TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
VIỆN KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
-------- --------
BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN
NHẬP MÔN TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ. LIÊN HỆ ĐẾN VIỆT NAM
Nhóm: 2
Lớp học phần: 241_EFIN2811_06
Giảng viên hướng dẫn: Vũ Xuân Thủy
Hà Nội, tháng 11 năm 2024
MỤC LỤC
I. TỔNG QUAN VỀ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ......................................................................................................................6
1. Bội chi NSNN........................................................................................................6
1.1. Khái niệm........................................................................................................6
1.2. Phân loại bội chi NSNN..................................................................................6
1.3. Nguyên nhân bội chi NSNN...........................................................................6
2. Tăng trưởng kinh tế.............................................................................................7
2.1. Khái niệm........................................................................................................7
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.............................................8
3. Mối quan hệ giữa bội chi NSNN và tăng trưởng kinh tế.................................10
II. TÁC ĐỘNG CỦA BỘI CHI NSNN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ...........12
1. Tác động tích cực................................................................................................12
2. Tác động tiêu cực................................................................................................13
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tác động của bội chi ngân sách Nhà nước
đến tăng trưởng kinh tế..........................................................................................15
III. THỰC TRẠNG BỘI CHI NSNN Ở VIỆT NAM..............................................17
IV. CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC........22
1. Nhà nước phát hành thêm tiền..........................................................................22
2. Vay nợ cả trong và ngoài nước..........................................................................22
3. Tăng các khoản thu............................................................................................23
4. Triệt để tiết kiệm các khoản chi........................................................................23
5. Tăng cường vai trò quản lý của cơ quan Nhà nước.........................................24
KẾT LUẬN................................................................................................................25
TÀI LIỆU THAM KHẢO:........................................................................................26
1
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân sách nhà nước (NSNN) một điều kiện vật chất quan trọng nhằm thực
hiện các nhiệm vụ của Nhà nước và là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia.
Bội chi ngân sách một vấn đề mà các quốc gia đều gặp phải và có ảnh hưởng to lớn
đến sự tăng trưởng kinh tế của mỗi nước. Việc Xử bội chi NSNN một vấn đề
nhạy cảm, bởi không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế còn tác động
đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. vậy mỗi quốc gia đều những biện
pháp thích hợp nhằm khắc phục bội chi ngân sách đua bội chi đến một mức nhất định,
trong đó có Việt Nam.
Trong bài thảo luận này, nhóm 2 sẽ phân tích tác động của bội chi NSNN đến
tăng trưởng kinh tế, từ đó liên hệ đến hiện trạng Việt Nam đưa ra một số giải
pháp nhằm khắc phục tình trạng này.
Nội dung bài thảo luận này gồm 4 phần:
I. Tổng quan về bội chi ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế
II. Tác động của bội chi NSNN đến tăng trưởng kinh tế
III. Thực trạng bội chi NSNN ở Việt Nam
IV. Các giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước
2
I. TỔNG QUAN VỀ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ
1. Bội chi NSNN
1.1. Khái niệm
- Ngân sách Nhà nước là hệ thống các quan hệKhái niệm ngân sách Nhà nước:
kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối sử
dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn
tài chính quốc gia nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước.
- Bội chi ngân sách nhà nước (hay cònKhái niệm bội chi ngân sách Nhà nước:
còn gọi là Thâm hụt ngân sách) trong kinh tế học vĩ mô và kinh tế học công cộng được
hiểu tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn
hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách.
1.2. Phân loại bội chi NSNN
- Căn cứ vào nguyên nhân gây ra, người ta chia bội chi Ngân sách Nhà nước ra
làm 2 loại: bội chi cơ cấu và bội chi chu kỳ.
+ Bội chi cấu xảy ra do sự thay đổi chính sách thu chi của Nhà nước, Nhà
nước chủ động phát hành thêm tiền vào lưu thông để chi tiêu nhằm kích thích kinh tế
phát triển. Khi bội chi cơ cấu tăng lên người ta thường nói Chính phủ đang dùng chính
sách tài khóa để kích thích nền kinh tế phát triển. Các khoản thâm hụt được quyết định
hành động bởi những chủ trương tùy biến của chính phủ nước nhà như lao lý thuế suất,
trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chỉ tiêu cho giáo dục, quốc phòng …
+ Bội chi chu kỳ xảy ra do sự thay đổi của chu kỳ kinh tế và thường loại bội chi
này xuất hiện vào giai đoạn suy thoái của nền kinh tế. Các khoản thâm hụt gây ra bởi
thực trạng của chu kỳ luân hồi kinh tế tài chính, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của
sản lượng tích lũy quốc dân. dụ khi nền kinh tế tài chính suy thoái khủng
hoảng, tỷ suất thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi
chi ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên.
1.3. Nguyên nhân bội chi NSNN
3
Nguyên nhân của bội chi ngân sách nhà nước cũng thể nhìn nhận hai
phương diện là mặt khách quan và mặt chủ quan.
Thứ nhất, nguyên nhân gây bội chi ngân sách nhà nước về mặt khách quan
gồm: do kinh tế suy thoái mang tính chu kỳ. Kinh tế suy thoái thì sẽ làm cho nguồn thu
ngân sách nhà nước sụt giảm, nhu cầu chi tiêu gia tăng (trợ cấp hội, những khoản
chi để phục hồi nền kinh tế), kết quả ngân sách nhà nước thể bị bội chi. Tình hình
bất ổn của an ninh thế giớidiễn biến phức tạp của thiên tai sẽ làm gia tăng nhu cầu
chi cho quốc phòng và an ninh trật tự xã hội, gia tăng nhu cầu chi ngân sách nhà nước
để khắc phục hậu quả của thiên tai. Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co
lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế
hội. Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng lên. Ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu
của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm
mức bội chi NSNN. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là
bội chi chu kỳ.
