Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………...3
II. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN……………………………………………..4
1. Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất…………………….4
1.1. Phương thức sản xuất……………………………………………………….4
1.1.1. Lực lượng sản xuất……………………………………………………….4
1.1.1.1. Khái niệm……………………………………………………………….4
1.1.1.2. Các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất……………………………….4
1.1.1.3. Sự phát triển của khoa học biến công nghệ thành lực lượng sản xuất
trực tiếp………………………………………………………………………….5
1.1.2. Quan hệ sản xuất………………………………………………………….6
1.1.2.1. Khái niệm……………………………………………………………….6
1.1.2.2. Phân loại………………………………………………………………..7
1.2. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất………………………………………………………………………………8
1.2.1. Những tác động của lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất………………10
1.2.2. Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất……10
1.2.3. Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất qua sự tác động
lẫn nhau………………………………………………………………………...12
2. Ý nghĩa phương pháp luận…………………………………………………..13
III. CHƯƠNG II: VẬN DỤNG………………………………………………..14
1. Phân tích thực tiễn sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay…..14
1.1. Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất từ năm 1954 - 1975 ở Việt Nam……………………………………...14
1.2. Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất từ năm 1975 đến trước 1986………………………………………….16
1.3. Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất từ năm 1986 đến nay……………………………………………….18
2. Phương hướng để tiếp tục vận dụng tốt quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta ngày nay…………………
IV. LỜI KẾT…………………………………………………………………….
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………… I. PHẦN MỞ ĐẦU
Triết học là một phần
không thể thiếu trong xã hội của bất kỳ quốc gia nào. Triết học không chỉ tác
động đến sự phát triển trong tư tưởng của mỗi người mà nó còn đóng
góp một vai trò quan trọng khi tham gia vào quá trình
phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Trong đó mối quan hệ biện
chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Theo Chủ nghĩa Mác-Lênin thì loài người từ trước tới nay đã trải qua 5
hình thái kinh tế xã hội, từ thời
kỳ nguyên thủy đến thời kỳ hiện đại như bây giờ, đó là: thời
kỳ công xã nguyên thủy ,thời kỳ chiếm hữu nô lệ, thời kỳ phong
kiến, thời kỳ tư bản chủ nghĩa và thời
kỳ xã hội chủ nghĩa. C.Mác khẳng định
mọi sự thay đổi của đời sống xã hội, xét đến cùng đều bắt
nguồn từ sự biến đổi
của lực lượng sản xuất. Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội được quy định bởi
một phương thức sản xuất nhất định. Chính những phương thức sản xuất vật
chất là yếu tố quyết định sự phát triển hình thái kinh tế xã hội. Trong bất
kỳ một phương thức sản xuất nào, quan hệ sản xuất cũng phải
phù hợp với lực lượng sản xuất. Chúng tồn tại song hành, không tách rời nhau, tác
động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng tạo thành quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất. Một hình thái kinh tế - xã hội có
ổn định và tồn tại vững chắc thì phải có một phương thức sản xuất hợp lý. Chính bởi lẽ
đó mà lực lượng sản xuất phải tương xứng phù hợp với
quan hệ sản xuất bởi vì xét đến cùng thì quan hệ sản xuất chính là hình thức của
lực lượng sản xuất. Vậy nên nếu lực lượng sản xuất phát triển trong khi đó quan
hệ sản xuất lạc hậu thì sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Ngược
lại quan hệ sản xuất tiến
bộ hơn lực lượng sản xuất thì không phù hợp với tính
chất và trình độ của lực lượng sản xuất gây ra sự bất ổn cho xã hội. II.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
1.1. Phương thức sản xuất
1.1.1. Lực lượng sản xuất 1.1.1.1. Khái niệm
Lực lượng sản xuất là phương thức kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra
sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối
tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội.
Lực lượng sản xuất được hiểu là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên
được hình thành trong quá trình sản xuất. Trình
độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở trình độ
khống chế tự nhiên của con người. Đó là kết quả năng lực thực
tiễn của con người tác
động vào tự nhiện để tạo ra của cải vật chất nhằm bảo
đảm sự tồn tại và phát triển của con người.
