngày đêm lo lắng, ngày trông ngóng, nàng lo cho cha mẹ già yếu ở nhà không ai chăm sóc, phụng dưỡng.
Thành ngữ quạt nồng ấp lạnh cùng với điển tích Sơn Lai, gốc tử đã nói lên tâm trạng nhớ thương và thể
hiện Kiều là một người con hiếu thảo.
Nàng lo sợ ở nơi quê hương mọi thứ đã đổi thay, cha mẹ nàng lại càng ngày càng già yếu nên nàng vô
cùng day dứt, áy náy vì chưa làm tròn bổn phận phụng dưỡng cha mẹ của một người con. Trong cảnh ngộ
bị giam lỏng nơi lầu Ngưng Bích. Phải lưu lạc tới nơi đất khách quê người chính bản thân Kiều mới là người
đáng thương nhất, thế nhưng với tâm hồn và với những nét tính cách đẹp cao thượng của mình nàng luôn
hy sinh bản thân mình, quên đi cảnh ngộ hiện tại của bản thân để lo lắng nghĩ về Kim Trọng, nghĩ về cha
mẹ, những người thân của Kiều. Nỗi nhớ đó của Kiều rất chân thực và có chiều sâu để từ đó ta có thể thấy
đây là một người con hiếu thảo, một người tình chung thủy và một con người giàu lòng vị tha.
Tâm trạng buồn tủi của Kiều không chỉ còn ở trong lòng nữa mà đã thể hiện rõ nét qua cảnh vật bên ngoài.
Mỗi cảnh vật là một nét riêng và diễn tả một khía cạnh trong tâm trạng của Kiều
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Khung cảnh mở ra cho chúng ta thấy được đây là một cảnh hoàng hôn cửa bể chiều hôm gợi cho chúng ta
hình ảnh những tia nắng cuối ngày, phản chiếu trên mặt biển xanh khiến mọi thứ nhuốm màu sẫm. Có cái gì
đó tha thiết và nỗi nhớ mong, Kiều dường như tiếc nuối những ngày tháng trước kia. Các từ ngữ thấp
thoáng, xa xa diễn tả sự lẻ loi, đơn độc giống như tình cảnh của Kiều bây giờ.
Một mình nơi xứ người bơ vơ nơi lầu ngưng Bích, Kiều chỉ biết nhớ về quê hương, nhớ về cha mẹ, mong
chờ một con thuyền để có thể cứu nàng. Nhưng chiếc thuyền ấy chỉ thấp thoáng ở phía xa xa, lúc mờ lúc
hiện Thuyền ai lênh đênh mất hút phía chân trời xa giống như cuộc đời Kiều lênh đênh chẳng biết chơi về
đâu. Chẳng biết bao giờ mới có thể trở về nhà báo hiếu cho cha mẹ
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Cánh hoa mỏng manh dập dìu trong dòng nước bé nhỏ không chống chọi được với sức của mọi nước
giống như chính thân phận Kiều trong xã hội cũ. Tuy là một người có đức có tài, có nét đẹp nhưng chính
cường quyền áp bức đã vùi dập nàng, vùi dập tài năng của nàng. Thân phận Kiều giờ đây lạc lõng, lẻ loi trôi
theo dòng đời vô định, chẳng biết đi về đâu. Nhìn cánh hoa vùi dập nàng Kiều lại nhớ tới Kim Trọng, càng
buồn tủi và xót xa cho thân phận của mình:
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Trái ngược với cái tên của lầu màu xanh qua con mắt của Kiều trở nên thật sầu thảm với từ láy rầu rầu gợi
lên hình ảnh của một bãi cỏ tàn úa xơ xác. Tuổi thanh xuân tươi đẹp của Kiều với một tài sắc vẹn toàn đáng
lẽ nàng phải có một cuộc sống đầy đủ, phải có một cuộc đời hạnh phúc thế nhưng Tuổi Thanh Xuân ấy sẽ
phai tàn và vô vị như màu xanh héo úa kia. Màu xanh vốn là màu của hy vọng nhưng nay đã tàn úa giống
như niềm tin của Thúy Kiều đang dần cạn với nỗi xót xa ngày càng dâng cao trong Thúy Kiều.
Buồn trông gió cuốn mặt dềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Âm thanh của tiếng sóng ầm ầm, trong cảnh gió cuốn mặt dềnh giống như bão tố phong ba đang chờ đợi
Kiều ở phía trước. Nàng lo lắng không biết khi nào tai họa sẽ ập đến, giống như tiếng sóng ở ngoài xa, tiếng
sóng ầm ầm chính là báo hiệu một tương lai đầy sóng gió khiến Kiều sợ hãi.
Với điệp ngữ Buồn trông đặt ở bốn câu đầu trong bài thơ giống như tiếng thở dài cùng với nhịp thơ trầm
trầm và những thanh bằng đã nhấn mạnh một nỗi buồn đang ngày càng dâng lên trong tâm trạng của Thúy
Kiều, cùng với cảnh vật đang càng lúc càng mênh mang những từ láy xa xa, thấp thoáng, man mác, rầu
rầu, xanh xanh, ầm ầm như những con sóng đang trào dâng trong tâm hồn của Kiều.