Thứ hai, nguyên nhân dẫn tới bội chi ngân sách nhà nước về mặt chủ quan
gồm: Do quản điều hành ngân sách nhà nước bất hợp lý. Quản điều hành
ngân sách nhà nước bất hợp lý được thể hiện qua việc đánh giá và khai thác nguồn thu
chưa tốt; phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước còn nhiều bất cập, gây thất thoát,
lãng phí nguồn lực tài chính nhà nước; phân cấp quản ngân sách nhà nước chưa
khuyến khích địa phương nỗ lực trong khai thác nguồn thu phân bổ chi tiêu hiệu
quả. Kết quả là thu ngân sách nhà nước không đủ để trang trải nhu cầu chi tiêu. Do nhà
nước chủ động sử dụng bội chi như một công cụ của chính sách tài khóa để kích cầu,
khắc phục tình trạng suy thoái của nền kinh tế.
2. Tăng trưởng kinh tế
2.1. Khái niệm
Tăng trưởng kinh tế trong tiếng anh tên gọi Economic Growth. Đây
thuật ngữ dùng để chỉ sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tích cực. Đó là sự mở rộng
quy về lượng kết quả đầu ra của nền kinh tế, sự gia tăng về mặt tổng sản phẩm
quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một thời kỳ nhất định.
4
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP): chỉ số tổng sản phẩm quốc dân đo lường
tổng giá trị bằng tiền của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng do công dân 1 nước làm
ra (trong và cả ngoài nước) trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm).
Tổng sản phẩm quốc dân (GDP): tổng sản phẩm nội địa hay tổng sản phẩm
quốc nội. Đây một chỉ tiêu dùng để đo lường tổng giá trị thị trường của tất cả các
hàng hoá dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia
trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm).
Một mức độ tăng trưởng kinh tế bền vững là tăng trưởng kinh tế đạt mức tương
đối cao, ổn định trong thời gian tương đối dài (ít nhất từ 20 – 30 năm) và giải quyết tốt
vấn đề tiến bộ xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế có nhiều quan điểm
và cách phân loại khác nhau. Các nhà kinh tế cổ điển cho rằng, các yếu tố bản của
tăng trưởng kinh tế đất đai, lao động, bản cách thức kết hợp các yếu tố với
nhau. Theo quan điểm hiện đại, muốn có tăng trưởng kinh tế cao phải sử dụng có hiệu
quả các yếu tố cơ bản sau:
- Vốn: Vốn hiểu theo nghĩa rộng toàn bộ của cải vật chất do con người tạo
ra, tích luỹ lại những yếu tố tự nhiên… được sử dụng vào quá trình sản xuất. Nói
một cách khái quát, vốn toàn bộ tài sản được sử dụng để sản xuất, kinh doanh. Vốn
tồn tại dưới hai hình thức: vốn tài chính vốn hiện vật. Vốn tài chính vốn tồn tại
dưới hình thức tiền tệ hay các loại chứng khoán, còn vốn hiện vật tồn tại dưới hình
thức vật chất của quá trình sản xuất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên, vật
liệu… Các nhà kinh tế học đã chỉ ra mối liên hệ giữa tăng GDP với tăng vốn đầu tư,
Harốt Đôma (Harod Domar) đã nêu công thức tính hiệu suất sử dụng vốn sản phẩm gia
tăng viết tắt là ICOR (International Capital Output Ration). Đó là tỷ lệ tăng đầu tư chia
cho tỷ lệ tăng của GDP. Những nền kinh tế thành công thường khởi đầu quá trình phát
triển kinh tế với các chỉ số ICOR thấp, thường không quá 3%, nghĩa phải tăng
đầu tư 3% để tăng 1% GDP.
5
Một nền kinh tế tăng trưởng cao không chỉ dừng lại ở việc tăng khối lượng vốn
đầu tư, còn phải đặc biệt chú ý đến hiệu quả sử dụng vốn, quản vốn chặt chẽ,
đầu tư vốn hợp lý vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế.
- Con người: Trong các yếu tố hợp thành quá trình lao động sản xuất, sức lao
động là yếu tố quyết định, mang tính sáng tạo, là nguồn lực không cạn kiệt. Có thể nói:
“nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực”, “tài nguyên của mọi tài
nguyên”. vậy, con người sức khoẻ, trí tuệ, tay nghề cao, động lực nhiệt
tình, được tổ chức chặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững.
Để phát huy nhân tố con người, cần phải xác định: đầu cho con người về
thực chất đầu cho sự phát triển. Nhà nước cần phải chiến lược phát triển con
người, trước hết phải nâng cao về số lượng chất lượng hệ thống giáo dục, y tế,
bảo hiểm xã hội, bồi dưỡng nhân tài… cùng với việc quản lý và sử dụng hợp lý nguồn
nhân lực.
Nhân tố con người sự biểu hiện khẳng định vai trò của con người trên cả
hai phương diện: tínhthể tính xã hội (cộng đồng). Vì vậy, nhà nước cần phải có
cơ chế, chính sách thích hợp nhằm kết hợp sự nỗ lực của mỗi người với sự hỗ trợ của
cộng đồng xã hội để tạo ra động lực, lợi thế cho sự tăng trưởng kinh tế.
- Tài nguyên: Một trong các nhân tố đánh giá đầu một quốc gia giàu mạnh,
tiềm lực kinh tế lớn đó tài nguyên. Một quốc gia phạm vi lãnh thổ rộng
nguồn lực về tài nguyên phong phú thì quốc gia đó thể tận dụng ngày chính nguồn
tài nguyên này để dùng cho dây chuyền sản xuất, không phải nhập khẩu từ các quốc
gia khác qua đó tiết kiệm chi phí mua nguyên vật liệu cho hoạt động sản xuất từ giúp
gia tăng doanh thu cho doanh nghiệp; đồng thời gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế
cho quốc gia đó.
- Khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ nguồn lực quan trọng để
tăng trưởng phát triển kinh tế. Khoa học công nghệ được coi “chiếc đũa thần
mầu nhiệm” để tăng năng suất lao động, phát triển lực lượng sản xuất. Nhờ ứng dụng
những thành tựu khoa học công nghệ đã làm cho chi phí về lao động, vốn, tài
nguyên trên một đơn vị sản phẩm giảm xuống, hay nói cách khác, hiệu quả sử dụng
của các yếu tố này tăng lên.