1.1.1.2. Các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất: là sự kết hợp giữa người lao
động và tư liệu sản xuất * Tư liệu sản xuất
Tư liệu sản xuất là điều kiện vật chất cần thiết để tiến hành sản xuất, bao gồm tư liệu lao
động và đối tượng lao động. Trong đó tư liệu lao động là những
yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dựa vào
đó để tác động lên, nhằm biến đổi chúng cho
phù hợp với mục đích sử
dụng của con người; bao gồm công cụ lao
động (máy móc,…) và phương tiện lao động (phương tiện vận chuyển và
bảo quản sản phẩm,…). Đối tượng lao
động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dùng tư liệu lao động tác
động lên, nhằm biến đổi chúng cho phù hợp với mục đích sử
dụng của con người; bao gồm nguyên nhiên vật liệu
có sẵn trong tự nhiên (gỗ, than đá,…) hoặc đã qua chế biến, nhân tạo (pôlime,….). Tư liệu lao
động bao gồm công cụ lao
động và phương tiện lao động .Công cụ lao
động là yếu tố vật chất
“trung gian”, “truyền dẫn” giữa người lao
động và đối tượng lao động.
Là tri thức được vật thể hóa do con
người sáng tạo ra và được sử
dụng làm phương tiện vật chất của quá trình sản xuất. Công cụ lao
động giữ vai trò quyết định đến năng suất lao động
và chất lượng sản phẩm; ngày nay công cụ lao động được tin học hóa, tự
động hóa và trí tuệ hóa. Nó là yếu tố
động nhất, cách mạng nhất trong lực
lượng sản xuất, là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi kinh tế xã hội
trong lịch sử; là thước đo trình độ tác
động, cải biến tự nhiên của con
người và tiêu chuẩn để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau. * Người lao động Người lao
động là con người có tri thức, kinh nghiệm ,kỹ năng lao động
và năng lực sáng tạo; là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, là người tạo ra và sử dụng tư liệu lao
động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật
chất tạo ra sản phẩm. Người lao
động là nhân tố hàng đầu giữ vai trò quyết
định; các tư liệu sản xuất chỉ là sản phẩm lao
động của con người; giá trị và hiệu
quả thực tế của các tư liệu sản xuất
phụ thuộc vào việc sử dụng của người lao
động. Trong đó, tư liệu sản xuất
đóng vai trò là một khách thể, còn con người luôn là chủ thể. 1.1.2. Quan hệ sản xuất 1.1.2.1. Khái niệm
Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong
thương mại. Đây là hoạt
động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con
người. Quan hệ sản xuất là khái niệm chỉ mối quan hệ giữa người với người
trong quá trình sản xuất, là một trong những biểu hiện của quan hệ xã hội.
Chính nhờ mối quan hệ giữa con người và con người với nhau mà quá trình sản
xuất xã hội mới diễn ra bình thường. Ví
dụ như trong công ty sản xuất hàng hóa,
các nhân viên cùng nghe chỉ đạo của cấp trên, phối hợp với nhau để sản xuất.
Đó là mối quan hệ giữa con người với con người. Và nhờ mối quan hệ đó mà
quá trình sản xuất mới diễn ra được. Nếu mọi người không hợp tác, không nghe
chỉ đạo mà mỗi người tự làm việc theo
ý của mình thì quá trình sản xuất không thể diễn ra hiệu quả.
Vì vậy ,quá trình sản xuất vật chất chính là tổng thể các yếu tố trong một
quá trình thống nhất gồm sản xuất, phân phối,
trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất. 1.1.2.2. Phân loại
* Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất
Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người
trong việc chiếm hữu sử
dụng các tư liệu sản xuất xã hội. Ví dụ: Trong công ty
sản xuất, ông chủ là người sở hữu các tư liệu sản xuất là máy móc, nguyên liệu. Đây là quan hệ
quy định địa vị kinh tế xã hội của các tập đoàn người trong xã hội.
Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, cơ bản, trung
tâm của quan hệ sản xuất, luôn có vai trò quyết định các quan hệ khác bởi vì lực
lượng xã hội nào nắm phương tiện vật chất chủ yếu của quá trình sản xuất thì sẽ
quyết định việc quản lý quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm.
* Quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất Quan hệ tr
ong tổ chức và quản lý sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc tổ
chức sản xuất và phân công lao
động. Quan hệ này có vai
trò quyết định trực tiếp đến
quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất, có khả
năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Ví dụ: Một
người quản lý tốt sẽ có phương pháp chiến lược hiệu quả, vừa tiết kiệm sức lao
động vừa nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, từ đó đẩy nhanh sự phát
triển của nền sản xuất xã hội. Ngày nay khoa học tổ chức quản lý sản xuất hiện
đại có tầm quan trọng đặc biệt trong nâng cao hiệu quả quá trình sản xuất.
