Phân tích những năng lực đặc trưng của người giảng viên từ đó nêu phương hướng bồi dưỡng, rèn luyện của bản thân trong hoạt động dạy học | Bài thu hoạch tâm lý học dạy học đại học

Có một thực tế được chấp nhận một cách rộng rãi rằng, hiện nay, trong lĩnh vực nghề nghiệp, nếu chỉ dừng ở mức những gì được đào tạo nơi trường quy thì chắc chắn năng lực hành nghề sẽ khó có chỗ đứng vững chãi trong một thị trường lao động mang tính cạnh tranh cao, nhất là trong giai đoạn hội nhập; và vì thế, nguy cơ bị đào thải là có tính thường trực. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Môn:
Thông tin:
19 trang 2 tuần trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Phân tích những năng lực đặc trưng của người giảng viên từ đó nêu phương hướng bồi dưỡng, rèn luyện của bản thân trong hoạt động dạy học | Bài thu hoạch tâm lý học dạy học đại học

Có một thực tế được chấp nhận một cách rộng rãi rằng, hiện nay, trong lĩnh vực nghề nghiệp, nếu chỉ dừng ở mức những gì được đào tạo nơi trường quy thì chắc chắn năng lực hành nghề sẽ khó có chỗ đứng vững chãi trong một thị trường lao động mang tính cạnh tranh cao, nhất là trong giai đoạn hội nhập; và vì thế, nguy cơ bị đào thải là có tính thường trực. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

30 15 lượt tải Tải xuống
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
BÀI THU HOẠCH
MÔN: TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Vũ Thùy Hương
Học viên: Lê Thị Loan
Lớp: Nghiệp vụ sư phạm đợt 3/2023
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
BÀI THU HOẠCH
MÔN: TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC ĐẠI HỌC
Đề bài: Phân tích những năng lực đặc trưng của người giảng viên từ đó
nêu phương hướng bồi dưỡng, rèn luyện của bản thân trong hoạt động
dạy học
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Vũ Thùy Hương
Học viên: Lê Thị Loan
Lớp: Nghiệp vụ sư phạm đợt 3/2023
Mở đầu
Có một thực tế được chấp nhận một cách rộng rãi rằng, hiện nay, trong lĩnh vực
nghề nghiệp, nếu chỉ dừng ở mức những gì được đào tạo nơi trường quy thì chắc
chắn năng lực hành nghề sẽ khó có chỗ đứng vững chãi trong một thị trường lao
động mang tính cạnh tranh cao, nhất là trong giai đoạn hội nhập; và vì thế, nguy cơ
bị đào thải là có tính thường trực. Do đó, năng lực nghề nghiệp đòi hỏi phải luôn
được cập nhật, nâng cao và hoàn thiện.
Với giáo dục đổi mới, việc nâng cao năng lực, bồi dưỡng sau đào tạo càng đòi hỏi
cấp bách. Bởi lẽ, chất lượng giáo viên là đại lượng không thể bất biến, cả về bề
rộng và chiều sâu của nội hàm. Biểu đồ nâng cao năng lực nghề nghiệp đối với
giáo viên phải như đường xoáy “trôn ốc” theo chiều đi lên và tuyệt nhiên không có
điểm dừng. Điều này cũng có nghĩa: có được học vị thạc sĩ, tiến sĩ chưa thể được
xem là điều kiện đủ của giảng viên đại học đại học, đặc biệt đối với các giáo viên
trẻ, khi mà kinh nghiệm giảng dạy và thực tiễn nghề nghiệp vẫn chưa hoàn thiện.
Chính vì vậy, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học hiện nay, việc bồi
dưỡng nâng cấp, hoàn thiện đội ngũ giảng viên đòi hỏi các trường đại học cần tìm
kiếm phương sách mới cho công tác đào tạo, nâng cao năng lực bồi dưỡng giáo
viên của mình theo định hướng: đúng đối tượng, nhanh, vững chắc để xây dựng kế
hoạch đào tạo và bồi dưỡng cán bộ khoa học cho xã hội trong thời kì mới.
Do đó, công tác phân tích và đánh giá những năng lực đặc trưng của người giảng
viên là tiền đề, cơ sở để hình thành phương hướng bồi dưỡng, rèn luyện có hiệu
quả cao trong hoạt đông dạy học của người giảng viên. Chính vì vậy, bản thân
chọn đề tài “Phân tích những năng lực đặc trưng của người giảng viên từ đó nêu
phương hướng bồi dưỡng, rèn luyện của bản thân trong hoạt động dạy học” làm
bài hết môn môn Tâm lý học dạy học đại học.
Nội dung
1. Những năng lực đặc trưng của người giảng viên
Năng lực là tổ hợp những thuộc tính tâm lý cơ bản của cá nhân đảm bảo cho việc
thực hiện có kết quả một hay một số lĩnh vực hoạt động nhất định. Năng lực sư
phạm là năng lực chuyên biệt, gồm một số yếu tố: Tính sâu sắc và sự phong phú về
tri thức của giảng viên không phải bao giờ cũng trùng hợp với hoạt động có hiệu
quả của họ; Trình độ phát triển năng lực sư phạm thường không trùng với mức độ
quan hệ đối với công việc mà có khi trội hơn hoặc ngược lại; Thâm niên công tác
tự nó không làm thay đổi cấu trúc trong hoạt động thể hiện trình độ cao của tay
nghề sư phạm; Năng lực sư phạm có liên quan chặt chẽ với năng lực chung như
đặc điểm trí tuệ, ngôn ngữ, tưởng tượng, với những nét tính cách, cảm xúc của
giảng viên và các năng lực chuyên biệt khác.
Năng lực sư phạm của giáo viên phổ thông về cơ bản là tương đồng với năng lực
sư phạm của giảng viên, chỉ khác nhau ở sắc thái của từng năng lực, do: Người học
ở phổ thông và đại học ở các độ tuổi khác nhau nên các đặc điểm tâm lí, xã hội,
văn hóa của họ có khác nhau; Tính chất, mục tiêu học tập của sinh viên thiên về
học để hành nghề, còn học sinh thì thông qua học những kiến thức phổ thông để
phát triển năng lực trí tuệ và nhân cách; Vai trò định hướng, hướng dẫn, tư vấn sinh
viên của giảng viên đại học rõ nét hơn giáo viên phổ thông.
Vai trò và trách nhiệm của giảng viên đại học rộng hơn vì thế họ cần phải bao gồm
cả vai trò là chuyên gia về nội dung giảng dạy, người thúc đẩy quá trình học tập,
nhà thiết kế chương trình hoặc bài giảng, nhà tư vấn và nhà đánh giá giáo dục. Với
tư cách là nhà thiết kế, giảng viên cần đặt sinh viên ở trung tâm của quá trình dạy
và học, và thiết kế các tài liệu giảng dạy như thế nào để có thể tích cực học và kích
thích sinh viên để họ dần dần học tập độc lập (tự học). Với vai trò là nhà tư vấn,
giảng viên được mong đợi cung cấp cho sinh viên những phản hồi và lời khuyên
mang tính xây dựng và gợi ý, và như là nhà đánh giá giáo dục, họ cần có khả năng
thiết kế câu hỏi phù hợp với kết quả học tập mong đợi và thể hiện hiệu quả học tập
của sinh viên và đánh giá của mình. Những năng lực sư phạm này là nền tảng cho
những cách tiếp cận hướng vào sinh viên trong giảng dạy.
Tham khảo Chuẩn Giảng viên đại học ở Mỹ, thấy có đến 4 trong 5 yêu cầu thuộc
thành phần của năng lực sư phạm là: Thiết kế chương trình; Giảng dạy; Các mối
quan hệ giảng dạy và Quản lí khóa học. Nghiên cứu yêu cầu đối với một giảng
viên đại học giỏi cũng cho thấy, năng lực hành động của một giảng viên giỏi đòi
hỏi rất nhiều những hiểu biết về nghiệp vụ sư phạm như: Môn học được học và dạy
như thế nào; Các phương pháp giảng dạy phù hợp với bộ môn; Sử dụng công nghệ
thông tin trong dạy học phù hợp; Những kĩ thuật giám sát và đánh giá việc giảng
dạy…Nghiên cứu này lại cho thấy: năng lực chuyên môn hay kiến thức về môn
học luôn là nền tảng đảm bảo cho giảng viên dạy giỏi. Năng lực xúc cảm, yếu tố trí
tuệ cảm xúc của giảng viên đóng vai trò quan trọng; năng lực nghiệp vụ sư phạm
như: hiểu biết sinh viên như thế nào, hiểu rõ tất cả những khó khăn liên quan tới
những kiến thức và kĩ năng cụ thể được dạy và với từng cá nhân, tạo động lực cho
sinh viên; khả năng sử dụng các kĩ thuật dạy học bao gồm cả các thiết bị công nghệ
và các phương pháp khác; có khả năng sử dụng các phương pháp đánh giá khác
nhau có ý nghĩa quyết định trong năng lực của giảng viên giỏi ở đại học.
Kết quả nghiên cứu của K. Bain trên những giảng viên tốt nhất (ưu tú) cho thấy họ
là những người: Nắm chắc môn mình dạy; hiểu rõ sinh viên; tạo ra những điều
kiện học tập có thách thức và hỗ trợ; tôn trọng và tin tưởng sinh viên; sẵn sàng chia
sẻ với sinh viên...
Tóm lại, năng lực sư phạm của người giảng viên được thể hiện trong hoạt động
giảng dạy và giáo dục. Căn cứ vào hai dạng hoạt động cơ bản này, người ta đã
phân chia thành các nhóm năng lực như sau: Nhóm năng lực dạy học, nhóm năng
lực giáo dục, nhóm năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm.
1.1.Nhóm năng lực dạy học
Dạy học là hoạt động chung của giảng viên và sinh viên, trong đó giảng viên đóng
vai trò là người tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của sinh viên nhằm giúp họ
chủ động tích cực lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Bởi vậy, hiệu quả của
quá trình dạy học phụ thuộc vào sự điều khiển, tổ chức của người giảng viên.
Người giảng viên chỉ có thể làm tốt vai trò này khi hiểu sinh viên trong quá trình
dạy học. Năng lực hiểu sinh viên là một chỉ số cơ bản của năng lực sư phạm. Đây
là năng lực thâm nhập vào thế giới bên trong của sinh viên, sự hiểu biết tường tận
về nhân cách của họ, năng lực quan sát tinh tế những biểu hiện tâm lý của sinh
viên trong quá trình dạy học và giáo dục.
Năng lực hiểu sinh viên được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của quá trình dạy
học: Chuẩn bị bài giảng, trong quá trình giảng dạy.
Khi chuẩn bị bài giảng, người giảng viên phải biết tính đến trình độ văn hóa, trình
độ phát triển của sinh viên. Do đó, khi chế biến tài liệu, người giảng viên biết đặt
mình vào vị trí sinh viên, suy nghĩ về đặc điểm nội dung, xác định khối lượng, mức
độ khó khăn và hình thức trình bày sao cho phù hợp và thuận lợi nhất đối với sinh
viên. Biểu hiện của năng lực hiểu sinh viên là ở chỗ người giảng viên biết xác định
được khối lượng kiến thức đã có và mức độ, phạm vi lĩnh hội của sinh viên; từ đó
xác định mức độ và khối lượng kiến thức mới cần trình bày.
Trong quá trình giảng dạy, bằng những quan sát tinh tế, người giảng viên có thể
xây dựng những biểu tượng chính xác về diễn biến của việc lĩnh hội bài giảng ở
sinh viên: dự đoán mức độ hiểu bài và có khi còn phát hiện cả mức độ sai lệch của
chúng. Đồng thời, dự đoán được những thuận lợi, khó khăn, xác định mức độ căng
thẳng cần thiết khi thực hiện các nhiệm vụ.
Năng lực hiểu sinh viên là kết quả của quá trình lao động đầy trách nhiệm, thương
yêu và sâu sát sinh viên, nắm vững môn mình dạy, am hiểu về Tâm lý học sư
phạm, óc quan sát, khả năng phân tích, đánh giá…
Đây là một trong những năng lực trụ cột của nghề dạy học. Phương tiện người
giảng viên sử dụng trong quá trình giảng dạy và giáo dục sinh viên đó là tri thức,
quan điểm, kỹ năng, thái độ…mà loài người đã khám phá ra, đặc biệt là tri thức
thuộc lĩnh vực giảng dạy. Giảng viên phải nắm vững nội dung, bản chất và con
đường mà loài người đã đi qua. Có như thế, người giảng viên mới có thể tổ chức
cho sinh viên tái tạo và lấy lại những cái cần cho sự phát triển tâm lý, nhân cách
sinh viên. Không chỉ dạy một môn học nào đó, người giảng viên còn phải bồi
dưỡng cho sinh viên có một nhãn quan rộng rãi, có những hứng thú và thiên hướng
thích hợp. Do đó, cần ở người giảng viên một tầm hiểu biết rộng, tâm hồn người
giảng viên phải được bồi bổ nhiều tinh hoa dân tộc, của cuộc sống, của khoa học.