6
Sự phát triển khoa học công nghệ cho phép tăng trưởng tái sản xuất mở
rộng theo chiều sâu, làm xuất hiện những ngành kinh tế hàm lượng khoa học cao
như: công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học… đang hội
thách thức đối với các quốc gia hướng tới nền kinh tế tri thức. Như vậy, khoa học
công nghệ cũng một yếu tố đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tăng trưởng
nhanh và bền vững.
- cấu kinh tế: Mọi nền kinh tế đều tồn tại và vận động trong một cấu
nhất định. Cơ cấu kinh tế là mối quan hệ hữu cơ, phụ thuộc và quy định lẫn nhau cả về
quy trình độ giữa các ngành, các thành phần, các vùng, c lĩnh vực của nền
kinh tế. Cũng giống như một thể sống, nền kinh tế chỉ thể tăng trưởng phát
triển khi giữa các mặt, các bộ phận, các yếu tố cấu thành nó có sự phù hợp với nhau cả
về số lượng và chất lượng, cũng có nghĩa là phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý. Vì vậy,
việc xây dựng cấu kinh tế hợp lý, hiện đại để phát huy mọi tiềm năng, nội lực, lợi
thế so sánh của toàn bộ nền kinh tế, phù hợp với sự phát triển của khoa học công
nghệ tiên tiến, gắn với phân công lao độnghợp tác quốc tếyếu tố tạo tiền đề,
sở cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
- Thể chế chính trị vai trò của nhà nước: Ổn định về chính trị hội
điều kiện cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh và bền vững.
Thể chế chính trị tiến bộ khả năng định hướng sự tăng trưởng kinh tế vào
những mục tiêu mong muốn, khắc phục được những nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi
trường, phân hoá giàu nghèo sâu sắc… Bởi vì, trên thực tế đã từng sự tăng trưởng
kinh tế không phát triển cùng chiều với tiến bộ hội. Chẳng hạn, quá trình tăng
trưởng kinh tế các nước bản chủ nghĩa phát triển đã làm xuất hiện những vấn đề
xã hội mà bản thân nền kinh tế dù có tiếp tục tăng trưởng hơn nữa cũng không thể giải
quyết được những vấn đề xã hội cơ bản.
Hệ thống chính trị đại diện nhà nước vai trò hoạch định đường lối,
chiến lược phát triển kinh tế - hội, cùng hệ thống chính sách đúng đắn sẽ hạn chế
được tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, khuyến khích tích luỹ, tiết kiệm, kích
cầu… làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đúng hướng.
3. Mối quan hệ giữa bội chi NSNN và tăng trưởng kinh tế
7
Mối quan hệ giữa bội chi ngân sách Nhà nước và tăng trưởng kinh tế là một vấn
đề được nghiên cứu khá rộng rãi trên cả phương diện thuyết kiểm định thực
nghiệm. Liên quan đến mối quan hệ này, các quan điểm của các lý thuyết kinh tế khác
nhau cũng rất khác nhau.
thuyết Keynes (1936) cho rằng, chi tiêu chính phủ thực sự tác động đến
nền kinh tế. Cụ thể, khi chính phủ tăng chi tiêu thông qua thâm hụt ngân sách (vay nợ
hoặc giảm thuế) sẽ làm tăng thu nhập sau thuếcủa cải của hộ gia đình. Điều này sẽ
làm gia tăng tiêu dùng của hộ gia đình và do đó làm tăng tổng cầu về hàng hóa và dịch
vụ. Tổng cầu gia tăng trong khi giá cả mức lương cứng nhắc sẽ làm gia tăng thu
nhập toàn dụng nhân công. Hay khi tổng cầu của nền kinh tế tăng lên sẽ làm cho
các nhà đầu nhân trở nên lạc quan hơn về triển vọng kinh tế sẽ quan tâm hơn
đến việc tăng đầu tư. Trường phái Keynes lập luận rằng mặc dù tăng bội chi ngân sách
có thể tăng lãi suất song vẫn có thể tăng được mức tiết kiệm và đầu tư, qua đó tác động
tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, các nhà kinh tế theo trường phái này cũng
cho rằng tác động của bội chi ngân sách đến tăng trưởng kinh tế chỉ ý nghĩa trong
ngắn hạn, trong dài hạn nền kinh tế tuân theo quy luật của lý thuyết Tân cổ điển.
Lý thuyết Tân cổ điển cho rằng tăng bội chi hiện tại sẽ kéo theo sự gia tăng về
gánh nặng thuế trong ơng lai. Theo đó, người tiêu dùng sẽ xu hướng tăng tiêu
dùng tại thời điểm hiện tại. Do đó, trong trường hợp bối cảnh tổng cầu sụt giảm (ví dụ
như trường hợp xảy ra suy thoái). Khi mà nền kinh tế đang hoạt động ở mức toàn dụng
nhân công (không thừa về các yếu tố sản xuất), việc tăng bội chi ngân sách
không những không tác động đến tổng cầu còn nguy đưa nền kinh tế
trước những rủi ro mới, trong đó đáng kể nhất sẽ là sự gia tăng về sức ép lạm phát.