Đoạn thơ Kiều Ở Lầu Ngưng Bích là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình hay nhất trong truyện Kiều cũng như trong
văn học trung đại Việt Nam. Qua đoạn thơ chúng ta có thể hiểu biết thêm về tính cách của Kiều. Đó là một
người chung thủy, một người con hiếu thảo và là một con người của tấm lòng vị tha. Đồng thời ta cảm nhận
được sự khắc nghiệt của xã hội phong kiến, đã đẩy những con người đáng thương như thế kia và hoàn
cảnh éo le.
Kiều ở lầu Ngưng Bích chính là một đoạn thơ miêu tả tinh tế nội tâm nhân vật. Với bút pháp tả cảnh ngụ
tình điêu luyện đã làm nổi bật cảnh ngộ của Thúy Kiều và chứng tỏ được tài năng kiệt xuất của Nguyễn Du.
Chính sự bao dung, đồng cảm sẻ chia của Nguyễn Du đã đi vào tâm tưởng bằng thế hệ.
2. Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích mẫu 2
Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc Việt Nam là danh nhân văn hóa thế giới . Tác phẩm Truyện Kiều là một
trong những tác phẩm đỉnh cao của nền văn học Việt Nam, là kết tinh của những giá trị hiện thực và nhân
đạo sâu sắc. Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là đoạn trích tiêu biểu cho nghệ thuật và ngòi bút miêu tả
nội tâm nhân vật. Với bút pháp tả cảnh ngụ tình đại tài của Nguyễn Du đã cho chúng ta thấy tâm trạng cô
đơn buồn tủi và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Thúy Kiều, đồng thời thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu
sắc của nhà văn.
Kiều ở lầu Ngưng Bích là đoạn trích nằm ở phần thứ hai Gia biến và lưu lạc. Sau khi biết mình bị lừa vào
chốn đầu xanh Kiều đã rất tủi nhục và định tự vẫn. Nhưng Tú Bà sợ Kiều chết đi thì bị mất một mớ tiền oan
nên giả vờ chờ Kiều bình phục sẽ gả Kiều đi ở một nơi tử tế rồi đưa Kiều giam lỏng ở lầu Ngưng Bích để
thực hiện âm mưu mới đê tiện của mình. Đoạn trích mở đầu bằng khung cảnh hoang vắng ở lầu Ngưng
Bích:
Trước lầu Ngưng Bích khóa Xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Khóa xuân là cách nói mỉa mai của tác giả đó là khoảng thời gian Kiều bị Tú Bà giam lỏng. Khi Kiều vừa trải
qua những đau khổ nay lại bị nhốt ở nơi vắng vẻ, tiêu điều nàng cảm thấy cô đơn và chán trường
Cảnh non xa tấm Trăng gần ở chung
Hình ảnh lầu Ngưng Bích chơ vơ giữa sông nước từ trên lầu cao nhìn ra xung quanh là cả một không gian
bát ngát mênh mông tất cả đều xa vời.
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Hai câu thơ tiếp theo gợi lên thời gian không gian mênh mông, hoang vắng. Từ lầu Ngưng Bích đưa ánh
mắt nhìn ra xa chỉ thấy những dãy núi mờ xa, những cồn cát mù mịt. Kiều rơi vào hoàn cảnh cô đơn, nàng
không có ai bầu bạn, tâm trạng Kiều bị dồn vào đến tận cùng của nỗi tuyệt vọng
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng
Khi sống một mình giữa một cái lầu trơ trọi trong không gian thời gian hoang vắng, không có sự giao lưu
giữa người với người. Bẽ bàng chính là tâm trạng chán trường và xấu hổ của Thúy Kiều. Cụm từ mây sớm
đèn khuya diễn tả thời gian tuần hoàn khép kín lặp đi lặp lại. Thời gian, không gian ở đây giống như đang
kìm hãm con người. Ở đó Kiều chỉ biết làm bạn với mây, đêm đến làm bạn với ngọn đèn. Dù ban ngày hay
ban đêm Kiều vẫn luôn phải đối mặt với những nỗi cô đơn buồn tủi. Trong hoàn cảnh cô đơn như thế con
người ta thường nghĩ về những người thân yêu nhất của mình và Thúy Kiều cũng vậy, Kiều nhớ tới người
thân, nhớ tới người yêu đang ngày đêm mong mỏi mình trở về. Tám câu thơ tiếp theo của đoạn trích đã
miêu tả nỗi nhớ người yêu và cha mẹ của Thúy Kiều. Người nàng nhớ đầu tiên đó chính là Kim Trọng - mối
tình đầu của nàng:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tiên sương luống những rày trông mai chờ
Chân trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
Chắc hẳn sẽ có nhiều người thắc mắc tại sao Thúy Kiều không nhớ cha mẹ mình đầu tiên mà lại nhớ Kim
Trọng . Có lẽ việc bán mình chuộc cha đã coi như nàng làm tròn bổn phận con cái với cha mẹ. Bao nhiêu
chuyện xảy đến với nàng để giờ đây khi ở lầu Ngưng Bích nàng nhớ về người yêu, nàng tự trách bản thân
là người đã phụ tình Kim Trọng, nàng nhớ đến lời thề nguyền đôi lứa năm xưa khi nàng và Kim Trọng đã
cùng nhau nâng chén rượu hẹn ước dưới ánh trăng. Nàng ở lầu Ngưng Bích và nghĩ về Kim Trọng đang
ngóng trông tin tức của mình, nỗi nhớ Kim Trọng với tâm trạng đau đớn xót xa . Câu thơ tấm thân gột rửa
bao giờ cho phai, chúng ta có thể cảm nhận được sự đau đớn về tình yêu son sắc mà Thúy Kiều dành cho
Kim Trọng nhưng tình yêu đó đã bị bọn buôn người làm vùi dập hoen ố. Một câu hỏi được đặt ra đó là làm
sao và đến bao giờ có thể gột rửa nỗi dơ bẩn này. Điều đó thể hiện tình yêu của Thúy Kiều dành cho Kim
Trọng luôn son sắc và không bao giờ phai nhạt. Kiều không chỉ đau đớn mà còn thấy rất hổ thẹn vì đã phụ
chàng Kim, phụ sự mong ngóng chờ đợi của chàng. Các từ ngữ tưởng "trông chờ", "bơ vơ" đã thể hiện
được sự độc thoại nội tâm của Thúy Kiều, nàng nhớ người yêu tha thiết, xót xa cho mối tình trong sáng của
mình.
