MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................................1
A. NỘI DUNG.....................................................................................................................1
Phần 1: sở thuyết về ngân sách nhà nước bội chi ngân sách nhà nước.............1
1.1. Tổng quan về ngân sách nhà nước.............................................................................1
1.2. Tổng quan về bội chi ngân sách nhà nước.............................................................2
1.3. Nguyên nhân dẫn tới bội chi ngân sách nhà nước.................................................3
1.3.1. Tác động của chính sách cấu thu chi của Nhà nước......................................3
1.3.2. Sai lầm trong chính sách, trong công tác quản kinh tế - tài chính, bất cập
của quá trình phân cấp NSNN cho địa phương, điều hành ngân sách không hợp lý,…;. 3
1.3.3. Tác động của chu kỳ kinh tế...............................................................................3
1.3.4. Một số nguyên nhân khác: thiên tai, dịch bệnh, địch họa…...............................4
Phần 2: Thực trạng về bội chi ngân sách nhà nước hiện nay...........................................4
2.1. Tổng quan về bội chi NSNN Việt Nam................................................................4
2.2.1. Tác động của chính sách cấu thu chi của Mỹ EU.....................................6
2.2.2. Sai lầm trong chính sách, trong công tác quản kinh tế - tài chính, bất cập
của quá trình phân cấp NSNN cho địa phương, điều hành ngân sách không hợp lý,…...6
2.2.3. Tác động của chu kỳ kinh tế 1 snước đang phát triển..................................7
2.2.4. Một số nguyên nhân khác: thiên tai, dịch bệnh, địch họa Nhật Bản…............7
2.3.1. Ưu điểm kết quả.............................................................................................8
2.3.2. Hạn chế thách thức........................................................................................9
Phần 3: Định hướng xử bội chi ngân sách nhà nước.....................................................9
B. KẾT LUẬN..................................................................................................................11
A. LỜI MỞ ĐẦU
Ngân sách nhà nước một công cụ chính sách kinh tế đắc lực, hiệu quả giúp cho Nhà
nước hoàn thành tốt mọi chức năng, nhiệm vụ của mình. Trong những năm qua thì vai trò
của ngân sách nhà nước nước ta đã thể hiện trong việc giúp nhà nước hình thành các
quan hệ thị trường góp phần kiểm soát lạm phát, tỷ lệ lãi suất thích hợp để từ đó làm lành
mạnh nền tài chính quốc gia, đảm bảo sự ổn định phát triển của nền kinh tế. Nhằm điều
tiết nền kinh tế có hiệu quả ng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính, Đảng
Nhà nước đã rất nhiều biện pháp kịp thời hiệu quả trong việc nâng cao hiệu quả quản
thu-chi ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó thì ngân sách nhà nước vẫn còn các
mặt còn tồn tại như việc sử dụng ngân sách chưa đúng lúc đúng cách, syếu kém trong việc
quản thu chi đã đặt ra cho ta thấy cần cái nhìn sâu hơn về tình trạng bội chi ngân sách
nhà nước ảnh hưởng của tới các hoạt động kinh tế hết sức rộng lớn.Việc xử bội
chi ngân sách nhà nước một vấn đề nhạy cảm, bởi không chỉ tác động trước mắt đối
với nền kinh tế còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Trong phạm vi của môn học với đề tài: “Phân tích các nguyên nhân dẫn tới bội chi ngân
sách nhà nước” nhóm em xin đề cập đến một số mục tiêu như sau: sở thuyết về ngân
sách nhà nước bội chi ngân sách nhà nước, chỉ ra những bất cập về cân đối bội chi
ngân sách nhà nước nước ta một số các quốc gia trên thế giới, làm hơn về những
nguyên nhân dẫn tới bội chi ngân sách nhà nước từ đó đề xuất những kiến nghị giải pháp xử
bội chi ngân sách nhà nước. Dựa trên sở đó kết cấu của bài tiểu luận 3 phần:
Phần 1: sở thuyết về ngân ch nhà nước bội chi ngân sách nhà nước.
Phần 2: Thực trạng về bội chi ngân ch nhà nước.
Phần 3: Định hướng xử bội chi ngân sách nhà nước.
B. NỘI DUNG
Phần 1: sở thuyết về ngân sách nhà nước bội chi ngân sách nhà nước
1.1. Tổng quan về ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước được dự toán thực
hiện trong 1 khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước thẩm quyền quyết định để
đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
1
Về mặt nội dung: toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước. Trong đó “thu” tất
cả các nguồn tiền được huy động cho nhà nước; còn “chi” bao gồm tất cả các khoản chi
các khoản hoàn trả khác của Nhà nước. Các khoản thu chi được xác định bởi những con
số cụ thể nhằm xác định khnăng tạo nguồn kinh phí để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà
nước, đồng thời tạo thế cân bằng, sự chủ động trong hoạt động của ngân ch nhà nước.
Về mặt pháp lý: Các khoản thu chi này phải nằm trong dự toán được quan Nhà
nước thẩm quyền quyết định. Ngân sách nhà nước hoạt động trong lĩnh vực phân phối
các nguồn tài chính, vậy thể hiện các mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa nhà nước
hội. Quyền lực về ngân sách nhà nước thuộc về nhà nước, nên ngân sách nhà nước do
Quốc hội với cách quan quyền lực nhà nước cao nhất nước ta quyết định.
Về mặt thời gian: Các khoản thu chi này chỉ được thực hiện trong một năm. Tính
niên hạn của ngân sách nhà nước được thể hiện quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chi của
nhà nước; tồn tại trong vòng 12 tháng, thể bao trùm năm dương lịch nhưng cũng
thể bắt đầu kết thúc vào những khoảng thời gian khác nhau.
Vmc đích: Nhằm thực hiện c chức năng và nhim vcủa Nnước. Mọi khoản thu
và chi i chính của n nước đều do nhà ớc quyết định nhm phục vụ yêu cầu thc hiện các
chức ng nhà nước. Bất kỳ n nước nào cũng đều có quyền ban hành pháp luật. Do nhu cầu chi
tu, n nước đã sdụng pp lut để ban hành chính sách thuế khoá bắt buộc c tổ chức, cá
nn phải nộp một phần thu nhập của mình cho nhà ớc. Mọi đối tượng nộp thuế đều ý thc
được nghĩa vụ ca mình đóng vai trò quan trọng trong việc đảm nhiệm s phát triển của quốc gia.
1.2. Tổng quan về bội chi ngân sách nhà nước
Bội chi Ngân ch nhà ớc trong 1 m số chênh lệch giữa tổng chi Ngân ch nhà
ớc lớn n tổng thu ngân sách nớc trong năm đó. Khoản 1 Điều 4 Luật ngân sách nhà
ớc 2015 quy định: Bội chi ngân sách nhà nước bao gồm bội chi ngân ch trung ương bội
chi ngân ch địa phương cấp tỉnh. Bội chi ngân ch trung ương được xác định bằng chênh
lệch lớn n giữa tổng chi ngân ch trung ương không bao gồm chi tr n gốc tổng thu
ngân sách trung ương. Bội chi ngân ch địa pơng cấp tỉnh là tổng hợp bội chi ngân sách cấp
tỉnh của từng địa phương, được xác định bằng chênh lệch lớn n giữa tổng chi ngân ch cấp
tỉnh kng bao gồm chi trngốc tổng thu ngân ch cấp tỉnh của từng địa phương.
Cách tính: Bội chi NSNN = Bội chi NSTW + Bội chi NSĐP
Trong đó : Bội chi NSTW = Tổng chi NSTW Tổng thu NSTW
Bội chi NSĐP = Bội chi Ngân sách cấp tỉnh
2
= Tổng chi NS cấp tỉnh Tổng thu NS cấp tỉnh
1.3. Nguyên nhân dẫn tới bội chi ngân sách nhà nước
1.3.1. Tác động của chính sách cấu thu chi của Nhà nước
do đầu tiên khiến cho việc bội chi ngân sách nhà nước xuất hiện. Việc các khoản thu
ngân sách nhà nước bị giảm sút thường bắt nguồn từ các nguyên nhân như nền kinh tế bị
suy thoái do thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế toàn cầu…Nhà nước phải chi quá
nhiều vào những khoản trợ cấp hội do khủng hoảng kinh tế, chi cho những ngành kinh tế
chính khi bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh…Nguồn thu của ngân sách nhà nước không
thể đáp ứng đủ cho những nguồn chi thời điểm năm ngân sách đó. Đây nguyên nhân
chính dẫn đến việc bội chi ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, khi tình hình an ninh thế giới
bất ổn, tình hình chính trị diễn ra phức tạp thì việc sử dụng thu ngân sách nhà nước cũng
gặp khó khăn. Việc chi ngân ch vào những chính sách bảo vệ an ninh quốc gia sẽ tăng lên.
Việc chi ngân sách cho an ninh tăng n ít hay nhiều phụ thuộc vào nh hình diễn biến
căng thẳng phức tạp hay không. Tất cả các do này sẽ c động không nhỏ tới việc thu chi
ngân sách nhà nước. Việc bội chi ngân sách nhà ớc cũng từ đó diễn biến phức tạp hơn.