* Quan hệ phân phối sản phẩm lao động
Quan hệ về phân phối sản phẩm lao
động là quan hệ giữa các tập đoàn
người trong việc phân phối sản phẩm lao
động xã hội, nói lên cách thức và quy
mô của cải vật chất mà các tập đoàn người được hưởng. quan hệ này có vai trò
đặc biệt quan trọng, kích thích trực tiếp lợi ích của người lao động, tác động đến thái
độ làm việc của người lao
động, là chất xúc tác kinh tế thúc đẩy tốc độ,
nhịp điệu sản xuất, làm năng động hóa toàn
bộ đời sống kinh tế xã hội hoặc
ngược lại có thể làm trì
trệ, kìm hãm quá trình sản xuất. Ví dụ: Một nhóm nhân
viên hoàn thành xuất sắc công việc,
họ được thưởng lương, do đó họ hăng say lao
động hơn. Ngược lại, nếu họ
không được thưởng lương, vẫn nhận lương như
những người lao động khác thì sẽ không có động lực làm việc.
Các mặt trong quan hệ sản xuất tác
động qua lại, chi phối, ảnh hưởng lẫn
nhau. Quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định bản chất và tính
chất của các quan hệ sản xuất. Ví dụ: Một
ông chủ sở hữu hầu hết tư liệu sản
xuất sẽ có quyền quyết định việc tổ chức sản xuất, và phân phối sản phẩm.
Trong lịch sử, giai cấp nào nắm tư liệu sản xuất trong xã hội thì là giai cấp
thống trị. Quan hệ sản xuất là quan hệ đầu tiên, cơ bản, chủ yếu, quyết định mọi
quan hệ xã hội vì có quan hệ sản xuất mới hình thành các quan hệ khác như
chính trị, kinh tế, tôn giáo, đạo đức,….
1.2. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất
1.2.1. Những tác động của lực lượng sản xuất lên quan hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không rời nhau, tác
động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật
phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất – quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội. Sự vận
động và phát triển của phương thức sản xuất bắt đầu từ sự biến
đổi của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất là nội dung của quá trình sản xuất có tính năng
động, cách mạng, thường xuyên vận động và phát triển; quan
hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất, có tính ổn định tương đối. Trong sự vận
động của mâu thuẫn biện chứng
đó, lực lượng sản xuất quyết định
quan hệ sản xuất. Cơ sở khách quan quy định sự vận động, phát triển không
ngừng của lực lượng sản xuất là
do biện chứng giữa sản xuất và nhu cầu con người; do tính năng
động và cách mạng của sự phát triển công cụ lao động; do vai trò người lao
động là chủ thể sáng tạo, là lực tượng sản xuất hàng đầu; do
tính kế thừa khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất trong tiến trình lịch sử. Sự
phù hợp của quan hệ sản xuất với trình
độ phát triển của lực lượng sản
xuất đòi hỏi khách quan của nền sản xuất. Lực lượng sản xuất vận động, phát triển
không ngừng sẽ mâu thuẫn với tính “đứng im” tương đối của quan hệ sản
xuất. Quan hệ sản xuất từ chỗ là “hình thức
phù hợp”, “tạo địa bàn” phát triển
của lực lượng sản xuất, trở thành “xiềng xích” kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Đòi hỏi tất yếu của nền sản xuất xã hội là phải xóa bỏ quan hệ
sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới
phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất đã phát triển.
C.Mác đã nêu tư tưởng về vai trò của sự phát triển lực lượng sản xuất đối
với việc thay đổi các quan hệ xã hội: “Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật
thiết với những lực lượng sản xuất. Do có những lực lượng sản xuất mới, loài
người thay đổi phương thức sản xuất của mình, và
do thay đổi phương thức sản
xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội
của mình. Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, các cối xay
chạy bằng hơi nước đưa lị xã hội có nhà tư bản công nghiệp” .Sự phát triển của
lực lượng sản xuất đến một trình
độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không
phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Yêu
cầu khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế
quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển
mới của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển.
Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là
phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời thay thế.