Sự tiến bộ và phát triển nhanh của khoa học công nghệ đã đề ra những yêu cầu
ngày càng cao đối với trình độ văn hóa chung của sinh viên. Đối với người giảng
viên, tri thức và tầm hiểu biết có tác dụng mạnh mẽ trong việc tạo ra uy tín cho bản
thân, được thể hiện như sau: Nắm vững và hiểu biết rộng môn mình phụ trách;
Thường xuyên theo dõi những xu hướng, những phát minh khoa học thuộc môn
mình phụ trách, biết tiến hành nghiên cứu khoa học và có những hứng thú lớn lao
đối với công việc đó; Có năng lực tự học, tự bồi dưỡng để bổ túc và hoàn thiện tri
thức của bản thân, tự nguyện tiếp thu mọi tinh hoa của khoa học, của nền văn hóa
nhân loại.
Để có được năng lực này, đòi hỏi người giảng viên phải đáp ứng những điều kiện
cơ bản sau: Có nhu cầu về sự mở rộng tri thức và tầm hiểu biết (nguồn gốc của tính
tích cực và động lực của việc tự học); Có những kỹ năng để làm thỏa mãn nhu cầu
đó (phương pháp tự học);
Chế biến tài liệu học tập là sự gia công sư phạm của ng ời giảng viên đối với tài
liệu học tập nhằm làm phù hợp tối đa với sinh viên (đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá
nhân, trình độ, kinh nghiệm…) và đảm bảo logic sư phạm. Để có thể thực hiện
được công việc này, người giảng viên cần phải tiến hành các hoạt động sau: Đánh
giá đúng đắn tài liệu: đó là việc xác lập được mối quan hệ giữa yêu cầu kiến thức
của chương trình với trình độ nhận thức của sinh viên, nghĩa là phải đảm bảo được
yêu cầu chung về kiến thức của chương trình vừa phải làm cho tài liệu đó vừa sức
tiếp thu với sinh viên; Chế biến, gia công tài liệu: Nhằm làm cho nó vừa đảm bảo
logic của sự phát triển khoa học, vừa phù hợp với logic sư phạm, lại thích hợp với
trình độ của sinh viên. Giảng viên không phải làm công việc vận chuyển tài liệu từ
sách giáo khoa đến sinh viên mà chủ yếu là tổ chức cho sinh viên dành lấy tri thức
khoa học đã được gửi gắm trong sách giáo khoa, truyền được sức sống của kiến
thức, làm cho kiến thức đó sâu sắc đối với cuộc sống của sinh viên. Vì vậy, ngoài
việc nắm được logic phát triển của tri thức, hiểu thấu đáo, chính xác tài liệu, còn
phải biết chế biến, nhào nặn, biết bổ sung tài liệu đó bằng những điều lấy từ sách
vở, những điều quan sát và thu thập từ cuộc sống. Có khả năng phân tích, tổng
hợp, hệ thống hóa kiến thức: Khi trình bày một tài liệu, người giảng viên phải phân
tích để thấy cái gì là bản chất, là cơ bản, mối quan hệ giữa chúng với những cái chi
tiết, cái thứ yếu, suy nghĩ cách trình bày, dẫn dắt để làm cho nội dung được nổi bật,
thành đối tượng tiếp thu của sinh viên. Có óc sáng tạo: Việc xây dựng lại cấu trúc
tài liệu cho phù hợp với đặc điểm đối tượng là một quá trình lao động sáng tạo.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa làm cho tài liệu trở nên đơn giản, thô thiển. Óc
sáng tạo của người giảng viên thể hiện ở mấy điểm sau: Trình bày tài liệu theo suy
nghĩ và lập luận của mình, cung cấp cho sinh viên những kiến thức tinh và chính
xác, liên hệ được nhiều mặt giữa kiến thức cũ và kiến thức mới, kiến thức giữa các
bộ môn với nhau, liên hệ, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống; Tìm ra những phương
pháp mới, hiệu nghiệm để bài giảng đầy sức lôi cuốn và giàu cảm xúc tích cực;
Nhạy cảm với cái mới và giàu cảm hứng sáng tạo cũng là yếu tố góp phần thúc đẩy
năng lực chế biến tài liệu ở người giảng viên.
Kết quả lĩnh hội tri thức, chiếm lĩnh đối tượng học tập phụ thuộc vào ba yếu tố:
Trình độ nhận thức của sinh viên (do đó người giảng viên phải hiểu sinh viên); Nội
dung bài giảng (do đó người giảng viên phải biết chế biến tài liệu); Cách dạy của
người giảng viên. Vì thế, người giảng viên phải chú ý nâng cao trình độ dạy học
lên mức độ năng lực.
Trong quá trình dạy học, hoạt động dạy và hoạt động học thống nhất với nhau và
không thay thế được nhau. Hoạt động của người giảng viên không có mục đích
riêng cho mình mà nhằm mục đích tạo ra hoạt động nhận thức tích cực của sinh
viên. Theo cách đó, người giảng viên là người tổ chức và điều khiển hoạt động của
sinh viên nhằm lĩnh hội tri thức. Việc tổ chức này dựa trên cơ sở nắm vững con
đường mà loài người đã đi trong khi phát hiện tri thức đó. Vì chỉ có cách đó, sinh
viên mới thực sự nắm được logic nội tại của khái niệm, nắm được chân lý khoa
học.
Kỹ thuật dạy học là kỹ thuật tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của sinh
viên qua bài giảng và đạt đến mức năng lực. Biểu hiện của việc nắm vững kỹ thuật
dạy học ở người giảng viên: Tạo cho sinh viên ở vị trí người phát minh; Truyền đạt
tài liệu rõ ràng, dễ hiểu và làm cho nó trở nên vừa sức với sinh viên; Gây hứng thú
và kích thích sinh viên suy nghĩ tích cực, độc lập; Tạo ra tâm thế có lợi cho sự lĩnh
hội, khắc phục sự suy giảm hoạt động trong giờ học hoặc thái độ thờ ơ, uể oải.
Việc hình thành một năng lực như vậy là kết quả của một quá trình học tập nghiêm
túc và rèn luyện tay nghề công phu của người giảng viên.
Trong dạy học, ngôn ngữ của người thầy thường được hướng vào giải quyết một
nhiệm vụ nhất định: truyền thụ kiến thức mới, kiểm tra kiến thức cũ, thuyết phục
sinh viên tin vào chân lý, lý lẽ nào đó hoặc có khi qua lời nói biểu thị một sự đồng
tình hay phản đối điều gì.
Năng lực ngôn ngữ là khả năng biểu đạt rõ ràng và mạch lạc ý nghĩ, tình cảm của
mình bằng lời nói cũng như nét mặt và điệu bộ. Đây là một trong những năng lực
quan trọng của người giảng viên, là công cụ sống còn, đảm bảo cho người giảng
viên thực hiện chức năng dạy học và giáo dục của mình. Bằng ngôn ngữ, giảng
viên truyền đạt thông tin đến sinh viên, thúc đẩy sự chú ý và suy nghĩ của sinh viên
vào bài giảng, điều khiển và điều chỉnh hoạt động nhận thức của sinh viên. Năng
lực ngôn ngữ của người giảng viên thường được biểu hiện ở cả nội dung và hình
thức của nó, do đó yêu cầu phải có độ sâu sắc về nội dung và giản dị về hình thức.
Về nội dung: Ngôn ngữ phải chứa đựng mật độ thông tin lớn, diễn tả trình bày phải
chính xác, cô đọng; Lời nói phải phản ánh được tính kế tục và tính luận chứng để
đảm bảo thông tin liên tục, logic; Nội dung và hình thức ngôn ngữ phải thích hợp
với các nhiệm vụ nhận thức khác nhau; Nhân cách của người giảng viên là hậu
thuẫn vững chắc và duy nhất cho lời nói của mình. Sức mạnh, sự lôi cuốn, lực hấp
dẫn, tính điều khiển và điều chỉnh của lời nói người giảng viên tùy thuộc một phần
vào nhân cách, uy tín của chính họ.
Về hình thức: Giản dị, sinh động, giàu hình ảnh, có ngữ điệu, sáng sủa, biểu cảm
với cách phát âm mạch lạc, không có sai sót về mặt tu từ học, về ngữ pháp, ngữ
âm. Do đó, người giảng viên phải lựa chọn hình thức trình bày sao cho dễ hiểu, có
chiều sâu về tư tưởng, có sức lay động tâm hồn sinh viên; Tránh những câu dài,
cấu trúc từ phức tạp, những thuật ngữ và cách trình bày khó hiểu. Sự khôi hài đúng
chỗ, sự pha trò nhẹ nhàng, sự châm biếm dí dỏm, có thiện ý sẽ có tác dụng giúp
sinh viên tích cực suy nghĩ, học tập sôi nổi và tiếp thu tốt; Nhịp điệu ngôn ngữ của
người giảng viên không được đều đều, đơn điệu, cũng không được quá gấp. Ngôn
ngữ quá to, quá mạnh hoặc ngược lại quá yếu cũng gây ảnh hưởng tiêu cực cho
sinh viên. Nhịp độ tối ưu là trung bình và hoạt bát.
Các nghiên cứu quốc tế đã cho thấy: Các giảng viên giàu kinh nghiệm, được coi là
giảng viên giỏi và giảng dạy hiệu quả có khả năng thể hiện rằng họ có kiến thức
sâu rộng về các quá trình giảng dạy, kiến thức chuyên sâu về nội dung môn học và
có thể tổ chức trình bày nội dung theo nhiều cách khác nhau để giúp sinh viên học.
Những giảng viên này được gọi là chuyên gia giảng dạy và có thể chứng tỏ: Kiến
thức sâu về môn học mà họ giảng dạy; Khả năng vận dụng các chiến lược giảng
dạy hiệu quả để đưa sinh viên tham gia quá trình học tập. Sử dụng phương pháp
cho phép tối đa hoá sự tham gia của sinh viên; Xây dựng bài giảng phù hợp với
trình độ kiến thức và hiểu biết của sinh viên; Biết cách tổ chức lớp học đa dạng cho
các hoạt động học khác nhau, như cặp đôi, nhóm nhỏ, cả lớp, và tận dụng nguồn
lực cộng đồng để sinh viên có thể trải nghiệm nhiều hơn trong hoạt động học; Điều
chỉnh môi trường vật chất cho phù hợp với các phương pháp giảng dạy khác nhau;
Quản lí lớp học; Sử dụng câu hỏi nâng cao; Dành thời gian chờ đợi sinh viên trả
lời;
Thật vậy, các nghiên cứu về cách đặt câu hỏi và nội dung câu hỏi của giảng viên sư
phạm cho thấy, khoảng 60 % giảng viên chỉ hỏi về việc gợi nhớ kiến thức; 20%
giảng viên có các câu hỏi yêu cầu sinh viên tư duy và 20% câu hỏi về quy trình.
Hay khi nghiên cứu về kĩ thuật giảng dạy của giảng viên ở trên lớp, trong đó có
giao tiếp sư phạm, cho thấy phần lớn công việc mà giảng viên làm ở trên lớp là
nói. Dillon tóm tắt hiện trạng như sau: “Giảng viên luôn có quyền nói trong các
cuộc thảo luận trong lớp học. Giảng viên hỏi học viên, học viên trả lời, giảng viên
nhận xét về câu trả lời và hỏi câu hỏi khác”.
Khi rà soát khoảng 50 nghiên cứu khác nhau của đồng nghiệp trong thời gian
khoảng 20 năm về thời gian chờ, Tobin (1987) đã thấy rằng, phạm vi thời gian là từ
0.5 đến 1.2 giây trong khi khuyến nghị đưa ra là khoảng 3 -5 giây. Điều này có
nghĩa giảng viên cần học cách tạm dừng hay cho phép thời gian chờ. Tobin xác
định có ít khoảng cách hơn trong kết qủa học tập, và thành tích học tập của sinh
viên là cao hơn khi thời gian chờ dài hơn. Đồng thời ông cũng nhấn mạnh rằng,
những giảng viên có thể học cách gia tăng thời gian chờ đã thay đổi hành vi, như:
Giảm bớt việc nói trong các bài học; Ít nói lặp lại; Hỏi nhiều câu hỏi có tính tìm
kiếm; Ít nhắc lại các câu trả lời của sinh viên hơn; Nhiệt tình và quan tâm tới sinh
viên; Có khả năng trình bày các tài liệu mới theo phương pháp “từng bước”; Đa
dạng hóa các phương pháp giảng dạy để đáp ứng nhu cầu của sinh viên và loại tài
liệu được học (ví dụ: minh họa một quy trình trước khi sinh viên thực hành quy
trình đó); Giới thiệu các nguồn tư liệu trong lớp học và áp dụng các phương pháp
giảng dạy khác nhau khi sử dụng tài liệu (ví dụ: làm việc nhóm, khảo sát của cá
nhân, Internet, trình chiếu hình ảnh sử dụng trong thảo luận); Theo dõi tiến bộ của
sinh viên, tham gia và hỗ trợ khi sinh viên gặp khó khăn trong một bài tập; Sử
dụng phương pháp ôn tập và giảng lại nội dung bài học để bảo đảm sinh viên hiểu
được; Cung cấp thông tin phản hồi trước và trong suốt hoạt động đánh giá; Sử
dụng câu hỏi, thảo luận trên lớp để thúc đẩy và kiểm tra hiểu biết của sinh viên về
một chủ đề.
