Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA: HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ VÀ TMĐT
Ngành học: Hệ thống thông tin quản lý BÀI THẢO LUẬN TRIẾT:
Phân tích mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Liên hệ quá
trình đổi mới ở Việt Nam.
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Quỳnh Hương Mã lớp : 2181MLNP0221
Sinh viên thực hiện : Nhóm 2 Năm học: 2021- 2022 1 MỤC LỤC ĐỀ MỤC TRANG
A. PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .........4
I. KHÁI NIỆM LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ................................................4
1. Thực tiễn là gì? ................................................................................................... 4
2. Lý luận là gì? ...................................................................................................... 5
II. MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .............................6
1. Thực tiễn có vai trò quyết định đối với lý luận. .............................................. 6
2. Lý luận có tính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại thực tiễn. ..... 7
3. Nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn .............................................. 7
B. QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM ........................................................8
I. VIỆT NAM TRƯỚC THỜI KÌ ĐỔI MỚI .................................................8
1. Thực trạng .......................................................................................................... 8
2. Biện pháp (lúc bấy giờ) ...................................................................................... 9
3. Hậu quả ............................................................................................................. 11
4. Nguyên nhân ..................................................................................................... 12
II. VIỆT NAM SAU THỜI KÌ ĐỔI MỚI ................................................... 13
1. Thực trạng xã hội Việt Nam sau đổi mới ...................................................... 13
2. Phương hướng phát triển của việt nam ta sau thời kỳ đổi mới ................... 17
3. Ý nghĩa của việc quán triệt thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đối với xã
hội Việt Nam sau đổi mới. ................................................................................... 21
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 24
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ BIÊN BẢN HỌP NHÓM. ............. 25 2 LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ
chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta hiện nay, lý luận nhận thức, vấn đề cải tạo thực tiễn nền kinh tế luôn thu hút sự quan
tâm của nhiều đối tượng. Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự
phát triển của bất cứ hình thái kinh tế nào. Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức
và thực tiễn, phương pháp biện chứng... luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho
hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội. Nếu xuất phát từ một lập trường triết
học đúng đắn, con người có thể có được những cách giải quyết phù hợp với các vấn đề
do cuộc sống đặt ra. Việc chấp nhận hay không chấp nhận một lập trường triết học nào
đó sẽ không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận một thế giới quan nhất định, một cách lý giải
nhất định về thế giới, mà còn là sự chấp nhận một cơ sở phương pháp luận nhất định chỉ
đạo cho hoạt động. Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của
chủ nghĩa Mác. Lênin đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triết học
của chủ nghĩa Mác. Cho đến nay, chỉ có triết học Mác là mang tính ưu việt hơn cả. Trên
cơ sở nền tảng triết học Mác - Lênin, Đảng và Nhà nước ta đã học tập và tiếp thu tư
tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạo chính xác, đúng đắn để xây
dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Mặc dù có những khiếm
khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn,
phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước trong khu vực
và thế giới về mọi mặt. Chính những thành tựu của xây dựng chủ nghĩa xã hội và qua
mười năm đổi mới là minh chứng xác đáng cho vấn đề nêu trên. Hoạt động nhận thức
và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền
kinh tế ở nước ta là một vấn đề còn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất là trong quá trình
đổi mới hiện nay.Vì vậy, nhóm em quyết định chọn đề tài “ Mối quan hệ giữa lý luận
và thực tiễn. Liên hệ quá trình đổi mới ở Việt Nam”. 3
A. PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I. KHÁI NIỆM LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Thực tiễn là gì?
Thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản không chỉ của lý luận nhận
thức mácxít mà còn của toàn bộ triết học Mác –
Lênin nói chung.
* Quan điểm của triết học trước Mác:
- Điđơrô (nhà triết học Pháp): hiểu chưa đầy đủ về thực tiễn, cho rằng thực tiễn là hoạt
động thực nghiệm khoa học trong phòng thí nghiệm.
- Phoiơbắc (nhà triết học duy vật siêu hình người Đức): thực tiễn chỉ là những hoạt động
bẩn thỉu của các con buôn.
- Hêghen (nhà triết học duy tâm khách quan người Đức): thực tiễn chỉ là khái niệm, tư
tưởng thực tiễn chứ không phải bản thân thực tiễn với tư cách là hoạt động vật chất.
* Quan điểm triết học mácxít:
- Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con
người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
- Hoạt động thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ hoạt động vật chất của con người mà
chỉ là những hoạt động vật chất (để phân biệt với hoạt động tinh thần, hoạt động lý luận),
hay nói theo thuật ngữ của Mác là hoạt động vật chất "cảm tính" của con người.