1.2.2. Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
Do quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất có tính độc
lập tương đối nên tác
động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất. Vai trò
của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất được thực hiện thông qua sự
phù hợp biện chứng giữa quan hệ sản xuất với trình
độ phát triển của lực lượng
sản xuất: Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản
xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác
động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự
phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất là một trạng thái trong
đó quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển” của lực lượng sản xuất và
“tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển. Sự phù hợp bao gồm cả
việc tạo điều kiện tối ưu cho việc sử
dụng và kết hợp giữ người lao động và tư
liệu sản xuất; tạo điều kiện hợp lý cho người lao
động sáng tạo trong sản xuất và
hưởng thụ thành quả vật chất, tinh thần của lao
động. Nếu quan hệ sản xuất “đi
sau” hay “vượt trước” trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất đều không phù hợp. Sự phù hợp không có nghĩa là
đồng nhất tuyệt đối mà chỉ là tương đối, trong
đó chứa đựng cả sự khác biệt. Sự
phù hợp diễn ra trong sự vận động và
phát triển, là một quá trình thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn. Sự tác
động của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất diễn ra theo hai hướng hoặc là tích
cực, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển khi nó phù hợp
hoặc tiêu cực, kìm hãm lực lượng sản xuất khi
nó không phù hợp. Khi quan hệ sản xuất
phù hợp với lực lượng sản xuất thì nền sản xuất phát triển đúng hướng,
quy mô sản xuất được mở rộng; những thành tựu khoa học và công nghệ được áp
dụng nhanh chóng; người lao
động nhiệt tình, hăng hái sản xuất, lợi ích của người lao
động được đảm bảo và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Nếu quan hệ sản xuất không
phù hợp sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất. T uy nhiên, sự kìm hãm
đó chỉ diễn ra trong những giới hạn, với những điều kiện nhất định.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn
bộ tiến trình lịch sử nhân loại. Sự tác
động biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất làm cho
lịch sử xã hội loài người là lịch sử kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất, từ
phương thức sản xuất cộng sản nguyên thủy qua phương thức sản xuất chiếm hữu
nô lệ, phương thức sản xuất
phong kiến, phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa và đang phát triển đến phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. Trong xã hội chủ nghĩa,
do những điều kiện khách quan và chủ quan quy định,
quy luật quan hệ sản xuất
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất có những đặc điểm tác động
riêng. Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi tất yếu phải thiết lập chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu. Phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa
dần dần loại trừ đối kháng xã hội. Sự
phù hợp không diễn ra “tự động”, đòi hỏi trình
độ tự giác cao trong nhận thức và vận
dụng quy luật. Quan hệ biện chứng
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội chủ nghĩa có thể bị
“biến dạng” do nhận thức và vận dụng không đúng
quy luật. Tóm lại khi quan
hệ sản xuất lỗi thời không còn
phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất bộc lộ mâu thuẫn gay gắt với lực lượng sản xuất thì trở thành “xiềng
xích trói buộc” kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Song tác dụng kìm hãm
đó chỉ là tạm thời, theo tính tất yếu khách quan cuối cùng nó sẽ bị thay
thế bằng kiểu quan hệ sản xuất mới
phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Ví
dụ, trong cơ cấu kinh tế xã hội chủ nghĩa hiện nay ở Việt Nam, thì
hình thức sở hữu công cộng ngày càng được hoàn thiện và phát triển. Trong đó
kinh tế quốc doanh bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, quyết định đối với nền
kinh tế hiện nay. Cho nên, xét về loại hình quan hệ sản xuất cơ bản hiện nay ở
nước ta bao gồm quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên cơ sở sở hữu công
cộng về tư liệu sản xuất và quan hệ sản xuất cũ dựa
trên hình thức sở hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất, nhưng
nó thống nhất và mang tính mâu thuẫn trong
một cơ cấu kinh tế thống nhất
– kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ
nghĩa và dưới sự quản lý của nhà nước.
1.2.3. Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất qua sự tác động lẫn nhau Sự vận
động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho
phù hợp với nó. Yêu cầu khách quan của sự phát triển lực
lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình
độ phát triển mới của lực lượng sản xuất để thúc đẩy
lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển. Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan
hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức
sản xuất mới ra đời thay thế.
Bên cạnh đó, quan hệ sản xuất lại tác động trở lại lực lượng sản xuất. Lực
lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất cũng có
tính độc lập tương đối và tác
động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất
quy định mục đích, cách thức của sản xuất, phân phối. Do đó
nó trực tiếp ảnh hưởng đến thái độ của người lao
động, năng suất, chất lượng,
hiệu quả của quá trình sản xuất và cải tiến công cụ lao
động. Sự tác động của
quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất diễn ra theo hai hướng, hoặc là tích cực,
thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển khi nó phù hợp hoặc tiêu cực, kìm hãm
lực lượng sản xuất khi nó không phù hợp. Sự vận
động của mâu thuẫn này cũng tuân theo
quy luật “từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại”,
quy luật “phủ định của
phủ định”, khiến cho quá trình phát
triển của nền sản xuất xã hội vừa diễn ra với tính chất tiệm tiến, tuần tử, lại vừa
có tính nhảy vọt với những bước đột biến, kế thừa và vượt qua của nó ở trình độ ngày càng cao hơn.