1.2.Nhóm năng lực giáo dục
Mục đích giáo dục là hình thành và phát triển nhân cách, một tổ hợp những phẩm
chất và năng lực của sinh viên theo một cấu trúc nhất định. Vì vậy, mọi hoạt động
sư phạm đều phải nhằm hình thành nên những chất liệu đó tạo nên nhân cách sinh
viên. Để làm được điều này, người giảng viên cần dựa vào mục đích đào tạo để xây
dựng những nội dung và cách thức giáo dục cho từng sinh viên những phẩm chất
nhân cách và hướng hoạt động của mình để đạt tới hình mẫu đó.
Một số biểu hiện của năng lực này: Vừa có kỹ năng tiên đoán sự phát triển của
những thuộc tính này hay khác ở từng sinh viên, vừa nắm được nguyên nhân sinh
ra cũng như mức độ phát triển của những thuộc tính đó. Có sự sáng rõ về những
biểu hiện nhân cách của những sinh viên khác nhau sẽ thu được trong tương lai
dưới ảnh hưởng của những dự án phát triển nhân cách do mình xây dựng. Hình
dung được hiệu quả của các tác động giáo dục nhằm hình thành nhân cách theo dự
án.
Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách được tạo nên bởi nhiều yếu tố tâm lý: Óc
tưởng tượng sư phạm, tính lạc quan sư phạm, niềm tin vào sức mạnh giáo dục,
niềm tin vào con người, óc quan sát sư phạm.
Để hiểu được đối tượng giáo dục và làm cho các tác động sư phạm có ý nghĩa đến
sự hình thành nhân cách sinh viên, người giảng viên cần có năng lực cảm hóa sinh
viên. Đó là khả năng gây được ảnh hưởng trực tiếp của mình đến sinh viên về mặt
tình cảm và ý chí. Nói các khác, đó là khả năng làm cho sinh viên nghe, tin và làm
theo mình bằng tình cảm và niềm tin.
Năng lực cảm hóa sinh viên phụ thuộc vào tổ hợp các phẩm chất trong nhân cách
của người giảng viên: Tinh thần trách nhiệm đối với công việc, kỹ năng truyền đạt
niềm tin vào chính nghĩa, lòng tôn trọng sinh viên, lòng vị tha… Để có được năng
lực này người giảng viên cần phải: Phấn đấu và tu dưỡng để có một nếp sống văn
hóa cao, một phong cách mẫu mực, tinh thần lao động hăng say… Xây dựng mối
quan hệ thầy trò tốt đẹp: Vừa nghiêm túc vừa thân mật, có thái độ yêu thương và
tin tưởng sinh viên, biết đối xử công bằng và dân chủ, chân thành và giản dị…Có
tư thế tác phong gương mẫu trước sinh viên: Nói năng lịch sự, nhã nhặn, cử chỉ
đẹp, đàng hoàng…
Sức hút của sự cảm hóa hoàn toàn bắt nguồn và hiện thân từ chính bộ mặt chính trị
đạo đức và tài nghệ sư phạm của người giảng viên.
Trong hoạt động sư phạm, người giảng viên thường đứng trước nhiều tình huống
sư phạm khác nhau, đòi hỏi phải biết cách giải quyết linh hoạt và sáng tạo. Việc
tìm ra những phương thức tác động đến sinh viên một cách hiệu quả nhất, sự cân
nhắc đúng đắn những nhiệm vụ sư phạm cụ thể phù hợp với đặc điểm và khả năng
của từng cá nhân cũng như tập thể trong từng tình huống sư phạm chính là sự đối
xử khéo léo sư phạm. Vì thế, năng lực này được xem như một thành phần quan
trọng của tài nghệ sư phạm, là một nghệ thuật.
Theo I.V.Xtrakhop, các yếu tố tâm lý của sự khéo léo đối xử sư phạm đó là: Sự
thống nhất giữa tình thương yêu có lý lẽ của giảng viên đối với sinh viên và những
hình thức đối xử hoàn thiện về mặt sư phạm. Sự thống nhất giữa sự tôn trọng nhân
cách sinh viên với tính yêu cầu cao có cơ sở về mặt sư phạm. Sự thống nhất giữa
niềm tin và sự kiểm tra sư phạm. Sự cân bằng giữa ý chí khi giao tiếp kết hợp với
tính giản dị, tự nhiên, chân thật và có thiện ý của hình thức đối xử.
Trong thực tiễn hoạt động sư phạm, sự khéo léo đối xử sư phạm được biểu hiện
dưới nhiều khía cạnh như sau: Sự nhạy bén về mức độ sử dụng bất kỳ mọi tác
động sư phạm nào. Nhanh chóng xác định được vấn đề xảy ra và kịp thời áp dụng
những biện pháp thích hợp. Biết phát hiện kịp thời và giải quyết khéo léo những
vấn đề xảy ra bất ngờ, không nóng vội, không thô bạo. Biết biến cái bị động thành
cái chủ động, giải quyết một cách mau lẹ những vấn đề phức tạp đặt ra trong công
tác dạy học và giáo dục. Quan tâm chu đáo đến sinh viên có tính đến đặc điểm tâm
lý sinh viên, quang minh chính đại.
Cơ sở hình thành nên tài ứng xử sư phạm là do lương tâm nghề nghiệp, niềm tin
yêu và lòng tôn trọng người mà mình dạy dỗ, tinh thông nghề nghiệp.
1.3. Nhóm năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm
Người giảng viên trong hoạt động sư phạm có nhiệm vụ tổ chức lao động cho cá
nhân và tập thể sinh viên trong những điều kiện sư phạm khác nhau, là hạt nhân để
gắn kết sinh viên thành một tập thể, là người truyên truyền và liên kết, phối hợp
các lực lượng giáo dục.
Năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm được thể hiện như sau: Tổ chức và cổ vũ
sinh viên thực hiện các nhiệm vụ khác nhau của công tác dạy học và giáo dục. Biết
đoàn kết tập thể sinh viên thành một tập thể lành mạnh, thống nhất, có kỷ luật, có
nề nếp, đảm bảo cho mọi hoạt động diễn ra một cách thuận lợi và có hiệu quả. Biết
tổ chức, vận động nhân dân, phụ huynh và các tổ chức xã hội tham gia vào sự
nghiệp giáo dục theo một mục tiêu xác định. Yêu cầu đối với việc hình thành năng
lực tổ chức các hoạt động sư phạm: Biết vạch kế hoạch: Người giảng viên phải suy
nghĩ một cách chín chắn, sâu sắc các tình huống giáo dục và đặc điểm đối tượng.
Kế hoạch vạch ra biết kết hợp yêu cầu trước mắt và lâu dài, đảm bảo tính nguyên
tắc và tính linh hoạt của kế hoạch, biết vạch ra kế hoạch đi đôi với kiểm tra kế
hoạch để đánh giá hiệu quả và sẵn sàng bổ sung kế hoạch. Biết sử dụng đúng đắn
các hình thức và phương pháp dạy học và giáo dục khác nhau nhằm tổ chức tốt
việc học tập và có tác động sâu sắc đến tư tưởng và tình cảm của học sinh. Biết xác
định mức độ và giới hạn của từng biện pháp dạy học và giáo dục khác nhau. Có
nghị lực và dũng cảm tin vào sự đúng đắn của kế hoạch và các biện pháp giáo dục.
Việc hiểu biết những thành phần nhân cách nêu trên sẽ giúp cho người giảng viên
thực hiện chức năng cao cả của mình. Ngay từ những ngày đầu là sinh viên, tiếp
đến là trong thực tiễn hoạt động sáng tạo của người “kỹ sư tâm hồn”, những thành
phần đó trong cấu trúc nhân cách người giảng viên sẽ ngày càng phát triển. Tuy
nhiên, vai trò của các nhà trường sư phạm là hết sức quan trọng. Mọi hoạt động
trong nhà trường phải được quy hoạch hóa và được định hướng theo mục đích hình
thành nhân cách người giảng viên. Các sinh viên đang học tập tu dưỡng trong các
trường sư phạm cần ý thức sâu sắc điều này để phấn đấu vượt qua mọi khó khăn để
bản thân trở thành một nhà giáo.
2. Phương hướng bồi dưỡng, rèn luyện của bản thân trong hoạt động dạy học
2.1.Nâng cao khả năng tự học, tự bồi dưỡng bản thân
Xã hội càng phát triển, giáo dục đào tạo cũng phát triển theo, đòi hỏi ngày càng
cao hơn phẩm chất năng lực của đội ngũ giáo viên. Tự học, tự bồi dưỡng là phương
thức tốt nhất giúp người giáo viên tiến bộ, trưởng thành, có đủ phẩm chất và năng
lực chuyên môn nghiệp vụ, hoàn thành nhiệm vụ giáo dục đào tạo được giao.
Bản thân mỗi giáo viên trước hết phải nhận thức được vị trí, vai trò, trách nhiệm về
tự học, tự bồi dưỡng. Chỉ khi nhận thức đúng thì bản thân mới chuyển hóa được
nhu cầu, đòi hỏi của xã hội thành động cơ mục đích của cá nhân, từ đó mới chủ
động, tích cực, tự giác phấn đấu tự học, tự bồi dưỡng.
Ngay từ đầu năm học, giáo viên cần xây dựng cho mình kế hoạch tự học, tự bồi
dưỡng khoa học. Trong kế hoạch này cần xác định rõ mục tiêu, nội dung, hình
thức, phương pháp, thời gian tự học, tự bồi dưỡng. Khi xây dựng kế hoạch giáo
viên phải thể hiện rõ những nét phẩm chất, nhân cách, đạo đức nghề nghiệp cần
hoàn thiện. Những kiến thức, kĩ năng sư phạm, phương pháp dạy học, …cần bổ
sung. Để xây dựng một kế hoạch khoa học, giáo viên cần dựa trên kế hoạch của
trường. Từ đó giáo viên lựa chọn, thống kê các phần công việc cần làm, những yêu
cầu cụ thể cần đạt được, mốc thời gian và mức độ hoàn thành phù hợp với điều
kiện và năng lực bản thân. Sau khi lập được kế hoạch, mỗi người phải có quyết
tâm, có ý thức trách nhiệm, có tinh thần chủ động, kiên trì vượt qua mọi khó khăn
để hoàn thành mục tiêu đặt ra.
Cần sắp xếp thời gian tự học, tự bồi dưỡng cho phù hợp với đặc trưng công việc
của mình. Thời gian tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên rất hạn chế do vậy mỗi
giáo viên cần sắp xếp thời gian tự học qua sinh hoạt chuyên môn ở tổ, nhóm, qua
dự giờ thăm lớp, qua tham dự các buổi chuyên đề, tập huấn, hội thảo do trường,
Phòng giáo dục tổ chức…vào hè hoặc trong năm học. Ngoài ra giáo viên cần tham
gia tự học, tự bồi dưỡng vào ngày nghỉ, giờ nghỉ.
Cần xác định được nội dung tự học, tự bồi dưỡng phù hợp. Tự học, tự bồi dưỡng ở
đây không chỉ bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ mà còn bồi dưỡng về đạo đức,
tác phong, kĩ năng sư phạm. Trong quá trình bồi dưỡng về đạo đức, tác phong, kĩ
năng sư phạm người giáo viên cần học tập ở mọi nơi, mọi lúc trong cuộc sống
cũng như trong công việc. Học tập, bồi dưỡng thông qua các mối quan hệ với đồng
nghiệp, với phụ huynh, với học sinh, với xã hội. Từ đó hoàn thiện nhân cách người
giáo viên. Khi bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ cần biết lựa chọn tài liệu,
nghiên cứu thu thập thông tin một cách có chọn lọc phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Có thể tìm tài liệu bồi dưỡng qua sách báo, qua các phương tiện thông tin đại
chúng, qua mạng internet, qua sinh hoạt chuyên môn… Giáo viên cần bổ sung kịp
thời những kiến thức về tin học, ngoại ngữ, đổi mới về phương pháp, trang bị cho
mình những kiến thức về văn hóa, xã hội, những hiểu biết pháp luật.
Để quá trình tự học, tự bồi dưỡng có hiệu quả phải biết lựa chọn các hình thức bồi
dưỡng phù hợp với khả năng, sở trường của mình. Hình thức tự học, tự bồi dưỡng
thông qua hoạt động cá nhân giảng dạy, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu các công
văn, chỉ thị, thông tư…Hình thức tự học, tự bồi dưỡng qua hoạt động tập thể như
tham gia các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, qua các hoạt động chính trị, xã hội,
qua đào tạo nâng chuẩn.