1.3.2. Sai lầm trong chính sách, trong công tác quản kinh tế - tài chính, bất cập của quá
trình phân cấp NSNN cho địa phương, điều hành ngân sách không hợp lý,…;
Việc phân bổ nguồn ngân ch o c ngành sản xuất, sử dụng ngân sách cho nhng chính
sách đầu tư kinh tế, dự án kinh tế lớn chưa đưc tính toán kỹ càng dẫn đến vic ng pnguồn
chi, gây thất thoát ln đối với nguồn ngân ch nhà nưc. Trong đó, nguồn thu t hạn chế không
thể thay đổi. Bởi nguồn thu ngân ch nhà c được lấy từ việc đóng thuế, gây quỹ, nộp pht
trong các nh vc hội, vic ng nhng khoản thu y sgây ra hiệu ng tu cực trong hội.
Ngoài ra các do bất khả kháng bất ngờ cũng một trong những nguyên nhân dễ
dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách nhà nước dụ như: việc tham ô, tham nhũng, rút lõi từ
những chính sách đầu tư, những dự án sử dụng nguồn thu ngân sách nhà nước sẽ một
trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến sự thất thoát nguồn thu ngân sách, việc dải
ngân của nhà nước quá lớn, nhưng trên thực tế việc áp dụng nguồn thu lại bị cắt xén dẫn đến
thiếu nguồn đầu tư, các chính sách đầu lại thiếu nguồn đầu nhà nước lại tiếp tục dải
ngân… Tình trạng này cũng một trong những do khiến việc nguồn chi cao hơn nguồn
thu việc bội chi ngân ch nhà nước xuất hiện.
1.3.3. Tác động của chu kỳ kinh tế
Mức bội chi ngân sách Nhà nước do nhóm nguyên nhân này gây ra được gọi là bội chi
3
chu kỳ bởi phụ thuộc vào giai đoạn của nền kinh tế đó. Nếu nền kinh tế đang trong
giai đoạn phồn thịnh thì thu ngân sách Nhà nước sẽ tăng lên bởi con người sẽ thêm
nguồn thu nhập điều đó nghĩa Nhà nước thu được thuế từ thu nhập của người dân nhiều
hơn trong khi chi Ngân sách Nhà nước không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức
bội chi ngân sách nhà nước. ngược lại, nếu nền kinh tế đang trong giai đoạn khủng
hoảng thì sẽ làm cho thu nhập của Nhà nước giảm đi, nhưng nhu cầu chi tiêu của Nnước
lại tăng lên do giải quyết những khó khăn mới của nền kinh tế hội.
1.3.4. Một số nguyên nhân khác: thiên tai, dịch bệnh, địch họa…
Một số nguyên nhân khác gây ra bội chi ngân sách nhà nước thể kể ra như thiên tai,
dịch bệnh, địch họa v.v... Nếu gây tác hại lớn cho nền kinh tế thì chúng sẽ những nguyên
nhân làm giảm thu, tăng chi dẫn tới bội chi ngân sách nhà nước. Tình hình bất ổn của an
ninh thế giới làm gia tăng nhu cầu chi cho quốc phòng an ninh trật tự hội. Diễn biến
phức tạp của thiên tai, dịch bệnh nếu kéo dài sẽ tổn thất lớn bởi n nước phải chi ngân
sách nhiều hơn để khắc phục hậu quả của thiên tai.
Phần 2: Thực trạng về bội chi ngân sách nhà nước hiện nay
2.1. Tổng quan về bội chi NSNN Việt Nam
m 2021 một năm rất khó khăn đối với nền kinh tế, khi đại dịch Covid-19 đã ảnh
hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh tế đời sống hội của người dân, đồng thời c
động tiêu cực tới thực hiện dự toán ngân sách khi một số nguồn thu sụt giảm. Dịch Covid-19
đã đảo lộn nguyên tắc ngân sách, thu không đủ chi, mọi khoản chi phải trong dự toán
không ban hành bất cứ một chính sách nào làm tăng chi ngân ch. Nguồn chi lớn nhất là cho
hoạt động phòng chống dịch hỗ trợ người n bị thiệt hại do dịch. c chính sách miễn,
giảm, giãn thuế, phí, lệ phí tiền thuê đất ban hành trong năm 2021 khoảng 119,4 nghìn tỷ
đồng để hỗ doanh nghiệp, nhân kinh doanh gặp khó khăn do tác động của dịch Covid-19.
nh cả smiễn, giảm theo c chính sách ban hành năm 2020 nhưng tiếp tục thực hiện trong
m 2021 16,8 nghìn tỷ đồng hỗ trợ từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 38 nghìn tỷ, thì tổng
số đã thực hiện miễn, giảm, hỗ trợ trong năm 2021 khoảng 174,2 nghìn tỷ đồng. Điều này làm
nguồn thu nội địa sụt giảm.
Trong bối cảnh khó khăn m 2021 đã đạt được nhng kết quả bất ng trong hoạt động thu -
chi nn sách. Về thu NSNN, năm 2021 đạt 1.563,3 nghìn tđng, t 219,9 nghìn tđồng so
dtoán (16,4%) và tăng 3,7% so với thực hiện m 2020. Sthu NSNN tăng chủ yếu tdầu thô,
hoạt động xuất nhập khẩu, tiền sử dụng đất, thuế, p nội địa, sản xut -kinh doanh. Kết quả này
4
có được t sự đúng đắn trong chủ tơng của B Tài chính, đó : Quản lý thu, đẩy mạnh cải
cách thủ tc hành cnh, tạo thun lợi cho doanh nghip, phấn đấu tăng thu những địa bàn, lĩnh
vực điều kin, quyết liệt x lý thu hồi nợ. Một số lĩnh vực được ởng lợi tchính ch ni
lỏng v tài khóa, tiền t đã tạo thêm nguồn thu cho NSNN, đạt mức cao hơn 16,4% so với d
tn. V chi NSNN, m 2021 ưc đt 1.879 nghìn tỷ đng (111,4% dự tn). Trong đó, ngân
sách ưu tn góp kinh phí cho phòng, chống dch Covid-19, NSNN đã chi 74 nghìn tđồng htr
nời dân gặp kkn do đại dch; xuất cấp 141,97 ngn tấn go dự trquc gia h trợ cho
nời n bị ảnh hưởng Covid-19 33 đa phương. Điu này đtiết kiệm chi tng xuyên, tp
trung kiểm st dịch bệnh và đảm bảo an sinh hội, n định đời sống nhân dân.
Về tổng thể, số thu ngân sách nhà nước vượt mức dự toán đặt ra nhưng thực tế công tác
thu ngân sách vẫn gặp khó khăn. Chính sách quản đối với hàng hóa xuất - nhập khẩu
chính sách quản chặt chẽ cửa khẩu phụ, lối mở phía Trung Quốc đã làm giảm lượng giao
dịch thương mại, ảnh hưởng đến hoạt động thương mại, xuất - nhập khẩu, làm giảm số thu
phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, dịch vụ tiện ích công cộng khác trong khu vực cửa
khẩu. Dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất, kinh
doanh của các doanh nghiệp... Những yếu tố đó thể làm giảm số thu ngân sách nhà nước
tại khu vực doanh nghiệp đầu nước ngoài. Việc thu ngân sách thực tế luôn cao hơn dự
toán thu Ngân sách Nhà nước đặt ra yêu cầu về công tác dự báo thu Ngân sách Nhà nước
cần chính xác sát với thực tế hơn. Bên cạnh đó, xuất phát từ nguyên nhân chủ quan một
số địa phương thể muốn dự o thu ngân sách mức thấp hơn so với thu ngân sách thực
tế hàng năm để từ đó khoản thưởng vượt thu từ ngân sách trung ương.
Đối với các khon thu l p, các cơ quan hành chính nhà nưc đưc đ li mt phn đbù đắp
chi phí thu, phần còn li mới np vào NSNN. Việc đlại như vy làm một phn s thu lphí bđ
ngoài ngân sách, đng thi tỷ l đ li chưa sát hot động ca đơn v, nên có đơn v kng đủ kinh
phí để tổ chức thu, có đơn v tha nguồn thu dẫn đến kinh phí hoc sử dụng sai mc đích…
Phân tích đến thu - chi ngân sách không thể không đề cập tới vấn đề nợ đọng, trốn thuế,
thất thu thuế vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Hành vi trốn thuế, gian lận thuế diễn ra ngày càng
phức tạp với những nh vi ngày càng tinh vi khó phát hiện, y thất thoát không nh
NSNN… Hầu hết các địa phương, các loại nh doanh nghiệp; ng c thanh tra, kiểm tra của
cơ quan thuế n bỏ t nhiều vi phạm của doanh nghiệp,…Mặc sDN được kiểm tra, đối
chiếu không nhiều các doanh nghiệp trên địa n c tỉnh do kiểm toán nhà ớc khu vực
XII thực hiện kiểm toán đều quy ơng đối nh nhưng qua kiểm toán, kiểm toán nhà
5
ớc khu vực II đã kiến nghtăng thu nhiều tđồng. Từ m 2015 đến đầu tháng 6/2021, kiểm
toán nhà ớc khu vực XII đã thực hiện đối chiếu 767 doanh nghiệp, kiến nghị truy thu nộp
NSNN 215,5 tđồng. Nguyên nhân đến ttình trạng tham nng một số dán, dẫn đến việc
chi tiêu NSNN thường tăng cao hơn so với dtoán được đánh giá hiệu quả thấp.