2. Ý nghĩa của phương pháp luận
Quy luật quan hệ sản xuất
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có
ý nghĩa phương pháp luận
rất quan trọng. Trong thực tiễn, muốn phát
triển kinh tế phải bắt đầu từ phát triển lực lượng sản xuất, trước hết là phát triển lực lượng lao động và công cụ lao động. Muốn xoá
bỏ một quan hệ sản xuất cũ,
thiết lập một quan hệ sản xuất mới phải căn cứ từ trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất,
không phải là kết quả của mệnh lệnh hành chính, của mọi sắc lệnh từ
trên ban xuống, mà từ tính tất yếu kinh tế, yêu cầu khách quan của quy
luật kinh tế, chống tuỳ tiện, chủ quan, duy tâm,
duy ý chí. Hai quá trình trên cần
được thực hiện đồng thời. Nhận thức đúng đắn quy luật này có ý nghĩa
rất quan trọng trong quán triệt, vận
dụng quan điểm, đường lối, chính sách, là cơ sở khoa học để nhận thức sâu
sắc sự đổi mới tư duy kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong quá trình cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới
toàn diện đất nước hiện nay ,Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn quan tâm hàng
đầu đến việc nhận thức và vận dụng đúng đắn sáng tạo
quy luật này ,đã đem lại
hiệu quả to lớn trong thực tiễn. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát, là sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất trong phát triển kinh tế ở Việt Nam. III. CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG
1. Phân tích thực tiễn sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay
1.1. Mối quan hệ biện chứng về sự vận dụng về quan hệ sản xuất và tư liệu sản xuất 1945-1975 1.1.1. Nguyên nhân
Sau cuộc chiến tranh bảo vệ dân tộc kéo dài, kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu nay lại càng gặp nhiều
khó khăn hơn, lực lượng sản xuất của nước ta còn thấp kém và
chưa có điều kiện phát triển. Trình độ người lao động rất thấp, hầu hết
không có chuyên môn tay nghề, phần lớn lao động chưa qua đào tạo. Lao động Việt Nam chủ yếu hoạt
động trong lĩnh vực nông nghiệp, chủ yếu dựa trên kinh nghiệm mà cha
ông để lại. Trường dạy nghề rất hiếm, chủ yếu chỉ xuất hiện ở Hà
Nội, Sài Gòn,….Tại những đô thị lớn, trình độ của người lao động cao hơn các
vùng khác trong cả nước.
Tư liệu sản xuất mà nhất là công cụ lao động ở nước ta thời kỳ này còn thô
sơ, lạc hậu. Là một nước
nông nghiệp thế nhưng công cụ lao động chủ yếu là cày,
cuốc, theo hình thức “con
trâu đi trước, cái cày theo sau”, sử dụng sức người là
chủ yếu, trong công nghiệp máy móc thiết bị còn ít và
rất lạc hậu. Phát triển công cụ lao
động giữa các vùng, miền cũng có sự khác nhau.
Nhìn chung lực lượng sản
xuất ở Việt Nam lúc này thấp kém, lạc hậu và phát triển không đồng đều. 1.1.2. Thực trạng Năm
1954, sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Đảng ta đã thực hiện chủ
trương đưa đất nước tiến lên Chủ Nghĩa Xã hội, bỏ qua Tư bản chủ nghĩa. Sau
một thời gian dài phải chịu ách thống trị với chính sách “ngu dân” của thực dân
Pháp, chúng đã làm cho con người của đất nước ta kém phát triển vì bị tụt hậu, điều
đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến Lực lượng sản xuất. Trong hoàn cảnh phương
thức sản xuất diễn ra như vậy ,Đảng đã chủ trương cải tạo: ở thành phố là công tư hợp danh, ở
nông thân là cải cách ruộng đất. Đảng quyết tâm đưa miền Bắc quá
độ tiến lên Chủ nghĩa xã hôi. Đến
1960, quan hệ sản xuất đã có sự thay đổi cơ
bản về hình thứ sở hữu tư nhân sang hình thức sở hữu tập thể, hình thức tập thể
sang hình thức quốc doanh, còn hình thức tư bản tư nhân thì vận động đưa lên hình thức hợp danh.
