Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI
Phân tích cơ sở lý luận của quan điểm phát triển. Vận dụng quan điểm này
trong thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay NHÓM: 8
LỚP HP: 231_MLNP0221_14
CHUYÊN NGÀNH: Kế toán-Kiểm toán HÀ NỘI, 2023
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ TT Họ và tên Nhiệm vụ Nhóm Đánh giá tự xếp của giảng loại viên 1Nguyễn Phương
Nhóm trưởng,Thư kí, Làm Thùy
ND phần Mở đầu, P1.1+1.2 2Trần Thị Thanh Làm ND 1.3+ 1.4 Tâm 3Nguyễn Thị Thắm Làm ND 2.1.1 + 2.1.2 4Âu Thị Quế Làm ND 2.1.3 + 2.2(Hạn chế)
5Nguyễn Thị Phương
Làm phần 2.2(Thực Trạng Thảo và Thành Tựu) 6Đỗ Việt Thành
Làm phần 2.3, phần kết luận 7Đỗ Phương Thảo Làm powerpoint Chương I 8Nguyễn Anh Thư Làm powerpoint Chương II + Edit video giới thiệu 9Nguyễn Thị Minh Thuyết trình chương I Thu 10 Hà Minh Quang Thuyết trình chương II 2 BIÊN BẢN HỌP NHÓM NHÓM 8
Lớp học phần: 231_MLNP0221_14
Giảng viên: Cô Đào Thu Hà Địa điểm: Google Meet
Thời gian: 20h đến 22h ngày 22/10/2023
Thành viên có mặt: 10 thành viên của nhóm 8 có mặt đầy đủ
Mục tiêu: Phân tích, tìm ý tưởng cho đề tài cô giao, đưa ra các nhiệm vụ phải làm,
thời gian hoàn thành nhiệm vụ và phân công cho mỗi thành viên trong nhóm. Nội dung:
1.Nhóm trưởng đọc lại nội dung yêu cầu của đề sau đó đưa ra ý tưởng và lên dàn ý cho đề tài.
2. Sau một thời gian thảo luận nhóm đã thống nhất ý kiến và phân chia công việc như sau: -Nội dung:
Thành viên tiến hành: Nguyễn Phương Thùy,Trần Thị Thanh Tâm, Nguyễn
Thị Thắm, Âu Thị Quế, Nguyễn Thị Phương Thảo, Đỗ Việt Thành.
Nhóm trưởng yêu cầu tất cả các thành viên thực hiện phần này nộp bài đầy
đủ trước 20h ngày 28/10/2023 -Powerpoint:
Thành viên tiến hành: Đỗ Phương Thảo, Nguyễn Anh Thư
Nhóm trưởng yêu cầu tất cả các thành viên thực hiện phần này nộp bài đầy
đủ trước 20h ngày 4/11/2023 3 -Thuyết trình:
Thành viên tiến hành: Hà Minh Quang, Nguyễn Minh Thu
Biên bản thảo luận được gửi đến mọi người trong nhóm chat, cả nhóm đều đồng
tình với những điều trên.
Nhóm trưởng kí tên Thùy Nguyễn Phương Thùy 4 MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU.............................................................................................................6
II. NỘI DUNG..........................................................................................................7
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN..................7
1.1: Khái niệm phát triển..................................................................................7
1.2: Tính chất của sự phát triển......................................................................10
1.3: Nguyên nhân của sự phát triển...............................................................11
1.4: Ý nghĩa nguyên lý về sự phát triển.........................................................12
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN TRONG THỜI KÌ
QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY....................15
2.1: Những nội dung cơ bản của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội.........15
2.2: Thực trạng của quan điểm phát triển trong thời kì quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam..................................................................................22
2.3: Phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và giải pháp
nhằm khắc phục những hạn chế của thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam
ta........................................................................................................................27
III. KẾT LUẬN........................................................................................................30
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................31 5 I. MỞ ĐẦU
Ngày nay, triết học là một bộ phận cấu thành của bất kì hình thức phát triển kinh tế
nào. Nhận thức giữa lý luận và thực tiễn, những vấn đề triết học và phép biện
chứng luôn là cơ sở, phương hướng, kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn, xây
dựng và phát triển xã hội. Nếu xuất phát từ quan điểm triết học đúng đắn, con
người có thể có những giải pháp phù hợp cho các vấn đề trong cuộc sống. Chấp
nhận hay không chấp nhận một quan điểm triết học nào đó không chỉ là chấp nhận
một thế giới quan nhất định, một cách giải thích nhất định về thế giới mà còn là
chấp nhận cơ sở phương pháp luận nhất định và một hướng dẫn lập pháp nhất định.
Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng về việc nhận
thức và cải tạo những vấn đề trong thực tiễn. Phát triển là khuynh hướng tất yếu,
chung của thế giới mà mọi sự vật hiện tượng đều luôn hướng tới, khuynh hướng
này có tính phổ biến, thể hiện trong mọi lĩnh vực: tự nhiên,xã hội và tư duy.
Sự phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn
thiện hơn, theo chiều hướng đi lên của sự vật. Nhìn chung mọi sự vật đều ra đời,
biến đổi phát triển và biến mất nhưng đều có khuynh hướng chung là luôn phát
triển, cái mới thay thế cái cũ, cái sau tiến bộ hơn cái trước và Theo quan điểm siêu
hình, phát triển ở đây chỉ là sự tăng lên hoặc giảm đi về mặt lượng, chỉ là sự tuần
hoàn, lặp lại mà không có sự thay đổi về chất và diễn ra theo một vòng tròn khép
kín hoăc là quá trình tiến lên liên tục. Đối lập với quan điểm siêu hình, quan điểm
biện chứng cho rằng phát triển là sự thay đổi về cả mặt chất và mặt lượng của sự
vật, là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao dẫn đến sự ra đời của cái mới thay thế
cho cái cũ. Đặc điểm chung cùa sự phát triển là tính tiến lên theo đường xoáy ốc,
có những bước quanh co, phức tạp.
Sau khi được cô Đào Thu Hà giảng dạy và hỗ trợ trong bộ môn triết học Mác-
Lenin, chúng em nhận thấy tầm quan trọng của nguyên lý về sự phát triển và việc 6
vận dụng quan điểm này vào thực tiễn những vấn đề trong cuộc sống, sau đây
nhóm em xin được tiến hành phân tích đề tài “Phân tích cơ sở lý luận của quan
điểm phát triển, và từ đó vận dụng quan điểm này trong thời kì quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay ” II. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN
1.1: Khái niệm phát triển
Phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện
hơn, từ chất cũ đến chất mới ở trình độ cao hơn.
Phát triển là vận động nhưng không phải mọi vận động đều là phát triển, vận động
là bao hàm mọi biến đổi nói chung, phát triển là sự vận động, biến đổi về chất theo
hướng ngày càng hoàn thiện của sự vật ở những trình độ ngày càng cao hơn. Như
vậy chỉ vận động nào theo khuynh hướng đi lên thì mới là phát triển.Vận động diễn
ra trong không gian và thời gian, nếsu thoát ly chúng thì không thể có phát triển.
Do vậy ở phương Tây trước Kant chưa có quan niệm về phát triển vì trước đó
người ta mới chỉ suy tư về không gian mà chưa đặt vấn đề suy tư sâu về thời gian.
Còn ở phương Đông với văn hóa coi trọng truyền thống mà Nho giáo là điển hình,
thì quan niệm phát triển không hẳn hướng về tương lai mà thường hướng về quá
khứ. Một xã hội lý tưởng không phải là xã hội sẽ có mà là đã có. Như vậy, nếu
người phương Tây xem vật chất vận động trong thời gian tuyến tính, thì người
phương Đông lại xem vật chất vận động trong thời gian tuần hoàn. Xét từ cách tiếp
cận phương Tây thì phương Đông không có khái niệm ‘’ phát triển ‘’ mà chỉ có
khái niệm ‘’ tăng trưởng ‘’
Từ quan niệm, phát triển là sự vận động theo chiều hướng đi lên, các nhà kinh điển
của chủ nghĩa Mác- Lê- nin đã vạch rõ: Thực chất của sự phát triển là sự phát sinh 7
đối tượng mới phù hợp với quy luật tiến hóa và sự diệt vong của đối tượng cũ đã
trở lên lỗi thời. Ph. Ăng ghen cho rằng phát triển ‘’ … là mối liên hệ nhân quả của
sự vận động tiến lên từ thấp đến cao thông qua tất cả những sự vận động chữ chi
và những bước thụt lùi tạm thời. ’’ Ví dụ:
+ Xã hội loài người phát triển từ chế độ công xã nguyên thủy, qua các chế độ
khác nhau rồi đến xã hội chủ nghĩa
+Trí tuệ con người phát triển không ngừng, nếu người nguyên thủy chỉ chế tạo
được các công cụ bằng đá đơn sơ thì nay con người đã cho ra nhiều loại máy móc hiện đại
Cần phân biệt hai khái niệm gắn với khái niệm phát triển là tiến hóa và tiến bộ:
- Tiến hóa là một dạng của phát triển diễn ra theo cách từ từ và thường là sự biến
đổi hình thức của tồn tại xã hội từ đơn giản đến phức tạp
Ví dụ: Từ tổ tiên chung là những loài bò sát hay động vật cổ xưa mà đã tiến hóa
thành rất nhiều loài khác nhau tồn tại hiện nay, tạo nên xã hội động vật vô cùng phong phú và phức tạp.