thuyết luật Wagner cho rằng việc phân tích mối quan hệ giữa quy chi
tiêu của chính phủ với mức độ phát triển của nền kinh tế đã nhận được sự quan tâm
lớn trong lĩnh vực học thuật. Cụ thể, phân tích về mối quan hệ dài hạn giữa chi tiêu
của chính phủ và tăng trưởng kinh tế đã đưa ra nhiều kết luận khác nhau. Sự phát triển
của một nền kinh tế công nghiệp sẽ đi kèm với sự gia tăng tỷ trọng của chi tiêu công
trong tổng GDP bởi sự gia tăng các nhu cầu về các dịch vụ do chính phủ cung cấp
chi tiêu cho các vấn đề hội. Ngoài ra, quá trình công nghiệp hóa sẽ dẫn tới sự thay
đổi công nghệ các doanh nghiệp lớn xu hướng độc quyền, do đó chính phủ sẽ
8
phải đắp những nh hưởng tiêu cực do quá trình công nghiệp hóa mang lại bằng
cách cung cấp các hàng hóa công cộng đảm bảo công bằng hội thông qua các
biện pháp ngân sách. Luật Wagner cũng nhấn mạnh, tính hiệu quả trong các hoạt động
của chính phủ yếu tố quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế các nước đang phát
triển
Giả thuyết Peacock - Wiseman (1961) cho rằng sự phát triển kinh tế qua nhiều
năm sẽ dẫn tới sự gia tăng đáng kể các khoản thu Ngân sách Nhà nước do đó dẫn tới
tăng chi tiêu công. Kinh tế phát triển dẫn tới chính phủ sẽ đáp ứng ở mức cao hơn các
đòi hỏi liên quan đến các dịch vụ khác nhau chính phủ cung cấp, đặc biệt khi
nguồn thu ngân sách tăng lên với các loại thuế suất cố định.
t số thuyết kinh tế cho rằng, chưa tác động ràng nào về vai trò của
tăng chi tiêu chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế, thậm chí tăng chi tiêu chính phủ có
thể làm giảm tăng trưởng kinh tế. Nhiều nhà kinh tế thống nhất rằng, trong một số
trường hợp, việc cắt giảm quy mô chi tiêu chính phủ có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế; còn trong một số trường hợp khác lại lợi cho tăng trưởng kinh tế. Các nhà kinh
tế theo trường phái Keynes nhận định, trong những năm 1970 họ vẫn tin rằng chi tiêu
chính phủ, đặc biệt là các khoản chi tiêu thông qua vay nợ, có thể thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế nhờ làm tăng sức mua (tổng cầu) của nền kinh tế.
Nói chung, các lý thuyết khác nhau về mối quan hệ giữa bội chi Ngân sách Nhà
nước thể được chia thành 2 trường phái kinh tế. Theo tưởng của Keynes
Wagner, sự tương phản bản cho những thuyết này ớng của quan hệ nhân
quả. Wagner (1883) cho rằng tăng trưởng kinh tế, do quá trình công nghiệp hóa, đi
kèm với sự gia tăng tỷ trọng chi tiêu công trong GNP. Ngược lại, quan điểm của
Keynes cho rằng chi tiêu của chính phủ một công cụ của nhà nước trong việc thực
hiện chính sách tài khóa việc sử dụng công cụ này sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng
kinh tế.
II. TÁC ĐỘNG CỦA BỘI CHI NSNN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1. Tác động tích cực
Bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) thể những tác động tích cực đến
tăng trưởng kinh tế, đặc biệt khi nguồn vốn từ bội chi được sử dụng hợp lý và hiệu quả
9
- Bội chi NSNN thường đi kèm với việc tăng chi tiêu củaTăng đầu công:
chính phủ vào các dự án đầu công như xây dựng hạ tầng, trường học, bệnh viện,
giao thông. Những khoản đầu này thể kích thích tăng trưởng kinh tế, tạo ra việc
làm và gia tăng nhu cầu tiêu dùng, thúc đẩy phát triển các ngành liên quan.
- Thúc đẩy tiêu dùng đầu nhân: Khi chi tiêu công tăng lên, thu nhập
của người lao động và các nhà thầu tham gia vào các dự án công cũng sẽ tăng, dẫn đến
việc tăng tiêu dùng tạo ra sự lan tỏa tích cực đến nền kinh tế. Bên cạnh đó, đầu
công vào hạ tầng và dịch vụ công có thể tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho các doanh
nghiệp tư nhân, khuyến khích họ mở rộng sản xuất và đầu tư thêm vào nền kinh tế.
- Trong các thời kỳ kinh tế suyKích thích tổng cầu trong giai đoạn suy thoái:
thoái hoặc khủng hoảng, khi tiêu dùng đầu nhân suy giảm, bội chi NSNN
thể giúpđắp phần thiếu hụt này bằng cách tăng chi tiêu của chính phủ, hỗ trợ tăng
trưởng kinh tế và giữ ổn định xã hội.
- Hỗ trợ phát triển các lĩnh vực ưu tiên: Chính phủ thể sử dụng bội chi để
phát triển các ngành trọng điểm như giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, giúp nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện năng suất lao động tăng trưởng bền vữngi
hạn.
- Những khoản chi từ bội chithể tậpĐóng góp vào cải thiện cơ sở hạ tầng:
trung vào phát triển hạ tầng thiết yếu, giúp cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh
tế, tăng cường kết nối lưu thông hàng hóa, từ đó hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh.
2. Tác động tiêu cực
Trong một số hoàn cảnh nhất định, bội chi ngân sách có thể giúp kích thích tăng
trưởng kinh tế trong ngắn hạn, nhưng việc duy trì tình trạng này trong thời gian dài và
với quy lớn thể dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng. Các tác động tiêu cực của
bội chi ngân sách không chỉ ảnh hưởng đến sự ổn định tài khóa mà còn có nguy cơ gây
suy thoái ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế. Dưới đây là một số tác động tiêu cực:
- Khi ngân sách bị thâm hụt, chính phủ buộc phải vay mượnGia tăng nợ công:
để bù đắp chi tiêu, dẫn đến gia tăng nợ công. Nợ công cao đòi hỏi chi phí trả nợ hàng
năm lớn, bao gồm cả gốc lãi. Trong dài hạn, khi nợ công quá cao, ngân sách phải
dành một phần đáng kể để trả nợ thay đầu vào các lĩnh vực quan trọng như giáo
10
dục, y tế hay sở hạ tầng. Điều đó làm giảm khả năng chi tiêu cho các dự án phát
triển dài hạn làm giảm hiệu quả đầu công, từ đó kìm hãm khả năng tăng trưởng
của nền kinh tế.