- Hoạt động thực tiễn là hoạt động đặc trưng và bản chất của con người, được thực hiện
một cách tất yếu khách quan và được tiến hành trong các quan hệ xã hội, là hoạt động
mang tính năng động, sáng tạo, là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội loài người.
- Thực tiễn có những đặc trưng sau:
+ Thực tiễn chỉ là những hoạt động vật chất - cảm tính của con người hay nói khác đi là
những hoạt động vật chất mà con người cảm giác được, quan sát được trực quan được.
Hoạt động vật chất - cảm tính là những hoạt động mà con người phải sử dụng lực lượng
vật chất, công cụ vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để biến đổi chúng; trên cơ
sở đó, con người làm biến đổi thế giới khách quan và biến đổi chính bản thân mình.
+ Thực tiễn là hoạt động chỉ diễn ra trong xã hội, với sự tham gia đông đảo của mọi
người, luôn bị giới hạn bởi những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể và cũng trải qua các 4
giai đoạn lịch sử phát triển cụ thể. Do vậy, thực tiễn là những hoạt động mang tính lịch
sử - xã hội của con người.
+ Thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội để phục vụ
con người. Nói tới thực tiễn là nói tới hoạt động có tính tự giác cao của con người, khác
hẳn với hoạt động chỉ dựa vào bản năng, thụ động của động vật.
- Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, thực tiễn là một phạm trù triết học chỉ toàn bộ
hoạt động vật chất - cảm tính có tính lịch sử xã hội của con người nhằm mục đích cải
tạo tự nhiên và xã hội. Do vậy, ta có các dạng hoạt động thực tiễn cơ bản sau:
+ Hoạt động sản xuất vật chất : Thực tiễn không phải là toàn bộ hoạt động của con
người mà chỉ là những hoạt động vật chất, chứ không phải là hoạt động tinh thần (hay
còn gọi là hoạt động lý luận). Đó là những hoạt động mà con người phải sử dụng công
cụ vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làm thay đổi
chúng. Ví dụ hoạt động sản xuất ra của cải vật chất như xây nhà, đắp đê, trồng lúa,…
+ Hoạt động chính trị – xã hội: Thực tiễn là những hoạt động có tính lịch sử - xã hội.
Nghĩa là hoạt động thực tiễn là hoạt động của con người, diễn ra trong xã hội với sự
tham gia của đông đảo người, và trải qua những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định.
Trình độ và hình thức của hoạt động thực tiễn có sự thay đổi qua các thời kỳ khác nhau của lịch sử xã hội.
+ Hoạt động thực nghiệm khoa học : Thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm trực
tiếp cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ con người tiến bộ. Đặc trưng này nói lên tính mục
đích, tính tự giác của hoạt động thực tiễn. Trong hoạt động thực tiễn, con người phải sử
dụng các phương tiện, công cụ vật chất để tác động và tự nhiên, xã hội nhằm cải tạo,
biến đổi chúng cho phù hợp với mục đích, phục vụ cho nhu cầu của mình.
Trong ba loại trên, hoạt động sản xuất vật chất có vai trò quyết định đối với các loại hoạt
động thực tiễn. Còn hoạt động chính trị – xã hội là hình thức cao nhất của thực tiễn.
Hoạt động khoa học là loại hình đặc biệt nhằm thu nhận kiến thức từ tự nhiên và xã hội. 2. Lý luận là gì?
- Theo nghĩa chung nhất, lý luận là sự khái quát hóa những kinh nghiệm thực tiễn,
là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên, xã hội đã được tích lũy trong suốt quá
trình tồn tại của nhân loại.
5
- Xét về bản chất: lý luận là một hệ thống tri thức chặt chẽ mang tính trừu tượng khái
quát, đúc kết từ thực tiễn, được diễn đạt thông qua các khái niệm, phạm trù, nguyên lý,
quy luật... phản ánh bản chất của sự vận động, biến đổi, phát triển của sự vật, hiện tượng
trong thế giới khách quan.
Như vậy, lý luận là sản phẩm cao cấp của nhận thức, là tri thức về bản chất, quy luật của
hiện thực khách quan được hình thành trong mối quan hệ với thực tiễn.
Nhưng do là sản phẩm của nhận thức, nên lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
* Đặc trưng của lý luận:
- Lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao và tính lô gíc chặt chẽ. Bản thân của lý
luận là hệ thống tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn; thu được từ kinh
nghiệm, từ quan sát và thực nghiệm khoa học.
- Cơ sở của lý luận là những trí thức kinh nghiệm thực tiễn, không có kinh nghiệm thực
tiễn thì không có cơ sở để khái quát lý luận.
- Lý luận phản ánh được bản chất của sự vật, hiện tượng; nó phản ánh được mối liên hệ
bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng.
II. MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Thực tiễn có vai trò quyết định đối với lý luận.
- Thực tiễn là hoạt động sản xuất ra vật chất, còn lý luận là sản phẩm tinh thần phản ánh thực tiễn.
- Thực tiễn là cơ sở là động lực của lý luận, cung cấp cho lý luận các nguồn lực (kinh
nghiệm, bài học,...), vạch ra những tiêu chuẩn về đúng sai để từ đó giúp lý luận có thể
được đổi mới ,toàn diện hơn.
- Cũng nhờ những hoạt động của thực tiễn mà lý luận được vật chất hóa, hiện thực hóa,
có khả năng cải tạo thế giới khách quan của con người.
- Có một câu nói của triết gia Henri Poincaré đã chứng minh cho vai trò của thực tiễn:
“Thực nghiệm là nguồn sự thật duy nhất. Chỉ nó có thể dạy cho ta biết điều gì đó mới
mẻ; chỉ nó có thể cho ta sự chắc chắn.” 6
2. Lý luận có tính độc lập tương đối và tác động tích cực trở lại thực tiễn.
- Lý luận là “kim chỉ nam” soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo cho các hoạt động của thực tiễn.
Lênin từng khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”.
- Lý luận khi thâm nhập vào xã hội thì biến thành sức mạnh vật chất bởi lẽ việc thực
hành là việc vận dụng lý luận vào thực tiễn để tạo ra vật chất đáp ứng nhu cầu con người.
- Lý luận có thể dự kiến được sự vận động của sự vật trong tương lai, chỉ ra những
phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn.
- Lý luận khoa học làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động, tự giác, hạn chế
tình trạng mò mẫm, tự phát. Bác Hồ cũng đã từng ví “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”.
- Tuy nhiên, do lý luận mang tính gián tiếp và trừu tượng nên đôi khi lý luận đưa nhận
thức con người xa rời thực tiễn và trở nên ảo tưởng, vạch ra cho con người những lối đi
sai lệch dẫn đến sự thất bại trong việc đưa lý luận vào thực hành.
- Khả năng tiêu cực đó càng tăng lên nếu lý luận bị chi phối bởi những tư tưởng sai lệch,
không khoa học hoặc phản động. Vì vậy, không thể phủ nhận vai trò của lý luận nhưng
cũng không thể cường điệu hóa lý luận, coi thường thực tiễn và đưa lý luận tách rời khỏi thực tiễn.
Chính vì lý luận và thực tiễn đều có vai trò quan trọng với nhau nên việc quán triệt
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là vô cùng cần thiết, nhất là trong nhận
thức khoa học và hoạt động cách mạng của con người.
3. Nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Có một câu nói đã được công nhận từ lâu “Học phải đi đôi với hành” hay cũng như
Bác Hồ đã khẳng định: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản
của chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn
mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”.
Chính vì vậy, để giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống cần dựa theo các nguyên lý thống
nhất lý luận và thực tiễn như sau:
- Một là: Lý luận khoa học phải được hình thành trên cơ sở thực tiễn, xuất phát từ thực
tiễn, bằng con đường tổng kết thực tiễn. 7
- Hai là: Thực tiễn phải luôn được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận khoa học, nếu
không sẽ là thực tiễn mù quáng, mò mẫm.
B. QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
I. VIỆT NAM TRƯỚC THỜI KÌ ĐỔI MỚI
Do chưa nhận thức đầy đủ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường,
chưa gắn lý luận với thực tế điều kiện, hoàn cảnh ở nước ta nên đã chủ quan, nóng vội,
bỏ qua những bước đi cần thiết. 1. Thực trạng
+) Trước Cách mạng Tháng 8 (1945)
Các ngành sản xuất vật chất là nông nghiệp và công nghiệp chịu tác động nặng nề
của chế độ thực dân kiểu cũ nên rất lạc hậu. Trong nông nghiệp, thực dân Pháp tiếp tục
duy trì kiểu bóc lột phong kiến bằng tô tức, sưu cao thuế nặng. Người nông dân phải
chịu cảnh một cổ hai tròng là thực dân và phong kiến. Phần lớn ruộng đất tập trung vào
tay bọn địa chủ và chủ đồn điền người Pháp.
+) Sau Cách mạng Tháng 8 1945 đến 1955
Cùng với nhiệm vụ thực hiện cuộc kháng chiến chống chiến tranh xâm lược của thực
dân Pháp, chúng ta đã thực hiện chuyển nền kinh tế tàn tích thực dân, phong kiến và
thấp kém thành nền kinh tế dân chủ, độc lập phục vụ nhu cầu kháng chiến và kiến quốc.