Trong giai đoạn này ,nhà nước
không thừa nhận yếu tố kinh tế tư bản như
là các thành phần kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân dựa trên chế độ sở hữu tư nhân,
đã phân định tách bạch thuần khiết chế
độ sở hữu và thành phần kinh tế xã hội
chủ nghĩa, phi xã hội chủ nghĩa, tuyệt đối hóa vai trò của chế độ công hữu, dẫn
đến chủ trương cải tạo, sớm xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa.
Đảng khẳng định trong đại hội Đảng III: mặc dù quan hệ sản xuất lúc này không còn
phù hợp chặt chẽ với lực lượng sản xuất, nhưng trong hoàn cảnh đất
nước có chiến tranh thì tài sản tập trung trong tay Nhà nước và quan hệ phân phối lao
động chính là chính sách hiệu quả để thúc đẩy đất nước đi lên dành thắng lợi
1975 và thực hiên cải cách miền Bắc thành công. 1.1.3. Giải pháp Trong hoàn cảnh
đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng quan hệ
sản xuất xã hôi chủ nghĩa dựa trên chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất, bao gồm
hai thành phần kinh tế: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và
thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động.
Về quản lý, trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải có
sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý
nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, kế hoạch, chính sách đồng thời sử dụng
cơ chế thị trường, các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý kinh tế thị
trường để kích thích sản xuất, giải phóng
sức sản xuất, phát huy tính tích cực và
hạn chế những mặt tiêu cực.
Đảng chủ trương đẩy mạnh khôi phục kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất
cũ, xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sau 3 năm thực hiện
(1955-1957) kinh tế miền Bắc có nhiều tiến bộ, tuy nhiên vẫn không thoát khỏi tình cảnh
khó khăn. Từ đó, trong những năm tiếp theo, Đảng chủ trương đẩy mạnh hợp tác hoá trong
nông nghiệp, lấy kinh tế hợp tác xã làm trọng tâm, mở rộng
quy mô hợp tác xã (1966-1975) trong nông nghiệp từ nhỏ đến lớn trong khi trình
độ thấp kém, cơ sở vật chất kỹ thuật
không được đảm bảo, đội ngũ cán
bộ quản lý không được đào tạo bài bản, điều này gây trở ngại lớn cho sự phát
triển kinh tế trong điều kiện kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Kết quả: Có thể thấy ,do
chưa có kinh nghiệm trong xây dựng chủ nghĩa
xã hội, nên trong giai đoạn này ,chúng ta tuyệt đối hoá việc cải tạo quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa theo mô hình Liên Xô cho kinh tế miền Bắc trong khi trình
độ lực lượng sản xuất còn thấp kém, không đáp ứng được nhu cầu cao đó,
vì thế không thúc đẩy năng suất lao động phát triển, mặc dù có lúc phù hợp.
1.2. Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất từ năm 1975 đến trước 1986 1.2.1. Nguyên nhân Vì chưa áp dụng
đúng những giải pháp, trong những năm này ,lực lượng
sản xuất nước ta vẫn còn thấp kém và
chưa có điều kiện phát triển, do mong
muốn có ngay chủ nghĩa xã hội, chủ quan,
nóng vội trong xây dựng quan hệ sản
xuất chủ nghĩa xã hội. Nước ta quá nhấn mạnh sở hữu tư liệu sản xuất theo
hướng tập thể hóa, công hữu hóa... trong khi lực lượng sản xuất còn lạc hậu. Người lao động
không được chú trọng về cả trình độ và thái độ lao động, đáng
ra là chủ thể của sản xuất nhưng lại trở nên thụ
động trong cơ chế quan liêu bao cấp. Mùa xuân năm
1975 với chiến dịch Hồ Chí Minh, nước ta đã hoàn toàn giải
phóng. Đảng ta chủ trương đưa cả nước theo sử con đường quá độ lên chủ
nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa. Do quá vội vã trong công cuộc đổi
mới đất nước nên Đảng ta đã mắc phải một số sai lầm. Những sai lầm lúc này
là: Duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp ,chỉ tồn tại hai hình thức
sở hữu là tập thể và quốc doanh với cơ chế “xin cho, cấp phát”. 1.2.2. Thực trạng Trong những năm
1975 đến 1986, sau khi miền Nam hoàn toàn giải
phóng, thống nhất đất nước, Đảng ta đã
họp Hội nghị Trung ương lần thứ 24 khoá III, tại
Hội nghị này đã thừa nhận sự tồn tại của 5 thành phần kinh tế ở miền Nam và
3 thành phần kinh tế ở miền
Bắc. Mặc dù chưa phân định rõ ràng
các thành phần kinh tế nhưng đây chính là tư tưởng về nền kinh tế nhiều thành
phần, song, trong chỉ đạo thực hiện lại
không nhất quán thực hiện tư tưởng này
trong thực tiễn cải tạo quan hệ sản xuất sau khi giải
phóng. Mặt khác, với việc
xác lập hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể theo mô hình Liên Xô, xoá bỏ thị trường tự
do và sở hữu phi xã hội chủ nghĩa, đối lập chủ nghĩa xã hội với
chủ nghĩa tư bản, thiết lập mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp mệnh lệnh.