- Khi bội chi ngân sách kéo dài buộc chính phủ phải in thêm tiền đểLạm phát:
đắp thâm hụt, hoặc thực hiện các chính sách tài khóa tiền tệ mở rộng để kích
thích tăng trưởng. Cả hai hành động này đều làm tăng lượng tiền lưu thông thể
dẫn đến lạm phát nếu không đi đôi với tăng trưởng kinh tế thực chất. Lạm phát cao
làm giảm giá trị của đồng tiền và làm mất sức mua của người dân, giảm động lực tiêu
dùng. Điều này cũng dẫn đến tình trạng không ổn định, khiến doanh nghiệp khó dự
đoán chi phí, gây cản trở cho đầu kinh doanh. Ngoài ra, lạm phát cao còn làm
giảm niềm tin vào nền kinh tế, khiến dòng vốn đầu tư trở nên bất ổn.
- Khi chính phủ phát hành trái phiếu để tài trợ cho bội chi,Gia tăng lãi suất:
điều này tạo ra sự cạnh tranh về vốn giữa khu vực công và tư nhân. Việc phát hành trái
phiếu nhiều làm tăng cầu vốn, từ đó đẩy lãi suất lên cao. Lãi suất cao làm tăng chi phí
vay vốn cho các doanh nghiệp và cá nhân, hạn chế khả năng mở rộng sản xuất và tiêu
dùng. Điều này khiến đầu nhân sụt giảm, làm suy yếu động lực tăng trưởng của
nền kinh tế trong dài hạn. Đối với c doanh nghiệp nhỏ, việc vay vốn trở nên khó
khăn hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực sản xuất và mở rộng kinh doanh.
- Một ngân sách liên tục thâm hụtthể khiến nhàGiảm niềm tin nhà đầu tư:
đầu tư nghi ngờ về tính bền vững của tài chính quốc gia. Bội chi ngân sách là một dấu
hiệu của sự mất cân đối trong quản tài chính công, làm giảm niềm tin của các nhà
đầu trong ngoài nước. Khi niềm tin vào tài chính quốc gia giảm sút, dòng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xu hướng giảm, hoặc dòng vốn nóng (chủ yếu
các khoản đầu ngắn hạn) sẽ rút khỏi nền kinh tế. Điều này làm suy giảm nguồn lực
đầu sự phát triển của khu vực sản xuất, kìm hãm tăng trưởng kinh tế trong dài
hạn.
- Phân bổ nguồn lực kém hiệu quả: Đôi khi, thâm hụt ngân sách đến từ các
chương trình chi tiêu kém hiệu quả hoặc quá mức vào các dự án không mang lại giá trị
kinh tế lâu dài. Điều này thường xảy ra khi chính phủ tăng chi tiêu để kích thích kinh
tế ngắn hạn không chú ý đến hiệu quả của khoản chi này. Phân bổ nguồn lực vào
các dự án không hiệu quả làm lãng phí ngân sách nhà nước, giảm tính hiệu quả trong
việc tạo ra tăng trưởng thực chất. Ngoài ra, sự lãng phí này có thể gây ra hệ quả lâu dài
11
là nền kinh tế bị phụ thuộc vào chi tiêu công và mất đi khả năng tăng trưởng độc lập từ
khu vực tư nhân.
- Khi chính phủ sử dụng bội chi để kíchTăng trưởng kinh tế không bền vững:
thích kinh tế ngắn hạn, tăng trưởng kinh tế đạt được không bền vững nếu không
cải thiện trong các yếu tố nền tảng như năng suất lao động, hạ tầng sở hoặc năng
lực sản xuất. Nền kinh tế phụ thuộc vào chi tiêu công sẽ dễ bị tổn thương khi nợ công
đạt đến mức không thể duy trì, dẫn đến nguy khủng hoảng nợ. Tại thời điểm này,
chính phủ buộc phải cắt giảm chi tiêu công hoặc tăng thuế, điều này gây ra một cú sốc
cho nền kinh tế và làm giảm tăng trưởng. Trong các tình huống xấu nhất, có thể xảy ra
khủng hoảng nợ, làm mất ổn định tài chính quốc gia ảnh hưởng nghiêm trọng đến
đời sống của người dân.
Bội chi ngân sách là một công cụ có thể kích thích kinh tế ngắn hạn, nhưng nếu
quản lý không cẩn trọng, nó có thể dẫn đến những tác động tiêu cực nghiêm trọng, như
gia tăng nợ công, lạm phát, lãi suất cao, và làm giảm niềm tin của nhà đầu tư. Để tăng
trưởng kinh tế bền vững, cần kiểm soát bội chi trong ngưỡng hợp lý, đồng thời tập
trung vào cải thiện hiệu quả quản lý tài chính công và phân bổ nguồn lực.
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tác động của bội chi ngân sách Nhà nước
đến tăng trưởng kinh tế
- Quy mô của bội chi ngân sách:
+ Tích cực: Khi bội chi mức vừa phải trong ngưỡng an toàn so với GDP,
nó có thể đóng vai trò kích thích kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng ngắn hạn thông qua đầu
tư vào hạ tầng, y tế, giáo dục và các lĩnh vực công quan trọng.
+ Tiêu cực: Bội chi quá lớn so với quy kinh tế sẽ tạo gánh nặng cho ngân
sách, làm tăng tỷ lệ nợ công, gây mất ổn định tài chính tiềm ẩn nguy khủng
hoảng.
- Năng lực quản lý tài chính công
+ Tích cực: Một hệ thống quản lý tài chính công hiệu quả giúp giảm thiểu rủi ro
của bội chi, đảm bảo rằng các khoản chi tiêu công được sử dụng đúng mục đích
mang lại lợi ích kinh tế thực tế.
12
+ Tiêu cực: Năng lực quản yếu kém d dẫn đến tình trạng lãng phí, tham
nhũng, bội chi không kiểm soát, gây thiệt hại lớn cho ngân sách làm giảm hiệu
quả sử dụng vốn.