Cùng với nỗ lực đẩy mạnh sản xuất, sự nghiệp giáo dục-chống giặc dốt được coi là
một trong những nhiệm vụ hàng đầu, đi đôi với chống giặc ngoại xâm, giặc đói. Từ 1946
đến 1954 có 10,5 triệu người thoát nạn mù chữ.
Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, kiệt quệ vì sự bóc lột lâu dài của đế quốc và
phong kiến, dân tộc ta đã đứng lên kháng chiến 9 năm gian khổ chống thực dân Pháp,
kết thúc bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.
+) Từ năm 1955 đế năm 1975
Miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội xuất phát từ một nền kinh tế hết sức
nghèo nàn lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Song, dưới sự lãnh đạo của Đảng
và Chính phủ, được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân miền Bắc không
những làm tròn sứ mệnh là hậu phương lớn đối với miền Nam ruột thịt, đánh thắng cuộc 8
chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, mà còn giành được những thắng lợi to lớn trong
công cuộc cải tạo và xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa và nâng cao đời sống nhân dân.
+) Thời kì 1976 - 1986
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cách mạng Việt
Nam chuyển sang giai đoạn mới - giai đoạn cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
2. Biện pháp( lúc bấy giờ)
* Cơ chế quản lý kinh tế:
Trước Đổi Mới, cơ chế quản lý kinh tế ở Việt Nam là cơ chế kế hoạch hoá tập trung
với những đặc điểm sau:
- Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống
chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới. Các doanh nghiệp hoạt động trên
cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao.
- Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn; định giá sản phẩm, tổ chức bộ
máy, nhân sự, tiền lương... đều do các cấp có thẩm quyền quyết định. Nhà nước giao chỉ
tiêu kế hoạch cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản phẩm
cho Nhà nước. Lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu.
- Quan hệ hàng hóa - tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là chủ yếu.
Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ "cấp phát - giao nộp".
- Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên
theo định mức qua hình thức tem phiếu. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu áp dụng
sổ gạo vào khoảng năm 1960, lúc đầu là lương thực, sau thêm tem phiếu cho tất cả các
mặt hàng nhu yếu. Pin, Vải vóc, phụ tùng xe đạp, đường cát, sữa đặc, chất đốt, nước
mắm, mỡ, muối, tất cả đều có tem phiếu.
- Việt Nam thực hiện hai kế hoạch: 5 năm lần thứ II (1976-1980) và 5 năm lần thứ III
(1981-1985). Nhà nước Việt Nam xem kế hoạch hóa là đặc trưng quan trọng nhất của
nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu.
* Nông nghiệp: 9
- Nông nghiệp ở miền Bắc được hợp tác hóa. Năm 1976, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản
Việt Nam ra Chỉ thị số 43 có nội dung "Xóa bỏ bóc lột ở nông thôn, đưa nông dân đi
vào con đường hợp tác hóa nông nghiệp, tiến lên chủ nghĩa xã hội, phát huy quyền làm
chủ tập thể của nhân dân lao động".
- Nhà nước tập thể hóa các loại máy cày, máy kéo dưới 26 mã lực, tổ chức thành các đội
công cụ cơ giới trong hợp tác xã; những loại máy có công suất 26 mã lực trở lên được
tổ chức thành tập đoàn máy nông nghiệp do Ủy ban Nhân dân huyện quản lý, quyền sở
hữu máy thuộc tập thể và tổ viên được trả công theo lao động.
- Nhà nước tổ chức khai hoang được gọi là "mở vùng kinh tế mới" với sự tham gia của
nhân dân và quân đội. nhà nước Việt Nam vận động 1,5 triệu người dân thành thị đi xây
dựng các vùng kinh tế mới nhằm giảm áp lực dân số tại các đô thị.
* Công nghiệp:
- Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội, đưa nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ưu tiên phát
triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công
nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu
công - nông nghiệp; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan
hệ sản xuất mới, kết hợp kinh tế với quốc phòng.
- Trong 10 năm 1975-1986, Nhà nước đã đầu tư vào ngành công nghiệp 65 tỷ đồng (tính
theo giá 1982) trong đó, đầu tư cho công nghiệp nặng là trên 70% và công nghiệp nhẹ
gần 30%. Đầu tư công nghiệp chiếm trên 40% tổng vốn đầu tư vào khu vực sản xuất với
tốc độ tăng đầu tư cao hơn mức bình quân của toàn bộ khu vực sản xuất. Trong thời kỳ
này, nhiều công trình tương đối lớn được xây dựng.