- Tiến bộ là một quá trình biến đổi hướng tới cải thiện thực trạng xã hội từ chỗ
chưa hoàn thiện đến chỗ hoàn thiện hơn so với thời điểm ban đầu
Ví dụ: Sự tiến bộ của của khoa học công nghệ giúp con người xử lí công việc trở
nên dễ dàng hơn, chính xác hơn, hiệu quả cao hơn
Quan điểm siêu hình và quan điểm biện chứng về phát triển - Quan điểm siêu hình: 8
Phủ nhận sự phát triển, tuyệt đối hoá mặt ổn định của sự vât hiện tượng. Phát triển
chỉ là sự tăng lên hoặc giảm đi về mặt lượng, chỉ là sự tuần hoàn lặp đi lặp lại mà
không có sự thay đổi về chất, không có sự ra đời của sự vật.
Phát triển diễn ra theo một vòng tròn khép kín hoặc là một quá trình tiến lên liên
tục. Những người theo quan điểm siêu hình xem sự phát triển như là một quá trình
tiến lên liên tục, không có bước quanh co, phức tạp.
Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có
của sự vật, hiện tượng; là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực
và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật, hiện tượng cũ trong hình thái của sự vật, hiện tượng mới.
- Quan điểm biện chứng :
Quan điểm biện chứng đối lập với quan điểm siêu hình về sự phát triển: coi sự phát
triển là sự vận động đi lên, là quá trình tiến lên thông qua các bước nhảy, sự vật
hiện tượng cũ mất đi, sự vật hiện tượng mới ra đời thay thế
Chỉ ra nguồn gốc bên trong của sự vận động, phát triển là đấu tranh giữa các mặt
đối lập bên trong sự vật hiện tượng. Các sự vật, hiện tượng của thế giới tồn tại
trong sự vận động, phát triển chuyển hóa không ngừng.Cơ sở của sự vận động đó
là sự tác động lẫn nhau giữa sự vật, hiện tượng và mâu thuẫn giữa các mặt đối lập
trong các sự vật, hiện tượng. Vì thế VI Lê nin cho rằng, học thuyết về sự phát triển
của phép biện chứng là ‘’hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện ‘’.
Sự vận động có thể là vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp và từ
kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Đặc điểm chung của sự phát triển là tính tiến
lên theo đường xoáy ốc, có kế thừa, dường như lặp lại sự vật, hiện tượng cũ nhưng
trên cơ sở cao hơn Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa có bước nhảy vọt làm cho 9
sự phát triển mang tính quanh co, phức tạp, có thể có những bước thụt lùi tương đối trong sự tiến lên.