- Nguồn tài trợ cho bội chi
+ Tích cực: Khi bội chi được tài trợ thông qua các nguồn vay trong nước với
mức lãi suất ổn định, chính phủ thể huy động vốn không gây tác động quá lớn
đến nền kinh tế.
+ Tiêu cực: Nếu bội chi được tài trợ chủ yếu bằng cách vay mượn từ nước
ngoài, phụ thuộc vào ngoại tệ, hoặc in thêm tiền, nguy cơ lạm phát cao và biến động tỷ
giá sẽ gia tăng, gây mất ổn định tài chính.
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế
+ Tích cực: Trong điều kiện kinh tế tăng trưởng tốt, bội chi thể giúp duy trì
đà phát triển, kích thích thêm đầu tiêu dùng, đặc biệt khi thị trường lao động
các yếu tố sản xuất đang ở mức khả dụng cao.
+ Tiêu cực: Trong thời kỳ suy thoái, bội chi có thể không phát huy hiệu quả nếu
niềm tin vào nền kinh tế giảm sút các khoản chi tiêu không kích thích được nhu
cầu. Điều này thể khiến gánh nặng nợ gia tăng không thúc đẩy được tăng
trưởng.
- Lãi suất quốc tế và tình hình kinh tế toàn cầu
+ Tích cực: Trong bối cảnh lãi suất quốc tế thấp, chi phí vay mượn từ nước
ngoài giảm, cho phép chính phủ thêm nguồn lực để tài trợ bội chi không tạo ra
gánh nặng lớn.
+ Tiêu cực: Khi lãi suất toàn cầu tăng cao, việc tài trợ bội chi trở nên tốn kém
hơn, tạo áp lực lên ngân ch nhà nước. Nếu nền kinh tế toàn cầu bất ổn, dòng vốn
quốc tế xu hướng rút khỏi các thị trường mới nổi, khiến các quốc gia gặp khó khăn
trong việc huy động vốn.
- Sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và tiền tệ
13
+ Tích cực: Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa (bội chi ngân sách)
chính sách tiền tệ (quản lãi suất cung tiền) sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bội
chi phát huy hiệu quả, giữ được lạm phát ở mức kiểm soát và thúc đẩy tăng trưởng.
+ Tiêu cực: Nếu không có sự phối hợp, bội chi có thể gây ra tình trạng lạm phát
hoặc lãi suất tăng đột biến, khiến nền kinh tế bất ổnnh hưởng tiêu cực đến các
hoạt động đầu tư tư nhân.
- Cấu trúc của nền kinh tế và sự phát triển của thị trường tài chính
+ Tích cực: Nếu nền kinh tế thị trường tài chính phát triển, chính phủthể
phát hành trái phiếu và huy động vốn nội địa hiệu quả hơn, giảm áp lực lãi suất và hạn
chế vay nợ quốc tế.
+ Tiêu cực: những quốc gia thị trường tài chính yếu kém, bội chi ngân
sách có thể gây áp lực lớn lên lãi suất trong nước, khiến các doanh nghiệp nhân
khó tiếp cận vốn vay và làm giảm động lực đầu tư.
Các yếu tố trên đóng vai trò quyết định mức độ tác động của bội chi ngân sách
nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế. Khi các yếu tố này được quản tốt, bội chi
thể góp phần kích thích kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng. Ngược lại, nếu các yếu tố này
không được kiểm soát hợp lý, bội chi ngân sách dễ dàng dẫn đến tình trạng bất ổn tài
chính, lạm phát cao, và kìm hãm khả năng tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế.
III. THỰC TRẠNG BỘI CHI NSNN Ở VIỆT NAM
Chi Ngân sách Nhà nước được phân cấp thành chi ngân sách trung ương và chi
ngân sách địa phương. Ngân sách trung ương, ngân sách mỗi cấp địa phương được
phân cấp nguồn thu nhiệm vụ chi cụ thể. Những địa phương nguồn thu Ngân
sách Nhà nước thấp sẽ được bổ sung từ ngân sách trung ương để đảm bảo các nhiệm
vụ chi ngân sách. Chi Ngân sách Nhà nước chủ yếu cho: Chi đầu phát triển, chi
thường xuyên, chi trả nợ, chi trả lãi vay, chi cho dự phòng chi cải cách tiền lương.
Trong đó, chi thường xuyên luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi Ngân sách
Nhà nước chiếm trung bình khoảng 61% trong tổng chi Ngân sách Nhà nước, chi đầu
phát triển chiếm khoảng 23%, chi tr nợ viện trợ chiếm khoảng 7% giai đoạn
2008 - 2018. Tỷ trọng chi thường xuyên trong tổng chi Ngân sách Nhà nước xu
hướng tăng lên và đạt đỉnh ở mức 70.7% trong năm 2017. Trong khi đó, chi cho đầu tư
14
phát triển trong tổng chi Ngân sách Nhà nước lại có xu hướng giảm từ mức khoảng
26.3% năm 2008 xuống khoảng 21.27% năm 2017. Chi thường xuyên xu hướng
tăng trong khi chi cho đầu phát triển mới chính nguồn lực cho phát triển kinh tế
dài hạn lại có xu hướng thu hẹp lại.
Tổng chi Ngân sách Nhà nước tăng 2.8 lần trong giai đoạn 2008 - 2018 với tốc
độ trung bình 12%/năm. Nếu loại trừ lạm phát, tốc độ tăng trưởng trung bình thực của
chi Ngân sách Nhà nước mức 4%/năm. Giai đoạn 2008 - 2012, trung bình tốc độ
tăng chi Ngân sách Nhà nước hàng năm mức 20.8%/năm nhưng sau năm 2012, tốc
độ tăng chi Ngân sách Nhà nước giảm bởi những chính sách thắt chặt chi tiêu (đặc
biệt là chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển) sau khi lạm phát cao ở mức 2 chữ số
trong năm 2011 (18.58%). Chi Ngân sách Nhà ớc thực tế luôn cao hơn so với dự
toán chi Ngân sách Nhà nước từ năm 2008 đến năm 2016. Cụ thể, trung bình chi Ngân
sách Nhà nước luôn cao hơn so với dự toán chi 9.9% đặc biệt từm 2008, 2009,
2010 và 2013 chi ngân sách thực tế luôn cao hơn ở mức hai chữ số so với dự toán chi.