* Thương nghiệp:
- Nhà nước Việt Nam chủ trương cải tạo thương nghiệp tại miền Nam để tiêu diệt giai
cấp tư sản mại bản, chấm dứt sự kiểm soát của người Hoa trong ngành bán buôn và bán
lẻ; chống đầu cơ, làm ăn phi pháp, làm mất ổn định đời sống kinh tế - xã hội; xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Nhà nước cũng chú trọng xây dựng hệ thống thương nghiệp quốc
doanh bằng cách điều động hàng vạn cán bộ ngành Thương mại vào miền Nam xây 10
dựng các cơ quan quản lý cấp Sở, Ty đồng thời xây dựng mạng lưới thương mại ở các địa phương phía Nam. * Văn hóa:
- Nhà nước chú trọng chống mê tín dị đoan, phổ biến khoa học. Báo chí không có quảng
cáo thương mại. Các tờ báo rất giống nhau về quan điểm, tư tưởng, chỉ khác là phục vụ
cho các đối tượng khác nhau, không chạy theo lợi nhuận, được bao cấp. Các văn nghệ
sĩ sinh hoạt trong các cơ quan tổ chức của nhà nước, được nhà nước trả lương như công chức. * Xã hội:
- Nhà nước khá thận trọng với người phương Tây, người nước ngoài vì khác biệt tư
tưởng và các vấn đề an ninh. Người Việt phần lớn không được tiếp xúc với người ngoại
quốc, ai vi phạm sẽ bị công an tra hỏi. Du lịch không được quan tâm, xuất nhập cảnh rất
gắt gao. Giáo dục, y tế được bao cấp dù khá nghèo nàn về trang thiết bị. Học sinh được
đi học miễn phí, sinh viên ra trường đều có việc làm nhưng chịu sự phân công của nhà
nước, không được tự lựa chọn công việc, không bị thất nghiệp. * Giáo dục:
- Phát triển hệ thống giáo dục phổ thông đại trà đến tận cấp xã; mỗi xã, phường đều có
trường phổ thông cấp I hoặc trường phổ thông cấp I-II; tập trung cho công tác bổ túc
văn hóa và xóa mù chữ trong độ tuổi đi học; mỗi quận, huyện và thị xã có trường bổ túc
văn hóa cho cán bộ cơ sở. * Y tế
- Hóa đơn khám chữa bệnh hay mua thuốc được mang về cơ quan hay bệnh viện thanh
toán mà không mất tiền. Bộ Y tế có cả Vụ kế hoạch, Cục Vật tư làm nhiệm vụ phân chỉ
tiêu cho các bệnh viện. Các bệnh viện thời bao cấp có quy mô nhỏ, chủ yếu kiểu nhà
một tầng đến ba tầng. 3. Hậu quả
Hậu quả của những sai lầm xuất phát sự nhận thức yếu kém về lý luận và xa rời
thực tiễn đã làm cho đường lối chính sách của Đảng ta đề ra không phù hợp với thực
tiễn nên đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội: Nhiều vấn đề mấu chốt 11
và thiết yếu nhất của cuộc sống nhân dân (ăn, mặc, ở) vẫn chưa được giải quyết đầy đủ;
đất nước chưa có những thay đổi sâu sắc và triệt để trong phương thức phát triển; tình
trạng mất cân đối trong nền kinh tế ngày càng trầm trọng; nhiệt tình lao động và năng
lực sáng tạo của nhân dân, tài nguyên và các nguồn lực chưa được khai thác, phát huy
đầy đủ, thậm chí bị xói mòn tạo nên sự bảo thủ trì trệ của đời sống xã hội. Những mất
cân đối và nguy cơ bất ổn định tiềm tàng trong đời sống kinh tế - xã hội bị tích nén lại.
Lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước
giảm sút. Vấn đề cấp bách đặt ra cho Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam lúc này là
tìm kiếm cách thức phát triển mới có khả năng đáp ứng các mục tiêu của sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó quan trọng nhất là phải tháo gỡ các ràng buộc về cơ chế
và thể chế để giải phóng các nguồn lực phát triển của đất nước. 4. Nguyên nhân
- Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần còn tồn tại trong thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và
vận dụng đúng lý luận và thực tiễn vào tình hình nước ta.
- Cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp về căn bản vẫn chưa bị xóa bỏ, quá tập trung
quyền lực nhà nước. Cơ chế mới chưa được thiết lập đồng bộ, nhiều chính sách, thể chế
lỗi thời chưa được thay đổi. Tình trạng tập trung quan liêu còn nặng, đồng thời những
hiện tượng vô tổ chức, vô kỷ luật còn khá phổ biến.
- Chậm đổi mới cơ chế và bộ máy quản lý, thiếu hiểu biết và ít kinh nghiệm quản lý
nhưng lại chưa chú trọng tổng kết kinh nghiệm.
- Cải tạo một cách gò ép, chạy theo số lượng không coi trọng chất lượng, buông lỏng
quản lý. Một số cải tiến được đưa ra nhưng mang tính chắp vá, thiếu đồng bộ, không ăn
khớp thậm chí trái ngược nhau.
- Chủ trương tập trung cho công nghiệp hóa đất nước mà chủ lực là phát triển công
nghiệp nặng mà không chú ý đến điều kiện vật chất và lực lượng sản xuất của ta còn
chưa tương xứng, với xuất phát điểm còn rất thấp từ một nền kinh tế lạc hậu, sản xuất
nông nghiệp là chính, trình độ lực lượng sản xuất không cao, sản xuất thủ công là chủ yếu 12
- Chúng ta mới nêu ra được phương hướng chủ yếu của cơ chế mới, hình thức, bước đi,
cách làm cụ thể thì còn nhiều vấn đề chưa giải quyết được thoả đáng cả về lý luận và
thực tiễn. Đòi hỏi cấp thiết phải thay đổi mô hình cũ bằng mô hình mới phù hợp hơn để
đưa đất nước khỏi khủng hoảng.
II. VIỆT NAM SAU THỜI KÌ ĐỔI MỚI
1. Thực trạng xã hội Việt Nam sau đổi mới
a, Thực trạng ở Việt Nam
* Về xã hội
- Từ chỗ Nhà nước bao cấp toàn bộ trong việc giải quyết việc làm đã dần chuyển trọng
tâm sang thiết lập cơ chế, chính sách để các thành phần kinh tế và người lao động đều
tham gia tạo việc làm; từ chỗ không chấp nhận có sự phân hóa giàu - nghèo đã đi đến
khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo.
- Phát triển quy mô giáo dục, nâng cao cơ sở vật chất, bắt đầu nâng cao chất lượng đào
tạo từng bước đáp ứng về nguồn nhân lực.
- Củng cố và phát triển các hệ thống các cơ sở y tế, giúp người dân dễ dàng tiếp cận với
các dịch vụ y tế hơn. Bên cạnh đó, chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế,
đáp ứng tốt nhu cầu khám chữa bệnh của bệnh nhân...
- Luôn quan tâm đến công tác đảm bảo an sinh xã hội. Diện thụ hưởng chính sách an
sinh xã hội ngày càng mở rộng, nâng cao mức hỗ trợ, đặc biệt là người nghèo, đồng bào dân tộc, thiểu số.
* Về Chính Trị
Nội dung trọng tâm của đổi mới chính trị ở nước ta là đổi mới tư duy chính trị và đổi
mới hệ thống chính trị. Thành tựu nổi bật của hơn 30 năm đổi mới chính trị là Đảng ta
tiếp tục bổ sung, phát triển lý luận về con đường quá độ lên CNXH và các nội dung
chính trị chính yếu, góp phần hoạch định những quyết sách chính trị của Đảng trong quá
trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) 13
- Thứ nhất, Đảng ta tiếp tục bổ sung, phát triển lý luận về con đường quá độ lên CNXH:
Mặc dù thế giới có nhiều biến động, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vững định hướng
xã hội chủ nghĩa trên con đường đi lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Những
chủ trương và giải pháp của Đảng theo ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, qua lịch sử
đã chứng minh tính đúng đắn con đường đã chọn. Bài học chung cho mọi quyết sách
trong thời đại hiện nay là tiếp tục làm sâu sắc hệ giá trị phát triển Việt Nam theo con
đường đã chọn; tìm ra chủ trương, giải pháp, cách ứng xử tốt nhất trong mọi tình huống,
bước ngoặt chiến lược của cách mạng trong tình hình mới; để tiếp tục kiến giải một cách
khoa học con đường quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa mang bản sắc Việt Nam.
- Thứ hai, những nội dung lý luận chính trị cơ bản góp phần hoạch định các quyết sách
chính trị của Đảng trong quá trình đổi mới đi lên CNXH ở Việt Nam: Đảng ta lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho
hành động. Từ đó, định hướng, định hình và định tính CNXH mà nhân dân ta xây
dựng. Công tác lý luận đã xác định mô hình (định hình) CNXH mà nhân dân ta xây dựng
có 8 đặc trưng và 8 mối quan hệ lớn. Theo đó, công tác lý luận đã định tính CNXH trên
từng lĩnh vực chủ yếu của công cuộc đổi mới như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an
ninh, quốc phòng, đối ngoại… Đồng thời chỉ rõ những khía cạnh cần đề phòng chệch
hướng xã hội chủ nghĩa… Định hướng, định mô hình và định tính CNXH của Đảng ta
là bước khởi nguyên và cũng là quan điểm chỉ đạo quán xuyến toàn bộ sự nghiệp xây dựng CNXH.
* Về kinh tế
- Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với một cơ cấu hợp lí,
một nền kinh tế phát triển theo những quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời chịu sự
chi phối bởi bản chất và những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội.
- Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp,
quyền bình đẳng của các thành phần kinh tế; khuyến khích mọi thành phần kinh tế sản
xuất, kinh doanh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. 14
- Cải tạo quan hệ sản xuất, cải tạo đi đôi với sử dụng, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp
với trình độ của lực lượng sản xuất. Đây là nhiệm vụ thường xuyên trong suốt thời kì
quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Xóa bỏ cơ chế quản lí kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường
có sự quản lí của nhà nước. Quản lí nền kinh tế không phải bằng những mệnh lệnh hành
chính, mà bằng những biện pháp kinh tế, khuyến khích lợi ích vật chất.
- Thực hiện nhiều hình thức phân phối, chủ yếu là phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế.
- Thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng
sự phân công lao động và hợp tác kinh tế quốc tế, tích cực khai thác nguồn vốn, công nghệ và thị trường.
b. Kết quả của công cuộc đổi mới
* Về kinh tế:
– Việc thực hiện Ba chương trình kinh tế lớn (lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng
và hàng xuất khẩu) trong 10 năm 1986 – 1996 đạt được những kết quả quan trọng:
+ Về lương thực – thực phẩm, từ chỗ thiếu ăn, đến năm 1990, Việt Nam đã vươn lên
đáp ứng nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu. Năm 1988 đạt 19,5 triệu tấn, năm
1989 đạt 21,4 triệu tấn.
+ Hàng tiêu dùng trên thị trường dồi dào, đa dạng về mẫu mã, chất lượng ngày càng
nâng cao, lưu thông thuận lợi, một số mặt hàng sản xuất trong nước đã hoàn toàn thay thế hàng nhập khẩu.
+ Kinh tế đối ngoại ngày càng mở rộng, hàng xuất khẩu ngày càng tăng, từng bước tiến
tới cân bằng giữa xuất và nhập khẩu.
– Đến năm 1996, đất nước đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng về kinh tế – xã hội.
Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu tiên là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã 15
căn bản hoàn thành; chuyển sang thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhằm
phấn đấu đến năm 2020 căn bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
+ Nền kinh tế tăng trưởng nhanh (tổng sản phẩm trong nước tăng bình quân trong 5 năm
1991 – 1995 là 8,2%; trong năm 1996 – 2000 là 7%.
+ Cơ cấu các ngành kinh tế từng bước dịch chuyển theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá; từng bước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước.
+ Kiềm chế được lạm phát.
+ Hoạt động ngoại thương ngày càng phát triển. Năm 1990, lần đầu tiên Việt Nam xuất
khẩu 1,5 triệu tấn gạo, vươn lên hàng những nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới.
Đến năm 2000, Việt Nam có quan hệ mậu dịch với trên 100 nước và vùng lãnh thổ.
Tổng số vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng. Các doanh
nghiệp Việt Nam cũng từng bước mở rộng đầu tư ra các nước trên thế giới.
+ Những khó khăn – yếu kém: Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, năng xuất lao động,
hiệu quả và sức cạnh tranh thấp; lạm phát vẫn ở mức cao; tình trạng tham nhũng, lãng
phí chưa được ngăn chặn; sự phân hoá giàu nghèo giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn gia tăng…
* Về chính trị – xã hội
- Tình hình chính trị – xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng – an ninh được tăng cường.
Bước đầu thực hiện dân chủ hoá và công khai hoá các hoạt động xã hội.
- Đã giải quyết ngày càng tốt hơn các vấn đề xã hội như lao động và việc làm, xoá đói
giảm nghèo, phát triển sự nghiệp văn hoá, y tế, giáo dục, khoa học – công nghệ, thể dục
thể thao… Tỉ lệ đói nghèo trên cả nước 1995 là 20%, năm 2000 còn 10% đến 2005 chỉ còn 7%.
- Mở rộng quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây cấm vận; bình thường hoá và phát triển
quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Hoa Kì…; chủ động hội nhập quốc tế, tham gia các 16
tổ chức quốc tế: ASEAN, APEC, WTO… Việt Nam tham gia tích cực vào các hoạt động
của cộng đồng quốc tế. Đến năm 2000, Việt Nam có quan hệ với 140 nước trên thế giới,
quan hệ đầu tư với gần 70 nước và vùng lãnh thổ.
- Bộ máy và đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở các cơ quan Trung ương và địa phương được sắp
xếp lại. Ngày 19-4-1987, cuộc bầu cử Quốc hội khóa VIII đã diễn ra dân chủ hơn so với các kì bầu cử trước.