2.2. Thực tiễn về bội chi ngân sách nhà nước tại một số quốc gia trên thế giới
2.2.1. Tác động của chính sách cấu thu chi của Mỹ EU
Xung đột chiến tranh giữa Nga và Ukraine
[1] i
Sau khi Nga phát động chiến dịch quân sự Ukraine, Mỹ Liên minh châu âu (EU) liên tục
tung đòn trừng phạt Moskva, đồng thời không ngừng viện tr kinh tế quân sự cho Kiev.
Nguồn viện trợ không giới hạn của Mỹ EU động lực chính giúp cho Ukraine cầm chân
quân Nga trên thực địa. đối mặt với c vấn đề nội bộ, khó khăn về kinh tế do hậu quả từ
xung đột Nga Ukraine song theo tiếng gọi, hào từ Washington, Brussels chi ra ng tỷ
euro đhtrUkraine. Tng 12 m ngoái, EU nhất trí sẽ cung cấp cho Ukraine i htrợ n
dụng trg18 tỷ euro (18,9 tỷ USD) trong năm 2023.
Viễn cảnh xung đột giữa Nga Ukraine o dài sẽ đẩy các quốc gia châu Âu tình thế "tiến
thoái lưỡng nan". Chuyên gia quân snhận định, nguồn viện trợ từ phương Tây có thể tiếp tục
ng lên, nhất là khi quân đội Ukraine cần thêm rất nhiều vũ khí. Đây được xem là "gánh nặng"
cho nhiều nước khi viện trcho Ukraine trong một thời gian i khiến kho khí i cạn kiệt.
Các quốc gia Châu Âu "mệt mỏi" với cuộc xung đột thiệt hại kinh tế. Việc EU đang phải
vật lộn với lạm phát ng cao ng nguyên nhân khiến các khoản viện trcủa liên minh này
đối với Ukraine giảm đáng kể, chậm trễ. Tỷ lệ lạm phát trên toàn EU tăng n mức 8% trong
năm 2022. Khó khăn là vậy, Pp thừa nhận ớc này hết khí để gửi cho Kiev do nh trạng
nguồn cung của chính họ, trong khi Đức ng phải đối mặt với sự thiếu hụt 20 tỷ euro đạn
ợc. Nhiều quốc gia không đủ hệ thống công nghệ cao để đáp ứng nhu cầu của EU và
những mối đe dọa trong tương lai.
2.2.2. Sai lầm trong chính sách, trong công tác quản kinh tế - tài chính, bất cập của quá
trình phân cấp NSNN cho địa phương, điều hành ngân sách không hợp lý,…
Các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Canada tỷ lệ thâm hụt ngân sách trong năm
2020 tăng vọt so với năm 2017. Mỹ, bội chi NSNN năm 2017 -4% GDP thì sang năm
2020 tăng vọt lên đến -15% GDP, còn Canada bội chi từ -2% GDP (năm 2017) lên đến -
16% GDP (năm 2020). Nguyên nhân đến từ các chính sách hỗ trợ nền kinh tế. Các nước sử
dụng nợ công để huy động nguồn vốn đầu cho sở hạ tầng, đặc biệt sở hạ tầng tại
6
các vùng kinh tế trọng điểm, mở rộng kết nối giữa các vùng, nâng cao năng lực quản trị số
chuyển đổi số trong các lĩnh vực KT– XH. Tuy nhiên, việc quản chưa hợp của
Chính phủ dẫn đến thâm hụt ngân sách chi tiêu nhiều hơn số thuế thu được. góc độ
nhân hay doanh nghiệp thì việc chi tiêu vượt quá nguồn thu đều tiềm ẩn những rủi ro đối với
an toàn tài chính của nhân hoặc đơn vị đó. thế, các chính phủ luôn ấn định một mức
trần nợ công nhằm mục tiêu “quản lý” an toàn tài chính của quốc gia.
2.2.3. Tác động của chu kỳ kinh tế 1 số nước đang phát triển
Cuộc khủng hoảng năng lượng Đức 2022
[2]ii
Nền kinh tế Đức 2022 đã rơi vào cuộc khủng hoảng nền kinh tế - tài chính nặng nề với chi
phí năng lượng leo thang đẩy ngành công nghiệp, vốn “xương sống” của nền kinh tế rơi
vào tình cảnh khốn đốn sức mua của người tiêu dùng giảm chưa từng có. Phóng viên dẫn
tại Berlin của Bộ Tài chính Đức cho biết một trong những nguyên nhân khiến “thâm hụt
ngân sách” gia tăng do nước này chi tiêu quá nhiều để đối phó với cuộc khủng hoảng
năng lượng nghiêm trọng. Bộ trưởng Tài chính Christian Lindner cảnh báo: “Năm 2023
chúng ta sẽ chứng kiến mức thâm hụt công 3,25%, thậm chí con số này thể lên tới
4,5% GDP tùy thuộc vào quy chi tiêu để giúp chống lại giá điện khí đốt tăng vọt.”
Đức đang lên kế hoạch khôi phục chính sách “phanh nợ” vào năm 2023, theo đó giới hạn
khoản vay mới hàng năm mức 0,35% GDP. Mặc đã giảm từ 10,4% trong tháng
10/2022 xuống 10% trong tháng 11/2022, lạm phát vẫn mức 2 con số đáng báo động.
Thâm hụt ngân sách Estonia
[3] iii
Trong cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu hồi năm 2008, ngân sách Estonia đã
từng bị giảm đáng kể Chính phủ nước này đã tiến hành cải cách cấu, từ đó giảm mức
thâm hụt ngân sách trong năm 2009 xuống còn 3,7 tỷ Kron (khoảng 237 triệu Euro). Mức
thâm hụt này tương đương 1,7% GDP, đáp ứng tiêu chuẩn để gia nhập khu vực đồng Euro
thâm hụt ngân sách dưới 3% GDP. Nếu không những biện pháp thắt chặt ngân sách
kịp thời, NAO cảnh báo tình trạng thâm hụt sẽ trở nên tồi tệ hơn tác động xấu tới mọi
mặt của hội.
2.2.4. Một số nguyên nhân khác: thiên tai, dịch bệnh, địch họa… Nhật Bản
Thiên tài, địch hoạ hay những tác động của thế giới cũng một nguyên nhân gây ra bội
chi ngân sách. Tình hình bất ổn của an ninh thế giới diễn biến phức tạp của thiên tai sẽ
làm gia tăng nhu cầu chi cho quốc phòng an ninh trật tự hội, gia tăng nhu cầu chi ngân
sách nhà nước để khắc phục hậu quả của thiên tai.
7
Thảm họa Nhật Bản 2011
[4] iv
Theo thống chính thức của chính phủ Nhật được công bố hồi tháng 6/2011, thiệt hại trực
tiếp về vật chất do sóng thần gây nên ước tính lên tới 16.900 tỷ yên, tức 147 tỷ euro, tương
đương với khoảng 3,5% tổng sản phẩm nội địa. Để so sánh, thiệt hại sau trận động đất
Kobe, năm 1995 9.600 tỷ yen. Kinh tế Nhật ngay sau thiên tai đã lâm vào suy thoái. Quỹ
Tiền tệ Quốc tế Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế OCDE đã giảm dự báo tăng
trưởng của Nhật Bản xuống còn chưa đầy 1 %. Đối với ngành nông ngư nghiệp, thiệt hại
ước tính lên tới hơn 22 tỷ euro.
2.3. Đánh giá
2.3.1. Ưu điểm kết quả
Quản bội chi ngân ch trong thời gian qua đã đáp ứng được nhu cầu điều hành mô,
p phần ổn định lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia. Mức độ bội chi ngân sách luôn
được kiềm chế mức độ hợp trên tổng GDP đã p phần quan trọng trong việc giúp Nhà
ớc kiểm soát tốt hơn công việc thu chi của mình. Nhiệm vquan trọng của Nnước điều
hành nền kinh tế m sao cho thật sự hiệu quả, kiểm soát mức độ lạm phát mc độ cho phép,
tạo thêm nhiều ng việc, đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế, cải thiện tng ớc đời
sống của người n,.. để đạt được những mục tiêu đó thì điều kiện quan trọng đầu tiên
phải có một nền tài chính vững chắc, một nguồn ngân sách ổn định. Trong lĩnh vực chthN
ớc đã đầu có trọng điểm n, kiểm tra giám t hoạt động chi thường xuyên, giảm thiểu
một ch tối đa sự thất tht trong xây dựng bản, tiến nh đầu có trọng điểm, tnh nh
trạng không mục tiêu…tất cả những biện pháp ấy đã góp phần tích cực gp Nhà nước quản
nền kinh tế hiệu quhơn nữa, đã đem lại một snhững thành tựu đáng ghi nhận.
Những nguyên tắc bản về quản bội chi NSNN được cụ thể hóa trong luật ngân sách
đã góp phần quan trọng trong điều nh thực tế, p phần cấu lại NSNN. Các khoản chi
tiêu thường xuyên đã được điều chỉnh một ch tối đa a nhưng vẫn đảm bảo tính hiệu quả
tốt nhất để tạo tích lũy nội bộ NSNN cho đầu phát triển, giải quyết c mối quan hệ giữa
tích lũy tiêu dùng. NSNN đã từng bước cấu lại theo ớng giảm thiểu tối đa tình trạng
bao cấp. Nhà nước để doanh nghiệp tự chủ động hơn trong công việc kinh doanh, đồng thời
chính sách ưu tiên phát triển một số lĩnh vực Nhà nước cần can thiệp như giáo dục đào
tạo, y tế toàn dân, phát triển KHCN, bảo vmôi trường…
Vic qun lí tt bi chi NS đã góp phn tích cc đy lùi lm phát. Khi tình trng bi chi gim
xung mt cách đáng k, Nhà nưc skhông phải bù đp các khon thâm ht bng cách đi vay trong
8
dân chung, tăng thuế, tăng phát hành tiền, hay dùng các bin pháp tin tkhácmà tt cnhng
bin pháp này đu là nhng nguyên nhân ch yếu gây ra tình trng lm phát ca mt quc gia.