Do đó, kỷ luật chi tiêu Ngân sách Nhà nước vẫn còn lỏng lẻo, dẫn đến chi ngân sách
luôn vượt dự toán làm tăng bội chi ngân sách nợ công. Trên thực tế, nhiều công
trình dự án đầu tưnguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước khi thực hiện thường có mức
chi tiêu cao hơn nhiều so với dự toán ban đầu. Chi tiêu thường xuyên từ Ngân sách
Nhà nước cũng tăng cao cho quản lý hành chính, tăng lương và tăng biên chế, y tế giáo
dục. Bắt đầu từ năm 2017, chi Ngân sách Nhà nước bắt đầu mức thấp hơn dự toán
cho thấy kỷ luật chi Ngân sách Nhà nước bắt đầu được thắt chặt đảm bảo chi Ngân
sách Nhà nước ở mức hợp lý giảm bội chi ngân sách và nợ công.
Hiện nay, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc quan đại diện cho nhân dân tham gia
vào quá trình giám sát ngân sách đầu công. Ủy ban Tài chính Ngân sách của
Quốc hội quan giám sát về tình hình thực hiện dự toán ngân sách một số vấn
đề liên quan đến lĩnh vực tài chính ngân sách của Quốc hội; xem xét việc thực hiện
hoạch định tài chính của các địa phương. Cơ quan kiểm toán Nhà nước có vai trò kiểm
toán Ngân sách Nhà nước trình Quốc hội báo cáo kiểm toán quyết toán Ngân sách
Nhà nước để Quốc hội xem xét phê chuẩn quyết toán Ngân sách Nhà nước, tham gia
với Ủy ban tài chính, ngân sách các quan khác của Quốc hội, Chính phủ trong
việc xem xét, thẩm tra báo cáo về dự toán Ngân sách Nhà nước, phương án phân bổ
ngân sách trung ương, phương án điều chỉnh dự toán Ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên,
15
vai trò của nhân dân trong quá trình lập dự toán thực hiện chi Ngân sách Nhà nước
còn hạn chế. Các khảo sát lấy ý kiến dân chúng được thực hiện bởi các nhà hoạch định
chính sách để quyết định chi tiêu ngân sách hầu như chưa được phổ biến. Vai trò của
hệ thống truyền thông, các tổ chức xã hội khác trong quá trình giám sát việc thực hiện
Ngân sách Nhà nước chưa được đề cao. Ngoài ra, công tác thống công bố dữ liệu
còn hạn chế. Hiện nay, chỉ các quan chức năng như Kiểm toán Nhà nước, Ủy
Ban ngân sách Nhà nước hay Mặt trận Tổ quốc mới thể thanh kiểm tra đảm bảo
tính chính xác của các nhiệm vụ chi Ngân sách Nhà nước. Hiện nay, ở một số quốc gia
phát triển trên thế giới (chẳng hạn như Mỹ) thì các thành phố trong quốc gia đều phải
một báo cáo Ngân sách Nhà nước hàng năm được công khai với các số liệu được
cung cấp chi tiết. Ví dụ chi Ngân sách Nhà nước ở các thành phố được thể hiện chi tiết
ở các khoản chi có các phòng, ban như: tài chính, phòng cháy chữa cháy, phòng đầu tư
cho các dự án sở hạ tầng,… hay các khoản chi tiêu được công khai theo các các
mục đích chi như chi cho hệ thống cấp nước trong thành phố, chi cho các công trình
như sân golf, công viên, xây dựng đường sá, trả nợ các khoản vay…
Một vấn đề nữa đó vẫn còn tình trạng tham nhũng một số dự án, dẫn đến
việc chi tiêu Ngân sách Nhà nước thường tăng cao hơn so với dự toán được đánh
giá hiệu quả thấp. Ba loại tham nhũng chính từ Ngân sách Nhà nước thể nhận
thấy đó là: các khoản chi tiêu gian lận, gian lận khi đấu thầu các dự án công, hay mua
sắm các hàng hóa dịch vụ hay xây dựng các công trình chất lượng thấp hơn so với tiêu
chuẩn. Do đó, công tác phòng chống tình trạng tham nhũng từ Ngân sách Nhà nước
đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước và giảm
thiểu tăng chi so với dự toán đảm bảo bội chi ngân sách ở mức mục tiêu đề ra trong dự
toán Ngân sách Nhà nước hàng năm (Hình 2).
16
Trong thời gian qua, chi cao hơn so với dự toán và bội chi Ngân sách Nhà nước
còn xuất hiện cao hơn so với mức bội chi theo dự toán của Quốc hội đã đặt ra. Cụ
thể là, các năm 2008, 2009 giai đoạn từ 2012 đến 2015, bội chi cao hơn so với dự
toán, có những năm bội chi cao hơn so với dự toán 31.5%. Gần đây, bội chi Ngân sách
Nhà nước xu hướng giảm dần nhờ chủ trương tăng kỷ luật chi Ngân sách Nhà
nước, giảm bội chi nợ công. Theo đó, nợ công trên GDP cũng đã tăng từ mức
44.3% GDP năm 2008 lên mức 63.7% GDP năm 2016 giảm dần xuống còn 61%
trong năm 2018.
Cùng với xu hướng của thu ngân sách trung ương thì chi ngân sách trung ương
cũng giảm dần vai trò, thay vào đó sự gia tăng chi tiêu ở cấp ngân sách địa phương
từ mức chiếm 45.77% trong tổng chi Ngân sách Nhà nước trong năm 2011 lên mức
58.33% năm 2017. Chi bổ sung ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương tăng
từ mức 182,225 tỷ đồng năm 2011 lên đến 320,581 tỷ đồng năm 2017 nhưng xét về cơ
cấu thì bổ sung từ ngân sách trung ương so với tổng chi ngân sách địa phương xu
hướng giảm từ 32.72% xuống còn 30.95%, thể hiện tính tự chủ của ngân sách địa
phương ngày càng tăng. Tuy nhiên, hiện nay, ngân sách trung ương phải cấp bổ sung
cân đối ngân sách cho một số tỉnh nguồn thu không đủ chi tiêu (một số tỉnh miền
núi). Việc chi tiêu của nhiều tỉnh có nguồn thu Ngân sách Nhà nước thấp và phụ thuộc
quá nhiều vào phân bổ ngân sách trung ương tạo áp lực cho ngân sách trung ương
hàng năm.