Trong phép biện chứng duy vật phát triển chỉ là một trường hợp đặc biệt của vận
động, chỉ khái quát xu hướng chung của vận động là vận động đi lên của sự vật,
hiện tượng mới trong quá trình thay thế sự vật, hiện tượng cũ
Ví dụ : Nền kinh tế Việt Nam sau khi đổi mới đã có sự phát triển chung, đó là
khuynh hướng đi lên. Nhưng trong nền kinh tế, không phải tất cả các thành phần
kinh tế đều phát triển mà tồn tại trong đó những công ty, những doanh nghiệp làm
ăn cầm chừng, thậm chí phá sản. Kinh tế Việt Nam phát triển không đồng nhất rằng
mọi yếu tố trong nền kinh tế Việt Nam phát triển nhưng kết quả cuối cùng vẫn
chính là sự tiến lên và phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
1.2: Tính chất của sự phát triển
1.2.1. Tính khách quan:
Nguồn gốc của nó nằm trong chính bản thân sự vật, hiện tượng chứ không phải do
tác động từ bên ngoài và đặc biệt không phụ thuộc vào ý thích , ý muốn chủ quan của con người
Ví dụ, quá trình phát sinh một giống loài mới hoàn toàn diễn ra một cách khách
quan theo quy luật tiến hoá của giới tự nhiên. Con người muốn sáng tạo một giống
loài mới thì cũng phải nhận thức và làm theo quy luật đó.
1.2.2. Tính phổ biến:
Sự phát triển có mặt ở khắp mọi nơi trong các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy,
mọi sự vật, mọi quá trình.
+ Trong tự nhiên : Tăng cường khả năng thích nghi cơ thể trước sự biến đổi của môi trường 10
Ví dụ: Người miền Nam ra công tác và làm việc ở Bắc, thời gian đầu với khí hậu
thay đổi họ sẽ cảm thấy khó chịu nhưng dần quen và thích nghi
+ Trong xã hội: Nâng cao năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội, tiến tới mức
độ ngày càng cao trong sự nghiệp giải phóng con người.
Ví dụ: Mức sống của dân cư xã hội sau lúc nào cũng cao hơn so với xã hội trước.
+ Trong tư duy khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn với tự nhiên và xã hội.
Ví dụ: Trình độ hiểu biết của con người ngày càng được nâng cao hơn so với trước đây.
1.2.3. Tính kế thừa:
Sự vật hiện tượng mới ra đời không thể là sự phủ định tuyệt đối, phủ định sạch
trơn, đoạn tuyệt một cách siêu hình đối với sự vật, hiện tượng cũ. Trong sự vật hiện
tượng mới còn giữ lại, có chọn lọc và cải tạo các yếu tố có tác dụng, còn thích hợp
với chúng, trong khi gạt bỏ mặt tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu của sự vật hiện tượng cũ
đang gây cản trở sự vật, hiện tượng mới tiếp tục phát triển.
Ví dụ: Chế độ xã hội chủ nghĩa ra đời từ xã hội cũ, không xóa bỏ “sạch trơn” xã
hội cũ mà là tiếp thu, kế thừa những tinh hoa, những điểm tích cực, chọn lọc những
thành quả mà nhân loại đạt được dưới chế độ xã hội cũ.
1.2.4. Tính đa dạng, phong phú:
Tuy sự phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy nhưng mỗi
sự vật, hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau.
Trong quá trình phát triển của mình sự vật, hiện tượng còn phụ thuộc vào không
gian, vào thời gian, vào các yếu tố, điều kiện tác động lên sự phát triển đó. 11
Ví dụ: Cùng học một thầy cô nhưng cách suy nghĩ và sự phát triển của mỗi học sinh là khác nhau
1.3: Nguyên nhân của sự phát triển
Theo quan điểm duy tâm: nguồn gốc của sự phát triển nằm ở các thế lực siêu nhiên,
phi vật chất (thần thánh, thần linh), hoặc ở ý thức con người. Tức là chúng nằm ở
bên ngoài sự vật, hiện tượng.
Theo quan điểm duy vật siêu hình: sự vật, hiện tượng về cơ bản là “đứng im” chứ
không phát triển.Nói cách khác, phát triển chỉ là sự thay đổi đơn giản về lượng (số
lượng, quy mô…) mà không thay đổi về chất.
Theo quan điểm duy vật biện chứng: Nguồn gốc của sự phát triển nằm ở chính bản
thân sự vật: quá trình không ngừng giải quyết những mâu thuẫn bên trong sự vật.