Khi nhớ về chàng Kim Kiều lại nhớ về cha mẹ
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm
Lại một lần nữa Kiều lại nghĩ về những người ruột thịt của mình. Khi nghĩ tới cha mẹ nàng vô cùng thương
xót, nàng thương cha mẹ khi sáng chiều tựa cửa ngóng tin con, nàng xót xa khi cha mẹ đã đến tuổi nghỉ
ngơi mà không có ai chăm nom, nàng lo lắng không biết ai sẽ là người chăm lo cha mẹ khi về già. Thành
ngữ quạt nồng ấp lạnh, điển cố Sân Lai, gốc tử đã nói nên tâm trạng nhớ thương và tấm lòng hiếu thảo của
Kiều. Nàng đã tưởng tượng ra nơi quê nhà của mình tất cả đã đổi thay, cha mẹ ngày một già yếu. Cụm từ
cách mấy nắng mưa, thể hiện được thời gian qua bao mùa mưa nắng đồng thời nói lên sức mạnh tàn phá
của tự nhiên của nắng mưa đối với cảnh vật và con người. Khi nhớ về cha mẹ Kiều luôn ân hận vì cho rằng
mình đã phụ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Với 8 câu thơ Nguyễn Du đã miêu tả trọn vẹn nỗi
nhớ của Thúy Kiều với Kim Trọng, về cha mẹ người đã sinh thành và nuôi dưỡng Thúy Kiều khôn lớn với
một nỗi nhớ dai dẳng và da diết.
Tám câu thơ cuối bài thơ với tâm trạng cô đơn buồn tủi Thúy Kiều lại càng thể hiện rõ nét qua bức tranh
tâm trạng. Điệp ngữ Buồn trông được xuất hiện ở đầu mỗi câu thơ khiến cho nỗi buồn được nhân lên gấp
bội. Mỗi câu thơ lại là một cảnh, một tâm trạng của Kiều nhưng tất cả là nỗi đau sự tuyệt vọng. Kiều thương
thay cho số kiếp của mình, thương những người thân yêu của mình. Đây có thể coi là đoạn thơ hay nhất
trong tác phẩm Truyện Kiều, ngoại cảnh và tâm cảnh, khung cảnh thiên nhiên và diễn biến tâm trạng của
nhân vật được diễn tả qua một hệ thống ngôn ngữ mang tính ước lệ
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Cửa bể mênh mông trong một buổi chiều hoàng hôn càng làm tăng nỗi buồn, sự cô đơn của những người
con xa xứ. Thuyền ai lúc ẩn lúc hiện, thấp thoáng cánh buồm xa xa đầy ám ảnh. Thúy Kiều muốn tìm một
người để đồng cảm với mình. Hình ảnh con thuyền xuất hiện là hình ảnh sự sống của con người, nhưng
con thuyền ấy lại thấp thoáng xa xa, lúc mờ lúc hiện, qua đó ta thấy được hình ảnh bơ vơ không nơi nương
tựa của Thúy Kiều;
Buồn trông gió cuốn mới sa
Hoa cho man mác biết là về đâu
Khi nhìn những cánh buồm ngoài khơi xa mà chẳng thể nào với được, Kiều lại đưa ánh mắt về gần để tìm
sự đồng cảm bởi cảnh vật. Thế nhưng hình ảnh Hoa trôi man mác biết là về đâu điều đó như dự báo trước
cho kiếp đời lưu lạc, lênh đênh của Kiều. Kiều không biết cuộc đời nàng sẽ đi về đâu giữa dòng đời vô định
ấy. Hình hoa bị những con sóng biển vùi dập cũng như cuộc đời Kiều bị những thế lực cường hào áp bức
phong kiến đã đẩy nàng vào cuộc đời bi kịch. Đáng ra với tài năng và vẻ đẹp của mình Kiều đã phải có một
cuộc sống hạnh phúc thế nhưng tài hoa bạc mệnh sinh ra trong một xã hội mà quyền con người không có
kiểu đã phải chịu biết bao tủi nhục.