2.3.2. Hạn chế thách thức
Đất nước ta vẫn còn nghèo, nền kinh tế vẫn đang trong quá trình bước đầu phát triển, quy
nền kinh tế còn nhỏ, trong khi đó nhu cầu chi tiêu cho việc xây dựng sở hạ tầng, vật
chất kỹ thuật, tiến hành CNH H rất lớn. Mặt khác do trình độ của chúng ta hạn nên
hiệu quả trong sản xuất kinh doanh không cao, hàng hóa còn kém chất lượng, chưa phong
phú, khiến ta chưa th cạnh tranh nổi với hàng hóa nước ngoài, thậm chí ngay trong nước,
chính vậy nhiều doanh nghiệp đã không thể tr vững trên th trường nước ngoài dẫn đến
phá sản, nhiều khó khăn. Nguồn thu ngân sách chưa vững chắc, một số nguồn thu lớn phụ
thuộc vào giá cả thị trường thế giới (thu từ dầu thô, thuế xuất nhập khẩu…) điều đó đã gây
khó khăn lớn, tác động mạnh mđến tình hình bội chi ngân sách ớc ta trong thời gian tới.
Hiện nay, trên thế giới đang diễn ra quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hết sức mạnh mẽ,
xu thế toàn cầu hóa đang những ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống KT- XH của các
nước trên thế giới. Việc tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN, nhất gần đây đất
nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, điều đó sẽ dẫn đến việc chúng ta sẽ
phát triền hành cắt giảm thuế của rất nhiều mặt hàng ta đã cam kết khi tham gia
những tổ chức, diễn đàn này. Trong tình hình này sẽ khiến cho nguồn thu ngân sách Nhà
nước bị giảm đáng kể, gây khó khăn cho việc chi tiêu của Nhà nước trong tương lai.
nh trạng thất thu, trốn thuế, kiểm soát nguồn thu thiếu chặt chẽ, buông lỏng trong công
c giám sát kiểm tra, giám sát việc thu chi ngân sách cũng nguyên nhân tác động xấu đến
bội chi ngân sách Nhà nước. Lãi xuất vay trong thời gian qua n cao, thời gian vay n ngắn,
ít những khoản vay dài hạn, trong khi đó nhiều khoản vay được dùng để xây dựng đầu
bản với thời gian thu hồi vốn lâu đã gây khó khăn cho công tác thu ngân sách. Mặt khác t
n nhiều dự án đầu không mang lại hiệu quả, nhiều chủ dự án không khả năng trả
nợ, tình trạng thâm ô, tham nhũng nhiều cấp, nhiều lĩnh vực còn diễn ra phổ biến cũng
những nguyên nhân gây thất thoát lãnh phí trong việc sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước.
Phần 3: Định hướng xử bội chi ngân sách nhà nước
Vấn đề thiếu hụt ngân sách đối với các chính trị gia phải lựa chọn để phù hợp với điều
kiện kinh tế chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia. Mỗi giải
pháp đắp đều làm ảnh ởng đến cân đối kinh tế mô. Về bản, các quốc gia trên
thế giới thường sử dụng các giải pháp chủ yếu nhằm xử bội chi NSNN như sau:
9
Thứ nhất, Nhà nước phát hành thêm tiền. Việc xử bội chi NSNN thể thông qua
việc nhà nước phát hành thêm tiền đưa ra lưu thông. Tuy nhiên, giải pháp này sẽ gây ra
lạm phát nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để đắp bội chi NSNN. Đặc biệt,
khi nguyên nhân bội chi NSNN do thiếu hụt các nguồn vốn đối ứng để đầu cho phát
triển gây "tăng trưởng nóng" không cần đối với khả năng tài chính của quốc gia.
Thứ hai, Vay nợ ctrong ngoài nước. Để đắp thâm hụt NSNN, nhà nước thể
vay nợ nước ngoài trong nước. Việc vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ o theo vấn đề phụ
thuộc nước ngoài cả về chính trị lẫn kinh tế làm giảm dự trữ ngoại hối quá nhiều khi trả
nợ, làm cạn dự trữ quốc gia sẽ dẫn đến khủng hoảng tỷ giả. Vay nợ trong nước sẽ làm tăng
lãi suất, cái vòng nợ - trả lãi - bội chi sẽ làm tăng mạnh các khoản nợ công chúng kéo
theo gánh nặng chi trả của NSNN cho các thời kỳ sau...
Thứ ba, Tăng các khoản thu, đặc biệt thuế. Việc tăng các khoản thu, đặc biệt thuế
thể sẽ đắp sự thâm hụt NSNN giảm bội chi NSNN. Tuy nhiên, đây không phải
giải pháp bản để xử bội chi NSNN, bởi nếu tăng thuế không hợp sẽ dẫn đến làm
giá cả hàng hóa tăng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất đời sống nhân dân, nghiêm trọng
hơn sẽ triệt tiêu động lực của các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất kinh doanh làm
mất đi khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đối với các nước trong khu vực trên thế giới.
Thứ tư, Triệt để tiết kiệm các khoản đầu công chỉ thường xuyên từ NSNN. Đây
một giải pháp tuy mang tính tình thể, nhưng cùng quan trọng với mỗi quốc gia khi xảy ra
bội chi NSNN xuất hiện lạm phát. Triệt để tiết kiệm các khoản đầu công nghĩa
chỉ đầu vào những dự án mang tính chủ đạo, nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển
KT-XH, đặc biệt những dự án chưa hiệu quả thì phải cắt giảm. Mặt khác, bên cạnh việc triệt
để tiết kiệm các khoản đầu công, những khoản chi thường xuyên cũng phải cắt giảm nếu
những khoản chưa thực sự cần thiết.
Thứ năm, Tăng cường vai trò quản nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định chính
sách nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế. Để thực hiện vai
trò của mình, nhà nước sử dụng một hệ thống cnh sách ng c quản đ điều
khiển, tác động vào đời sống KT- XH, nhằm giải quyết c mối quan htrong nền kinh tế cũng
như đời sống hội, nhất mối quan hệ gia ng tởng kinh tế và ng bằng hội, giữa
ng trưởng kinh tế với giữ n i trường... Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi lạm phát
một vấn nạn của c ớc trên thế giới, vấn đề ng ờng vai trò quản nhà ớc đối với
quản NSNN i chung và xử bội chi NSNN i riêng ý nghĩa cùng cấp thiết.
10
C. KẾT LUẬN
Từ những phân tích nêu trên giúp người đọc hiểu hơn về những vấn đề bản về bội
chi ngân sách nhà nước, thực trạng bội chi ngân sách nhà nước Việt Nam một số quốc
gia trên thế giới, những nguyên nhân dẫn đến bội chi ngân sách nhà nước định hướng xử
bội chi ngân sách nhà nước. nhiều cách để chính phủ đắp bội chi ngân sách nhà
nước, nhưng phải sử dụng cách nào, nguồn nào thì còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh
tế, chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia, bởi mỗi giải pháp
bắp đều những ưu nhược điểm làm ảnh hưởng đến cân đối kinh tế mô. Vậy xử bội
chi ngân sách nhà nước như thế nào để ổn định mô, thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến
lược về phát triển kinh tế hội, tăng trưởng kinh tế kiềm chế lạm phát hiện nay?
Chính phủ Việt Nam cần phải tính toán kỹ lưỡng để đưa ra các giải pháp phù hợp với thực
trạng hiện nay, khi nền kinh tế của Việt Nam đang hoạt động theo chế thị trường sự
quản của nhà nước, nền tài chính quốc gia cũng được đổi mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
11
i
KÔNG ANH (2023), Thấy khi các nước phương Tây tăng chi ngân sách quốc
phòng năm 2023, https://vtc.vn/thay-gi-khi-cac-nuoc-phuong-tay-tang-chi-ngan-
sach-quoc-phong-nam-2023-ar740461.html
ii
Tùng (TTXVN) tại Đức (2022), Thâm hụt ngân sách Của Đức giảm mạnh,
https://baotintuc.vn/the-gioi/tham-hut-ngan-sach-cua-duc-giam-manh-
20221011165006801.htm
iii
Ngọc Quỳnh (2020), NAO Estonia cảnh báo thâm hụt ngân sách Chính phủ, Báo
Kiểm Tn,http://baokiemtoan.vn/nao-estonia-canh-bao-tham-hut-ngan-sach-chinh-
phu-8243.html
iv
Thảm họa động đất, sóng thần Nhật Bản (2011); Trung tâm Chính sách Kỹ
thuật phòng chống thiên tai, https://dmc.gov.vn/
5. Học viện Tài chính (2016). Nhà xuất bản Tài chính, Nội.Quản tài chính công,
6. Slide môn Quản tài chính công
7. Bộ Tài Chính https://mof.gov.vn/

Preview text:

MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................................1
A. NỘI DUNG.....................................................................................................................1
Phần 1: Cơ sở lý thuyết về ngân sách nhà nước và bội chi ngân sách nhà nước.............1
1.1. Tổng quan về ngân sách nhà nước.............................................................................1
1.2. Tổng quan về bội chi ngân sách nhà nước.............................................................2
1.3. Nguyên nhân dẫn tới bội chi ngân sách nhà nước.................................................3 1.3.1.
Tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước......................................3 1.3.2.