- Quốc phòng được giữ vững, an ninh quốc gia được bảo đảm. Từng bước phá thế bao
vây về kinh tế và chính trị, mở rộng quan hệ quốc tế, tạo ra môi trường thuận lợi hơn
cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
2. Phương hướng phát triển của việt nam ta sau thời kỳ đổi mới
* Về kinh tế
- Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý
luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc
hơn về thời kỳ đi lên của kinh tế.
- Những tư tưởng về phát triển kinh tế mới được nhận thức để trở thành lý luận cơ sở
nhằm xây dựng và thực thi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Có thể thấy rõ quá trình
phát triển lý luận qua 2 giai đoạn:
+) Giai đoạn 1: 1986 -2000: Đây là giai đoạn đầu hình thành lý luận về phát triển kinh tế ở Việt Nam.
Trong giai đoạn này, những nét cơ bản của nội dung phát triển kinh tế đã được định hình
với các yếu tố tăng trưởng kinh tế, tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh
thái. Các yếu tố này được đặt trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đó tăng
trưởng kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện vật chất để đạt được các
yếu tố khác. Đây là nét sáng tạo trong vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để
phát triển kinh tế trong điều kiện chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. 17
+) Giai đoạn 2: từ năm 2001 đến nay: Đây là giai đoạn phát triển hệ thống lý luận về
phát triển kinh tế ở Việt Nam.
Để đạt được những lý luận những mục tiêu đã đặt ra chúng ta đã thực hiện những phương
hướng phát triển (cụ thể được nêu dưới đây) để làm sao áp dụng cho phù hợp với thực
tiễn của nền kinh tế Việt Nam:
- Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức.
- Phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng
trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước,
từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển.
- Mở rộng quan hệ với các nước, các tổ chức quốc tế, trong đó chú trọng phát triển kinh
tế đối ngoại trên quan điểm Việt Nam là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước và
các tổ chức kinh tế quốc tế.
- Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy
tăng trưởng nhanh, bền vững trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị.
- Tăng cường huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư của nền kinh tế.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng và
phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ.
- Phát huy giá trị văn hoá, con người Việt Nam và sức mạnh toàn dân tộc, thực hiện tiến
bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm gắn kết hài hòa giữa phát
triển kinh tế với xã hội.
- Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý tài
nguyên và bảo vệ môi trường.
* Về chính trị 18
- Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại;
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
- Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.
- Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa.
- Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa
xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến
đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Đảng lãnh đạo và cầm quyền, trong khi xác định phương hướng chính trị và đề ra quyết
sách, không thể chỉ xuất phát từ thực tiễn của đất nước và dân tộc mình, mà còn phải
nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm từ thực tiễn của thế giới và thời đại.
- Và điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư
tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai
cấp công nhân và quần chúng lao động.
* Về xã hội
- Chuyển nền kinh tế từ mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để năng động hóa và đẩy nhanh nhịp độ tăng
trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân.
- Kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn
hóa, bảo vệ môi trường.
- Dân chủ hóa đời sống xã hội theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra", đồng thời xây dựng một nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. 19
- Mở cửa tăng cường giao lưu, hợp tác với các nước trên thế giới theo tinh thần: "việt
nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu
vì hòa bình, độc lập và phát triển"
- Nêu cao vai trò của chính sách xã hội, xem trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật
chất để thực hiện chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực quan
trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế
- Có cơ chế, chính sách hỗ trợ để người lao động tự tạo ra việc làm cho mình và cho
người khác. khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo.
- Tôn trọng lợi ích chính đáng của mọi giai tầng xã hội, thực hiện chế độ phân phối chủ
yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng
các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội.
- Xem giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm phát huy nguồn lực con người
- Yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. thực hiện
công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành.
- Phát triển sự nghiệp y tế, phấn đấu giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi
thọ và phát triển giống nòi
- Đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chiến lược, chương trình, kế hoạch, dự án
phát triển; tạo điều kiện cho ai nấy đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình.
- Tiếp tục nâng cao nhận thức cho toàn thể giảng viên về sự cần thiết của việc nghiên
cứu, vận dụng nguyên tắc “lý luận gắn với thực tiễn" của hồ chí minh trong hoạt động
giảng dạy tại nhà trưởng.
- Đội ngũ giảng viên cần phải thường xuyên thực hiện công tác nghiên cứu lý luận thông
qua việc tích cực tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng về trình độ chuyên môn; thông
qua việc nghiên cứu tài liệu, sách, báo... nhằm nắm vững kiến thức về lý luận. 20