Khi nhìn ra xa Kiều chỉ thấy trên cái nền xanh mờ mịt là màu sắc tàn úa vàng héo của cỏ
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Hình ảnh cỏ ở đây không còn là một hình ảnh cỏ tươi như Tiết Thanh minh mà đã trở nên héo úa. Từ rầu
rầu thể hiện nỗi buồn man mác được nhân lên gấp bội khi nhìn xa rồi lại nhìn gần, vừa buồn vừa lắng nghe.
Nàng đã tập trung lắng nghe tiếng gió, tiếng ầm ầm của sóng. Tâm trạng cô đơn lẻ loi đang trải qua những
giờ phút lo âu hãi hùng
Buồn trông gió cuốn mặt dềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Từ ầm ầm thể hiện âm thanh lớn, bất ngờ. Điều đó phải chăng là dự báo cho những tai hoạ đang bủa vây
mà Kiều sắp phải đối mặt trong tương lai.
Cảnh lầu Ngưng Bích được nhìn qua tâm trạng của Thúy Kiều cảnh được quan sát từ xa đến gần, màu sắc
chuyển từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động. Nỗi buồn của Kiều được miêu tả từ buồn man mác
đến lo âu khiếp sợ. Tất cả đều được miêu tả theo chiều tăng tiến làm nhấn mạnh hơn nỗi buồn, cô quạnh và
thân phận đáng thương của Kiều. Chỉ với 8 câu thơ những điệp ngữ Buồn trông được đặt ở đầu câu và xuất
hiện bốn lần điều đó càng thể hiện nỗi buồn da diết của Kiều ảnh hưởng đến cảnh vật. Bởi xưa nay người
buồn cảnh có vui đâu bao giờ, đó chính là nỗi buồn, nỗi đau của kiếp người lưu lạc.
Kiều ở lầu Ngưng Bích là một đoạn thơ miêu tả tinh tế nội tâm nhân vật. Với bút pháp tả cảnh ngụ tình điêu
luyện đã làm nổi bật cảnh ngộ của Kiều giúp ta hiểu thêm về Thúy Kiều. Nàng là một người tình chung thủy,
một người con hiếu thảo, luôn hi sinh hết mình vì mọi người và bỏ qua những nhu cầu của bản thân. Đồng
thời qua đoạn trích ta có thể thấy sự đồng cảm sẻ chia và tinh thần nhân đạo của nhà văn Nguyễn Du dành
cho nhân vật, cũng như dành cho bao kiếp người trong xã hội cũ. Chính những cảm xúc chân thành của
nhà thơ đã gieo và lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc.
Đây là một đoạn trích rất hay và đặc sắc. Qua tác phẩm ta như hiểu được và đồng cảm hơn đối với những
con người trong xã hội cũ, họ có tài năng có vẻ đẹp nhưng lại bị xã hội vùi dập và bị đẩy đến bước đường
cùng sống cuộc đời lênh đênh không bến đỗ.
| 1/7

Preview text:

Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du siêu hay
1. Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích mẫu 1
Nguyễn Du là một danh nhân văn hóa, một đại thi hào của dân tộc ta. Ông đã để lại cho kho tàng văn học
Việt Nam một kiệt tác lớn được bạn bè quốc tế yêu thích đó chính là tác phẩm Truyện Kiều. Bên cạnh giá trị
hiện thực và giá trị nhân đạo truyện Kiều của Nguyễn Du thành công về mặt nghệ thuật với bút pháp tả
cảnh ngụ tình và miêu tả nội tâm nhân vật xuất sắc. Nguyễn Du đã đạt đến tình cao trong lịch sử với đoạn
trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, miêu tả thành công nỗi cô đơn buồn tủi và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Kiều.
Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích nằm trong phần Gia biến và lưu lạc. Đoạn thơ dài 22 câu không chỉ biểu
lộ tình cảm xót thương của Nguyễn Du đối với số phận người phụ nữ tài hoa nhưng bạc mệnh mà còn thể
hiện bút pháp đặc sắc về tự sự việc tả cảnh ngụ tình với những ngôn từ độc thoại nội tâm để biểu đạt nỗi
lòng và tâm trạng của Thúy Kiều
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng
Với nét bút tả cảnh ngụ tình Nguyễn Du đã miêu tả thành công tâm trạng của Thúy Kiều với những các từ
khóa xuân đã cho thấy tình cảnh của Kiều lâm vào cảnh chim lồng cá chậu bị giam lỏng và khóa kín tuổi
xuân của mình. Từ khóa xuân không phải nói tới những cô gái bị cấm cung mà chính là sự mỉa mai chua xót
cho thân phận nàng Kiều. Kiều trơ trọi giữa thời gian mênh mông với không gian hoang vắng trong hoàn
cảnh tha hương đôi đất khách quê người, cô đơn bị đày vào chốn lầu xanh.
Lầu Ngưng Bích vốn là một nơi có phong cảnh tuyệt đẹp, khung cảnh hữu tình thơ mộng được thể hiện qua
các từ ngữ non xa, trăng gần, cát vàng, cồn nọ, bụi hồng, dặm kia. Tuy nhiên từ xưa đến nay Người buồn
cảnh có vui đâu bao giờ. Trong tình cảnh bị giam cầm và tha hương cô đơn như thế, Kiều nhìn khung cảnh
với con mắt buồn thảm vắng lặng, nhìn trăng nàng chỉ thấy vầng trăng đơn côi, nhìn đất thì chỉ thấy cồn cát
nhấp nhô phía bên là bụi hồng.