Lúc đầu đạt những thành tựu đáng kể trong điều kiện chiến tranh, nhưng trong lòng nó đã
chứa đựng những khuyết tật, sai lầm, nảy sinh nhiều tiêu cực cần phải khắc phục, sửa chữa. Việc áp
dụng mô hình này sử dụng thống nhất
cho cả nước ngày càng đi vào
khủng hoảng trầm trọng, đưa đất nước rơi vào tình
trạng khó khăn, suy cho cùng nguyên nhân chính là việc xác lập “quan hệ
sản xuất” vượt quá xa trình
độ phát triển lực lượng sản xuất, không phù hợp với
thực tiễn đất nước trong thời bình. Trước thực
trạng nêu trên, ở một số địa phương đã tự phát tìm kiếm con
đường, lối thoát để giải bài toán tư
duy kinh tế, hình thức khoán hộ bắt đầu xuất
hiện từ Đồ Sơn (Hải Phòng),
Vĩnh Lạc (Vĩnh Phú)…, rồi lan dần sang nhiều địa
phương khác. Trước tình hình ấy, tháng 8/1979, Ban Chấp hành Trung ương khoá IV đã họp Hội nghị lần thứ
6 và rút ra nhận định: nhiều chủ trương trước đây
do Đảng đề ra còn mang nặng tính chủ quan nóng vội, thiếu căn cứ thực
tiễn, Trung ương đã đề ra nhiều biện pháp để điều chỉnh. Hội nghị Trung ương 6
Khóa IV (tháng 8/1979) đã chủ trương và quyết tâm làm cho sản xuất “bung ra”
là bước đột phá đầu tiên của quá trình đổi mới; Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí
thư khoá IV về khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động trong
hợp tác xã nông nghiệp; Hội nghị Trung ương
8 khoá V (6/1985) đánh dấu bước
đột phá thứ hai bằng chủ trương dứt khoát xoá
bỏ cơ chế tập trung quan liêu,
bao cấp, thực hiện cơ chế một giá, thực hiện hạch toán kinh doanh xã hội chủ
nghĩa, thừa nhận sản xuất hàng hoá và các
quy luật của sản xuất hàng hoá”; Kết
luận của Bộ Chính trị về một số vấn đề lớn thuộc quan điểm kinh tế như: thực
hiện kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, xoá
bỏ cơ chế kinh tế tập trung bao cấp, sử
dụng đúng quan hệ hàng hoá
– tiền tệ.... Đây được coi là các “bước đột phá
lớn”, một bước thử nghiệm, tìm tòi quan trọng cho công cuộc đổi mới đất nước
1986, cốt yếu vẫn là cải tạo lại quan hệ sản xuất sao cho phù hợp với trình độ
hiện có để khôi phục nền kinh tế, khắc phục
khủng hoảng, nâng cao đời sống nhân dân. 1.2.3. Giải pháp
Thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận kinh tế
hộ như một bộ phận của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất một cách ồ ạt, trong khi
chế độ đó đang tạo địa bàn cho lực lượng sản xuất phát triển.
1.3. Sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất từ năm 1986 đến nay 1.3.1. Thực trạng Từ sau
1986 nước ta bước vào thời
kỳ đổi mới. Do nhận thấy những bất
cập của nền kinh tế bao cấp,Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã quyết định
nước Việt Nam chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, mở
cửa cho các doanh nghiệp, mở rộng giao lưu kinh tế và hợp tác quốc tế.…
Thành phần kinh tế chính của kinh tế thị trường là kinh tế tư nhân, những quyết
định kinh tế được thực hiện bởi các cá nhân người tiêu dùng và công ty .Nền
kinh tế được vận động theo quy luật cung - cầu.