Trong quá trình tự học, tự bồi dưỡng bản thân phải biết tự kiểm tra, đánh giá kết
quả bồi dưỡng của mình. Hoạt động này giúp mình nhìn nhận lại những việc đã
làm và chưa làm được trong quá trình tự học, tự bồi dưỡng, từ đó kịp thời điều
chỉnh, bổ sung kế hoạch nhằm đạt mục tiêu bồi dưỡng.
Tự học, tự bồi dưỡng được hình thành trong quá trình luyện tập kiên trì có hệ
thống, trên cơ sở ý thức trách nhiệm, tính tự giác cao. Hình thành thái độ động cơ
phấn đấu đúng đắn để hoàn thiện phẩm chất nhân cách, nâng cao năng lực, phương
pháp, tác phong công tác và uy tín nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
hiện nay.
2.2.Nâng cao năng lực giảng dạy của bản thân
. Nội dung bồi dưỡng
cần toàn diện cả về phẩm chất chính trị, động cơ, trách nhiệm, lòng yêu nghề; bám
sát từng môn học, bài học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát
huy tính tích cực nhận thức của học viên, sát với hoạt động thực tiễn. Chú trọng
bồi dưỡng tri thức, phương pháp, kinh nghiệm thực tiễn dạy học ở nhà trường, nhất
là kiến thức, phương pháp, kinh nghiệm về khoa học chuyên ngành mà giảng viên
đảm nhiệm. Bồi dưỡng kỹ năng thực hành giảng dạy, chú ý việc sử dụng ngôn ngữ,
sử dụng các phương tiện dạy học, định hướng cho học viên nghiên cứu tài liệu; kỹ
năng tổ chức và điều khiển quá trình làm việc nhóm, đánh giá kết quả thi và kiểm
tra… Việc sử dụng thành thạo và có hiệu quả các trang thiết bị dạy học thông
minh là một trong những yêu cầu cấp thiết đối với đội ngũ giảng viên. Vì vậy, Nhà
trường, Khoa và các bộ môn phải có kế hoạch tập huấn bồi dưỡng nâng cao trình
độ, kỹ năng khai thác, sử dụng và phát huy thế mạnh các công nghệ hiện đại vào
công tác giảng dạy cho đội ngũ giảng viên.
Hình thức, biện pháp bồi dưỡng phải phù hợp với tình hình, đặc điểm của Nhà
trường, Khoa, bộ môn và cơ sở vật chất, phương tiện bảo đảm. Có thể bồi dưỡng
tập trung những vấn đề chung về chương trình, nội dung, phương pháp dạy học;
những yêu cầu, mục tiêu cần đạt được đối với người dạy và người học các môn
khoa học cơ bản; định hướng những thông tin cần thiết để giảng viên nghiên cứu,
tham khảo đưa vào giảng dạy. Phát huy vai trò của những giảng viên nhiều kinh
nghiệm để bồi dưỡng cho những giảng viên. Đồng thời, lãnh đạo, chỉ huy Khoa,
các bộ môn phải thường xuyên quản lý, kiểm tra việc tự học tập, tự rèn luyện của
mỗi giảng viên theo kế hoạch đã xác định. Các bộ môn cần tập trung hướng dẫn
soạn giáo án; quy trình, phương pháp chuẩn bị bài giảng; thông qua giáo án; kỹ
năng thực hành giảng dạy; vận dụng phương pháp dạy học tích cực. Thực hiện chế
độ dự giảng, bình giảng; kiểm tra, đánh giá chất lượng giảng dạy của từng giảng
viên và tổ chức rút kinh nghiệm trong bộ môn; phân công giảng viên có năng lực,
kinh nghiệm kèm cặp giúp đỡ giảng viên còn hạn chế về năng lực, phương pháp.
Đây là vấn
đề có ý nghĩa quan trọng đối với đội ngũ giảng viên, vì thực chất là sự kết hợp giữa
rèn luyện phẩm chất chính trị với năng lực chuyên môn của giảng viên. Giảng viên
phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và
Nhân dân; đạo đức trong sáng, mẫu mực về lời nói, việc làm, cả khi đứng trên bục
giảng và khi giao tiếp đời thường với học viên. Để đạt được những chuẩn mực đó,
đòi hỏi giảng viên phải tích cực tu dưỡng, tự rèn luyện để ngày càng hoàn thiện
phẩm chất, năng lực của mình. Trong đó, tự học là yêu cầu khách quan để bảo đảm
cho sự phát triển của mỗi người và xã hội trong điều kiện hiện nay. Tự học đối với
đội ngũ giảng viên phải có kế hoạch cụ thể, phương pháp phù hợp. Đọc sách,
nghiên cứu tài liệu kinh điển phải phân tích, chắt lọc, tổng hợp, ghi chép có chủ
định; tích cực suy nghĩ, rèn luyện phương pháp tư duy logic, tìm tòi trong lý luận
và thực tiễn để bổ sung cho mỗi chủ đề phù hợp với đối tượng giảng dạy. Đồng
thời, quan tâm giáo dục, xây dựng lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, ý thức
tổ chức kỷ luật, đạo đức nhà giáo và tinh thần trách nhiệm cho cán bộ, giảng viên,
đảm bảo cho họ phải thật sự là người thầy, người chỉ huy gương mẫu, tự học, tự
rèn thực sự là tấm gương sáng cho học viên noi theo. Duy trì nghiêm nề nếp chính
quy, rèn luyện kỷ luật; gắn xây dựng chuẩn mực đạo đức nhà giáo với việc thực
hiện Cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong
giáo dục”; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ
Chí Minh theo Chi thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) và Nghị quyết
Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Mặt khác, kịp thời
biểu dương, khen thưởng những giảng viên có thành tích trong giảng dạy, nghiên
cứu khoa học; nghiêm khắc phê bình, nhắc nhở những giảng viên có biểu hiện
thiếu cố gắng trong học tập, nghiên cứu, chất lượng giảng dạy thấp, chấp hành
không nghiêm chế độ, quy chế giáo dục - đào tạo. Xây dựng sự đoàn kết, thống
nhất cao trong lãnh đạo, chỉ huy và tập thể khoa, bộ môn, tạo môi trường sư phạm
lành mạnh để đội ngũ giảng viên rèn luyện phẩm chất đạo đức, năng lực sư phạm,
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
Để làm tốt nhiệm vụ giảng dạy, giảng viên phải tích
cực rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo sư phạm; thực hiện đầy đủ các khâu, các bước của
hoạt động sư phạm: lập kế hoạch, nắm đối tượng, đọc tài liệu, xây dựng đề cương,
viết giáo án, thục luyện, thông qua, giảng thử, dự kiến và xử lý các tình huống sư
phạm. Hiện nay, Nhà trường đang tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo trong hoạt động nhận thức của học viên.
Theo đó, mỗi giảng viên phải tích cực thục luyện nội dung đạt tới sự thành thạo;
chú trọng rèn luyện kỹ năng nghiên cứu tài liệu, biên soạn, thực hành bài giảng,
truyền thụ kiến thức, nắm thông tin ngược từ học viên; chuẩn bị, điều khiển thảo
luận (xêmina); kỹ năng và phương pháp nghiên cứu khoa học, v.v. Căn cứ tình
hình cụ thể, Khoa, tổ bộ môn tổ chức các khóa bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ
sư phạm, rèn luyện kỹ năng giảng dạy, sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại;
mở các lớp học ngoại ngữ, tin học; đề xuất với Nhà trường gửi giảng viên chưa đạt
trình độ chuẩn đi đào tạo tại các nhà trường sư phạm trong và ngoài nhà trường.
Thường xuyên tổ chức dự giờ, rút kinh nghiệm giảng dạy, tổ chức thi giảng viên
dạy giỏi các cấp; phổ biến, cung cấp thông tin về những nội dung có liên quan đến
kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, khoa học quân sự, khoa học cơ bản
để giảng viên cập nhật, làm cho bài giảng vừa phong phú, sâu sắc, vừa không lạc
hậu với tình hình.
2.3.Hoàn thiện các kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm
Giảng viên phải tích cực trau dồi, học hỏi thêm các kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm.
Khi lên lớp, tùy theo các loại bài giảng, đối tượng người học, môi trường học tập
(trực tiếp, trực tuyến) để vận dụng hiệu quả các phương pháp dạy học.
Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ khi giảng dạy phải lưu loát, dễ nghe, dễ hiểu, có sức
thuyết phục, âm lượng phù hợp; động tác thực hàng chuẩn, trong quá trình thực
hành phải chú trọng rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống của người học trên từng
cương vị.
Có kế hoạch bài giảng hợp lý, chi tiết, có sự tóm tắt, sàng lọc một cách khoa học
nội dung bài học, từ đó đưa ra định hướng nhận thức , hướng dẫn liên hệ vận dụng,
tổ chức luyện tập thực hành nêu các vấn đề cần chú ý để người học tự nghiên cứu
học tập.
2.4.Vận dụng phương pháp dạy học tích cực
Trước hết là khâu biên soạn bài giảng và kế hoạch giảng bài. Giảng viên phải chủ
động nghiên cứu nội dung của bài, nắm chắc đối tượng giảng dạy, sưu tầm tài liệu,
lựa chọn thông tin, trên cơ sở đó xác định mục đích, yêu cầu của chủ đề bài giảng
cũng như đề cương và biên soạn hoàn chỉnh bài giảng, trong quá trình chuẩn bị bài
giảng còn phải làm chủ nội dung kiến thức để phân tích, chứng minh làm sáng tỏ
những nội dung cần giảng. Đây là bước rất quan trọng để chuẩn bị những kiến thức
về lý thuyết có trong giáo trình, tài liệu tham khảo, những kiến thức thực tế đúc rút
thông qua những kinh nghiệm, kiến thức được chọn lọc cần sử dụng trong khi xây
dựng đề cương chi tiết và hoàn thiện bài giảng.
Thông qua bài giảng trước khi giảng bài khi bài giảng được thông qua và phê duyệt
theo phân cấp, giảng viên phải tích cực thục luyện để nắm chắc nội dung và làm
chủ phương pháp. Trong thực hành giảng bài, tùy theo các loại bài giảng, đối tượng
người học để vận dụng phương pháp có thể thuyết trình, giảng giải, đàm thoại, nêu
vấn đề, thảo luận tập trung…; ngôn ngữ khi giảng bài phải được chọn lọc, dễ hiểu,
có sức thuyết phục, âm lượng phù hợp; động tác thực hành chuẩn, trong quá trình
thực hành phải chú trọng rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống của người học trên
từng cương vị. Sau khi giảng xong một bài, giảng viên phải tóm tắt kết luận nội
dung, định hướng nhận thức, hướng dẫn liên hệ vận dụng, tổ chức luyện tập thực
hành nêu các vấn đề cần chú ý để người học tự nghiên cứu học tập.
Nâng cao năng lực sư phạm và vận dụng phương pháp dạy học tích cực, không có
nghĩa là phủ nhận hoàn toàn phương pháp dạy truyền thống cũng không hẳn là
tuyệt đối hóa phương pháp dạy học tích cực mà cần có sự kết hợp hài hòa, sự vận
dụng kế thừa, tiếp thu tinh hoa nhân loại của khoa học giáo dục hiện đại. Đây là
nhiệm vụ quan trọng của công tác giáo dục quốc phòng và an ninh, góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo theo yêu cầu mới.
Kết luận
Cách mạng công nghiệp 4.0 thúc đẩy tiến bộ về sản xuất thông minh, robot, trí tuệ
nhân tạo và Internet vạn vật. Tuy nhiên, con người vẫn đóng vai trò chủ đạo trong
quản lý và điều khiển công việc, đổi mới sáng tạo. Do đó, giáo dục và đào tạo vẫn
giữ vai trò nền tảng quan trọng trong việc phát triển tri thức và tạo ra các giá trị
bền vững của xã hội. Trong đó, vai trò và năng lực của giảng viên đóng vai trò
quan trọng trong giáo dục và đào tạo.
Trong xã hội dựa trên tri thức và số hóa của thế kỷ XXI, giáo dục phải đương đầu
với thách thức to lớn khi phải đổi mới phương pháp dạy và học. Người giáo viên
cũng phải thay đổi để thích ứng với tốc độ hiện đại hóa của xã hội cũng như để duy
trì mối quan hệ với học sinh, sinh viên nhằm tạo ra một môi trường học tập hiệu
quả. Giáo sư Tony Wagner (Đại học Harvard) từng chia sẻ: “Thế giới ngày nay
không quan tâm kiến thức của sinh viên là gì, mà quan trọng là sinh viên làm được
gì với kiến thức đó”. Vì thế, vai trò của người giáo viên thời 4.0 không chỉ đơn
giản là truyền đạt kiến thức, mà còn giúp học trò trang bị các kỹ năng để hội nhập
toàn cầu.
Năng lực dạy học của giảng viên đóng vai trò quan trọng trong giảng dạy và học
tập vì năng lực này giúp sinh viên nắm bắt được mục tiêu và kỳ vọng của môn học.