Sai lầm trong chính sách, trong công tác quản lý kinh tế - tài chính, bất cập
của quá trình phân cấp NSNN cho địa phương, điều hành ngân sách không hợp lý,…;. 3 1.3.3.
Tác động của chu kỳ kinh tế...............................................................................3 1.3.4.
Một số nguyên nhân khác: thiên tai, dịch bệnh, địch họa…...............................4
Phần 2: Thực trạng về bội chi ngân sách nhà nước hiện nay...........................................4
2.1. Tổng quan về bội chi NSNN ở Việt Nam................................................................4
2.2. Thực tiễn về bội chi ngân sách nhà nước tại một số quốc gia trên thế giới...........6 2.2.1.
Tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Mỹ và EU.....................................6 2.2.2.
Sai lầm trong chính sách, trong công tác quản lý kinh tế - tài chính, bất cập
của quá trình phân cấp NSNN cho địa phương, điều hành ngân sách không hợp lý,…...6 2.2.3.
Tác động của chu kỳ kinh tế ở 1 số nước đang phát triển..................................7 2.2.4.
Một số nguyên nhân khác: thiên tai, dịch bệnh, địch họa ở Nhật Bản…............7
2.3. Đánh giá...................................................................................................................8 2.3.1.
Ưu điểm và kết quả.............................................................................................8 2.3.2.
Hạn chế và thách thức........................................................................................9
Phần 3: Định hướng xử lý bội chi ngân sách nhà nước.....................................................9
B. KẾT LUẬN..................................................................................................................11 A. LỜI MỞ ĐẦU
Ngân sách nhà nước là một công cụ chính sách kinh tế đắc lực, hiệu quả giúp cho Nhà
nước hoàn thành tốt mọi chức năng, nhiệm vụ của mình. Trong những năm qua thì vai trò
của ngân sách nhà nước ở nước ta đã thể hiện rõ trong việc giúp nhà nước hình thành các
quan hệ thị trường góp phần kiểm soát lạm phát, tỷ lệ lãi suất thích hợp để từ đó làm lành
mạnh nền tài chính quốc gia, đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Nhằm điều
tiết nền kinh tế có hiệu quả và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính, Đảng và
Nhà nước đã có rất nhiều biện pháp kịp thời và hiệu quả trong việc nâng cao hiệu quả quản
lý thu-chi ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó thì ngân sách nhà nước vẫn còn các
mặt còn tồn tại như việc sử dụng ngân sách chưa đúng lúc đúng cách, sự yếu kém trong việc
quản lý thu chi đã đặt ra cho ta thấy cần có cái nhìn sâu hơn về tình trạng bội chi ngân sách
nhà nước và ảnh hưởng của nó tới các hoạt động kinh tế là hết sức rộng lớn.Việc xử lý bội
chi ngân sách nhà nước là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối
với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Trong phạm vi của môn học với đề tài: “Phân tích các nguyên nhân dẫn tới bội chi ngân
sách nhà nước” nhóm em xin đề cập đến một số mục tiêu như sau: Cơ sở lý thuyết về ngân
sách nhà nước và bội chi ngân sách nhà nước, chỉ ra những bất cập về cân đối và bội chi
ngân sách nhà nước ở nước ta và một số các quốc gia trên thế giới, làm rõ hơn về những
nguyên nhân dẫn tới bội chi ngân sách nhà nước từ đó đề xuất những kiến nghị giải pháp xử
lý bội chi ngân sách nhà nước. Dựa trên cơ sở đó kết cấu của bài tiểu luận có 3 phần:
Phần 1: Cơ sở lý thuyết về ngân sách nhà nước và bội chi ngân sách nhà nước.
Phần 2: Thực trạng về bội chi ngân sách nhà nước.
Phần 3: Định hướng xử lý bội chi ngân sách nhà nước. B. NỘI DUNG
Phần 1: Cơ sở lý thuyết về ngân sách nhà nước và bội chi ngân sách nhà nước
1.1. Tổng quan về ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước được dự toán và thực
hiện trong 1 khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để
đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. 1
Về mặt nội dung: Là toàn bộ các khoản thu – chi của Nhà nước. Trong đó “thu” là tất
cả các nguồn tiền được huy động cho nhà nước; còn “chi” là bao gồm tất cả các khoản chi
và các khoản hoàn trả khác của Nhà nước. Các khoản thu chi được xác định bởi những con
số cụ thể nhằm xác định rõ khả năng tạo nguồn kinh phí để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà
nước, đồng thời tạo thế cân bằng, sự chủ động trong hoạt động của ngân sách nhà nước.
Về mặt pháp lý: Các khoản thu – chi này phải nằm trong dự toán được cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền quyết định. Ngân sách nhà nước hoạt động trong lĩnh vực phân phối
các nguồn tài chính, vì vậy nó thể hiện các mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa nhà nước và
xã hội. Quyền lực về ngân sách nhà nước thuộc về nhà nước, nên ngân sách nhà nước do
Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở nước ta quyết định.
Về mặt thời gian: Các khoản thu – chi này chỉ được thực hiện trong một năm. Tính
niên hạn của ngân sách nhà nước được thể hiện quá trình thực hiện nhiệm vụ thu – chi của
nhà nước; nó tồn tại trong vòng 12 tháng, có thể bao trùm năm dương lịch nhưng cũng có
thể bắt đầu và kết thúc vào những khoảng thời gian khác nhau.
Về mục đích: Nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Mọi khoản thu
và chi tài chính của nhà nước đều do nhà nước quyết định và nhằm phục vụ yêu cầu thực hiện các
chức năng nhà nước. Bất kỳ nhà nước nào cũng đều có quyền ban hành pháp luật. Do nhu cầu chi
tiêu, nhà nước đã sử dụng pháp luật để ban hành chính sách thuế khoá và bắt buộc các tổ chức, cá
nhân phải nộp một phần thu nhập của mình cho nhà nước. Mọi đối tượng nộp thuế đều ý thức
được nghĩa vụ của mình đóng vai trò quan trọng trong việc đảm nhiệm sự phát triển của quốc gia.
1.2. Tổng quan về bội chi ngân sách nhà nước
Bội chi Ngân sách nhà nước trong 1 năm là số chênh lệch giữa tổng chi Ngân sách nhà
nước lớn hơn tổng thu ngân sách nhà nước trong năm đó. Khoản 1 Điều 4 Luật ngân sách nhà
nước 2015 quy định: Bội chi ngân sách nhà nước bao gồm bội chi ngân sách trung ương và bội
chi ngân sách địa phương cấp tỉnh. Bội chi ngân sách trung ương được xác định bằng chênh
lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách trung ương không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu
ngân sách trung ương. Bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh là tổng hợp bội chi ngân sách cấp
tỉnh của từng địa phương, được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách cấp
tỉnh không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương.
Cách tính: Bội chi NSNN = Bội chi NSTW + Bội chi NSĐP
Trong đó : Bội chi NSTW = Tổng chi NSTW – Tổng thu NSTW
Bội chi NSĐP = Bội chi Ngân sách cấp tỉnh 2
= Tổng chi NS cấp tỉnh – Tổng thu NS cấp tỉnh
1.3. Nguyên nhân dẫn tới bội chi ngân sách nhà nước 1.3.1.
Tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước
Lý do đầu tiên khiến cho việc bội chi ngân sách nhà nước xuất hiện. Việc các khoản thu
ngân sách nhà nước bị giảm sút thường bắt nguồn từ các nguyên nhân như nền kinh tế bị
suy thoái do thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế toàn cầu…Nhà nước phải chi quá
nhiều vào những khoản trợ cấp xã hội do khủng hoảng kinh tế, chi cho những ngành kinh tế
chính khi bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh…Nguồn thu của ngân sách nhà nước không
thể đáp ứng đủ cho những nguồn chi ở thời điểm năm ngân sách đó. Đây là nguyên nhân
chính dẫn đến việc bội chi ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, khi tình hình an ninh thế giới
bất ổn, tình hình chính trị diễn ra phức tạp thì việc sử dụng thu ngân sách nhà nước cũng
gặp khó khăn. Việc chi ngân sách vào những chính sách bảo vệ an ninh quốc gia sẽ tăng lên.
Việc chi ngân sách cho an ninh tăng lên ít hay nhiều phụ thuộc vào tình hình diễn biến có
căng thẳng phức tạp hay không. Tất cả các lý do này sẽ tác động không nhỏ tới việc thu và chi
ngân sách nhà nước. Việc bội chi ngân sách nhà nước cũng từ đó mà diễn biến phức tạp hơn.