Sự vật tự thân vận động, tự thân phát triển
1.4: Ý nghĩa nguyên lý về sự phát triển
Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển giúp ta vận dụng nguyên lý này một cách tốt
nhất. Đồng thời cũng giúp ta nhận thức được rằng, muốn nắm bắt được bản chất và
xu hướng phát triển của sự vật, hiện tượng thì ta cần có quan điểm phát triển khi
nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, tránh tư tưởng bảo thủ trì trệ. Quan điểm này yêu cầu:
Thứ nhất, khi xem xét sự vật hiện tượng cụ thể nào đó, chúng ta phải đặt nó
trong sự vận động và phát triển không ngừng. Khi nghiên cứu cần đặt đối
tượng vào sự vận động, phát triển xu hướng biến đổi của nó để không chỉ
nhận thức sự vật, hiện tượng ở trạng thái hiện tại, mà còn dự đoán được
khuynh hướng phát triển trong tương lai của nó.
Chúng ta không những cần phải biết rằng sự vật không chỉ như là cái nó đang có,
đang hiện hữu trước mắt chúng ta, mà còn phải nắm được khuynh hướng phát triển
tương lai, khả năng chuyển hóa của nó. Ta vận dụng tư duy khoa học để làm sáng 12
tỏ những xu hướng chủ đạo của tất cả những biến đổi khác nhau đó. Quan điểm
phát triển hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa bảo thủ, trì trệ và định kiến. Việc tuyệt
đối hóa một nhận thức nào đó về sự vật có được trong một hoàn cảnh lịch sử nhất
định và coi đó là nhận thức đúng đắn duy nhất về sự phát triển tiếp theo của toàn
bộ sự vật sẽ đưa chúng ta đến sai lầm nghiêm trọng.
Ví dụ: Khi lựa chọn ngành nghề để học đại học ta phải nghiên cứu thật kĩ càng để
lựa chọn ngành nghề cho phù hợp, nếu chỉ vì ngành nào đó hiện tại đang hot mà
chúng ta đổ xô vào thì có thể khi ta học xong ngành đó lại không còn hot nữa, khó
tìm được một công việc hoặc không như kì vọng của mỗi chúng ta, ngược lại có thể
một ngành nào đó ở hiện tại chưa có nhu cầu lớn trong xu hướng vận động phát
triển của ngành kinh tế, xã hội nhưng sau này có thể nó sẽ trở thành ngành hot,
kiếm được việc làm tốt.
Thứ hai, không dao động trước những thứ quanh co, phức tạp của sự phát
triển và chủ động thúc đẩy sự phát triển. Ta cần nhận thức được rằng, phát
triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn phát triển của sự vật,
hiện tượng có đặc điểm, tính chất và hình thức khác nhau. Vì vậy , cần phân
kì lịch sử phát triển của sự vật, hiện tượng để tìm hình thức, phương pháp tác
động thích hợp nhằm thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển đó.
Chúng ta cần phải xác quyết rằng các sự vật, hiện tượng phát triển theo một quá
trình biện chứng đầy mâu thuẫn. Vì thế chúng ta phải nhận thức rằng sự quanh co,
phức tạp của quá trình phát triển là hiện tượng phổ biến và tự nhiên. Quan điểm
phát triển đòi hỏi phải có sự nhìn nhận và đánh giá khách quan đối với mỗi bước
thụt lùi tương đối của sự vật, hiện tượng. Sự bi quan về sự thụt lùi tương đối có thể
khiến chúng ta mắc phải những sai lầm tai hại và không đáng có.
Ví dụ: Sự phát triển về trình độ, bằng cấp, kiến thức từ học sinh tiểu học đến sinh
viên đại học. Ở đại học, kiến thức rất lớn rất đồ sộ, đòi hỏi sinh viên chủ yếu là
phải tự nghiên cứu, tự học; thầy cô chủ yếu chỉ đóng vai trò định hướng, tư vấn cho 13
sinh viên. Còn ở tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông thì thầy cô là
người tổ chức hoạt động học tập, định hướng, dẫn dắt, hỗ trợ để học sinh tự tích
luỹ, tự hình thành năng lực, phẩm chất.
Thứ ba, ta phải sớm phát hiện và ủng hộ đối tượng mới hợp quy luật, tạo
điều kiện cho nó phát triển, chủ động tìm ra phương pháp thúc đẩy sự phát
triển của sự vật, hiện tượng; Phản đối quan điểm bảo thủ, trì trệ, phong kiến.