Ta có thể thấy lầu Ngưng Bích chỉ là một chấm nhỏ giữa thiên nhiên giữa mênh mang trời nước. Trong cái
không gian quẩn quanh mây sớm Đèn Khuya chính là một vòng tuần hoàn khép kín của thời gian tất cả như
kìm hãm Tuổi Thanh Xuân của Kiều sự sống của Kiều đã bị những thế lực tàn ác của xã hội phong kiến bóc
chết từ đó khắc sâu thêm nỗi buồn nỗi cô đơn khiến Kiều càng thấy bẽ bàng buồn tủi bởi không ai chia sẻ
và nàng chỉ biết làm bạn với mây với đèn với cảnh vật hoang vu. Trong nỗi cô đơn tuyệt vọng ấy kiều cảm
thấy xa cách hoang vắng, bị giam cầm cách biệt với nơi đất khách quê người.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Chân trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
Khi ở lầu Ngưng Bích Kiều đã nhớ về Kim Trọng. Đây là một nét bút đặc sắc độc đáo và phù hợp với tâm lý
thể hiện lòng chung thủy của Thúy Kiều. Các từ ngữ tưởng, trông chờ trong ngôn ngữ độc thoại nội tâm của
Kiều đã làm nổi bật lên nỗi nhớ Kim Trọng khôn nguôi của nàng Kiều. Càng nhớ về lời thề đôi lứa lời hẹn
ước năm nào lại càng thương cho Kim Trọng. Chén rượu thề còn ở đây mà nay mỗi người một ngả khiến
Thúy Kiều ân hận, xót xa giống như mình là một kẻ phụ tình chàng.
Nàng tưởng tượng Kim Trọng đang hướng về mình uổng công vô ích khiến nàng càng thêm xót xa, lo âu
cho dù mỗi người một phương nhưng tình cảm của nàng dành cho kim trọng là mãi mãi và không thể phai
mờ. Càng nghĩ kều càng thấy lo lắng phải bật lên câu hỏi tu từ. Phải biết đến bao giờ nàng mới có thể rửa
sạch được những ô uế của tấm lòng son chung thủy để có thể đáp lại tình yêu của Kim Trọng. Không chỉ
nhớ người yêu, ở nơi lầu cao ấy nàng cũng nhớ về cha mẹ của mình:
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm
Ngôn ngữ độc thoại kết hợp với lối viết cổ, tâm trạng buồn của Kiều hiện lên thật rõ nét. Các từ ngữ hôm
mai, cách mấy nắng mưa diễn tả nỗi nhớ mong cha mẹ dài theo năm tháng. Kiều thương cho cha mẹ mình
ngày đêm lo lắng, ngày trông ngóng, nàng lo cho cha mẹ già yếu ở nhà không ai chăm sóc, phụng dưỡng.
Thành ngữ quạt nồng ấp lạnh cùng với điển tích Sơn Lai, gốc tử đã nói lên tâm trạng nhớ thương và thể
hiện Kiều là một người con hiếu thảo.
Nàng lo sợ ở nơi quê hương mọi thứ đã đổi thay, cha mẹ nàng lại càng ngày càng già yếu nên nàng vô
cùng day dứt, áy náy vì chưa làm tròn bổn phận phụng dưỡng cha mẹ của một người con. Trong cảnh ngộ
bị giam lỏng nơi lầu Ngưng Bích. Phải lưu lạc tới nơi đất khách quê người chính bản thân Kiều mới là người
đáng thương nhất, thế nhưng với tâm hồn và với những nét tính cách đẹp cao thượng của mình nàng luôn
hy sinh bản thân mình, quên đi cảnh ngộ hiện tại của bản thân để lo lắng nghĩ về Kim Trọng, nghĩ về cha
mẹ, những người thân của Kiều. Nỗi nhớ đó của Kiều rất chân thực và có chiều sâu để từ đó ta có thể thấy
đây là một người con hiếu thảo, một người tình chung thủy và một con người giàu lòng vị tha.
Tâm trạng buồn tủi của Kiều không chỉ còn ở trong lòng nữa mà đã thể hiện rõ nét qua cảnh vật bên ngoài.
Mỗi cảnh vật là một nét riêng và diễn tả một khía cạnh trong tâm trạng của Kiều
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Khung cảnh mở ra cho chúng ta thấy được đây là một cảnh hoàng hôn cửa bể chiều hôm gợi cho chúng ta
hình ảnh những tia nắng cuối ngày, phản chiếu trên mặt biển xanh khiến mọi thứ nhuốm màu sẫm. Có cái gì
đó tha thiết và nỗi nhớ mong, Kiều dường như tiếc nuối những ngày tháng trước kia. Các từ ngữ thấp
thoáng, xa xa diễn tả sự lẻ loi, đơn độc giống như tình cảnh của Kiều bây giờ.
Một mình nơi xứ người bơ vơ nơi lầu ngưng Bích, Kiều chỉ biết nhớ về quê hương, nhớ về cha mẹ, mong
chờ một con thuyền để có thể cứu nàng. Nhưng chiếc thuyền ấy chỉ thấp thoáng ở phía xa xa, lúc mờ lúc
hiện Thuyền ai lênh đênh mất hút phía chân trời xa giống như cuộc đời Kiều lênh đênh chẳng biết chơi về
đâu. Chẳng biết bao giờ mới có thể trở về nhà báo hiếu cho cha mẹ
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Cánh hoa mỏng manh dập dìu trong dòng nước bé nhỏ không chống chọi được với sức của mọi nước
giống như chính thân phận Kiều trong xã hội cũ. Tuy là một người có đức có tài, có nét đẹp nhưng chính
cường quyền áp bức đã vùi dập nàng, vùi dập tài năng của nàng. Thân phận Kiều giờ đây lạc lõng, lẻ loi trôi
theo dòng đời vô định, chẳng biết đi về đâu. Nhìn cánh hoa vùi dập nàng Kiều lại nhớ tới Kim Trọng, càng
buồn tủi và xót xa cho thân phận của mình:
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Trái ngược với cái tên của lầu màu xanh qua con mắt của Kiều trở nên thật sầu thảm với từ láy rầu rầu gợi
lên hình ảnh của một bãi cỏ tàn úa xơ xác. Tuổi thanh xuân tươi đẹp của Kiều với một tài sắc vẹn toàn đáng
lẽ nàng phải có một cuộc sống đầy đủ, phải có một cuộc đời hạnh phúc thế nhưng Tuổi Thanh Xuân ấy sẽ
phai tàn và vô vị như màu xanh héo úa kia. Màu xanh vốn là màu của hy vọng nhưng nay đã tàn úa giống
như niềm tin của Thúy Kiều đang dần cạn với nỗi xót xa ngày càng dâng cao trong Thúy Kiều.
Buồn trông gió cuốn mặt dềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Âm thanh của tiếng sóng ầm ầm, trong cảnh gió cuốn mặt dềnh giống như bão tố phong ba đang chờ đợi
Kiều ở phía trước. Nàng lo lắng không biết khi nào tai họa sẽ ập đến, giống như tiếng sóng ở ngoài xa, tiếng
sóng ầm ầm chính là báo hiệu một tương lai đầy sóng gió khiến Kiều sợ hãi.
Với điệp ngữ Buồn trông đặt ở bốn câu đầu trong bài thơ giống như tiếng thở dài cùng với nhịp thơ trầm
trầm và những thanh bằng đã nhấn mạnh một nỗi buồn đang ngày càng dâng lên trong tâm trạng của Thúy
Kiều, cùng với cảnh vật đang càng lúc càng mênh mang những từ láy xa xa, thấp thoáng, man mác, rầu
rầu, xanh xanh, ầm ầm như những con sóng đang trào dâng trong tâm hồn của Kiều.
Đoạn thơ Kiều Ở Lầu Ngưng Bích là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình hay nhất trong truyện Kiều cũng như trong
văn học trung đại Việt Nam. Qua đoạn thơ chúng ta có thể hiểu biết thêm về tính cách của Kiều. Đó là một
người chung thủy, một người con hiếu thảo và là một con người của tấm lòng vị tha. Đồng thời ta cảm nhận
được sự khắc nghiệt của xã hội phong kiến, đã đẩy những con người đáng thương như thế kia và hoàn cảnh éo le.
Kiều ở lầu Ngưng Bích chính là một đoạn thơ miêu tả tinh tế nội tâm nhân vật. Với bút pháp tả cảnh ngụ
tình điêu luyện đã làm nổi bật cảnh ngộ của Thúy Kiều và chứng tỏ được tài năng kiệt xuất của Nguyễn Du.
Chính sự bao dung, đồng cảm sẻ chia của Nguyễn Du đã đi vào tâm tưởng bằng thế hệ.
2. Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích mẫu 2
Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc Việt Nam là danh nhân văn hóa thế giới . Tác phẩm Truyện Kiều là một
trong những tác phẩm đỉnh cao của nền văn học Việt Nam, là kết tinh của những giá trị hiện thực và nhân
đạo sâu sắc. Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là đoạn trích tiêu biểu cho nghệ thuật và ngòi bút miêu tả
nội tâm nhân vật. Với bút pháp tả cảnh ngụ tình đại tài của Nguyễn Du đã cho chúng ta thấy tâm trạng cô
đơn buồn tủi và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Thúy Kiều, đồng thời thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của nhà văn.
Kiều ở lầu Ngưng Bích là đoạn trích nằm ở phần thứ hai Gia biến và lưu lạc. Sau khi biết mình bị lừa vào
chốn đầu xanh Kiều đã rất tủi nhục và định tự vẫn. Nhưng Tú Bà sợ Kiều chết đi thì bị mất một mớ tiền oan
nên giả vờ chờ Kiều bình phục sẽ gả Kiều đi ở một nơi tử tế rồi đưa Kiều giam lỏng ở lầu Ngưng Bích để
thực hiện âm mưu mới đê tiện của mình. Đoạn trích mở đầu bằng khung cảnh hoang vắng ở lầu Ngưng Bích:
Trước lầu Ngưng Bích khóa Xuân
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
Khóa xuân là cách nói mỉa mai của tác giả đó là khoảng thời gian Kiều bị Tú Bà giam lỏng. Khi Kiều vừa trải
qua những đau khổ nay lại bị nhốt ở nơi vắng vẻ, tiêu điều nàng cảm thấy cô đơn và chán trường
Cảnh non xa tấm Trăng gần ở chung
Hình ảnh lầu Ngưng Bích chơ vơ giữa sông nước từ trên lầu cao nhìn ra xung quanh là cả một không gian
bát ngát mênh mông tất cả đều xa vời.