1.3.2. Sai lầm trong chính sách, trong công tác quản lý kinh tế - tài chính, bất cập của quá
trình phân cấp NSNN cho địa phương, điều hành ngân sách không hợp lý,…;
Việc phân bổ nguồn ngân sách vào các ngành sản xuất, sử dụng ngân sách cho những chính
sách đầu tư kinh tế, dự án kinh tế lớn chưa được tính toán kỹ càng dẫn đến việc lãng phí nguồn
chi, gây thất thoát lớn đối với nguồn ngân sách nhà nước. Trong đó, nguồn thu thì hạn chế không
thể thay đổi. Bởi nguồn thu ngân sách nhà nước được lấy từ việc đóng thuế, gây quỹ, nộp phạt
trong các lĩnh vực xã hội, việc tăng những khoản thu này sẽ gây ra hiệu ứng tiêu cực trong xã hội.
Ngoài ra các lý do bất khả kháng và bất ngờ cũng là một trong những nguyên nhân dễ
dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách nhà nước ví dụ như: việc tham ô, tham nhũng, rút lõi từ
những chính sách đầu tư, những dự án sử dụng nguồn thu ngân sách nhà nước sẽ là một
trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến sự thất thoát nguồn thu ngân sách, việc dải
ngân của nhà nước quá lớn, nhưng trên thực tế việc áp dụng nguồn thu lại bị cắt xén dẫn đến
thiếu nguồn đầu tư, các chính sách đầu tư lại thiếu nguồn đầu tư và nhà nước lại tiếp tục dải
ngân… Tình trạng này cũng là một trong những lý do khiến việc nguồn chi cao hơn nguồn
thu và việc bội chi ngân sách nhà nước xuất hiện. 1.3.3.
Tác động của chu kỳ kinh tế
Mức bội chi ngân sách Nhà nước do nhóm nguyên nhân này gây ra được gọi là bội chi 3
chu kỳ bởi vì nó phụ thuộc vào giai đoạn của nền kinh tế đó. Nếu nền kinh tế đang trong
giai đoạn phồn thịnh thì thu ngân sách Nhà nước sẽ tăng lên bởi con người sẽ có thêm
nguồn thu nhập điều đó có nghĩa Nhà nước thu được thuế từ thu nhập của người dân nhiều
hơn trong khi chi Ngân sách Nhà nước không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức
bội chi ngân sách nhà nước. Và ngược lại, nếu nền kinh tế đang trong giai đoạn khủng
hoảng thì sẽ làm cho thu nhập của Nhà nước giảm đi, nhưng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
lại tăng lên do giải quyết những khó khăn mới của nền kinh tế và xã hội. 1.3.4.
Một số nguyên nhân khác: thiên tai, dịch bệnh, địch họa…
Một số nguyên nhân khác gây ra bội chi ngân sách nhà nước có thể kể ra như thiên tai,
dịch bệnh, địch họa v.v... Nếu gây tác hại lớn cho nền kinh tế thì chúng sẽ là những nguyên
nhân làm giảm thu, tăng chi và dẫn tới bội chi ngân sách nhà nước. Tình hình bất ổn của an
ninh thế giới làm gia tăng nhu cầu chi cho quốc phòng và an ninh trật tự xã hội. Diễn biến
phức tạp của thiên tai, dịch bệnh nếu kéo dài sẽ là tổn thất lớn bởi nhà nước phải chi ngân
sách nhiều hơn để khắc phục hậu quả của thiên tai.
Phần 2: Thực trạng về bội chi ngân sách nhà nước hiện nay
2.1. Tổng quan về bội chi NSNN ở Việt Nam
Năm 2021 là một năm rất khó khăn đối với nền kinh tế, khi đại dịch Covid-19 đã ảnh
hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh tế và đời sống xã hội của người dân, đồng thời tác
động tiêu cực tới thực hiện dự toán ngân sách khi một số nguồn thu sụt giảm. Dịch Covid-19
đã đảo lộn nguyên tắc ngân sách, thu không đủ bù chi, mọi khoản chi phải có trong dự toán và
không ban hành bất cứ một chính sách nào làm tăng chi ngân sách. Nguồn chi lớn nhất là cho
hoạt động phòng chống dịch và hỗ trợ người dân bị thiệt hại do dịch. Các chính sách miễn,
giảm, giãn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất ban hành trong năm 2021 khoảng 119,4 nghìn tỷ
đồng để hỗ doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh gặp khó khăn do tác động của dịch Covid-19.
Tính cả số miễn, giảm theo các chính sách ban hành năm 2020 nhưng tiếp tục thực hiện trong
năm 2021 là 16,8 nghìn tỷ đồng và hỗ trợ từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 38 nghìn tỷ, thì tổng
số đã thực hiện miễn, giảm, hỗ trợ trong năm 2021 khoảng 174,2 nghìn tỷ đồng. Điều này làm
nguồn thu nội địa sụt giảm.
Trong bối cảnh khó khăn năm 2021 đã đạt được những kết quả bất ngờ trong hoạt động thu -
chi ngân sách. Về thu NSNN, năm 2021 đạt 1.563,3 nghìn tỷ đồng, vượt 219,9 nghìn tỷ đồng so
dự toán (16,4%) và tăng 3,7% so với thực hiện năm 2020. Số thu NSNN tăng chủ yếu từ dầu thô,
hoạt động xuất nhập khẩu, tiền sử dụng đất, thuế, phí nội địa, sản xuất -kinh doanh. Kết quả này 4
có được từ sự đúng đắn trong chủ trương của Bộ Tài chính, đó là: Quản lý thu, đẩy mạnh cải
cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, phấn đấu tăng thu ở những địa bàn, lĩnh
vực có điều kiện, quyết liệt xử lý thu hồi nợ. Một số lĩnh vực được hưởng lợi từ chính sách nới
lỏng về tài khóa, tiền tệ đã tạo thêm nguồn thu cho NSNN, đạt mức cao hơn 16,4% so với dự
toán. Về chi NSNN, năm 2021 ước đạt 1.879 nghìn tỷ đồng (111,4% dự toán). Trong đó, ngân
sách ưu tiên góp kinh phí cho phòng, chống dịch Covid-19, NSNN đã chi 74 nghìn tỷ đồng hỗ trợ
người dân gặp khó khăn do đại dịch; xuất cấp 141,97 nghìn tấn gạo dự trữ quốc gia hỗ trợ cho
người dân bị ảnh hưởng Covid-19 ở 33 địa phương. Điều này để tiết kiệm chi thường xuyên, tập
trung kiểm soát dịch bệnh và đảm bảo an sinh xã hội, ổn định đời sống nhân dân.
Về tổng thể, số thu ngân sách nhà nước vượt mức dự toán đặt ra nhưng thực tế công tác
thu ngân sách vẫn gặp khó khăn. Chính sách quản lý đối với hàng hóa xuất - nhập khẩu và
chính sách quản lý chặt chẽ cửa khẩu phụ, lối mở phía Trung Quốc đã làm giảm lượng giao
dịch thương mại, ảnh hưởng đến hoạt động thương mại, xuất - nhập khẩu, làm giảm số thu
phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, dịch vụ tiện ích công cộng khác trong khu vực cửa
khẩu. Dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất, kinh
doanh của các doanh nghiệp... Những yếu tố đó có thể làm giảm số thu ngân sách nhà nước
tại khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Việc thu ngân sách thực tế luôn cao hơn dự
toán thu Ngân sách Nhà nước đặt ra yêu cầu về công tác dự báo thu Ngân sách Nhà nước
cần chính xác và sát với thực tế hơn. Bên cạnh đó, xuất phát từ nguyên nhân chủ quan một
số địa phương có thể muốn dự báo thu ngân sách ở mức thấp hơn so với thu ngân sách thực
tế hàng năm để từ đó có khoản thưởng vượt thu từ ngân sách trung ương.
Đối với các khoản thu lệ phí, các cơ quan hành chính nhà nước được để lại một phần để bù đắp
chi phí thu, phần còn lại mới nộp vào NSNN. Việc để lại như vậy làm một phần số thu lệ phí bị để
ngoài ngân sách, đồng thời tỷ lệ để lại chưa sát hoạt động của đơn vị, nên có đơn vị không đủ kinh
phí để tổ chức thu, có đơn vị thừa nguồn thu dẫn đến dư kinh phí hoặc sử dụng sai mục đích…
Phân tích đến thu - chi ngân sách không thể không đề cập tới vấn đề nợ đọng, trốn thuế,
thất thu thuế vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Hành vi trốn thuế, gian lận thuế diễn ra ngày càng
phức tạp với những hành vi ngày càng tinh vi và khó phát hiện, gây thất thoát không nhỏ
NSNN… Hầu hết các địa phương, các loại hình doanh nghiệp; công tác thanh tra, kiểm tra của
cơ quan thuế còn bỏ sót nhiều vi phạm của doanh nghiệp,…Mặc dù số DN được kiểm tra, đối
chiếu không nhiều và các doanh nghiệp trên địa bàn các tỉnh do kiểm toán nhà nước khu vực
XII thực hiện kiểm toán đều có quy mô tương đối nhỏ nhưng qua kiểm toán, kiểm toán nhà 5
nước khu vực II đã kiến nghị tăng thu nhiều tỷ đồng. Từ năm 2015 đến đầu tháng 6/2021, kiểm
toán nhà nước khu vực XII đã thực hiện đối chiếu 767 doanh nghiệp, kiến nghị truy thu nộp
NSNN 215,5 tỷ đồng. Nguyên nhân đến từ tình trạng tham nhũng ở một số dự án, dẫn đến việc
chi tiêu NSNN thường tăng cao hơn so với dự toán và được đánh giá là hiệu quả thấp.