Trước những cơ hội và thách thức trong thời đại công nghệ 4.0 bản thân mỗi người
chúng ta làm công tác giáo dục cần phải luôn không ngừng hoàn thiện bản thân
mình, để không để bản thân bị chậm lại phía sau.
Tài liệu tham khảo
1. Cổng thông tin điện tử Bộ giáo dục https://moet.gov.vn
1.TS.Lý Thị Minh Hằng (2014), Giáo trình Tâm lý học sư phạm.
2. http://thdongthanh.tpbacgiang.edu.vn
3. Tạp chí điện tử Lý luận chính trị http://lyluanchinhtri.vn/
5. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 28 (2012) 117 122
| 1/19

Preview text:

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN BÀI THU HOẠCH
MÔN: TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Vũ Thùy Hương Học viên: Lê Thị Loan
Lớp: Nghiệp vụ sư phạm đợt 3/2023
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN BÀI THU HOẠCH
MÔN: TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC ĐẠI HỌC
Đề bài: Phân tích những năng lực đặc trưng của người giảng viên từ đó
nêu phương hướng bồi dưỡng, rèn luyện của bản thân trong hoạt động dạy học
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Vũ Thùy Hương Học viên: Lê Thị Loan
Lớp: Nghiệp vụ sư phạm đợt 3/2023 Mở đầu
Có một thực tế được chấp nhận một cách rộng rãi rằng, hiện nay, trong lĩnh vực
nghề nghiệp, nếu chỉ dừng ở mức những gì được đào tạo nơi trường quy thì chắc
chắn năng lực hành nghề sẽ khó có chỗ đứng vững chãi trong một thị trường lao
động mang tính cạnh tranh cao, nhất là trong giai đoạn hội nhập; và vì thế, nguy cơ
bị đào thải là có tính thường trực. Do đó, năng lực nghề nghiệp đòi hỏi phải luôn
được cập nhật, nâng cao và hoàn thiện.
Với giáo dục đổi mới, việc nâng cao năng lực, bồi dưỡng sau đào tạo càng đòi hỏi
cấp bách. Bởi lẽ, chất lượng giáo viên là đại lượng không thể bất biến, cả về bề
rộng và chiều sâu của nội hàm. Biểu đồ nâng cao năng lực nghề nghiệp đối với
giáo viên phải như đường xoáy “trôn ốc” theo chiều đi lên và tuyệt nhiên không có
điểm dừng. Điều này cũng có nghĩa: có được học vị thạc sĩ, tiến sĩ chưa thể được
xem là điều kiện đủ của giảng viên đại học đại học, đặc biệt đối với các giáo viên
trẻ, khi mà kinh nghiệm giảng dạy và thực tiễn nghề nghiệp vẫn chưa hoàn thiện.
Chính vì vậy, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học hiện nay, việc bồi
dưỡng nâng cấp, hoàn thiện đội ngũ giảng viên đòi hỏi các trường đại học cần tìm
kiếm phương sách mới cho công tác đào tạo, nâng cao năng lực bồi dưỡng giáo
viên của mình theo định hướng: đúng đối tượng, nhanh, vững chắc để xây dựng kế
hoạch đào tạo và bồi dưỡng cán bộ khoa học cho xã hội trong thời kì mới.
Do đó, công tác phân tích và đánh giá những năng lực đặc trưng của người giảng
viên là tiền đề, cơ sở để hình thành phương hướng bồi dưỡng, rèn luyện có hiệu
quả cao trong hoạt đông dạy học của người giảng viên. Chính vì vậy, bản thân
chọn đề tài “Phân tích những năng lực đặc trưng của người giảng viên từ đó nêu
phương hướng bồi dưỡng, rèn luyện của bản thân trong hoạt động dạy học” làm
bài hết môn môn Tâm lý học dạy học đại học. Nội dung
1. Những năng lực đặc trưng của người giảng viên
Năng lực là tổ hợp những thuộc tính tâm lý cơ bản của cá nhân đảm bảo cho việc
thực hiện có kết quả một hay một số lĩnh vực hoạt động nhất định. Năng lực sư
phạm là năng lực chuyên biệt, gồm một số yếu tố: Tính sâu sắc và sự phong phú về
tri thức của giảng viên không phải bao giờ cũng trùng hợp với hoạt động có hiệu
quả của họ; Trình độ phát triển năng lực sư phạm thường không trùng với mức độ
quan hệ đối với công việc mà có khi trội hơn hoặc ngược lại; Thâm niên công tác
tự nó không làm thay đổi cấu trúc trong hoạt động thể hiện trình độ cao của tay
nghề sư phạm; Năng lực sư phạm có liên quan chặt chẽ với năng lực chung như
đặc điểm trí tuệ, ngôn ngữ, tưởng tượng, với những nét tính cách, cảm xúc của
giảng viên và các năng lực chuyên biệt khác.
Năng lực sư phạm của giáo viên phổ thông về cơ bản là tương đồng với năng lực
sư phạm của giảng viên, chỉ khác nhau ở sắc thái của từng năng lực, do: Người học
ở phổ thông và đại học ở các độ tuổi khác nhau nên các đặc điểm tâm lí, xã hội,
văn hóa của họ có khác nhau; Tính chất, mục tiêu học tập của sinh viên thiên về
học để hành nghề, còn học sinh thì thông qua học những kiến thức phổ thông để
phát triển năng lực trí tuệ và nhân cách; Vai trò định hướng, hướng dẫn, tư vấn sinh
viên của giảng viên đại học rõ nét hơn giáo viên phổ thông.
Vai trò và trách nhiệm của giảng viên đại học rộng hơn vì thế họ cần phải bao gồm
cả vai trò là chuyên gia về nội dung giảng dạy, người thúc đẩy quá trình học tập,
nhà thiết kế chương trình hoặc bài giảng, nhà tư vấn và nhà đánh giá giáo dục. Với
tư cách là nhà thiết kế, giảng viên cần đặt sinh viên ở trung tâm của quá trình dạy
và học, và thiết kế các tài liệu giảng dạy như thế nào để có thể tích cực học và kích
thích sinh viên để họ dần dần học tập độc lập (tự học). Với vai trò là nhà tư vấn,
giảng viên được mong đợi cung cấp cho sinh viên những phản hồi và lời khuyên
mang tính xây dựng và gợi ý, và như là nhà đánh giá giáo dục, họ cần có khả năng
thiết kế câu hỏi phù hợp với kết quả học tập mong đợi và thể hiện hiệu quả học tập
của sinh viên và đánh giá của mình. Những năng lực sư phạm này là nền tảng cho
những cách tiếp cận hướng vào sinh viên trong giảng dạy.
Tham khảo Chuẩn Giảng viên đại học ở Mỹ, thấy có đến 4 trong 5 yêu cầu thuộc
thành phần của năng lực sư phạm là: Thiết kế chương trình; Giảng dạy; Các mối
quan hệ giảng dạy và Quản lí khóa học. Nghiên cứu yêu cầu đối với một giảng
viên đại học giỏi cũng cho thấy, năng lực hành động của một giảng viên giỏi đòi
hỏi rất nhiều những hiểu biết về nghiệp vụ sư phạm như: Môn học được học và dạy
như thế nào; Các phương pháp giảng dạy phù hợp với bộ môn; Sử dụng công nghệ
thông tin trong dạy học phù hợp; Những kĩ thuật giám sát và đánh giá việc giảng
dạy…Nghiên cứu này lại cho thấy: năng lực chuyên môn hay kiến thức về môn
học luôn là nền tảng đảm bảo cho giảng viên dạy giỏi. Năng lực xúc cảm, yếu tố trí
tuệ cảm xúc của giảng viên đóng vai trò quan trọng; năng lực nghiệp vụ sư phạm
như: hiểu biết sinh viên như thế nào, hiểu rõ tất cả những khó khăn liên quan tới
những kiến thức và kĩ năng cụ thể được dạy và với từng cá nhân, tạo động lực cho
sinh viên; khả năng sử dụng các kĩ thuật dạy học bao gồm cả các thiết bị công nghệ
và các phương pháp khác; có khả năng sử dụng các phương pháp đánh giá khác
nhau có ý nghĩa quyết định trong năng lực của giảng viên giỏi ở đại học.
Kết quả nghiên cứu của K. Bain trên những giảng viên tốt nhất (ưu tú) cho thấy họ
là những người: Nắm chắc môn mình dạy; hiểu rõ sinh viên; tạo ra những điều
kiện học tập có thách thức và hỗ trợ; tôn trọng và tin tưởng sinh viên; sẵn sàng chia sẻ với sinh viên...
Tóm lại, năng lực sư phạm của người giảng viên được thể hiện trong hoạt động
giảng dạy và giáo dục. Căn cứ vào hai dạng hoạt động cơ bản này, người ta đã
phân chia thành các nhóm năng lực như sau: Nhóm năng lực dạy học, nhóm năng
lực giáo dục, nhóm năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm.
1.1.Nhóm năng lực dạy học
Dạy học là hoạt động chung của giảng viên và sinh viên, trong đó giảng viên đóng
vai trò là người tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của sinh viên nhằm giúp họ
chủ động tích cực lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Bởi vậy, hiệu quả của
quá trình dạy học phụ thuộc vào sự điều khiển, tổ chức của người giảng viên.
Người giảng viên chỉ có thể làm tốt vai trò này khi hiểu sinh viên trong quá trình
dạy học. Năng lực hiểu sinh viên là một chỉ số cơ bản của năng lực sư phạm. Đây
là năng lực thâm nhập vào thế giới bên trong của sinh viên, sự hiểu biết tường tận
về nhân cách của họ, năng lực quan sát tinh tế những biểu hiện tâm lý của sinh
viên trong quá trình dạy học và giáo dục.
Năng lực hiểu sinh viên được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của quá trình dạy
học: Chuẩn bị bài giảng, trong quá trình giảng dạy.
Khi chuẩn bị bài giảng, người giảng viên phải biết tính đến trình độ văn hóa, trình
độ phát triển của sinh viên. Do đó, khi chế biến tài liệu, người giảng viên biết đặt
mình vào vị trí sinh viên, suy nghĩ về đặc điểm nội dung, xác định khối lượng, mức
độ khó khăn và hình thức trình bày sao cho phù hợp và thuận lợi nhất đối với sinh
viên. Biểu hiện của năng lực hiểu sinh viên là ở chỗ người giảng viên biết xác định
được khối lượng kiến thức đã có và mức độ, phạm vi lĩnh hội của sinh viên; từ đó
xác định mức độ và khối lượng kiến thức mới cần trình bày.
Trong quá trình giảng dạy, bằng những quan sát tinh tế, người giảng viên có thể
xây dựng những biểu tượng chính xác về diễn biến của việc lĩnh hội bài giảng ở
sinh viên: dự đoán mức độ hiểu bài và có khi còn phát hiện cả mức độ sai lệch của
chúng. Đồng thời, dự đoán được những thuận lợi, khó khăn, xác định mức độ căng
thẳng cần thiết khi thực hiện các nhiệm vụ.
Năng lực hiểu sinh viên là kết quả của quá trình lao động đầy trách nhiệm, thương
yêu và sâu sát sinh viên, nắm vững môn mình dạy, am hiểu về Tâm lý học sư
phạm, óc quan sát, khả năng phân tích, đánh giá…
Đây là một trong những năng lực trụ cột của nghề dạy học. Phương tiện người
giảng viên sử dụng trong quá trình giảng dạy và giáo dục sinh viên đó là tri thức,
quan điểm, kỹ năng, thái độ…mà loài người đã khám phá ra, đặc biệt là tri thức
thuộc lĩnh vực giảng dạy. Giảng viên phải nắm vững nội dung, bản chất và con
đường mà loài người đã đi qua. Có như thế, người giảng viên mới có thể tổ chức
cho sinh viên tái tạo và lấy lại những cái cần cho sự phát triển tâm lý, nhân cách
sinh viên. Không chỉ dạy một môn học nào đó, người giảng viên còn phải bồi
dưỡng cho sinh viên có một nhãn quan rộng rãi, có những hứng thú và thiên hướng
thích hợp. Do đó, cần ở người giảng viên một tầm hiểu biết rộng, tâm hồn người
giảng viên phải được bồi bổ nhiều tinh hoa dân tộc, của cuộc sống, của khoa học.
Sự tiến bộ và phát triển nhanh của khoa học công nghệ đã đề ra những yêu cầu
ngày càng cao đối với trình độ văn hóa chung của sinh viên. Đối với người giảng
viên, tri thức và tầm hiểu biết có tác dụng mạnh mẽ trong việc tạo ra uy tín cho bản
thân, được thể hiện như sau: Nắm vững và hiểu biết rộng môn mình phụ trách;
Thường xuyên theo dõi những xu hướng, những phát minh khoa học thuộc môn
mình phụ trách, biết tiến hành nghiên cứu khoa học và có những hứng thú lớn lao
đối với công việc đó; Có năng lực tự học, tự bồi dưỡng để bổ túc và hoàn thiện tri
thức của bản thân, tự nguyện tiếp thu mọi tinh hoa của khoa học, của nền văn hóa nhân loại.