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia
Hai câu thơ tiếp theo gợi lên thời gian không gian mênh mông, hoang vắng. Từ lầu Ngưng Bích đưa ánh
mắt nhìn ra xa chỉ thấy những dãy núi mờ xa, những cồn cát mù mịt. Kiều rơi vào hoàn cảnh cô đơn, nàng
không có ai bầu bạn, tâm trạng Kiều bị dồn vào đến tận cùng của nỗi tuyệt vọng
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng
Khi sống một mình giữa một cái lầu trơ trọi trong không gian thời gian hoang vắng, không có sự giao lưu
giữa người với người. Bẽ bàng chính là tâm trạng chán trường và xấu hổ của Thúy Kiều. Cụm từ mây sớm
đèn khuya
diễn tả thời gian tuần hoàn khép kín lặp đi lặp lại. Thời gian, không gian ở đây giống như đang
kìm hãm con người. Ở đó Kiều chỉ biết làm bạn với mây, đêm đến làm bạn với ngọn đèn. Dù ban ngày hay
ban đêm Kiều vẫn luôn phải đối mặt với những nỗi cô đơn buồn tủi. Trong hoàn cảnh cô đơn như thế con
người ta thường nghĩ về những người thân yêu nhất của mình và Thúy Kiều cũng vậy, Kiều nhớ tới người
thân, nhớ tới người yêu đang ngày đêm mong mỏi mình trở về. Tám câu thơ tiếp theo của đoạn trích đã
miêu tả nỗi nhớ người yêu và cha mẹ của Thúy Kiều. Người nàng nhớ đầu tiên đó chính là Kim Trọng - mối tình đầu của nàng:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tiên sương luống những rày trông mai chờ
Chân trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
Chắc hẳn sẽ có nhiều người thắc mắc tại sao Thúy Kiều không nhớ cha mẹ mình đầu tiên mà lại nhớ Kim
Trọng . Có lẽ việc bán mình chuộc cha đã coi như nàng làm tròn bổn phận con cái với cha mẹ. Bao nhiêu
chuyện xảy đến với nàng để giờ đây khi ở lầu Ngưng Bích nàng nhớ về người yêu, nàng tự trách bản thân
là người đã phụ tình Kim Trọng, nàng nhớ đến lời thề nguyền đôi lứa năm xưa khi nàng và Kim Trọng đã
cùng nhau nâng chén rượu hẹn ước dưới ánh trăng. Nàng ở lầu Ngưng Bích và nghĩ về Kim Trọng đang
ngóng trông tin tức của mình, nỗi nhớ Kim Trọng với tâm trạng đau đớn xót xa . Câu thơ tấm thân gột rửa
bao giờ cho phai,
chúng ta có thể cảm nhận được sự đau đớn về tình yêu son sắc mà Thúy Kiều dành cho
Kim Trọng nhưng tình yêu đó đã bị bọn buôn người làm vùi dập hoen ố. Một câu hỏi được đặt ra đó là làm
sao và đến bao giờ có thể gột rửa nỗi dơ bẩn này. Điều đó thể hiện tình yêu của Thúy Kiều dành cho Kim
Trọng luôn son sắc và không bao giờ phai nhạt. Kiều không chỉ đau đớn mà còn thấy rất hổ thẹn vì đã phụ
chàng Kim, phụ sự mong ngóng chờ đợi của chàng. Các từ ngữ tưởng "trông chờ", "bơ vơ" đã thể hiện
được sự độc thoại nội tâm của Thúy Kiều, nàng nhớ người yêu tha thiết, xót xa cho mối tình trong sáng của mình.
Khi nhớ về chàng Kim Kiều lại nhớ về cha mẹ
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm
Lại một lần nữa Kiều lại nghĩ về những người ruột thịt của mình. Khi nghĩ tới cha mẹ nàng vô cùng thương
xót, nàng thương cha mẹ khi sáng chiều tựa cửa ngóng tin con, nàng xót xa khi cha mẹ đã đến tuổi nghỉ
ngơi mà không có ai chăm nom, nàng lo lắng không biết ai sẽ là người chăm lo cha mẹ khi về già. Thành
ngữ quạt nồng ấp lạnh, điển cố Sân Lai, gốc tử đã nói nên tâm trạng nhớ thương và tấm lòng hiếu thảo của
Kiều. Nàng đã tưởng tượng ra nơi quê nhà của mình tất cả đã đổi thay, cha mẹ ngày một già yếu. Cụm từ
cách mấy nắng mưa, thể hiện được thời gian qua bao mùa mưa nắng đồng thời nói lên sức mạnh tàn phá
của tự nhiên của nắng mưa đối với cảnh vật và con người. Khi nhớ về cha mẹ Kiều luôn ân hận vì cho rằng
mình đã phụ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Với 8 câu thơ Nguyễn Du đã miêu tả trọn vẹn nỗi
nhớ của Thúy Kiều với Kim Trọng, về cha mẹ người đã sinh thành và nuôi dưỡng Thúy Kiều khôn lớn với
một nỗi nhớ dai dẳng và da diết.
Tám câu thơ cuối bài thơ với tâm trạng cô đơn buồn tủi Thúy Kiều lại càng thể hiện rõ nét qua bức tranh
tâm trạng. Điệp ngữ Buồn trông được xuất hiện ở đầu mỗi câu thơ khiến cho nỗi buồn được nhân lên gấp
bội. Mỗi câu thơ lại là một cảnh, một tâm trạng của Kiều nhưng tất cả là nỗi đau sự tuyệt vọng. Kiều thương
thay cho số kiếp của mình, thương những người thân yêu của mình. Đây có thể coi là đoạn thơ hay nhất
trong tác phẩm Truyện Kiều, ngoại cảnh và tâm cảnh, khung cảnh thiên nhiên và diễn biến tâm trạng của
nhân vật được diễn tả qua một hệ thống ngôn ngữ mang tính ước lệ
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Cửa bể mênh mông trong một buổi chiều hoàng hôn càng làm tăng nỗi buồn, sự cô đơn của những người
con xa xứ. Thuyền ai lúc ẩn lúc hiện, thấp thoáng cánh buồm xa xa đầy ám ảnh. Thúy Kiều muốn tìm một
người để đồng cảm với mình. Hình ảnh con thuyền xuất hiện là hình ảnh sự sống của con người, nhưng
con thuyền ấy lại thấp thoáng xa xa, lúc mờ lúc hiện, qua đó ta thấy được hình ảnh bơ vơ không nơi nương tựa của Thúy Kiều;
Buồn trông gió cuốn mới sa
Hoa cho man mác biết là về đâu
Khi nhìn những cánh buồm ngoài khơi xa mà chẳng thể nào với được, Kiều lại đưa ánh mắt về gần để tìm
sự đồng cảm bởi cảnh vật. Thế nhưng hình ảnh Hoa trôi man mác biết là về đâu điều đó như dự báo trước
cho kiếp đời lưu lạc, lênh đênh của Kiều. Kiều không biết cuộc đời nàng sẽ đi về đâu giữa dòng đời vô định
ấy. Hình hoa bị những con sóng biển vùi dập cũng như cuộc đời Kiều bị những thế lực cường hào áp bức
phong kiến đã đẩy nàng vào cuộc đời bi kịch. Đáng ra với tài năng và vẻ đẹp của mình Kiều đã phải có một
cuộc sống hạnh phúc thế nhưng tài hoa bạc mệnh sinh ra trong một xã hội mà quyền con người không có
kiểu đã phải chịu biết bao tủi nhục.
Khi nhìn ra xa Kiều chỉ thấy trên cái nền xanh mờ mịt là màu sắc tàn úa vàng héo của cỏ
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Hình ảnh cỏ ở đây không còn là một hình ảnh cỏ tươi như Tiết Thanh minh mà đã trở nên héo úa. Từ rầu
rầu thể hiện nỗi buồn man mác được nhân lên gấp bội khi nhìn xa rồi lại nhìn gần, vừa buồn vừa lắng nghe.
Nàng đã tập trung lắng nghe tiếng gió, tiếng ầm ầm của sóng. Tâm trạng cô đơn lẻ loi đang trải qua những giờ phút lo âu hãi hùng
Buồn trông gió cuốn mặt dềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Từ ầm ầm thể hiện âm thanh lớn, bất ngờ. Điều đó phải chăng là dự báo cho những tai hoạ đang bủa vây
mà Kiều sắp phải đối mặt trong tương lai.
Cảnh lầu Ngưng Bích được nhìn qua tâm trạng của Thúy Kiều cảnh được quan sát từ xa đến gần, màu sắc
chuyển từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động. Nỗi buồn của Kiều được miêu tả từ buồn man mác
đến lo âu khiếp sợ. Tất cả đều được miêu tả theo chiều tăng tiến làm nhấn mạnh hơn nỗi buồn, cô quạnh và
thân phận đáng thương của Kiều. Chỉ với 8 câu thơ những điệp ngữ Buồn trông được đặt ở đầu câu và xuất
hiện bốn lần điều đó càng thể hiện nỗi buồn da diết của Kiều ảnh hưởng đến cảnh vật. Bởi xưa nay người
buồn cảnh có vui đâu bao giờ,
đó chính là nỗi buồn, nỗi đau của kiếp người lưu lạc.
Kiều ở lầu Ngưng Bích là một đoạn thơ miêu tả tinh tế nội tâm nhân vật. Với bút pháp tả cảnh ngụ tình điêu
luyện đã làm nổi bật cảnh ngộ của Kiều giúp ta hiểu thêm về Thúy Kiều. Nàng là một người tình chung thủy,
một người con hiếu thảo, luôn hi sinh hết mình vì mọi người và bỏ qua những nhu cầu của bản thân. Đồng
thời qua đoạn trích ta có thể thấy sự đồng cảm sẻ chia và tinh thần nhân đạo của nhà văn Nguyễn Du dành
cho nhân vật, cũng như dành cho bao kiếp người trong xã hội cũ. Chính những cảm xúc chân thành của
nhà thơ đã gieo và lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc.
Đây là một đoạn trích rất hay và đặc sắc. Qua tác phẩm ta như hiểu được và đồng cảm hơn đối với những
con người trong xã hội cũ, họ có tài năng có vẻ đẹp nhưng lại bị xã hội vùi dập và bị đẩy đến bước đường
cùng sống cuộc đời lênh đênh không bến đỗ.