Chúng ta phải tích cực, chủ động nghiên cứu, tìm ra những mâu thuẫn trong mỗi
đối tượng. Từ đó, xác định biện pháp phù hợp giải quyết mâu thuẫn để thúc đẩy sự
vật, hiện tượng phát triển. Việc xác định những biện pháp cũng cần căn cứ vào từng
giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể của sự vật, hiện tượng. Vì sự phát triển diễn ra theo
nhiều giai đoạn, từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Vì sự phát
triển có tính kế thừa nên chúng ta phải chủ động khám phá, khuyến khích, hỗ trợ
những cái mới phù hợp, đồng thời tìm cách thúc đẩy và phát triển để những cái mới
đóng vai trò chủ đạo. Không chỉ vậy, ta cũng phải tìm cách kế thừa những bộ phận,
thuộc tính, đặc điểm… còn hợp lý của cái cũ, đồng thời kiên quyết loại bỏ những gì
thuộc cái cũ mà lạc hậu, trì trệ, cản trở sự phát triển.
Ví dụ: Khi có người mắc phải sai lầm thì chúng ta cần phải phân tích, chỉ cho họ
thấy được cái sai, cái dở của bản thân, khi họ nhận ra lỗi lầm và biết sửa chữa cái
sai của mình thì ta nên nhìn vào mặt tốt đẹp của họ để tiếp tục động viên, khuyến
khích, ủng hộ họ làm tốt hơn chứ không phải nhìn vào cái quá khứ lỗi lầm của họ
để mang ra trì triết và kìm hãm sự phát triển của người đó.
Thứ tư, phải tích cực học hỏi, tích lũy kiến thức khoa học và kiến thức thực
tiễn. Trong quá trình thay thế đối tượng cũ bằng đối tượng mới phải biết kế
thừa các yếu tố tích cực từ đối tượng cũ và phát triển sáng tạo chúng trong
điều kiện mới. Phải biết tự thân phát triển, nắm bắt xu thế, rút kinh nghiệm
từ những cái cũ để phát triển cái mới. 14
Sự phát triển được thực hiện bằng con đường tích lũy về lượng để tạo ra sự thay
đổi về chất. Do đó, chúng ta phải luôn nỗ lực, chăm chỉ lao động để làm cho sự vật,
hiện tượng tích lũy đủ về lượng rồi dẫn đến sự thay đổi về chất.
Ví dụ: Việc xây dựng nền văn hóa mới hiện nay phải trân trọng, tiếp thu cái truyền
thống, tích cực, phải đi lên hiện đại từ truyền thống. Đồng thời phải gạt bỏ những
cái tiêu cực hạn chế những phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu, cản trở sự phát triển
theo cái mới, cái tiến bộ.
Muốn nắm bắt được bản chất, khuynh hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu
cần phải xét sự vật trong sự phát triển, sự tự vận động trong sự biến đổi của nó.
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN TRONG THỜI KÌ QUÁ
ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1: Những nội dung cơ bản của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
2.1.1. Khái niệm thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
Việc đầu tiên chúng ta cùng nhau trả lời các câu hỏi: Thế nào là quá độ? Thời kì
quá độ lên chủ nghĩa xã hội là gì?
Như chúng ta đã biết lịch sử xã hội đã phát triển qua nhiều giai đoạn kế tiếp nhau
tương ứng là một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Đến nay đã trải qua bốn hình
thái kinh tế - xã hội: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản
chủ nghĩa và đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội – giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng
sản. Do những hoàn cảnh khác nhau mà không phải quốc gia nào cũng trải qua tất
cả các hình thái kinh tế - xã hội có tính chất tuần tự từ thấp lên cao theo một sơ đồ
chung. Do những điều kiện khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài chi
phối đã bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội nào đó được gọi là quá độ. Chúng ta
có thể thấy trên thực tế như Mỹ không trải qua thời kì phong kiến; Ba Lan, Nga,
Đức có chế độ phong kiến ra đời không phải từ chế độ chiếm hữu nô lệ. 15
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê-nin thì thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
là thời kì cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để, toàn diện từ xã hội cũ thành xã hội
mới – xã hội chủ nghĩa. Nó diễn ra từ khi giai cấp vô sản giành được chính quyền
bắt tay vào xây dựng xã hội mới và kết thúc khi xây dựng thành công những cơ sở
của chủ nghĩa xã hội cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở kinh tế và
kiến trúc thượng tầng.
Chúng ta có thể kể đến một số nước cũng trải qua thời kì quá độ như: Trung Quốc, Lào, Cuba..
2.1.2. Tính tất yếu của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội và nguyên nhân:
Thời kỳ quá độ là thời kỳ lịch sử mà bất cứ một quốc gia nào đi lên chủ nghĩa xã
hội cũng đều phải trải qua, ngay cả đối với những nước đã có nền kinh tế rất phát
triển, bởi lẽ, ở các nước này, tuy lực lượng sản xuất đã phát triển cao, nhưng vẫn
còn cần phải cải tạo và cần xây dựng quan hệ sản xuất mới, xây dựng nền văn hoá
mới. Dĩ nhiên, đối với những nước thuộc loại này, về khách quan có nhiều thuận
lợi hơn, thời kỳ quá độ có thể sẽ diễn ra ngắn hơn. Đối với nước ta, một nước nông
nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thì lại càng
phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một
thời kỳ lịch sử mà: "nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền
tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,... tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có
công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá và khoa học tiên tiến. Trong quá
trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng
nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài".
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một tất yếu
lịch sử đối với nước ta, vì: 16
Toàn thế giới đã bước vào thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.
Thực tiễn đã khẳng định chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội đã lỗi thời về mặt lịch
sử, sớm hay muộn cũng phải được thay bằng hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ
nghĩa mà giai đoạn đầu là giai đoạn xã hội xã hội chủ nghĩa. Cho dù hiện nay, với
những cố gắng để thích nghi với tình hình mới, chủ nghĩa tư bản thế giới vẫn đang
có những thành tựu phát triển nhưng vẫn không vượt ra khỏi những mâu thuẫn cơ
bản của nó, những mâu thuẫn này không dịu đi mà ngày càng phát triển gay gắt và
sâu sắc. Chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của loài người. Đặc điểm của
thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên
phạm vi toàn thế giới. Quá trình cải biến xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội xã
hội chủ nghĩa không phải là quá trình cải lương, duy ý chí, mà là quá trình cách
mạng sôi động trải qua nhiều giai đoạn phát triển khách quan, hợp với quy luật của
lịch sử. Chủ nghĩa xã hội khoa học, tự do, dân chủ và nhân đạo mà nhân dân ta và
loài người tiến bộ đang vươn tới luôn đại diện cho những giá trị tiến bộ của nhân
loại, đại diện lợi ích của người lao động, là hình thái kinh tế - xã hội cao hơn chủ
nghĩa tư bản. Quá trình cách mạng đó vì sự nghiệp cao cả là giải phóng con người,
vì sự phát triển tự do và toàn diện của con người, vì tiến bộ chung của loài người.
Đi theo dòng chảy của thời đại cũng tức là đi theo quy luật phát triển tự nhiên của lịch sử.
Cách mạng Việt Nam phát triển theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội. Tính tất yếu lịch sử ấy xuất hiện từ những năm 20 của thế kỷ XX.
Nhờ đi con đường ấy, nhân dân ta đã làm Cách mạng Tháng Tám thành công, đã
tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Ngày nay, chỉ có đi lên chủ nghĩa xã hội mới giữ vững được độc lập, tự do cho dân
tộc, mới thực hiện được mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nhân dân
ta, như vậy là sự lựa chọn của chính lịch sử dân tộc lại vừa phù hợp với xu thế của 17
thời đại. Điều đó cũng đã thể hiện sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa ở nước ta là một tất yếu lịch sử.
Nguyên nhân quá độ lên CNXH ở Việt Nam ta hiện nay: - Nguyên nhân khách quan:
Trước hết phải kể đến nhân tố thời đại, tức xu thế quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên
phạm vi toàn thế giới. Nhân tố thời đại đóng vai trò tích cực làm thức tỉnh các dân
tộc, các quốc gia, không những làm cho quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa trở
thành một tất yếu mà còn đem lại những điều kiện và khả năng khách quan cho sự
quá độ này. Quá trình quốc tế hoá sản xuất và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước
ngày càng tăng lên, cũng như sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ về khách quan đã tạo ra những khả năng để các nước kém phát triển đi sau có
thể tiếp thu và vận dụng vào nước mình những lực lượng sản xuất hiện đại của thế
giới và những kinh nghiệm của các nước đi trước để thực hiện "con đường phát
triển rút ngắn". Xu thế toàn cầu hoá, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên
thế giới ngày càng tăng lên tuy có chứa đựng những nguy cơ và thách thức nhưng
vẫn tạo khả năng khách quan cho việc khắc phục khó khăn về nguồn vốn và kỹ
thuật hiện đại cho các nước chậm phát triển, nếu như có đường lối, chính sách đúng
đắn. Trong điều kiện đó, cho phép và buộc chúng ta phải biết tranh thủ cơ hội, tận
dụng, khai thác, sử dụng có hiệu quả những thành tựu mà nhân loại đã đạt được để
rút ngắn thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. - Nguyên nhân Chủ quan:
Việt Nam là nước có số dân tương đối đông, nhân lực dồi dào, tài nguyên đa dạng.
Nhân dân ta đã lập nên chính quyền nhà nước dân chủ nhân dân dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản, làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản, đã xây dựng
những cơ sở ban đầu về chính trị, kinh tế của chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Việt
Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo - một đảng giàu tinh thần cách mạng,
sáng tạo, khoa học và trí tuệ, có đường lối đúng đắn và gắn bó với quần chúng - đó 18
là nhân tố chủ quan có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bảo đảm cho thắng lợi của công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã từng chiến đấu, hy
sinh không chỉ nhằm mục đích giành lại độc lập dân tộc, mà còn vì cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc. Những yêu cầu đó chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đáp ứng được.
Vì vậy, quyết tâm của nhân dân sẽ trở thành lực lượng vật chất đủ sức vượt qua
mọi khó khăn và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, theo cách nói tóm tắt và mộc mạc của Chủ tịch Hồ
Chí Minh là: trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm
cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc. Quán
triệt tư tưởng cơ bản đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: "Xã hội xã
hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:
Do nhân dân lao động làm chủ.
Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ
công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
Có nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực,
hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển cá nhân.
Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội nước ta là: xây dựng một xã hội dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vì thế mà Đảng và nhà nước ta đã
chọn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, có thể khẳng định là hoàn toàn đúng đắn. 19
2.1.3. Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
Trên lĩnh vực kinh tế: Thời kỳ quá độ là thời kỳ tất yếu còn tồn tại một nền
kinh tế nhiều thành phần trong một hệ thống kinh tế quốc dân thống nhất.
Những người sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã thừa nhận vai trò to lớn của
chủ nghĩa tư bản và khẳng định sự ra đời của chủ nghĩa tư bản là một giai đoạn mới
trong lịch sử phát triển mới của loài người. Nhờ sự tiến bộ của lực lượng sản xuất
mà biểu hiện tập trung nhất là sự ra đời của công nghiệp cơ khí (cách mạng công
nghiệp lần thứ hai), chủ nghĩa tư bản đã tạo ra bước phát triển vượt bậc của lực
lượng sản xuất. Trong vòng chưa đầy một thế kỷ, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra nhiều
lực lượng sản xuất mà nhân loại tạo ra vào thời điểm đó. Tuy nhiên, trong xã hội tư
bản chủ nghĩa lực lượng sản xuất càng được cơ giới hóa, xã hội hóa cao thì càng
mâu thuẫn với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư
nhân xuất hiện ngày một nhiều. Các quan hệ sản xuất tạo điều kiện cho sự phát
triển năng suất ngày càng trở nên lỗi thời, xiềng xích của lực lượng sản xuất tăng.
Trong thời kỳ chuyển đổi, hệ thống kinh tế quốc dân thống nhất vẫn tồn tài nhiều
thành phần kinh tế. Đây là bước trung gian tất yếu trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội, không thể xóa bỏ ngay cơ cấu đa thành phần của nền kinh tế bằng ý
chí, nhất là đối với các nước còn ở trình độ chưa trải qua sự phát triển của phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội dựa trên cơ sở khách quan là sở hữu đa dạng về tư liệu sản
xuất với các hình thức tổ chức kinh tế đa dạng, hỗn hợp, tương ứng với các hình
thức phân phối khác nhau. Phân phối dựa trên lao động tất yếu giữ vai trò chi phối chủ đạo.
Trên lĩnh vực chính trị: Do kết cấu kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội đa dạng, phức tạp nên kết cấu giai cấp của xã hội thời kỳ này cũng đa dạng phức tạp. 20