2.2. Thực tiễn về bội chi ngân sách nhà nước tại một số quốc gia trên thế giới
2.2.1. Tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Mỹ và EU
Xung đột chiến tranh giữa Nga và Ukraine [1] i
Sau khi Nga phát động chiến dịch quân sự ở Ukraine, Mỹ và Liên minh châu âu (EU) liên tục
tung đòn trừng phạt Moskva, đồng thời không ngừng viện trợ kinh tế và quân sự cho Kiev.
Nguồn viện trợ không giới hạn của Mỹ và EU là động lực chính giúp cho Ukraine cầm chân
quân Nga trên thực địa. Dù đối mặt với các vấn đề nội bộ, khó khăn về kinh tế do hậu quả từ
xung đột Nga – Ukraine… song theo tiếng gọi, hô hào từ Washington, Brussels chi ra hàng tỷ
euro để hỗ trợ Ukraine. Tháng 12 năm ngoái, EU nhất trí sẽ cung cấp cho Ukraine gói hỗ trợ tín
dụng trị giá 18 tỷ euro (18,9 tỷ USD) trong năm 2023.
Viễn cảnh xung đột giữa Nga và Ukraine kéo dài sẽ đẩy các quốc gia châu Âu tình thế "tiến
thoái lưỡng nan". Chuyên gia quân sự nhận định, nguồn viện trợ từ phương Tây có thể tiếp tục
tăng lên, nhất là khi quân đội Ukraine cần thêm rất nhiều vũ khí. Đây được xem là "gánh nặng"
cho nhiều nước khi viện trợ cho Ukraine trong một thời gian dài khiến kho khí tài cạn kiệt.
Các quốc gia Châu Âu "mệt mỏi" với cuộc xung đột vì thiệt hại kinh tế. Việc EU đang phải
vật lộn với lạm phát tăng cao cũng là nguyên nhân khiến các khoản viện trợ của liên minh này
đối với Ukraine giảm đáng kể, chậm trễ. Tỷ lệ lạm phát trên toàn EU tăng lên mức 8% trong
năm 2022. Khó khăn là vậy, Pháp thừa nhận nước này hết vũ khí để gửi cho Kiev do tình trạng
nguồn cung của chính họ, trong khi Đức cũng phải đối mặt với sự thiếu hụt 20 tỷ euro đạn
dược. Nhiều quốc gia không có đủ hệ thống công nghệ cao để đáp ứng nhu cầu của EU và
những mối đe dọa trong tương lai.
2.2.2. Sai lầm trong chính sách, trong công tác quản lý kinh tế - tài chính, bất cập của quá
trình phân cấp NSNN cho địa phương, điều hành ngân sách không hợp lý,…
Các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Canada có tỷ lệ thâm hụt ngân sách trong năm
2020 tăng vọt so với năm 2017. Ở Mỹ, bội chi NSNN năm 2017 là -4% GDP thì sang năm
2020 tăng vọt lên đến -15% GDP, còn ở Canada bội chi từ -2% GDP (năm 2017) lên đến -
16% GDP (năm 2020). Nguyên nhân đến từ các chính sách hỗ trợ nền kinh tế. Các nước sử
dụng nợ công để huy động nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng, đặc biệt cơ sở hạ tầng tại 6
các vùng kinh tế trọng điểm, mở rộng kết nối giữa các vùng, nâng cao năng lực quản trị số
và chuyển đổi số trong các lĩnh vực KT– XH. Tuy nhiên, việc quản lý chưa hợp lý của
Chính phủ dẫn đến thâm hụt ngân sách chi tiêu nhiều hơn số thuế thu được. Ở góc độ cá
nhân hay doanh nghiệp thì việc chi tiêu vượt quá nguồn thu đều tiềm ẩn những rủi ro đối với
an toàn tài chính của cá nhân hoặc đơn vị đó. Vì thế, các chính phủ luôn ấn định một mức
trần nợ công nhằm mục tiêu “quản lý” an toàn tài chính của quốc gia. 2.2.3.
Tác động của chu kỳ kinh tế ở 1 số nước đang phát triển
Cuộc khủng hoảng năng lượng ở Đức 2022[2]ii
Nền kinh tế Đức 2022 đã rơi vào cuộc khủng hoảng nền kinh tế - tài chính nặng nề với chi
phí năng lượng leo thang đẩy ngành công nghiệp, vốn là “xương sống” của nền kinh tế rơi
vào tình cảnh khốn đốn và sức mua của người tiêu dùng giảm chưa từng có. Phóng viên dẫn
tại Berlin của Bộ Tài chính Đức cho biết một trong những nguyên nhân khiến “thâm hụt
ngân sách” gia tăng là do nước này chi tiêu quá nhiều để đối phó với cuộc khủng hoảng
năng lượng nghiêm trọng. Bộ trưởng Tài chính Christian Lindner cảnh báo: “Năm 2023
chúng ta sẽ chứng kiến mức thâm hụt công là 3,25%, thậm chí con số này có thể lên tới
4,5% GDP tùy thuộc vào quy mô chi tiêu để giúp chống lại giá điện và khí đốt tăng vọt.”
Đức đang lên kế hoạch khôi phục chính sách “phanh nợ” vào năm 2023, theo đó giới hạn
khoản vay mới hàng năm ở mức 0,35% GDP. Mặc dù đã giảm từ 10,4% trong tháng
10/2022 xuống 10% trong tháng 11/2022, lạm phát vẫn ở mức 2 con số và đáng báo động.
Thâm hụt ngân sách Estonia[3] iii
Trong cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu hồi năm 2008, ngân sách Estonia đã
từng bị giảm đáng kể và Chính phủ nước này đã tiến hành cải cách cơ cấu, từ đó giảm mức
thâm hụt ngân sách trong năm 2009 xuống còn 3,7 tỷ Kron (khoảng 237 triệu Euro). Mức
thâm hụt này tương đương 1,7% GDP, đáp ứng tiêu chuẩn để gia nhập khu vực đồng Euro
là thâm hụt ngân sách dưới 3% GDP. Nếu không có những biện pháp thắt chặt ngân sách
kịp thời, NAO cảnh báo tình trạng thâm hụt sẽ trở nên tồi tệ hơn và tác động xấu tới mọi mặt của xã hội. 2.2.4.
Một số nguyên nhân khác: thiên tai, dịch bệnh, địch họa… ở Nhật Bản
Thiên tài, địch hoạ hay những tác động của thế giới cũng là một nguyên nhân gây ra bội
chi ngân sách. Tình hình bất ổn của an ninh thế giới và diễn biến phức tạp của thiên tai sẽ
làm gia tăng nhu cầu chi cho quốc phòng và an ninh trật tự xã hội, gia tăng nhu cầu chi ngân
sách nhà nước để khắc phục hậu quả của thiên tai. 7
Thảm họa Nhật Bản 2011[4] iv
Theo thống kê chính thức của chính phủ Nhật được công bố hồi tháng 6/2011, thiệt hại trực
tiếp về vật chất do sóng thần gây nên ước tính lên tới 16.900 tỷ yên, tức 147 tỷ euro, tương
đương với khoảng 3,5% tổng sản phẩm nội địa. Để so sánh, thiệt hại sau trận động đất ở
Kobe, năm 1995 là 9.600 tỷ yen. Kinh tế Nhật ngay sau thiên tai đã lâm vào suy thoái. Quỹ
Tiền tệ Quốc tế và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OCDE đã giảm dự báo tăng
trưởng của Nhật Bản xuống còn chưa đầy 1 %. Đối với ngành nông và ngư nghiệp, thiệt hại
ước tính lên tới hơn 22 tỷ euro. 2.3. Đánh giá 2.3.1.
Ưu điểm và kết quả
Quản lí bội chi ngân sách trong thời gian qua đã đáp ứng được nhu cầu điều hành vĩ mô,
góp phần ổn định và lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia. Mức độ bội chi ngân sách luôn
được kiềm chế ở mức độ hợp lí trên tổng GDP đã góp phần quan trọng trong việc giúp Nhà
nước kiểm soát tốt hơn công việc thu chi của mình. Nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước là điều
hành nền kinh tế làm sao cho thật sự hiệu quả, kiểm soát mức độ lạm phát ở mức độ cho phép,
tạo thêm nhiều công việc, đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế, cải thiện từng bước đời
sống của người dân,.. và để đạt được những mục tiêu đó thì điều kiện quan trọng đầu tiên là
phải có một nền tài chính vững chắc, một nguồn ngân sách ổn định. Trong lĩnh vực chỉ thị Nhà
nước đã đầu tư có trọng điểm hơn, kiểm tra giám sát hoạt động chi thường xuyên, giảm thiểu
một cách tối đa sự thất thoát trong xây dựng cơ bản, tiến hành đầu tư có trọng điểm, tránh tình
trạng không mục tiêu…tất cả những biện pháp ấy đã góp phần tích cực giúp Nhà nước quản lí
nền kinh tế hiệu quả hơn nữa, đã đem lại một số những thành tựu đáng ghi nhận.