Trong những năm đầu của quá trình đổi mới, Việt Nam đã thu được
những thành công về kinh tế đáng kể
đó là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao và kim
ngạch xuất khẩu tăng mạnh. Thương mại chiếm tới 51% của GDP .Đồng thời
những vấn đề nổi cộm về cơ cấu cũng thể hiện rõ nhưng cũng đã có những biện
pháp khắc phục dần như chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước làm ăn không
có hiệu quả, cải tổ lĩnh vực Tài chính và Ngân hàng, xây dựng một cơ chế hành
chính có hiệu quả và một nhà nước Pháp quyền. Đảng và Chính
phủ cũng nhận thấy rõ ràng rằng không có sự phát triển
hiệu quả của thành phần kinh tế tư nhân thì mục đích tăng trưởng và tạo công ăn việc làm sẽ
không thể đạt được. Từ khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực đến nay
số lượng các doanh nghiệp tư nhân đăng
ký đã tăng lên gấp 3 lần (200.000
doanh nghiệp) và tạo ra hàng trăm chỗ làm việc mới. 1.3.2. Nguyên nhân
Những bất cập của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung từ năm 1986 trở về trước không còn
phù hợp với đất nước thời kỳ sau chiến tranh, nếu cứ tiếp tục duy trì sẽ gây ra tình
trạng kìm hãm sự phát triển của đất nước. Nhận thấy điều
đó, Đảng và nhà nước đã chủ trương đổi mới, xây dựng lại bộ máy kinh tế trong
nước cùng những chính sách tiến bộ hơn,
phù hợp hơn với thực trạng kinh tế lúc
bấy giờ. Những tín hiệu đổi mới đầu tiên đã xuất hiện như việc Đảng đã chú
trọng hơn trong việc cải thiện lực lượng sản xuất, nâng cao tay nghề người lao
động thông qua việc xây dựng các trường đào tạo…Cùng với đó, Đảng cũng có
những thay đổi về quan hệ sản xuất như chuyển từ nền kinh tế tập trung sang
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thay đổi các mối quan hệ
giữa nhà nước với nhân dân, giữa doanh nghiệp với người lao động… 1.3.3. Giải pháp
Đổi mới phương thức quản lý kinh tế, trong thời
kỳ này ,nước ta đã thực
hiện đường lối đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao
cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đại hội lần thứ VI của Đảng là dấu mốc quan trọng đánh dấu công cuộc
đổi mới toàn diện đất nước, trong
đó có sự đổi mới nhận thức và vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất. Tại Đại hội lần thứ VI,
trên cơ sở nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói
rõ sự thật, Đảng ta đã phê phán bệnh chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật
khách quan, “đã có những biểu hiện
nóng vội, muốn xoá bỏ ngay thành phần
kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành
quốc doanh, chú trọng cải tạo mặt sở hữu về tư liệu sản xuất mà không coi trọng
giải quyết vấn đề tổ chức và phân phối”, như vậy ,trong nhận thức cũng như hành động, chúng ta
chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở
nước ta thực chất đã tồn tại trong một thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự
phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình
độ của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, từ đó,
Đảng đã rút ra bài học: “Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo
quy luật khách quan”. Qua đó, Đại hội VI đề ra 5 mục tiêu cụ
thể về phát triển kinh tế - xã hội, trong
đó mục tiêu thứ ba là: “xây dựng và
hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới
phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất”,“tr
ong mỗi bước đi của quá trình cải tạo xã
hội chủ nghĩa, phải đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo ra lực
lượng sản xuất mới; trên cơ sở
đó tiếp tục đưa quan hệ sản xuất lên hình thức và
quy mô mới thích hợp để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển” .Như vậy,
nhìn từ định hướng đường lối, mục tiêu, cho đến nội
dung, giải pháp cụ thể phát
triển kinh tế - xã hội được nêu tại Đại hội VI, Đảng ta đều nhấn mạnh đến tầm
quan trọng khách quan của
quy luật, đánh dấu sự nhận thức mới của Đảng ta về
vấn đề cải tạo quan hệ sản xuất, xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo đinh hướng xã hội chủ nghĩa, là cơ sở cho việc hoạch định đường lối
phát triển đất nước trong những nhiệm kỳ tiếp theo của Đảng. Đánh giá kết quả
5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của
Đảng, Đại hội lần thứ VII (1991) đánh giá trong
5 năm thực hiện công cuộc đổi
mới toàn diện đất nước, bước đầu đạt một số thành tựu đáng kể, đặc biệt, về đổi
mới kinh tế, Đảng khẳng định: “bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận
động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước” ,trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa