-
Thông tin
-
Quiz
Phân tích Hai đứa trẻ của Thạch Lam chọn lọc hay nhất | Ngữ văn 11
Thạch Lam (1910-1942) tên khai sinh là Nguyền Tường Vinh, sinh tại Hà Nội, trong một gia đình công chức gốc quan lại. Gia đình Thạch Lam có truyền thống về văn học, cả ba anh em ông đều là những tác giả xuất sắc trong Tự lực văn đoàn. Ông bắt đầu sự nghiệp làm báo, viết văn sau khi đỗ tú tài phần thứ nhất. Tài liệu giúp bạn tham khảo ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!
Tài liệu chung Ngữ Văn 11 102 tài liệu
Ngữ Văn 11 1.2 K tài liệu
Phân tích Hai đứa trẻ của Thạch Lam chọn lọc hay nhất | Ngữ văn 11
Thạch Lam (1910-1942) tên khai sinh là Nguyền Tường Vinh, sinh tại Hà Nội, trong một gia đình công chức gốc quan lại. Gia đình Thạch Lam có truyền thống về văn học, cả ba anh em ông đều là những tác giả xuất sắc trong Tự lực văn đoàn. Ông bắt đầu sự nghiệp làm báo, viết văn sau khi đỗ tú tài phần thứ nhất. Tài liệu giúp bạn tham khảo ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!
Chủ đề: Tài liệu chung Ngữ Văn 11 102 tài liệu
Môn: Ngữ Văn 11 1.2 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:












Tài liệu khác của Ngữ Văn 11
Preview text:
Phân tích Hai đứa trẻ của Thạch Lam chọn lọc hay nhất
Trong nền văn học Việt Nam, Thạch Lam nổi tiếng với những truyện ngắn có giọng điệu nhẹ nhàng
nhưng lại mang ý nghĩa sâu cay thâm thúy. Trong đó, điển hình có tác phẩm Hai đứa trẻ. Hãy cùng Luật
Minh Khuê phân tích tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam qua bài viết dưới đây.
Mục lục bài viết
1. Tìm hiểu chung về tác giả và tác phẩm 1.1. Tác giả
Thạch Lam (1910-1942) tên khai sinh là Nguyền Tường Vinh, sinh tại Hà Nội, trong một gia đình công
chức gốc quan lại. Gia đình Thạch Lam có truyền thống về văn học, cả ba anh em ông đều là những tác
giả xuất sắc trong Tự lực văn đoàn. Ông bắt đầu sự nghiệp làm báo, viết văn sau khi đỗ tú tài phần thứ nhất.
Thạch Lam là người đôn hậu và rất tinh tế. Ông có quan niệm văn chương lành mạnh, tiến bộ và có
biệt tài về truyện ngắn, ông thường viết những truyện không có chuyện, chủ yếu khai thác thế giới nội
tâm của nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ trong cuộc sống thường ngày. Giọng văn của
Thạch Lam trong sáng, giản dị mà thâm trầm, sâu sắc.
Thạch Lam để lại những tác phẩm xuất sắc như tập truyện ngắn Gió lạnh đầu mùa (1937), Nắng trong
vườn (1938), Sợi tóc (1942); tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường (1943). 1.2. Tác phẩm
"Hai đứa trẻ" là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam, in trong tập "Nắng trong
vườn". Cũng như nhiều truyện ngắn khác của ông, Hai đứa trẻ có sự hòa quyện giữa yếu tố hiện thực
và lãng mạn trữ tình.
2. Hướng dẫn làm bài phân tích "Hai đứa trẻ" 2.1. Phân tích đề
- Yêu cầu đề bài: phân tích các chi tiết, hình ảnh, các nhân vật, nội dung, nghệ thuật của truyện ngắn
để rút ra thông điệp và tư tưởng mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm.
- Đối tượng làm bài: truyện ngắn Hai đứa trẻ
- Phương pháp làm bài: phân tích, cảm nhận.
2.2. Khái quát nội dung truyện ngắn "Hai đứa trẻ":
- Bức tranh phố huyện:
• Nhịp sống buồn bã, tẻ nhạt của phố huyện từ chiều tàn đi vào đêm khuya.
• Tất cả được thể hiện ra qua cái nhìn xót xa, thương cảm của tác giả.
- Hình ảnh đoàn tàu và tâm trạng của hai đứa trẻ:
Đánh thức kỷ niệm về một Hà Nội đẹp đẽ thiết tha. - Nhân vật Liên:
Hiện thực buồn tẻ, tù đọng của tác phẩm càng nặng nề vì Liên đã ý thức được đầy đủ và sâu sắc về cuộc sống đó.
- "Hai đứa trẻ", bài ca về quê hương, đất nước.
2.3. Các luận điểm chính cần triển khai:
• Luận điểm 1: Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn.
• Luận điểm 2 : Bức tranh phố huyện lúc đêm khuya.
• Luận điểm 3: Hình ảnh chuyến tàu và tâm trạng chờ mong chuyến tàu đêm của Liên và An.
3. Dàn ý phân tích tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam 3.1. Mở bài
- Đôi nét về tác giả Thạch Lam: Một trong những cây bút tiêu biểu của Tự lực văn đoàn, ông có thế
mạnh về viết truyện ngắn. Văn chương Thạch Lam rất thích hợp để thanh lọc tâm hồn.
- Hai đứa trẻ là một truyện ngắn trữ tình đượm buồn phù hợp cho nhận định trên. 3.2. Thân bài:
Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn:
- Bức tranh thiên nhiên nơi phố huyện lúc chiều tàn:
• Toàn bộ cảnh vật được cảm nhận qua cái nhìn của Liên.
• Âm thanh: Tiếng trống thu không gọi chiều về, tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng, tiếng muỗi vo ve.
• Hình ảnh, màu sắc: “Phương tây đỏ rực như lửa cháy”, “Những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”.
• Đường nét: dãy tre làng cắt hình rõ rệt trên nền trời.
• Nhịp điệu chậm, giàu hình ảnh và nhạc điệu.
=> Khung cảnh thiên nhiên đượm buồn, đồng thời thấy được sự cảm nhận tinh tế.
- Cảnh chợ tàn và những kiếp người nơi phố huyện:
• Cảnh chợ tàn: Chợ đã vãn từ lâu, người về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Chỉ còn rác rưởi, vỏ
bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía.
• Con người: Mấy đứa trẻ con nhà nghèo tìm tòi, nhặt nhạnh những thứ còn sót lại ở chợ. Mẹ
con chị Tí: với cái hàng nước đơn sơ, vắng khách. Bà cụ Thi: hơi điên đến mua rượu lúc đêm
tối rồi đi lần vào bóng tối. Bác Siêu với gánh hàng phở – một thứ quà xa xỉ. Gia đình bác xẩm
mù sống bằng lời ca tiếng đàn và lòng hảo tâm của khách qua đường.
=> Cảnh chợ tàn và những kiếp người tàn tạ: sự tàn lụi, sự nghèo đói, tiêu điều của phố huyện nghèo.
- Tâm trạng của Liên:
• Cảm nhận rất rõ: “mùi riêng của đất, của quê hương này”.
• Nỗi buồn thấm thía trước cảnh ngày tàn và những kiếp người tàn tạ: Thương những đứa trẻ
nhà nghèo nhưng không có tiền mà cho chúng. Xót thương mẹ con chị Tí: ngày mò cua bắt tép,
tối dọn cái hàng nước chè tươi chả kiếm được bao nhiêu, xót thương bà cụ Thi điên.
=> Tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, có lòng trắc ẩn, yêu thương con người. Đây cũng là nhân vật mà Thạch
Lam gửi gắm tâm tư của mình
Bức tranh phố huyện lúc đêm khuya: Sự đối lập giữa “bóng tối” và “ánh sáng”:
- Phố huyện về đêm ngập chìm trong bóng tối:
• “Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối”.
• “Tối hết con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng càng sẫm đen hơn nữa”.
=> Bóng tối xâm nhập, bám sát mọi sinh hoạt của những con người nơi phố huyện.
• Ánh sáng của sự sống hiếm hoi, bé nhỏ: khe sánh, quầng sáng, chấm lửa nhỏ, hột sáng…
=> Ánh sáng yếu ớt, le lói như những kiếp người nghèo khổ nơi phố huyện.
• Ánh sáng và bóng tối tương phản nhau.
=> Bóng tối bao trùm trong khi ánh sáng chỉ mong manh, nhỏ bé => kiếp người nhỏ bé sống leo lét, tàn
lụi trong đêm tối mênh mông của xã hội cũ.
- Đời sống của những kiếp người nghèo khổ trong bóng tối:
• Những công việc hằng ngày lặp đi lặp lại: Chị Tí dọn hàng nước, Bác Siêu hàng phở thổi
lửa, Gia đình Xẩm “ngồi trên manh chiếu rách, cái thau sắt để trước mặt”, “Góp chuyện bằng
mấy tiếng đàn bầu bật trong im lặng”.
• Liên, An trông coi cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu. => Cuộc sống nhàm chán, quẩn quanh, đơn điệu không lối thoát.
• Những suy nghĩ cũng lặp đi lặp lại hằng ngày: Mong những người phu gạo, phu xe, mấy chú
lính lệ vào hàng uống bát chè tươi và hút điếu thuốc lào.
• Vẫn mơ ước: “chừng ấy người trong bóng tối đang mong đợi một cái gì tươi sáng cho cuộc
sống nghèo khổ hàng ngày của họ” => mơ hồ, tội nghiệp
=> Giọng văn: chậm buồn, tha thiết thể hiện niềm cảm thương của Thạch Lam với những người nghèo khổ.
Hình ảnh chuyến tàu và tâm trạng chờ mong chuyến tàu đêm của Liên và An:
Liên và An thức bởi: • Để bán hàng.
• Để được nhìn chuyến tàu đêm đi qua hoạt động cuối cùng của đêm khuya.
Hình ảnh đoàn tàu xuất hiện với dấu hiệu đầu tiên:
• Liên cũng trông thấy “ngọn lửa xanh biếc”.
• Hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi. - Khi tàu đến:
• Các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường.
• Những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng.
- Khi tàu đi vào đêm tối:
• Để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt.
• Chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre.
=> Đoàn tàu xuất hiện với âm thanh sôi động và ánh sáng rực rỡ, mang đến phố huyện nghèo một thế
giới khác, đó là thế giới mà Liên luôn mong ước. 3.3. Kết bài
• Khái quát những nét đặc sắc về nghệ thuật làm nên thành công của truyện ngắn.
• Hai đứa trẻ là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách văn chương của Thạch Lam: kết hợp hai
yếu tố hiện thực và lãng mạn, văn phong trong sáng, giản dị mà thâm trầm.
4. Phân tích Hai đứa trẻ
Nhắc đến Thạch Lam là nhắc đến một nhà văn lớn của khuynh hướng văn học lãng mạn Việt Nam giai
đoạn 1930-1945. Tác phẩm của ông chủ yếu khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những cảm xúc
mong manh, mơ hồ. Nhà văn Nguyễn Tuân khi nhận xét về Thạch Lam từng viết: “Xúc cảm của nhà văn
Thạch Lam thường bắt nguồn từ những chân cảm đối với con người ở tầng lớp dân nghèo. Thạch Lam
là nhà văn luôn quý mến cuộc sống, trân trọng sự sống của mọi người xung quanh”. Truyện ngắn “Hai
đứa trẻ” chính là minh chứng tiêu biểu nhất cho phong cách nghệ thuật của Thạch Lam.
“Hai đứa trẻ” được rút trong tập truyện ngắn “Nắng trong vườn” (1938). Nhân vật chính của tác phẩm
là hai chị em Liên và An. Do gia đình xảy ra biến cố, hai đứa trẻ theo mẹ về quê ngoại ở một phố huyện
nghèo. Ngày ngày hai chị em Liên và An trông coi căn hàng xén nho nhỏ với vài ba bao thuốc, dăm
bánh xà phòng… và chờ đợi đoàn tàu đi ngang phố huyện. Qua con mắt ngây thơ của Liên, cuộc sống
nơi phố huyện hiện lên chân thực, sống động. Đó là mảng màu u tối trong không gian chật hẹp, tù
túng với những con người chậm chạp, vô hồn và nghèo đói. Truyện ngắn thể hiện niềm cảm thương
chân thành của Thạch Lam đối với những kiếp sống nghèo khổ, chìm khuất trong mòn mỏi, tăm tối,
quẩn quanh nơi phố huyện trước cách mạng và sự trân trọng với những mong ước nhỏ bé, bình dị mà tha thiết của họ.
Như đã nói, làm nên truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là cảnh ngày tàn và những kiếp người tàn. Mở đầu câu
chuyện, đập vào giác quan người đọc là khung cảnh chiều tàn, ảm đạm và u tối. Thời gian được khắc
họa trong tác phẩm ngắn ngủi, mọi sự việc diễn ra được kể từ lúc chiều tối cho đến đêm. Cảnh chiều
tàn, trước hết qua con mắt của người nghệ sĩ, vẫn mang vẻ đẹp vô cùng yên ả, bình dị và thơ mộng.
“Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng
trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời. Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng
tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”. Thế nhưng, bức tranh ấy tuy đẹp
nhưng ẩn chứa sau nó là cả một nỗi buồn mà người vẽ đã cố ý che đi bằng những mảng màu rực rỡ.
Có người đã nhận xét, văn Thạch Lam vừa chất chứa hiện thực vừa giàu tính lãng mạn. Điều đó hoàn
toàn đứng khi đặt vào truyện ngắn “Hai đứa trẻ”. Bởi khuất lấp sau nhiều tầng lớp ngôn từ, điều
Thạch Lam gửi gắm đó là cuộc sống mòn mỏi, tăm tối vây hãm con người.
Nơi chị em Liên ở là một phố huyện nghèo và thực chất nó là cái chợ xép nhỏ. “Chợ họp giữa phố vãn
từ lâu. Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất. Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và bã
mía. Một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen thuộc quá, khiến chị em Liên
tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này.” Chỉ cần nhìn vào những gì còn sót lại sau phiên chợ
cũng đủ để thấy cuộc sống cư dân ở đây khổ cực như thế nào. Những người bán hàng về muộn đứng
nói chuyện với nhau ít câu như để trao lại cho nhau những nỗi tẻ nhạt cuộc sống mưu sinh. Những
đứa trẻ nhà nghèo đang lúi húi sinh nhai trên đống phế phẩm của phiên chợ quê nghèo. Chúng “cúi
lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi. Chúng nhặt nhạnh thanh nứa thanh tre hay bất cứ thứ gì có thể
dùng được của những người bán hàng để lại”. Đây là hiện thân đầy đủ nhất của sự khốn cùng. Tất cả
như đang cố sức để sống và hi vọng nhưng sự cố gắng thì đã quá sức còn hi vọng vốn quá mong manh.
Nổi bật trên nền cảnh tàn tạ, hắt hiu của phố huyện là hình ảnh những kiếp người tàn, quẩn quanh, tù
túng không lối thoát. Đó là vợ chồng bác xẩm với tiếng đàn bầu thê lương, trên manh chiếu rách,
thằng con bò ra đất ngoài manh chiếu, nghịch nhặt rác bẩn. Đó là mẹ con chị Tí, ngày mò cua bắt ốc,
tối đến lại dọn hàng nước ven đường “chả kiếm được bao nhiêu, nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng,
từ chập tối cho đến đêm”. Đó là bác phở Siêu với gánh hàng vốn là thứ quà xa xỉ đối với người dân
phố huyện, là bà cụ Thi điên nghiện rượu, là những đứa trẻ con nhà nghèo và chính cả hai chị em
Liên… Thân phận tàn tạ đang héo mòn, con người hoà lẫn cùng bóng tối như những cái bóng vật vờ
lay lắt, mong manh đang trôi theo thời gian. Cuộc sống ấy cứ đều đều, đơn điệu, lặp đi lặp lại buồn tẻ,
nhàm chán đối với người dân phố huyện. Tất cả họ đang mong đợi một cái gì đó tươi mát thổi vào
cuộc đời họ. Nét vẽ âm thanh, ánh sáng, con người của bức tranh phố huyện tưởng chừng rời rạc,
nhưng nó hoà quyện cộng hưởng trong hệ thống u buồn, trầm mặc, xót xa. Điểm thêm vào cuộc sống
ấy là ngọn đèn dầu cùng bóng tối bao phủ, càng ngợi sự nghèo khổ lay lắt đến tội nghiệp.
Cảnh ngày tàn được miêu tả ảm đạm, tù túng với những kiếp người tàn. Và, sự tẻ nhạt, tăm tối như
được nâng lên gấp nhiều lần khi Thạch Lam miêu tả cảnh phố huyện lúc đêm khuya. Trong tác phẩm
có đến hơn hai mươi lần từ “tối” được lặp lại. “Đường phố và các con ngõ dần dần chứa đầy bóng
tối”, “tối hết cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại sẫm
đen hơn nữa”, “đêm ở trong phố, tịch mịch và đầy bóng tối”. Bóng tối bao trùm tất cả, tràn ngập trong
tác phẩm, tạo nên một bức tranh u tối, một không gian tù đọng, gợi cảm giác ngột ngạt. Bóng tối được
miêu tả nhiều trạng thái khác nhau, có mặt suốt từ đầu đến cuối tác phẩm. Gợi cho người đọc thấy
một kiếp sống bế tắc, quẩn quanh của người dân phố huyện nói riêng và nhân dân trước cách mạng
tháng Tám nói chung. Đó cũng là biểu tượng của những tâm trạng vô vọng, nỗi u hoài trong tâm thức của một kiếp người.
Không chỉ là không gian, cảnh vật, cuộc sống của những cư dân nơi phố huyện cũng phủ đầy đêm tối.
Họ hoạt động, mưu sinh trong bóng tối mịt mù. Tối đến, mẹ con chị Tí dọn hàng nước. Đêm về, bác
phở Siêu xuất hiện. Trong bóng tối, gia đình bác hát Xẩm kiếm ăn. Khi bóng tối tràn ngập là lúc bà cụ
Thi điên đến mua rượu uống rồi sau đó “đi lần vào đêm tối”. Còn Liên và An đêm nào cũng ngồi lặng
ngắm phố huyện và chờ đoàn tàu. Cuộc sống lặp đi lặp lại đơn điệu, buồn tẻ với những động tác quen
thuộc, những suy nghĩ mong đợi như mọi ngày. Họ cùng mong đợi “một cái gì tươi sáng cho sự sống
nghèo khổ hằng ngày”. Trong bóng tối đen đặc ấy, hình ảnh ngọn đèn dầu được nhắc hơn mười lần
như một chút hi vọng mong manh Thạch Lam muốn gieo vào lòng con người. Đó là “ngọn đèn lay
động trên chõng hàng của chị Tí”, “ngọn đèn của Liên, ngọn đèn vặn nhỏ, thưa thớt từng hột sáng lọt
qua phên nứa”. Tất cả không đủ chiếu sáng, không đủ sức phá tan màn đêm, mà ngược lại nó càng
làm cho đêm tối trở nên mênh mông hơn, càng ngợi sự tàn tạ, hắt hiu, buồn đến nao lòng. Ngọn đèn
dầu, mặt khác cũng là biểu tượng về kiếp sống nhỏ nhoi, vô danh vô nghĩa, lay lắt. Một kiếp sống leo
lét mỏi mòn trong đêm tối mênh mông của xã hội cũ, không hạnh phúc, không tương lai, cuộc sống
như cát bụi. Cuộc sống ấy cứ ngày càng một đè nặng lên đôi vai mỗi con người nơi phố huyện. Cả một
bức tranh đen tối. Những hột sáng của ngọn đèn dầu hắt ra chỉ như những lỗ thủng trên một bức
tranh toàn màu đen càng bi đát, tối tăm.
Trong toàn bộ tác phẩm, nhân vật mà Thạch Lam chú ý nhiều nhất là nhân vật Liên. Mặc dù Liên chỉ là
một cô bé mới lớn nhưng ở em có những suy nghĩ, cảm xúc chân thực, đẹp đẽ đáng trân trọng. Ở đây,
trước cảnh tăm tối, tù túng nơi phố huyện, tâm trạng của Liên cũng trở nên buồn bã, tư lự. Liên nhớ
lại những tháng ngày tươi đẹp ở Hà Nội, “một vùng sáng rực và lấp lánh”. Khi ấy “mẹ Liên nhiều tiền –
được đi chơi bờ hồ uống những cốc nước lạnh xanh đỏ”. Đó là cuộc sống khác hẳn với cảnh sống tăm
tối, tù túng nơi phố huyện. Tuy nhiên, với cuộc sống hiện tại, cảm nhận của Liên tuy buồn nhưng thân
thuộc, gần gũi. Liên không ghét bỏ hay từ chối cuộc sống hiện tại. Liên và An lặng lẽ ngắm các vì sao,
lặng lẽ quan sát những gì diễn ra ở phố huyện và xót xa cảm thông, chia sẻ với những kiếp người nhỏ
nhoi sống lay lắt trong bóng tối của cơ cực đói nghèo, tù đọng trong bóng tối của họ.
Một chút ánh sáng của những ngọn đèn có thể không đủ để xua đi cái tăm tối, ảm đạm, quẩn quanh
của cuộc sống. Tuy nhiên, Thạch Lam không dập tắt hi vọng của những con người khốn khổ ấy. Ông
mang đến cho họ niềm vui, hi vọng lớn lao hơn dù nó chỉ diễn ra trong chốc lát, đó là chuyến tàu đêm
rực rỡ ánh đèn. Chuyến tàu đêm qua phố huyện là niềm vui duy nhất trong ngày của chị em Liên và
những cư dân phố huyện. Nó mang đến một thế giới khác: ánh sáng xa lạ, âm thanh nao nức, tiếng ồn
ào của khách… và đối lập với nhịp điệu buồn tẻ nơi phố huyện. Chuyến tàu ở Hà Nội về chở đầy ký ức
tuổi thơ của hai chị em Liên, mang theo một thứ ánh sáng duy nhất, như con thoi xuyên thủng màn
đêm, dù chỉ trong chốc lát cũng đủ xua tan cái ánh sáng mờ ảo nơi phố huyện. Việc chờ tàu trở thành
một nhu cầu như cơm ăn nước uống hàng ngày của chị em Liên. Liên chờ tàu không phải vì mục đích
tầm thường là đợi khách mua hàng mà vì nhiều mục đích khác. Liên hi vọng được nhìn thấy những gì
khác với cuộc đời mà hai chị em Liên đang sống. Con tàu mang đến một kỷ niệm, đánh thức hồi ức vui
vẻ, đủ đầy mà chị em cô đã từng được sống. Chuyến tàu cũng giúp Liên nhìn thấy rõ hơn sự ngưng
đọng tù túng của cuộc sống phủ đầy bóng tối hèn mọn, nghèo nàn của cuộc đời mình. Có thể nói, Liên
là người giàu lòng thương yêu, hiếu thảo và đảm đang. Nỗi buồn cùng bóng tối đã tràn ngập trong đôi
mắt Liên, nhưng trong tâm hồn cô bé vẫn dành chỗ cho một mong ước, một sự đợi chờ trong đêm. Cô
là người duy nhất trong phố huyện biết ước mơ có ý thức về cuộc sống. Cô mỏi mòn trong chờ đợi.
Trong tác phẩm, hình ảnh chuyến tàu đêm là một biểu tượng có ý nghĩa sâu sắc. Nó là đại diện của
một thế giới thật đáng sống với sự giàu sang và sự rực rỡ ánh sáng. Nó đối lập với cuộc sống mòn
mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh với người dân phố huyện. Qua tâm trạng của Liên tác giả
muốn lay tỉnh những người đang buồn chán, sống quẩn quanh, lam lũ và hướng họ đến một tương lai
tốt đẹp hơn. Đó là giá trị nhân bản của truyện ngắn này. Bên cạnh đó, chuyến tàu cũng là biểu tượng
cho một cuộc sống sôi động, nhộn nhịp, vui vẻ, hiện đại. Dù chỉ trong giây lát nó cũng đưa cả phố
huyện thoát ra khỏi cuộc sống tù đọng, u ẩn, bế tắc.
Để làm nên thành công của tác phẩm, bên cạnh giá trị nội dung sâu sắc, không thể không kể đến tài
hoa nghệ thuật của Thạch Lam. Cốt truyện đơn giản, nổi bật là những dòng tâm trạng chảy trôi, những
cảm xúc, cảm giác mong manh, mơ hồ trong tâm hồn nhân vật. Đọc “Hai đứa trẻ”, người đọc hoàn
toàn có thể nhận ra câu chuyện gần như không có cốt truyện, tất cả chỉ đơn giản là những mảnh cảm
xúc, những chi tiết, sự việc nhỏ nhặt chắp nối với nhau qua suy nghĩ, cảm nhận của nhân vật Liên. Bút
pháp tương phản đối lập cũng được xem là một thành công của Thạch Lam trong quá trình kể chuyện.
Đó là sự đối lập giữa bóng tối đậm đặc với ánh đèn dầu leo lét, là sự đối lâp giữa cuộc sống quẩn
quanh, ảm đạm của người dân phố huyện với cuộc sống ồn ã, sôi động trên chuyến tàu đêm. Với sự
đối lập này, Thạch Lam hướng đến nhấn mạnh, tô đậm cuộc sống tăm tối, tù túng, vô vọng của những
cư dân nơi phố huyện. Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể dễ dàng nhận ra khả năng miêu tả sinh động
những biến đổi tinh tế của cảnh vật từ bóng tối đến ánh sáng và tâm trạng của con người mà đặc biệt
là nhân vật Liên. Đó có thể là buồn bã, cảm thông hay nuối tiếc… tất cả đều tinh tế và phù hợp với
diễn biến câu chuyện. Ngoài ra, cũng có thể kể đến hệ thống ngôn ngữ giàu hình ảnh, tượng trưng và
giọng điệu thủ thỉ, thấm đượm chất thỏ chất trữ tình sâu sắc. Tất cả đã góp phần làm nên chất văn của
Thạch Lam, đặc sắc và đầy thu hút.
Tóm lại, truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là tiếng nói xót thương đối với những kiếp người nghèo đói cơ cực,
sống quẩn quanh bế tắc, không ánh sáng, không tương lai, cuộc sống như cát bụi ở phố huyện nghèo
trước cách mạng tháng Tám. Qua những cuộc đời đó Thạch Lam làm sống dậy những số phận của một
thời, họ không hẳn là những kiếp người bị áp bức bóc lột, nhưng từ cuộc đời họ Thạch Lam gợi cho
người đọc sự thương cảm, sự trân trọng ước mong vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn của họ. Vì vậy tác
phẩm vừa có giá trị hiện thực vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc.
5. Phân tích bức tranh thành phố lúc chiều tàn
Trong thời kì văn học lãng mạn 1930 – 1945, “Tự lực văn đoàn” là nhóm bút phát triển với nguồn lực
mạnh mẽ gồm những cây viết độc đáo, sáng tạo và có tầm ảnh hưởng tới phần lớn nam thanh nữ tú
thời bấy giờ. Bên cạnh những bài thơ được ví như “ngôn tình thời xưa” viết bởi Xuân Diệu, Chế Lan
Viên,… Thạch Lam, một cái tên nổi bật trong làng truyện ngắn cũng xuất thân từ nhóm bút này. Với
“Gió đầu mùa”, “Nhà mẹ Lê”, truyện ngắn “Hai đứa trẻ” đã khẳng định chỗ đứng vững chãi của Thạch
Lam trong sự nghiệp văn học nước nhà. Tác phẩm đã khắc họa một cách chân thực, rõ nét nhưng cũng
không kém phần lãng mạn khung cảnh buổi chiều tàn bên con phố huyện vắng vẻ, điểm xuyết trong đó
là hình ảnh cô bé Liên với những dòng cảm xúc, hồi tưởng xốn xang, nao lòng.
Gọi là truyện, nhưng truyện ngắn của Thạch Lam thường không mang tính kể hay có diễn biến phức
tạp, rõ ràng. “Hai đứa trẻ” được viết giống như một chuyến du hành thời gian, có hiện tại, có quá khứ,
không có mở đầu hay tình huống thắt nút, tác giả muốn đặc tả không gian phố huyện nghèo ven
đường tàu, nơi niềm vui của những đứa trẻ con gói gọn vào việc ngắm nhìn đoàn tàu đêm. Sử dụng
chất liệu đời thường bình dị, bức tranh phố huyện trong tác phẩm hiện lên với vẻ ủ dột, buồn bã từ
con người đến cảnh vật, điểm xuyết vào đó là diễn biến tâm trạng cô bé Liên khi chứng kiến khoảnh
khắc tàn lụi của một ngày dài, mang đến cho người đọc những dòng cảm xúc xót xa và đồng cảm với
những mảnh đời côi cút nơi đây.
Bức tranh phố huyện được đặt vào khung cảnh hoàng hôn, trải qua một ngày dài, vạn vật đều mang
màu sắc ảm đạm thiếu sức sống. Bức tranh thiên nhiên buồn bã, não nề từ con người đến cảnh vật.
Ngày tàn, chợ vãn, những kiếp người bám trụ vào mảnh đất nghèo ven tàu,… tất cả tạo nên một
không khí phố huyện nghèo khổ, heo hút. Khung cảnh ngày tàn với âm thanh gợi từ “tiếng trống thu
không”, tiếng trống báo hiệu kết thúc một ngày lao động từ “trên cái chòi huyện nhỏ, từng tiếng một
vang ra để gọi buổi chiều”, “tiếng ếch nhái kêu ran” ngoài đồng ruộng, “tiếng muỗi vo ve”. Chiều hoàng
hôn buông làm phai mờ cảnh vật, màu chiều buồn báo hiệu một ngày đã hết. Rõ là tả âm thanh,
những âm thanh dai dẳng, réo rắt, nhưng người ta lại không cảm thấy sự vui tươi, nhộn nhịp của con
người sau một ngày làm việc hăng say nay được trở về nhà mà thay vào đó là sự não nề. Tiếng động
vật, tiếng trống vẳng lại từ xa, vậy vốn bản thân khu phố huyện ấy phải yên ắng thế nào, cô liêu thế
nào thì những âm thanh nhỏ bé ấy mới có thể khuấy động được cả không gian. Trên nền âm thanh ấy
là những hình ảnh, màu sắc đượm buồn, “Phương Tây đỏ rực như lửa cháy”, những đám mây “ánh
hồng như hòn than sắp tàn”. Màu của ráng chiều, màu cam, màu đỏ ối hòa quyện vào nhau, sắc hoàng
hôn chỉ có thể nhìn ngắm khi sống ở vùng nông thôn. Chỉ một lát nữa thôi, những sắc màu ấy sẽ bị
thay thế bởi màn đêm, bởi bóng tối bủa vây, bao trùm lên tất cả. Dường như, có một sự níu giữ, một
sự tiếc nuối trong câu văn của tác giả. Những con người ở phố huyện ấy phải chăng đang cố gắng cảm
nhận, lắng nghe và ghi nhớ những khoảnh khắc cuối cùng của ngày tàn. Một bức tranh phong cảnh
thiên nhiên quen thuộc mà sao buồn thương, cảm tưởng như có thể nghe thấy cả tiếng ếch kêu dai
dẳng ngoài vườn. Hoàng hôn đẹp đẽ, tráng lệ mà ảm đạm, não nề.
“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, trên cái nền không gian ấy, con người không dung cũng mang
nét đượm buồn, ủ dột. Cảnh phiên chợ tàn cùng sự xuất hiện của con người càng làm tăng thêm sự
xơ xác, tiêu điều của xóm huyện nghèo khổ. “Chợ đã vãn từ lâu”, “chỉ còn một vài người bán hàng về
muộn ở lại dọn hàng, họ trò chuyện vội vã với nhau vài câu”, “trên nền chợ chỉ còn lại rác rưởi, vỏ thị,
vỏ bưởi,…”. Con người xuất hiện tuy không lẻ loi, cô độc, nhưng cái nghèo dường như đã ăn vào máu
xương, vào cuộc sống của họ”, “những đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất,
đi tìm tòi, nhặt nhạnh những thanh nứa, thanh tre hay bất kì thứ gì còn sót lại”. Những đứa trẻ nhà
nghèo chỉ biết tìm những thứ người ta bỏ đi sau phiên chợ để có cái ăn, có đồ chơi. Những người dân
ỏ phố huyện này lần lượt được xây dựng với những tính cách đối lập, những hoàn cảnh khác nhau,
nhưng chung quy lại, họ chung nhau một chữ “nghèo”. “Mẹ con chị Tí ngày mò cua bắt ốc, đêm lại dọn
hàng nước bán, dù chăm chỉ làm lụng nhưng vẫn không đủ sống”, bà cụ Thi lúc nào cũng say xỉn,
nghiện rượu cùng tiếng cười khanh khách đầy ám ảnh, hai chị em Liên và An, những đứa trẻ tuổi đời
còn rất nhỏ nhưng đã tự coi giữ một cửa hàng tạp hóa giúp mẹ. Rồi gánh phở nhà bác Siêu, một thức
quà được coi là xa xỉ ở cái phố huyện quanh năm nghèo đói này, rồi gia đình bác xẩm mù sống bằng
nghề hát dạo qua ngày mong mỏi một chút hảo tâm của khách qua đường,.… Những số phận ấy,
những con người tưởng chừng như đang ngày một lụi tàn, héo mòn vẫn ngày ngày bám víu, nương
tựa vào mảnh đất này, cùng nhau tồn tại. Cuộc sống mòn mỏi, sống chỉ để cho qua ngày. Phải chăng,
cái nghèo, cái buồn chán đã bòn rút hết sức sống của họ, hay chính hoàn cảnh éo le đã đưa đẩy họ về
với vùng đất này, cảm thông và chia sẻ để cùng nhau kiếm sống…..
Bức tranh phố huyện tạm bợ, nghèo đói nay lại càng trở nên ủ dột dưới con mắt quan sát của cô bé
Liên. Là nhân vật trung tâm, điểm nhìn của tác giả cũng bắt nguồn từ nhân vật này. Cô bé cảm nhận
được sự tiêu điều nơi phố huyện, xót thương cho những số phận long đong lận đận nhà mẹ con chị Tí,
cho bà cụ Thi, tiếc nuối quãng thời gian gia đình khá giả còn được sống trên thành phố sung túc, đủ
đầy. Tâm hồn nhạy cảm, từng trải và lối suy nghĩ già trước tuổi, đứng trước khung cảnh ngày tàn, em
cảm nhận được “mùi âm ẩm bốc lên trộn lẫn với mùi cát bụi quen thuộc”, sự ẩm mốc lại trở thành
một thứ gì đó quen thuộc, ăn mòn vào cuộc sống. Đáng ra, trẻ con phải có một cái nhìn ngây thơ, non
nớt, lạc quan yêu đời, nhưng với Liên, cô như cảm nhận cùng cảnh vật, có yên tĩnh, có buồn thương,
có tiếc nuối, có buông bỏ. Dù trong hoàn cảnh cùng cực, em vẫn thấy được sự chăm chỉ, cần mẫn cố
gắng, yêu thương đùm bọc lẫn nhau của tình mẫu tử nhà mẹ con chị Tí, vẫn “rót đầy một cút rượu ty”
cho bà cụ Thi điên dở, động lòng thương những đứa trẻ nhặt rác nhưng đành ngậm ngùi quay đi vì
không có tiền cho chúng, và không quên dành tình cảm của một người chị cả trong nhà cho cậu bé An.
Liên là nhân vật duy nhất được miêu tả có diễn biến cảm xúc trong tác phẩm, đồng thời, Thạch Lam
cũng lấy điểm nhìn của Liên để miêu tả cảnh sắc buổi chiều của phố huyện nghèo ven đường tàu, qua
đó vừa đảm bảo tính cụ thể, chân thực trong miêu tả, vừa có tính trữ tình, lãng mạn theo cảm nhận
của một cô bé đang lớn.
Bức tranh phố huyện hiu hắt, buồn thương được Thạch Lam khắc họa bằng cả tài và tình, người đọc
vừa có dịp được sống trong không khí của một xóm quê nghèo, vừa đau xót, cám cảnh cho những số
phận bất hạnh, tẻ nhạt nơi đây. Nhưng ẩn sâu trong họ vẫn là niềm tin, là sự cố gắng, tin vào bản chất
tốt đẹp của con người và cùng mong chờ ánh sáng cuộc đời sẽ soi chiếu đến họ. Thiên nhiên đẹp và
buồn, sự quẩn quanh bế tắc của con người cũng đã đặt ra một nỗi băn khoăn cho người đọc về kiếp
đời sống mòn, đồng thời thể hiện sự tôn trọng, cảm mến với những con người luôn có ước mơ, nghị
lực. Giọng văn miêu tả độc đáo mà gần gũi đã làm nên cái chất Thạch Lam, làm nên tên tuổi để đời của
một thời kì văn học đỉnh cao của nước nhà.
6. Phân tích cảnh đợi tàu
“Mỗi truyện của Thạch Lam như một bài thơ trữ tình, giọng điệu điềm đạm nhưng chứa đựng biết
bao tình cảm mến yêu, chân thành và sự nhạy cảm của tác giả trước những biến thái của cảnh vật và
lòng người”. Quả thực đúng như vậy, những trang văn của Thạch Lam không đi vào những biến cố mà
đi sâu vào chiều sâu tâm trạng của con người. Cảnh chờ tàu của hai chị em Liên và An đã được tác giả
nắm bắt những chuyển biến tế vi nhất trong tâm trạng của hai nhân vật.
Liên và An vốn là những đứa trẻ đã từng sống ở thị thành, nhưng gia đình sa sút nên phải chuyển về
phố huyện nghèo. Liên và An tuy còn nhỏ tuổi nhưng cũng tham gia vào việc nuôi sống gia đình bằng
cách trông một cửa hàng nhỏ ở chợ. Quanh Liên cũng là biết bao kiếp sống nhỏ bé, mòn mỏi như chị
Tí cùng đứa con vất vả mưu sinh, chật vật để sống qua ngày, gia đình bác xẩm góp vào bằng tiếng đàn
bần bật trong yên lặng,… Cuộc sống nhàm chán, tẻ nhạt, quẩn quanh nhưng những con người nơi đây
vẫn luôn hướng về một ngày tươi sáng: “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi
sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ”. Đêm nào cũng vậy, dù buồn ngủ nhưng cả Liên và An
đều cố thức để chờ hoạt động cuối cùng của đêm, đó chính là đợi đoàn tàu khuya từ Hà Nội đi ngang
qua. Vì sao những đứa trẻ ngây thơ ấy lại phải cố gắng đợi đoàn tàu đi qua mới có thể ngủ? Có phải
chúng nghe lời mẹ dặn? Có phải cố nán lại để bán thêm phong kẹo, cái bánh từ những người khách
qua đường. Nhưng không phải “Liên và em cố thức là vì cớ khác, vì muốn được nhìn chuyến tàu đó là
sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya”.
Trong sự chờ đợi ấy chứa đựng cả những khao khát, ước mong cháy bỏng của những trái tim trẻ thơ
non nớt. Bởi vậy, An trước khi đi ngủ đã dặn chị: “tàu đến chị đánh thức em dậy nhé” khao khát của
chúng là vô thức nhưng cũng thật mãnh liệt. Chuyến tàu đi qua, mang đến một thế giới khác, thế giới
của âm thanh và ánh sáng rực rỡ. Trong thời gian đợi tàu xuất hiện, chị Liên thả tâm hồn mình vào vũ
trụ để cảm nhận hết thảy vẻ đẹp của thiên nhiên khi đêm về. Qua những kẽ lá bàng, “ngàn sao vẫn lấp
lánh” trên nền trời, những nụ hoa bàng nhỏ khẽ rơi trên vai chị. Tâm hồn Liên thả trôi theo những
cảm xúc bâng khuâng mà chính chị cũng cảm thấy mơ hồ không hiểu hết. Tiếng trống cầm canh ở
huyện đánh vang cùng với lời thông báo của bác Siêu: “Đèn ghi đã ra kia rồi” xua tan sự tĩnh mịch của
màn đêm, để chuẩn bị cho sự hoạt động cuối cùng của đêm – con tàu từ Hà Nội dần dần xuất hiện.
Ban đầu là ngọn lửa xanh biếc như ma trơi, rồi tiếp đến là làn khói trắng bừng lên từ xa. Liên gọi em
dậy và cả hai chị em quan sát kĩ từng chuyển động của chiếc tàu. Tiếng Liên gọi An: “Dậy đi An. Tàu
đến rồi” câu nói không đơn thuần chỉ là để gọi An dậy mà trong đó còn kèm cả sự vui thích, nó như
một tiếng reo vui, hối thúc em dậy để cùng ngắm nhìn khoảnh khắc đoàn tàu vụt qua.
Khoảnh khắc tàu đến, lòng hai chị em vui sướng, hân hoan đến lạ kì, dù chỉ là thoáng qua nhưng cũng
đủ để hai tâm hồn tinh tế ấy nắm bắt trọn vẹn sự vật, sự việc đang diễn ra trên tàu: “các toa đèn sáng
trưng, chiếu sáng cả xuống đường. Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố
những người, đồng và kền vàng lấp lánh, và các cửa kính sáng”. Con tàu trong khoảnh khắc đã chỉ còn
lại chiếc chấm đỏ nhỏ, rồi khuất sau rặng tre. Bé An hồn nhiên nhưng cũng đã nhận ngay ra dường
như tàu hôm nay không đông như mọi khi. Còn Liên thì đã nhận thấy sự thưa thớt cũng như kém sáng
hơn của đoàn tàu: “Chuyến tàu đêm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và hình như kém
sáng hơn”. Dẫu đoàn tàu hôm nay có kém sáng hơn, có kém đông vui hơn mọi khi nhưng nó từ Hà Nội
về, nó mang theo một thế giới khác hẳn đối với liên, đó là thế giới của ánh sáng, của niềm vui và của
hạnh phúc. Lòng cô bé trào dâng niềm vui, niềm hạnh phúc khó tả khi được sống lại những ngày xưa
khi cô được uống những cốc nước lạnh xanh xanh đỏ đỏ, và nhớ về một Hà Nội sáng rực, lấp lánh.
Đêm nào Liên và An cũng đợi tàu, dù có buồn ngủ díp mắt, chúng cũng phải chờ được đoàn tàu đi qua
mới ngủ. Đây không phải là một hành động ngẫu nhiên, vô nghĩa mà nó dường như là một nhu cầu,
một đòi hỏi thiết yếu đối với Liên và An. Đằng sau đó còn chứa đựng cả những mơ ước, khao khát về
một cuộc sống mới đẹp đẽ và hạnh phúc hơn. Hình ảnh những đoàn tàu vụt xuất hiện rồi biến mất
nhưng cũng đủ để chúng được trở lại, được sống với những kỉ niệm tuổi thơ êm ấm trước đây. Khao
khát chờ đoàn tàu đi qua cũng ánh lên những khát vọng mãnh liệt của những đứa trẻ, đó là khát vọng
đổi đời. Tại sao lại đặt khát vọng ấy vào hai nhân vật Liên và An mà không phải là chị Tí, bác Siêu, …
bởi chúng là những đứa trẻ, chúng là mầm non, là tương lai của cuộc sống. Bởi vậy, khao khát đổi đời
khi được tập trung thể hiện ở hai nhân vật sẽ trở nên ý nghĩa hơn, giàu sức gợi hơn. Đồng thời qua
khung cảnh đợi tàu, Thạch Lam cũng thể hiện thái độ cảm thương đối với những số phận người nhỏ
bé, bất hạnh phải sống mòn mỏi với cuộc đời chật vật, bế tắc; đồng thời ông cũng trân trọng, nâng niu
những khao khát, những ước mơ đẹp đẽ của Liên và An nói riêng, của những người dân phố huyện
nói chung. Không chỉ vậy, qua khung cảnh chờ chuyến tàu đêm, Thạch Lam còn dóng lên tiếng gọi tha
thiết, lay động tâm hồn người đọc: hãy thay đổi cuộc sống, khiến nó trở nên đẹp đẽ hơn, biến nó
thành môi trường sống lành mạnh để những đứa trẻ được sống cuộc hạnh phúc.
Với nghệ thuật miêu tả tâm lí và cảnh vật tài tình, cảnh đoàn tàu kết lại tác phẩm đã để lại dư âm, ấn
tượng sâu lắng trong lòng người đọc. Đóng lại cuốn sách người đọc vẫn không khỏi thổn thức trước
những số phận kiếp người mòn mỏi nơi phố huyện. Nhưng đồng thời cũng chân trọng, nâng niu
những mơ ước tha thiết, mãnh liệt của họ về một cuộc sống khác, về sự đổi đời.
7. Phân tích hình ảnh đoàn tàu
Thạch Lam là nhà văn, người chiến sĩ trên mọi thời đại, chính vì vậy ông luôn hiểu được những mong
muốn ước mong của những người dân nghèo, cảm thông và thấu hiểu được điều đó ông đã sáng tác
lên tác phẩm Hai đứa trẻ để qua đó người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn về cuộc sống, con người và
những ước mơ nhỏ nhoi của những đứa trẻ nơi đây.
Hình ảnh chuyến tàu đêm là tia sáng để gợi lên cho người đọc nhiều cảm xúc. Hình ảnh chuyến tàu
đêm trong tác phẩm đã thể hiện một ước nguyện to lớn, và nó để lại trong trái tim người đọc nhiều
cảm xúc, trước tiên khi để hình ảnh chuyến tàu đêm xuất hiện, tác giả đã miêu tả về cuộc sống, nghèo
khổ, nơi phố huyện tiêu điều, con người đang phải lo từng ngày về cuộc sống của mình. Nơi đây cuộc
sống tiêu tàn, cảnh phố huyện về chiều cũng làm cho người đọc cảm nhận được trái tim sâu rộng của
tác giả, khi hướng tới những số phận bất hạnh, hẩm hiu. Chính cuộc sống nghèo đói này làm cho họ
luôn mong muốn có được một điều gì đó nảy nở ra để cho họ bừng sáng, dù đó chỉ là trong phút chốc.
Ban ngày con người nơi đây cũng luôn phải đối mặt với những gian khổ, để có thể kiếm miếng cơm
manh áo cho mình, ban đêm đây là khoảng thời gian để họ nghỉ ngơi thì mọi người lại tấp nập với
cuộc sống của mình, cảnh chợ hoang sơ, vãn chợ chiều, nó tàn lụi, con người lại lao đầu vào một công
việc mới, có người đi hát xẩm, có người đi bán cháo, tất cả họ vẫn đang bận bịu với công việc đang
diễn ra. Cả hình ảnh hai đứa trẻ trong câu chuyện cũng để lại cho người đọc nhiều cảm xúc, bởi tình
cảm của nó đối với nơi phố huyện hoang tàn, nó luôn phải đối mặt với những cảnh đời khó khăn.
Trước đây hai đứa trẻ này đã được sống một cuộc sống sung sướng trên thành phố, được uống
những thứ nước xanh đỏ tím vàng… Tất cả đang trở thành quá khứ, nhiều khi cảm xúc của chúng
muốn quay lại một cuộc sống như xưa, nơi đây hiện tại mà hai đứa trẻ này đang sống quá nghèo đói,
đó là lý do mà hai đứa trẻ luôn chờ đợi hình ảnh chuyến tàu đêm.
Nơi phố huyện nghèo, cảnh vật vào ban đêm dường như tối tăm, và nó đã trở nên tiêu điều, mong
muốn muốn tìm được một nguồn ánh sáng mới, có thể soi sáng con đường cho họ, đây là những điều
vô cùng có ý nghĩa cho cuộc sống của họ. Cảnh phố huyện vẫn đang diễn ra, nhưng nó không phải là
một cuộc sống đầy đủ, mà con người vẫn đang phải cố gắng để có thể lo cho chính cuộc sống của
mình. Hình ảnh chuyến tàu đêm, không chỉ đem lại cho họ một nguồn sáng mới, họ có thể mong ước
một tương lai tươi sáng hơn, đó là những mong ước nhỏ nhoi, chính vì vậy Liên và An luôn chờ đợi
để có thể chứng kiến chuyến tàu đêm. Đối với cảnh phố huyện về đêm nó chỉ có những âm thanh của
những con côn trùng như ếch ngoài đồng… hay những tiếng hát dong, những tiếng hát xẩm của những
người đang kiếm sống, chính vì vậy, họ luôn mong muốn có một điều gì đó lạ lạ để cho họ có thêm
niềm hy vọng mới về chính cuộc đời của mình. Đây là những giây phút mà họ ngập tràn trong một ánh
sáng lớn, nó không còn là hình ảnh sáng lập lòe của những chiếc đèn dầu nữ, chính vì vậy, hình ảnh
chuyến tàu đêm đã thu hút sự chú ý, và mong đợi của tất cả mọi người. Nhất là đối với Liên và An, hai
đứa trẻ này trước đây đã được sống nơi phồn hoa đô thị, được chứng kiến những nơi giàu sang,
những ánh sáng lộng lẫy, được thưởng thức những cốc nước xanh đỏ… Chính vì vậy chuyến tàu này
cũng mang lại cho hai chị em những hoài niệm về một thời đã qua.
Khi chiếc tàu đến, nó tạo nên một không khí ấm áp hơn, lúc này đã có sự huyên náo của những tiếng
nói, tiếng cười của con người, họ đang mong chờ một luồng sáng mới để cho tâm hồn của họ ngập
tràn trong một không gian, rực rỡ và tươi vui, nhộn nhịp hơn. Những người dân nơi đây, họ đã phải
chịu những cuộc sống cực khổ, chính vì vậy họ luôn mong muốn có một tia hy vọng mới về chính cuộc
đời của họ. Trong bóng đêm đang dần che phủ lấy toàn bộ không gian nơi phố huyện, chỉ còn lại là
những tiếng leo lắt, những tiếng kêu thảm thiết của những người xin ăn, của những người kiếm tiền
bằng cách hát dong, của những người đi bán hàng… Tất cả cuộc sống của họ vẫn đang chật vật, và họ
phải kiếm từng đồng để cuộc sống của họ khấm khá hơn.
Mong đợi từng giây phút đoàn tàu đi đến, nhưng khi nó đi khỏi nơi đây tất cả dường như lại trở lại y
như cũ, nó tối tăm, và con người lại bắt đầu với công việc của mình, mỗi người một công việc, mặc dù
về đêm nhưng họ vẫn lao động miệt mài, chính cuộc sống khiến họ phải vất vả như vậy, họ mong đợi
có điều gì đó tốt hơn sẽ đến, họ mong chờ nguồn sáng mới, một cuộc sống tốt hơn. Đoàn tàu mang lại
cho họ tia hy vọng về cuộc sống, cũng chính là động lực để họ tiếp thêm cho chính cuộc đời của mình.
Hiu hắt trước không gian tối tăm, hoang vu, và tiêu điều của phố huyện, họ luôn mong đợi có được
một điều mới sẽ đến.
Khi đoàn tàu đi khỏi nơi đây tất cả lại trở về đúng vị trí của mình, bây giờ không còn tiếng còi, của
đoàn tàu, không còn những tia sáng rực rỡ, nữa, mà leo lắt chỉ còn ngọn lửa của chiếc đèn dầu.
Nhưng khi đoàn tàu đi họ lại mang trong mình những dòng tâm trạng của sự nuối tiếc, con tàu đã
mang lại cho họ một ước mơ về một tương lai tươi sáng hơn, chính vì vậy khi nó đi nó để lại cho con
người một sự nuối tiếc lớn lao, và cho con người những cảm giác rất hụt hẫng. Đoàn tàu đem lại cho
họ giây phút được hòa nhập, con người đang phát ra những tiếng nói tiếng cười, trước lúc đó thì
không gian nơi đây thực sự rất yên tĩnh và nó lạnh lẽo trong cảnh tiêu điều. Những đoàn tàu vẫn để lại
cho họ nhiều tia hy vọng để có được một cuộc sống mới tốt đẹp hơn.
Hy vọng bài viết trên đã cung cấp cho quý bạn đọc những thông tin hữu ích. Trân trọng cảm ơn.