Những nguyên tắc cơ bản về quản lí bội chi NSNN được cụ thể hóa trong luật ngân sách
đã góp phần quan trọng trong điều hành thực tế, góp phần cơ cấu lại NSNN. Các khoản chi
tiêu thường xuyên đã được điều chỉnh một cách tối đa hóa nhưng vẫn đảm bảo tính hiệu quả
tốt nhất để tạo tích lũy nội bộ NSNN cho đầu tư phát triển, giải quyết các mối quan hệ giữa
tích lũy và tiêu dùng. NSNN đã từng bước cơ cấu lại theo hướng giảm thiểu tối đa tình trạng
bao cấp. Nhà nước để doanh nghiệp tự chủ động hơn trong công việc kinh doanh, đồng thời
có chính sách ưu tiên phát triển một số lĩnh vực mà Nhà nước cần can thiệp như giáo dục đào
tạo, y tế toàn dân, phát triển KHCN, bảo vệ môi trường…
Việc quản lí tốt bội chi NS đã góp phần tích cực đẩy lùi lạm phát. Khi tình trạng bội chi giảm
xuống một cách đáng kể, Nhà nước sẽ không phải bù đắp các khoản thâm hụt bằng cách đi vay trong 8
dân chung, tăng thuế, tăng phát hành tiền, hay dùng các biện pháp tiền tệ khác… mà tất cả những
biện pháp này đều là những nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng lạm phát của một quốc gia. 2.3.2.
Hạn chế và thách thức
Đất nước ta vẫn còn nghèo, nền kinh tế vẫn đang trong quá trình bước đầu phát triển, quy
mô nền kinh tế còn nhỏ, trong khi đó nhu cầu chi tiêu cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, vật
chất kỹ thuật, tiến hành CNH – HĐH rất lớn. Mặt khác do trình độ của chúng ta có hạn nên
hiệu quả trong sản xuất kinh doanh không cao, hàng hóa còn kém chất lượng, chưa phong
phú, khiến ta chưa thể cạnh tranh nổi với hàng hóa nước ngoài, thậm chí là ngay trong nước,
chính vì vậy nhiều doanh nghiệp đã không thể trụ vững trên thị trường nước ngoài dẫn đến
phá sản, nhiều khó khăn. Nguồn thu ngân sách chưa vững chắc, một số nguồn thu lớn phụ
thuộc vào giá cả thị trường thế giới (thu từ dầu thô, thuế xuất nhập khẩu…) điều đó đã gây
khó khăn lớn, tác động mạnh mẽ đến tình hình bội chi ngân sách ở nước ta trong thời gian tới.
Hiện nay, trên thế giới đang diễn ra quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hết sức mạnh mẽ,
xu thế toàn cầu hóa đang có những ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống KT- XH của các
nước trên thế giới. Việc tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN, nhất là gần đây đất
nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, điều đó sẽ dẫn đến việc chúng ta sẽ
phát triền hành cắt giảm thuế của rất nhiều mặt hàng mà ta đã cam kết khi tham gia và
những tổ chức, diễn đàn này. Trong tình hình này sẽ khiến cho nguồn thu ngân sách Nhà
nước bị giảm đáng kể, gây khó khăn cho việc chi tiêu của Nhà nước trong tương lai.
Tình trạng thất thu, trốn thuế, kiểm soát nguồn thu thiếu chặt chẽ, buông lỏng trong công
tác giám sát kiểm tra, giám sát việc thu chi ngân sách cũng là nguyên nhân tác động xấu đến
bội chi ngân sách Nhà nước. Lãi xuất vay trong thời gian qua còn cao, thời gian vay còn ngắn,
ít có những khoản vay dài hạn, trong khi đó nhiều khoản vay được dùng để xây dựng đầu tư
cơ bản với thời gian thu hồi vốn lâu đã gây khó khăn cho công tác thu ngân sách. Mặt khác thì
còn có nhiều dự án đầu tư không mang lại hiệu quả, nhiều chủ dự án không có khả năng trả
nợ, tình trạng thâm ô, tham nhũng ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực còn diễn ra phổ biến cũng là
những nguyên nhân gây thất thoát lãnh phí trong việc sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước.
Phần 3: Định hướng xử lý bội chi ngân sách nhà nước
Vấn đề thiếu hụt ngân sách đối với các chính trị gia phải lựa chọn để phù hợp với điều
kiện kinh tế và chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia. Mỗi giải
pháp bù đắp đều làm ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô. Về cơ bản, các quốc gia trên
thế giới thường sử dụng các giải pháp chủ yếu nhằm xử lý bội chi NSNN như sau: 9
Thứ nhất, Nhà nước phát hành thêm tiền. Việc xử lý bội chi NSNN có thể thông qua
việc nhà nước phát hành thêm tiền và đưa ra lưu thông. Tuy nhiên, giải pháp này sẽ gây ra
lạm phát nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp bội chi NSNN. Đặc biệt,
khi nguyên nhân bội chi NSNN là do thiếu hụt các nguồn vốn đối ứng để đầu tư cho phát
triển gây "tăng trưởng nóng" và không cần đối với khả năng tài chính của quốc gia.
Thứ hai, Vay nợ cả trong và ngoài nước. Để bù đắp thâm hụt NSNN, nhà nước có thể
vay nợ nước ngoài và trong nước. Việc vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ kéo theo vấn đề phụ
thuộc nước ngoài cả về chính trị lẫn kinh tế và làm giảm dự trữ ngoại hối quá nhiều khi trả
nợ, làm cạn dự trữ quốc gia sẽ dẫn đến khủng hoảng tỷ giả. Vay nợ trong nước sẽ làm tăng
lãi suất, và cái vòng nợ - trả lãi - bội chi sẽ làm tăng mạnh các khoản nợ công chúng và kéo
theo gánh nặng chi trả của NSNN cho các thời kỳ sau...
Thứ ba, Tăng các khoản thu, đặc biệt là thuế. Việc tăng các khoản thu, đặc biệt là thuế
có thể sẽ bù đắp sự thâm hụt NSNN và giảm bội chi NSNN. Tuy nhiên, đây không phải là
giải pháp cơ bản để xử lý bội chi NSNN, bởi vì nếu tăng thuế không hợp lý sẽ dẫn đến làm
giá cả hàng hóa tăng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân, nghiêm trọng
hơn sẽ triệt tiêu động lực của các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất kinh doanh và làm
mất đi khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đối với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Thứ tư, Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chỉ thường xuyên từ NSNN. Đây là
một giải pháp tuy mang tính tình thể, nhưng vô cùng quan trọng với mỗi quốc gia khi xảy ra
bội chi NSNN và xuất hiện lạm phát. Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là
chỉ đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển
KT-XH, đặc biệt những dự án chưa hiệu quả thì phải cắt giảm. Mặt khác, bên cạnh việc triệt
để tiết kiệm các khoản đầu tư công, những khoản chi thường xuyên cũng phải cắt giảm nếu
những khoản chưa thực sự cần thiết.
Thứ năm, Tăng cường vai trò quản lý nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định chính
sách vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế. Để thực hiện vai
trò của mình, nhà nước sử dụng một hệ thống chính sách và công cụ quản lý vĩ mô để điều
khiển, tác động vào đời sống KT- XH, nhằm giải quyết các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng
như đời sống xã hội, nhất là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, giữa
tăng trưởng kinh tế với giữ gìn môi trường... Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi lạm phát là
một vấn nạn của các nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với
quản lý NSNN nói chung và xử lý bội chi NSNN nói riêng có ý nghĩa võ cùng cấp thiết. 10 C. KẾT LUẬN
Từ những phân tích nêu trên giúp người đọc hiểu rõ hơn về những vấn đề cơ bản về bội
chi ngân sách nhà nước, thực trạng bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam và một số quốc
gia trên thế giới, những nguyên nhân dẫn đến bội chi ngân sách nhà nước và định hướng xử
lý bội chi ngân sách nhà nước. Có nhiều cách để chính phủ bù đắp bội chi ngân sách nhà
nước, nhưng phải sử dụng cách nào, nguồn nào thì còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh
tế, chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia, bởi mỗi giải pháp bù
bắp đều có những ưu nhược điểm làm ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô. Vậy xử lý bội
chi ngân sách nhà nước như thế nào để ổn định vĩ mô, thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến
lược về phát triển kinh tế – xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay?
Chính phủ Việt Nam cần phải tính toán kỹ lưỡng để đưa ra các giải pháp phù hợp với thực
trạng hiện nay, khi nền kinh tế của Việt Nam đang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước, nền tài chính quốc gia cũng được đổi mới. TÀI LIỆU THAM KHẢO 11 i
KÔNG ANH (2023), Thấy gì khi các nước phương Tây tăng chi ngân sách quốc
phòng năm 2023, https://vtc.vn/thay-gi-khi-cac-nuoc-phuong-tay-tang-chi-ngan-
sach-quoc-phong-nam-2023-ar740461.html ii
Vũ Tùng (TTXVN) tại Đức (2022), Thâm hụt ngân sách Của Đức giảm mạnh,
https://baotintuc.vn/the-gioi/tham-hut-ngan-sach-cua-duc-giam-manh- 20221011165006801.htm iii
Ngọc Quỳnh (2020), NAO Estonia cảnh báo thâm hụt ngân sách Chính phủ, Báo
Kiểm Toán,http://baokiemtoan.vn/nao-estonia-canh-bao-tham-hut-ngan-sach-chinh- phu-8243.html iv
Thảm họa động đất, sóng thần ở Nhật Bản (2011); Trung tâm Chính sách và Kỹ
thuật phòng chống thiên tai, https://dmc.gov.vn/
5. Học viện Tài chính (2016). Quản lý tài chính công, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội.
6. Slide môn Quản lý tài chính công
7. Bộ Tài Chính https://mof.gov.vn/