Để có được năng lực này, đòi hỏi người giảng viên phải đáp ứng những điều kiện
cơ bản sau: Có nhu cầu về sự mở rộng tri thức và tầm hiểu biết (nguồn gốc của tính
tích cực và động lực của việc tự học); Có những kỹ năng để làm thỏa mãn nhu cầu
đó (phương pháp tự học);
Chế biến tài liệu học tập là sự gia công sư phạm của ng ời giảng viên đối với tài
liệu học tập nhằm làm phù hợp tối đa với sinh viên (đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá
nhân, trình độ, kinh nghiệm…) và đảm bảo logic sư phạm. Để có thể thực hiện
được công việc này, người giảng viên cần phải tiến hành các hoạt động sau: Đánh
giá đúng đắn tài liệu: đó là việc xác lập được mối quan hệ giữa yêu cầu kiến thức
của chương trình với trình độ nhận thức của sinh viên, nghĩa là phải đảm bảo được
yêu cầu chung về kiến thức của chương trình vừa phải làm cho tài liệu đó vừa sức
tiếp thu với sinh viên; Chế biến, gia công tài liệu: Nhằm làm cho nó vừa đảm bảo
logic của sự phát triển khoa học, vừa phù hợp với logic sư phạm, lại thích hợp với
trình độ của sinh viên. Giảng viên không phải làm công việc vận chuyển tài liệu từ
sách giáo khoa đến sinh viên mà chủ yếu là tổ chức cho sinh viên dành lấy tri thức
khoa học đã được gửi gắm trong sách giáo khoa, truyền được sức sống của kiến
thức, làm cho kiến thức đó sâu sắc đối với cuộc sống của sinh viên. Vì vậy, ngoài
việc nắm được logic phát triển của tri thức, hiểu thấu đáo, chính xác tài liệu, còn
phải biết chế biến, nhào nặn, biết bổ sung tài liệu đó bằng những điều lấy từ sách
vở, những điều quan sát và thu thập từ cuộc sống. Có khả năng phân tích, tổng
hợp, hệ thống hóa kiến thức: Khi trình bày một tài liệu, người giảng viên phải phân
tích để thấy cái gì là bản chất, là cơ bản, mối quan hệ giữa chúng với những cái chi
tiết, cái thứ yếu, suy nghĩ cách trình bày, dẫn dắt để làm cho nội dung được nổi bật,
thành đối tượng tiếp thu của sinh viên. Có óc sáng tạo: Việc xây dựng lại cấu trúc
tài liệu cho phù hợp với đặc điểm đối tượng là một quá trình lao động sáng tạo.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa làm cho tài liệu trở nên đơn giản, thô thiển. Óc
sáng tạo của người giảng viên thể hiện ở mấy điểm sau: Trình bày tài liệu theo suy
nghĩ và lập luận của mình, cung cấp cho sinh viên những kiến thức tinh và chính
xác, liên hệ được nhiều mặt giữa kiến thức cũ và kiến thức mới, kiến thức giữa các
bộ môn với nhau, liên hệ, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống; Tìm ra những phương
pháp mới, hiệu nghiệm để bài giảng đầy sức lôi cuốn và giàu cảm xúc tích cực;
Nhạy cảm với cái mới và giàu cảm hứng sáng tạo cũng là yếu tố góp phần thúc đẩy
năng lực chế biến tài liệu ở người giảng viên.
Kết quả lĩnh hội tri thức, chiếm lĩnh đối tượng học tập phụ thuộc vào ba yếu tố:
Trình độ nhận thức của sinh viên (do đó người giảng viên phải hiểu sinh viên); Nội
dung bài giảng (do đó người giảng viên phải biết chế biến tài liệu); Cách dạy của
người giảng viên. Vì thế, người giảng viên phải chú ý nâng cao trình độ dạy học lên mức độ năng lực.
Trong quá trình dạy học, hoạt động dạy và hoạt động học thống nhất với nhau và
không thay thế được nhau. Hoạt động của người giảng viên không có mục đích
riêng cho mình mà nhằm mục đích tạo ra hoạt động nhận thức tích cực của sinh
viên. Theo cách đó, người giảng viên là người tổ chức và điều khiển hoạt động của
sinh viên nhằm lĩnh hội tri thức. Việc tổ chức này dựa trên cơ sở nắm vững con
đường mà loài người đã đi trong khi phát hiện tri thức đó. Vì chỉ có cách đó, sinh
viên mới thực sự nắm được logic nội tại của khái niệm, nắm được chân lý khoa học.
Kỹ thuật dạy học là kỹ thuật tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của sinh
viên qua bài giảng và đạt đến mức năng lực. Biểu hiện của việc nắm vững kỹ thuật
dạy học ở người giảng viên: Tạo cho sinh viên ở vị trí người phát minh; Truyền đạt
tài liệu rõ ràng, dễ hiểu và làm cho nó trở nên vừa sức với sinh viên; Gây hứng thú
và kích thích sinh viên suy nghĩ tích cực, độc lập; Tạo ra tâm thế có lợi cho sự lĩnh
hội, khắc phục sự suy giảm hoạt động trong giờ học hoặc thái độ thờ ơ, uể oải.
Việc hình thành một năng lực như vậy là kết quả của một quá trình học tập nghiêm
túc và rèn luyện tay nghề công phu của người giảng viên.
Trong dạy học, ngôn ngữ của người thầy thường được hướng vào giải quyết một
nhiệm vụ nhất định: truyền thụ kiến thức mới, kiểm tra kiến thức cũ, thuyết phục
sinh viên tin vào chân lý, lý lẽ nào đó hoặc có khi qua lời nói biểu thị một sự đồng
tình hay phản đối điều gì.
Năng lực ngôn ngữ là khả năng biểu đạt rõ ràng và mạch lạc ý nghĩ, tình cảm của
mình bằng lời nói cũng như nét mặt và điệu bộ. Đây là một trong những năng lực
quan trọng của người giảng viên, là công cụ sống còn, đảm bảo cho người giảng
viên thực hiện chức năng dạy học và giáo dục của mình. Bằng ngôn ngữ, giảng
viên truyền đạt thông tin đến sinh viên, thúc đẩy sự chú ý và suy nghĩ của sinh viên
vào bài giảng, điều khiển và điều chỉnh hoạt động nhận thức của sinh viên. Năng
lực ngôn ngữ của người giảng viên thường được biểu hiện ở cả nội dung và hình
thức của nó, do đó yêu cầu phải có độ sâu sắc về nội dung và giản dị về hình thức.
Về nội dung: Ngôn ngữ phải chứa đựng mật độ thông tin lớn, diễn tả trình bày phải
chính xác, cô đọng; Lời nói phải phản ánh được tính kế tục và tính luận chứng để
đảm bảo thông tin liên tục, logic; Nội dung và hình thức ngôn ngữ phải thích hợp
với các nhiệm vụ nhận thức khác nhau; Nhân cách của người giảng viên là hậu
thuẫn vững chắc và duy nhất cho lời nói của mình. Sức mạnh, sự lôi cuốn, lực hấp
dẫn, tính điều khiển và điều chỉnh của lời nói người giảng viên tùy thuộc một phần
vào nhân cách, uy tín của chính họ.
Về hình thức: Giản dị, sinh động, giàu hình ảnh, có ngữ điệu, sáng sủa, biểu cảm
với cách phát âm mạch lạc, không có sai sót về mặt tu từ học, về ngữ pháp, ngữ
âm. Do đó, người giảng viên phải lựa chọn hình thức trình bày sao cho dễ hiểu, có
chiều sâu về tư tưởng, có sức lay động tâm hồn sinh viên; Tránh những câu dài,
cấu trúc từ phức tạp, những thuật ngữ và cách trình bày khó hiểu. Sự khôi hài đúng
chỗ, sự pha trò nhẹ nhàng, sự châm biếm dí dỏm, có thiện ý sẽ có tác dụng giúp
sinh viên tích cực suy nghĩ, học tập sôi nổi và tiếp thu tốt; Nhịp điệu ngôn ngữ của
người giảng viên không được đều đều, đơn điệu, cũng không được quá gấp. Ngôn
ngữ quá to, quá mạnh hoặc ngược lại quá yếu cũng gây ảnh hưởng tiêu cực cho
sinh viên. Nhịp độ tối ưu là trung bình và hoạt bát.
Các nghiên cứu quốc tế đã cho thấy: Các giảng viên giàu kinh nghiệm, được coi là
giảng viên giỏi và giảng dạy hiệu quả có khả năng thể hiện rằng họ có kiến thức
sâu rộng về các quá trình giảng dạy, kiến thức chuyên sâu về nội dung môn học và
có thể tổ chức trình bày nội dung theo nhiều cách khác nhau để giúp sinh viên học.
Những giảng viên này được gọi là chuyên gia giảng dạy và có thể chứng tỏ: Kiến
thức sâu về môn học mà họ giảng dạy; Khả năng vận dụng các chiến lược giảng
dạy hiệu quả để đưa sinh viên tham gia quá trình học tập. Sử dụng phương pháp
cho phép tối đa hoá sự tham gia của sinh viên; Xây dựng bài giảng phù hợp với
trình độ kiến thức và hiểu biết của sinh viên; Biết cách tổ chức lớp học đa dạng cho
các hoạt động học khác nhau, như cặp đôi, nhóm nhỏ, cả lớp, và tận dụng nguồn
lực cộng đồng để sinh viên có thể trải nghiệm nhiều hơn trong hoạt động học; Điều
chỉnh môi trường vật chất cho phù hợp với các phương pháp giảng dạy khác nhau;
Quản lí lớp học; Sử dụng câu hỏi nâng cao; Dành thời gian chờ đợi sinh viên trả lời;
Thật vậy, các nghiên cứu về cách đặt câu hỏi và nội dung câu hỏi của giảng viên sư
phạm cho thấy, khoảng 60 % giảng viên chỉ hỏi về việc gợi nhớ kiến thức; 20%
giảng viên có các câu hỏi yêu cầu sinh viên tư duy và 20% câu hỏi về quy trình.
Hay khi nghiên cứu về kĩ thuật giảng dạy của giảng viên ở trên lớp, trong đó có
giao tiếp sư phạm, cho thấy phần lớn công việc mà giảng viên làm ở trên lớp là
nói. Dillon tóm tắt hiện trạng như sau: “Giảng viên luôn có quyền nói trong các
cuộc thảo luận trong lớp học. Giảng viên hỏi học viên, học viên trả lời, giảng viên
nhận xét về câu trả lời và hỏi câu hỏi khác”.
Khi rà soát khoảng 50 nghiên cứu khác nhau của đồng nghiệp trong thời gian
khoảng 20 năm về thời gian chờ, Tobin (1987) đã thấy rằng, phạm vi thời gian là từ
0.5 đến 1.2 giây trong khi khuyến nghị đưa ra là khoảng 3 -5 giây. Điều này có
nghĩa giảng viên cần học cách tạm dừng hay cho phép thời gian chờ. Tobin xác
định có ít khoảng cách hơn trong kết qủa học tập, và thành tích học tập của sinh
viên là cao hơn khi thời gian chờ dài hơn. Đồng thời ông cũng nhấn mạnh rằng,
những giảng viên có thể học cách gia tăng thời gian chờ đã thay đổi hành vi, như:
Giảm bớt việc nói trong các bài học; Ít nói lặp lại; Hỏi nhiều câu hỏi có tính tìm
kiếm; Ít nhắc lại các câu trả lời của sinh viên hơn; Nhiệt tình và quan tâm tới sinh
viên; Có khả năng trình bày các tài liệu mới theo phương pháp “từng bước”; Đa
dạng hóa các phương pháp giảng dạy để đáp ứng nhu cầu của sinh viên và loại tài
liệu được học (ví dụ: minh họa một quy trình trước khi sinh viên thực hành quy
trình đó); Giới thiệu các nguồn tư liệu trong lớp học và áp dụng các phương pháp
giảng dạy khác nhau khi sử dụng tài liệu (ví dụ: làm việc nhóm, khảo sát của cá
nhân, Internet, trình chiếu hình ảnh sử dụng trong thảo luận); Theo dõi tiến bộ của
sinh viên, tham gia và hỗ trợ khi sinh viên gặp khó khăn trong một bài tập; Sử
dụng phương pháp ôn tập và giảng lại nội dung bài học để bảo đảm sinh viên hiểu
được; Cung cấp thông tin phản hồi trước và trong suốt hoạt động đánh giá; Sử
dụng câu hỏi, thảo luận trên lớp để thúc đẩy và kiểm tra hiểu biết của sinh viên về một chủ đề.
1.2.Nhóm năng lực giáo dục
Mục đích giáo dục là hình thành và phát triển nhân cách, một tổ hợp những phẩm
chất và năng lực của sinh viên theo một cấu trúc nhất định. Vì vậy, mọi hoạt động
sư phạm đều phải nhằm hình thành nên những chất liệu đó tạo nên nhân cách sinh
viên. Để làm được điều này, người giảng viên cần dựa vào mục đích đào tạo để xây
dựng những nội dung và cách thức giáo dục cho từng sinh viên những phẩm chất
nhân cách và hướng hoạt động của mình để đạt tới hình mẫu đó.
Một số biểu hiện của năng lực này: Vừa có kỹ năng tiên đoán sự phát triển của
những thuộc tính này hay khác ở từng sinh viên, vừa nắm được nguyên nhân sinh
ra cũng như mức độ phát triển của những thuộc tính đó. Có sự sáng rõ về những
biểu hiện nhân cách của những sinh viên khác nhau sẽ thu được trong tương lai
dưới ảnh hưởng của những dự án phát triển nhân cách do mình xây dựng. Hình
dung được hiệu quả của các tác động giáo dục nhằm hình thành nhân cách theo dự án.
Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách được tạo nên bởi nhiều yếu tố tâm lý: Óc
tưởng tượng sư phạm, tính lạc quan sư phạm, niềm tin vào sức mạnh giáo dục,
niềm tin vào con người, óc quan sát sư phạm.
Để hiểu được đối tượng giáo dục và làm cho các tác động sư phạm có ý nghĩa đến
sự hình thành nhân cách sinh viên, người giảng viên cần có năng lực cảm hóa sinh
viên. Đó là khả năng gây được ảnh hưởng trực tiếp của mình đến sinh viên về mặt
tình cảm và ý chí. Nói các khác, đó là khả năng làm cho sinh viên nghe, tin và làm
theo mình bằng tình cảm và niềm tin.
Năng lực cảm hóa sinh viên phụ thuộc vào tổ hợp các phẩm chất trong nhân cách
của người giảng viên: Tinh thần trách nhiệm đối với công việc, kỹ năng truyền đạt
niềm tin vào chính nghĩa, lòng tôn trọng sinh viên, lòng vị tha… Để có được năng
lực này người giảng viên cần phải: Phấn đấu và tu dưỡng để có một nếp sống văn
hóa cao, một phong cách mẫu mực, tinh thần lao động hăng say… Xây dựng mối
quan hệ thầy trò tốt đẹp: Vừa nghiêm túc vừa thân mật, có thái độ yêu thương và
tin tưởng sinh viên, biết đối xử công bằng và dân chủ, chân thành và giản dị…Có
tư thế tác phong gương mẫu trước sinh viên: Nói năng lịch sự, nhã nhặn, cử chỉ đẹp, đàng hoàng…
Sức hút của sự cảm hóa hoàn toàn bắt nguồn và hiện thân từ chính bộ mặt chính trị
đạo đức và tài nghệ sư phạm của người giảng viên.
Trong hoạt động sư phạm, người giảng viên thường đứng trước nhiều tình huống
sư phạm khác nhau, đòi hỏi phải biết cách giải quyết linh hoạt và sáng tạo. Việc
tìm ra những phương thức tác động đến sinh viên một cách hiệu quả nhất, sự cân
nhắc đúng đắn những nhiệm vụ sư phạm cụ thể phù hợp với đặc điểm và khả năng
của từng cá nhân cũng như tập thể trong từng tình huống sư phạm chính là sự đối
xử khéo léo sư phạm. Vì thế, năng lực này được xem như một thành phần quan
trọng của tài nghệ sư phạm, là một nghệ thuật.
Theo I.V.Xtrakhop, các yếu tố tâm lý của sự khéo léo đối xử sư phạm đó là: Sự
thống nhất giữa tình thương yêu có lý lẽ của giảng viên đối với sinh viên và những
hình thức đối xử hoàn thiện về mặt sư phạm. Sự thống nhất giữa sự tôn trọng nhân
cách sinh viên với tính yêu cầu cao có cơ sở về mặt sư phạm. Sự thống nhất giữa
niềm tin và sự kiểm tra sư phạm. Sự cân bằng giữa ý chí khi giao tiếp kết hợp với
tính giản dị, tự nhiên, chân thật và có thiện ý của hình thức đối xử.
Trong thực tiễn hoạt động sư phạm, sự khéo léo đối xử sư phạm được biểu hiện
dưới nhiều khía cạnh như sau: Sự nhạy bén về mức độ sử dụng bất kỳ mọi tác
động sư phạm nào. Nhanh chóng xác định được vấn đề xảy ra và kịp thời áp dụng
những biện pháp thích hợp. Biết phát hiện kịp thời và giải quyết khéo léo những
vấn đề xảy ra bất ngờ, không nóng vội, không thô bạo. Biết biến cái bị động thành
cái chủ động, giải quyết một cách mau lẹ những vấn đề phức tạp đặt ra trong công
tác dạy học và giáo dục. Quan tâm chu đáo đến sinh viên có tính đến đặc điểm tâm
lý sinh viên, quang minh chính đại.
Cơ sở hình thành nên tài ứng xử sư phạm là do lương tâm nghề nghiệp, niềm tin
yêu và lòng tôn trọng người mà mình dạy dỗ, tinh thông nghề nghiệp.
1.3. Nhóm năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm
Người giảng viên trong hoạt động sư phạm có nhiệm vụ tổ chức lao động cho cá
nhân và tập thể sinh viên trong những điều kiện sư phạm khác nhau, là hạt nhân để
gắn kết sinh viên thành một tập thể, là người truyên truyền và liên kết, phối hợp
các lực lượng giáo dục.
Năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm được thể hiện như sau: Tổ chức và cổ vũ
sinh viên thực hiện các nhiệm vụ khác nhau của công tác dạy học và giáo dục. Biết
đoàn kết tập thể sinh viên thành một tập thể lành mạnh, thống nhất, có kỷ luật, có
nề nếp, đảm bảo cho mọi hoạt động diễn ra một cách thuận lợi và có hiệu quả. Biết
tổ chức, vận động nhân dân, phụ huynh và các tổ chức xã hội tham gia vào sự
nghiệp giáo dục theo một mục tiêu xác định. Yêu cầu đối với việc hình thành năng
lực tổ chức các hoạt động sư phạm: Biết vạch kế hoạch: Người giảng viên phải suy
nghĩ một cách chín chắn, sâu sắc các tình huống giáo dục và đặc điểm đối tượng.
Kế hoạch vạch ra biết kết hợp yêu cầu trước mắt và lâu dài, đảm bảo tính nguyên
tắc và tính linh hoạt của kế hoạch, biết vạch ra kế hoạch đi đôi với kiểm tra kế
hoạch để đánh giá hiệu quả và sẵn sàng bổ sung kế hoạch. Biết sử dụng đúng đắn
các hình thức và phương pháp dạy học và giáo dục khác nhau nhằm tổ chức tốt
việc học tập và có tác động sâu sắc đến tư tưởng và tình cảm của học sinh. Biết xác
định mức độ và giới hạn của từng biện pháp dạy học và giáo dục khác nhau. Có
nghị lực và dũng cảm tin vào sự đúng đắn của kế hoạch và các biện pháp giáo dục.
Việc hiểu biết những thành phần nhân cách nêu trên sẽ giúp cho người giảng viên
thực hiện chức năng cao cả của mình. Ngay từ những ngày đầu là sinh viên, tiếp
đến là trong thực tiễn hoạt động sáng tạo của người “kỹ sư tâm hồn”, những thành
phần đó trong cấu trúc nhân cách người giảng viên sẽ ngày càng phát triển. Tuy
nhiên, vai trò của các nhà trường sư phạm là hết sức quan trọng. Mọi hoạt động
trong nhà trường phải được quy hoạch hóa và được định hướng theo mục đích hình
thành nhân cách người giảng viên. Các sinh viên đang học tập tu dưỡng trong các
trường sư phạm cần ý thức sâu sắc điều này để phấn đấu vượt qua mọi khó khăn để
bản thân trở thành một nhà giáo.
2. Phương hướng bồi dưỡng, rèn luyện của bản thân trong hoạt động dạy học
2.1.Nâng cao khả năng tự học, tự bồi dưỡng bản thân
Xã hội càng phát triển, giáo dục đào tạo cũng phát triển theo, đòi hỏi ngày càng
cao hơn phẩm chất năng lực của đội ngũ giáo viên. Tự học, tự bồi dưỡng là phương
thức tốt nhất giúp người giáo viên tiến bộ, trưởng thành, có đủ phẩm chất và năng
lực chuyên môn nghiệp vụ, hoàn thành nhiệm vụ giáo dục đào tạo được giao.
Bản thân mỗi giáo viên trước hết phải nhận thức được vị trí, vai trò, trách nhiệm về
tự học, tự bồi dưỡng. Chỉ khi nhận thức đúng thì bản thân mới chuyển hóa được
nhu cầu, đòi hỏi của xã hội thành động cơ mục đích của cá nhân, từ đó mới chủ
động, tích cực, tự giác phấn đấu tự học, tự bồi dưỡng.
Ngay từ đầu năm học, giáo viên cần xây dựng cho mình kế hoạch tự học, tự bồi
dưỡng khoa học. Trong kế hoạch này cần xác định rõ mục tiêu, nội dung, hình
thức, phương pháp, thời gian tự học, tự bồi dưỡng. Khi xây dựng kế hoạch giáo
viên phải thể hiện rõ những nét phẩm chất, nhân cách, đạo đức nghề nghiệp cần
hoàn thiện. Những kiến thức, kĩ năng sư phạm, phương pháp dạy học, …cần bổ
sung. Để xây dựng một kế hoạch khoa học, giáo viên cần dựa trên kế hoạch của
trường. Từ đó giáo viên lựa chọn, thống kê các phần công việc cần làm, những yêu
cầu cụ thể cần đạt được, mốc thời gian và mức độ hoàn thành phù hợp với điều
kiện và năng lực bản thân. Sau khi lập được kế hoạch, mỗi người phải có quyết
tâm, có ý thức trách nhiệm, có tinh thần chủ động, kiên trì vượt qua mọi khó khăn
để hoàn thành mục tiêu đặt ra.
Cần sắp xếp thời gian tự học, tự bồi dưỡng cho phù hợp với đặc trưng công việc
của mình. Thời gian tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên rất hạn chế do vậy mỗi
giáo viên cần sắp xếp thời gian tự học qua sinh hoạt chuyên môn ở tổ, nhóm, qua
dự giờ thăm lớp, qua tham dự các buổi chuyên đề, tập huấn, hội thảo do trường,
Phòng giáo dục tổ chức…vào hè hoặc trong năm học. Ngoài ra giáo viên cần tham
gia tự học, tự bồi dưỡng vào ngày nghỉ, giờ nghỉ.
Cần xác định được nội dung tự học, tự bồi dưỡng phù hợp. Tự học, tự bồi dưỡng ở
đây không chỉ bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ mà còn bồi dưỡng về đạo đức,
tác phong, kĩ năng sư phạm. Trong quá trình bồi dưỡng về đạo đức, tác phong, kĩ
năng sư phạm người giáo viên cần học tập ở mọi nơi, mọi lúc trong cuộc sống
cũng như trong công việc. Học tập, bồi dưỡng thông qua các mối quan hệ với đồng
nghiệp, với phụ huynh, với học sinh, với xã hội. Từ đó hoàn thiện nhân cách người
giáo viên. Khi bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ cần biết lựa chọn tài liệu,
nghiên cứu thu thập thông tin một cách có chọn lọc phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Có thể tìm tài liệu bồi dưỡng qua sách báo, qua các phương tiện thông tin đại
chúng, qua mạng internet, qua sinh hoạt chuyên môn… Giáo viên cần bổ sung kịp
thời những kiến thức về tin học, ngoại ngữ, đổi mới về phương pháp, trang bị cho
mình những kiến thức về văn hóa, xã hội, những hiểu biết pháp luật.
Để quá trình tự học, tự bồi dưỡng có hiệu quả phải biết lựa chọn các hình thức bồi
dưỡng phù hợp với khả năng, sở trường của mình. Hình thức tự học, tự bồi dưỡng
thông qua hoạt động cá nhân giảng dạy, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu các công
văn, chỉ thị, thông tư…Hình thức tự học, tự bồi dưỡng qua hoạt động tập thể như
tham gia các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, qua các hoạt động chính trị, xã hội, qua đào tạo nâng chuẩn.
Trong quá trình tự học, tự bồi dưỡng bản thân phải biết tự kiểm tra, đánh giá kết
quả bồi dưỡng của mình. Hoạt động này giúp mình nhìn nhận lại những việc đã
làm và chưa làm được trong quá trình tự học, tự bồi dưỡng, từ đó kịp thời điều
chỉnh, bổ sung kế hoạch nhằm đạt mục tiêu bồi dưỡng.
Tự học, tự bồi dưỡng được hình thành trong quá trình luyện tập kiên trì có hệ
thống, trên cơ sở ý thức trách nhiệm, tính tự giác cao. Hình thành thái độ động cơ
phấn đấu đúng đắn để hoàn thiện phẩm chất nhân cách, nâng cao năng lực, phương
pháp, tác phong công tác và uy tín nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
2.2.Nâng cao năng lực giảng dạy của bản thân . Nội dung bồi dưỡng
cần toàn diện cả về phẩm chất chính trị, động cơ, trách nhiệm, lòng yêu nghề; bám
sát từng môn học, bài học, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát
huy tính tích cực nhận thức của học viên, sát với hoạt động thực tiễn. Chú trọng
bồi dưỡng tri thức, phương pháp, kinh nghiệm thực tiễn dạy học ở nhà trường, nhất
là kiến thức, phương pháp, kinh nghiệm về khoa học chuyên ngành mà giảng viên
đảm nhiệm. Bồi dưỡng kỹ năng thực hành giảng dạy, chú ý việc sử dụng ngôn ngữ,
sử dụng các phương tiện dạy học, định hướng cho học viên nghiên cứu tài liệu; kỹ
năng tổ chức và điều khiển quá trình làm việc nhóm, đánh giá kết quả thi và kiểm
tra… Việc sử dụng thành thạo và có hiệu quả các trang thiết bị dạy học thông
minh là một trong những yêu cầu cấp thiết đối với đội ngũ giảng viên. Vì vậy, Nhà
trường, Khoa và các bộ môn phải có kế hoạch tập huấn bồi dưỡng nâng cao trình
độ, kỹ năng khai thác, sử dụng và phát huy thế mạnh các công nghệ hiện đại vào
công tác giảng dạy cho đội ngũ giảng viên.
Hình thức, biện pháp bồi dưỡng phải phù hợp với tình hình, đặc điểm của Nhà
trường, Khoa, bộ môn và cơ sở vật chất, phương tiện bảo đảm. Có thể bồi dưỡng
tập trung những vấn đề chung về chương trình, nội dung, phương pháp dạy học;
những yêu cầu, mục tiêu cần đạt được đối với người dạy và người học các môn
khoa học cơ bản; định hướng những thông tin cần thiết để giảng viên nghiên cứu,
tham khảo đưa vào giảng dạy. Phát huy vai trò của những giảng viên nhiều kinh
nghiệm để bồi dưỡng cho những giảng viên. Đồng thời, lãnh đạo, chỉ huy Khoa,
các bộ môn phải thường xuyên quản lý, kiểm tra việc tự học tập, tự rèn luyện của
mỗi giảng viên theo kế hoạch đã xác định. Các bộ môn cần tập trung hướng dẫn
soạn giáo án; quy trình, phương pháp chuẩn bị bài giảng; thông qua giáo án; kỹ
năng thực hành giảng dạy; vận dụng phương pháp dạy học tích cực. Thực hiện chế
độ dự giảng, bình giảng; kiểm tra, đánh giá chất lượng giảng dạy của từng giảng
viên và tổ chức rút kinh nghiệm trong bộ môn; phân công giảng viên có năng lực,
kinh nghiệm kèm cặp giúp đỡ giảng viên còn hạn chế về năng lực, phương pháp. Đây là vấn
đề có ý nghĩa quan trọng đối với đội ngũ giảng viên, vì thực chất là sự kết hợp giữa
rèn luyện phẩm chất chính trị với năng lực chuyên môn của giảng viên. Giảng viên
phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và
Nhân dân; đạo đức trong sáng, mẫu mực về lời nói, việc làm, cả khi đứng trên bục
giảng và khi giao tiếp đời thường với học viên. Để đạt được những chuẩn mực đó,
đòi hỏi giảng viên phải tích cực tu dưỡng, tự rèn luyện để ngày càng hoàn thiện
phẩm chất, năng lực của mình. Trong đó, tự học là yêu cầu khách quan để bảo đảm
cho sự phát triển của mỗi người và xã hội trong điều kiện hiện nay. Tự học đối với
đội ngũ giảng viên phải có kế hoạch cụ thể, phương pháp phù hợp. Đọc sách,
nghiên cứu tài liệu kinh điển phải phân tích, chắt lọc, tổng hợp, ghi chép có chủ
định; tích cực suy nghĩ, rèn luyện phương pháp tư duy logic, tìm tòi trong lý luận
và thực tiễn để bổ sung cho mỗi chủ đề phù hợp với đối tượng giảng dạy. Đồng
thời, quan tâm giáo dục, xây dựng lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, ý thức
tổ chức kỷ luật, đạo đức nhà giáo và tinh thần trách nhiệm cho cán bộ, giảng viên,
đảm bảo cho họ phải thật sự là người thầy, người chỉ huy gương mẫu, tự học, tự
rèn thực sự là tấm gương sáng cho học viên noi theo. Duy trì nghiêm nề nếp chính
quy, rèn luyện kỷ luật; gắn xây dựng chuẩn mực đạo đức nhà giáo với việc thực
hiện Cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong
giáo dục”; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ
Chí Minh theo Chi thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) và Nghị quyết
Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Mặt khác, kịp thời
biểu dương, khen thưởng những giảng viên có thành tích trong giảng dạy, nghiên
cứu khoa học; nghiêm khắc phê bình, nhắc nhở những giảng viên có biểu hiện
thiếu cố gắng trong học tập, nghiên cứu, chất lượng giảng dạy thấp, chấp hành
không nghiêm chế độ, quy chế giáo dục - đào tạo. Xây dựng sự đoàn kết, thống
nhất cao trong lãnh đạo, chỉ huy và tập thể khoa, bộ môn, tạo môi trường sư phạm
lành mạnh để đội ngũ giảng viên rèn luyện phẩm chất đạo đức, năng lực sư phạm,
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
Để làm tốt nhiệm vụ giảng dạy, giảng viên phải tích
cực rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo sư phạm; thực hiện đầy đủ các khâu, các bước của
hoạt động sư phạm: lập kế hoạch, nắm đối tượng, đọc tài liệu, xây dựng đề cương,
viết giáo án, thục luyện, thông qua, giảng thử, dự kiến và xử lý các tình huống sư
phạm. Hiện nay, Nhà trường đang tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo trong hoạt động nhận thức của học viên.
Theo đó, mỗi giảng viên phải tích cực thục luyện nội dung đạt tới sự thành thạo;
chú trọng rèn luyện kỹ năng nghiên cứu tài liệu, biên soạn, thực hành bài giảng,
truyền thụ kiến thức, nắm thông tin ngược từ học viên; chuẩn bị, điều khiển thảo
luận (xêmina); kỹ năng và phương pháp nghiên cứu khoa học, v.v. Căn cứ tình
hình cụ thể, Khoa, tổ bộ môn tổ chức các khóa bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ
sư phạm, rèn luyện kỹ năng giảng dạy, sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại;
mở các lớp học ngoại ngữ, tin học; đề xuất với Nhà trường gửi giảng viên chưa đạt
trình độ chuẩn đi đào tạo tại các nhà trường sư phạm trong và ngoài nhà trường.
Thường xuyên tổ chức dự giờ, rút kinh nghiệm giảng dạy, tổ chức thi giảng viên
dạy giỏi các cấp; phổ biến, cung cấp thông tin về những nội dung có liên quan đến
kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, khoa học quân sự, khoa học cơ bản
để giảng viên cập nhật, làm cho bài giảng vừa phong phú, sâu sắc, vừa không lạc hậu với tình hình.
2.3.Hoàn thiện các kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm
Giảng viên phải tích cực trau dồi, học hỏi thêm các kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm.
Khi lên lớp, tùy theo các loại bài giảng, đối tượng người học, môi trường học tập
(trực tiếp, trực tuyến) để vận dụng hiệu quả các phương pháp dạy học.
Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ khi giảng dạy phải lưu loát, dễ nghe, dễ hiểu, có sức
thuyết phục, âm lượng phù hợp; động tác thực hàng chuẩn, trong quá trình thực
hành phải chú trọng rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống của người học trên từng cương vị.
Có kế hoạch bài giảng hợp lý, chi tiết, có sự tóm tắt, sàng lọc một cách khoa học
nội dung bài học, từ đó đưa ra định hướng nhận thức , hướng dẫn liên hệ vận dụng,
tổ chức luyện tập thực hành nêu các vấn đề cần chú ý để người học tự nghiên cứu học tập.
2.4.Vận dụng phương pháp dạy học tích cực
Trước hết là khâu biên soạn bài giảng và kế hoạch giảng bài. Giảng viên phải chủ
động nghiên cứu nội dung của bài, nắm chắc đối tượng giảng dạy, sưu tầm tài liệu,
lựa chọn thông tin, trên cơ sở đó xác định mục đích, yêu cầu của chủ đề bài giảng
cũng như đề cương và biên soạn hoàn chỉnh bài giảng, trong quá trình chuẩn bị bài
giảng còn phải làm chủ nội dung kiến thức để phân tích, chứng minh làm sáng tỏ
những nội dung cần giảng. Đây là bước rất quan trọng để chuẩn bị những kiến thức
về lý thuyết có trong giáo trình, tài liệu tham khảo, những kiến thức thực tế đúc rút
thông qua những kinh nghiệm, kiến thức được chọn lọc cần sử dụng trong khi xây
dựng đề cương chi tiết và hoàn thiện bài giảng.
Thông qua bài giảng trước khi giảng bài khi bài giảng được thông qua và phê duyệt
theo phân cấp, giảng viên phải tích cực thục luyện để nắm chắc nội dung và làm
chủ phương pháp. Trong thực hành giảng bài, tùy theo các loại bài giảng, đối tượng
người học để vận dụng phương pháp có thể thuyết trình, giảng giải, đàm thoại, nêu
vấn đề, thảo luận tập trung…; ngôn ngữ khi giảng bài phải được chọn lọc, dễ hiểu,
có sức thuyết phục, âm lượng phù hợp; động tác thực hành chuẩn, trong quá trình
thực hành phải chú trọng rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống của người học trên
từng cương vị. Sau khi giảng xong một bài, giảng viên phải tóm tắt kết luận nội
dung, định hướng nhận thức, hướng dẫn liên hệ vận dụng, tổ chức luyện tập thực
hành nêu các vấn đề cần chú ý để người học tự nghiên cứu học tập.
Nâng cao năng lực sư phạm và vận dụng phương pháp dạy học tích cực, không có
nghĩa là phủ nhận hoàn toàn phương pháp dạy truyền thống cũng không hẳn là
tuyệt đối hóa phương pháp dạy học tích cực mà cần có sự kết hợp hài hòa, sự vận
dụng kế thừa, tiếp thu tinh hoa nhân loại của khoa học giáo dục hiện đại. Đây là
nhiệm vụ quan trọng của công tác giáo dục quốc phòng và an ninh, góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo theo yêu cầu mới. Kết luận
Cách mạng công nghiệp 4.0 thúc đẩy tiến bộ về sản xuất thông minh, robot, trí tuệ
nhân tạo và Internet vạn vật. Tuy nhiên, con người vẫn đóng vai trò chủ đạo trong
quản lý và điều khiển công việc, đổi mới sáng tạo. Do đó, giáo dục và đào tạo vẫn
giữ vai trò nền tảng quan trọng trong việc phát triển tri thức và tạo ra các giá trị
bền vững của xã hội. Trong đó, vai trò và năng lực của giảng viên đóng vai trò
quan trọng trong giáo dục và đào tạo.
Trong xã hội dựa trên tri thức và số hóa của thế kỷ XXI, giáo dục phải đương đầu
với thách thức to lớn khi phải đổi mới phương pháp dạy và học. Người giáo viên
cũng phải thay đổi để thích ứng với tốc độ hiện đại hóa của xã hội cũng như để duy
trì mối quan hệ với học sinh, sinh viên nhằm tạo ra một môi trường học tập hiệu
quả. Giáo sư Tony Wagner (Đại học Harvard) từng chia sẻ: “Thế giới ngày nay
không quan tâm kiến thức của sinh viên là gì, mà quan trọng là sinh viên làm được
gì với kiến thức đó”. Vì thế, vai trò của người giáo viên thời 4.0 không chỉ đơn
giản là truyền đạt kiến thức, mà còn giúp học trò trang bị các kỹ năng để hội nhập toàn cầu.
Năng lực dạy học của giảng viên đóng vai trò quan trọng trong giảng dạy và học
tập vì năng lực này giúp sinh viên nắm bắt được mục tiêu và kỳ vọng của môn học.
Trước những cơ hội và thách thức trong thời đại công nghệ 4.0 bản thân mỗi người
chúng ta làm công tác giáo dục cần phải luôn không ngừng hoàn thiện bản thân
mình, để không để bản thân bị chậm lại phía sau. Tài liệu tham khảo
1. Cổng thông tin điện tử Bộ giáo dục https://moet.gov.vn
1.TS.Lý Thị Minh Hằng (2014), Giáo trình Tâm lý học sư phạm.
2. http://thdongthanh.tpbacgiang.edu.vn
3. Tạp chí điện tử Lý luận chính trị http://lyluanchinhtri.vn/
5. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 28 (2012) 117 122