17
Theo đánh giá, năm 2022, tình hình quốc tế, trong nước được dự báo có những
cơ hội, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức dự báo
nhiều hơn. Dịch COVID-19 còn thể kéo dài, nguy xuất hiện biến chủng mới,
nguy hiểm hơn; vắc-xin và thuốc điều trị có thể tiếp tục khan hiếm.
Năm 2022 cũng là nămquá trình phục hồi và tốc độ tăng trưởng kinh tế thế
giới được dự báo thấp hơn năm 2021. Chưa kể, khả năng thắt chặt dần các chính sách
tài khóa, tiền tệ của một số nền kinh tế lớn nhằm kiểm soát lạm phát; biến đổi khí hậu,
thời tiết cực đoan các dịch bệnh khác cũng những rủi ro ảnh hưởng tới sự phục
hồi kinh tế thế giới.
Trong nước, kinh nghiệm, năng lực, khả năng kiểm soát dịch bệnh tiếp tục được
nâng lên, nhưng sức chống chịu nguồn lực của Nhà nước, doanh nghiệp người
dân đã giảm sút đáng kể. Việc hoàn thành bao phủ vắc-xin, kiểm soát được hiệu quả
dịch bệnh là điều kiện quan trọng để phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.
Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2021, dự kiến năm 2022,
Bộ Tài chính đã trình Chính phủ báo cáo Quốc hội thông qua dự toán NSNN năm
2022 và kế hoạch tài chính - NSNN 3 năm quốc gia 2022 - 2024.
Theo đó, đối với năm 2022, dự toán thu NSNN là 1.411,7 nghìn tỷ đồng, đạt tỷ
lệ huy động vào NSNN khoảng 15,1%GDP; từ thuế, phí khoảng 12,7% GDP.
Trong đó, tỷ trọng thu nội địa chiếm 83,4% tổng thu NSNN, với tốc độ tăng thu
nội địa từ thuế, phí khoảng 6% so với ước năm 2021; thu dầu thô chiếm 2% tổng thu
NSNN; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu chiếm 14,1% tổng thu NSNN, với tốc
độ tăng thu từ hoạt động xuất nhập khẩu khoảng 5% so với ước năm 2021.
Năm 2022 dự toán chi NSNN là 1.784,6 nghìn tỷ đồng, tăng 76,9 nghìn tỷ đồng
(4,5%) so dự toánm 2021. Trong đó, dự toán chi đầu tư phát triển là 526,1 nghìn tỷ
đồng, chiếm 29,5% tổng chi NSNN. Dự toán chi trả nợ lãi, viện trợ, dự trữ quốc gia là
107,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 6% tổng chi NSNN.
Dự toán chi thường xuyên (bao gồm chi tinh giản biên chế) 1.112,1 nghìn tỷ
đồng, chiếm 62,3% tổng chi NSNN. Dự phòng NSNN là 39 nghìn tỷ đồng.
Năm 2022 bội chi NSNN khoảng 4% GDP. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính
phủ bằng khoảng 21 - 22% tổng thu NSNN. Nợ công đến cuối năm 2022 khoảng 43 -
44% GDP.
Nợ công đến năm 2024 khoảng 43 - 44% GDP
18
Đối với kế hoạch tài chính - NSNN 3 năm 2022 - 2024, dự toán thu NSNN cả
giai đoạn 4.650 nghìn tỷ đồng, đạt tỷ lệ huy động vào NSNN bình quân khoảng
15,1% GDP (từ thuế, phí gần 13%). Tiếp tục cấu lại thu, tỷ trọng thu nội địa đến
năm 2024 đạt gần 85% tổng thu NSNN.
Tỷ lệ bội chi NSNN bình quân giai đoạn 2022 - 2024 khoảng 3,8% GDP. Nợ
công đến năm 2024 khoảng 43 - 44% GDP.
Dự toán chi ngân sách 3 năm 2022 - 2024 là khoảng 5.800 nghìn tỷ đồng.
Để hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ tài chính - NSNN năm 2022, ngành Tài
chính cần tiếp tục phát huy những kết quả, thành tựu đã đạt được; đồng thời, khắc
phục những khó khăn, hạn chế.
Việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ tài chính - NSNN năm 2022 và kế hoạch
tài chính - NSNN 3 năm 2022 - 2024ý nghĩa quan trọng, góp phần hoàn thành các
mục tiêu phát triển kinh tế - hội, đặc biệt trong bối cảnh cần có những động lực hỗ
trợ khôi phục nền kinh tế sau ảnh hưởng của đại dịch COVID-19.
Ngân sách Nhà nước Việt Nam đang đối mặt với thách thức lớn trong quản
chi tiêu, khi chi thường xuyên chiếm tỷ trọng cao, trong khi chi đầu tư phát triển giảm.
Mặc dù có nỗ lực thắt chặt kỷ luật chi từ năm 2017, tình trạng chi thực tế vượt dự toán
vẫn gia tăng bội chi nợ công. Đối với năm 2022 giai đoạn 2022 - 2024, cần lập
dự toán ngân sách thận trọng nhằm giảm bội chi xuống 4% GDP duy trì nợ công
hợp lý, đồng thời tăng cường giám sát tham gia của cộng đồng để nâng cao hiệu
quả chi tiêu và phòng chống tham nhũng, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững.
IV. CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1. Nhà nước phát hành thêm tiền
Giải pháp này đơn giản dễ thực hiện nhưng sẽ gây ra lạm phát nếu Nhà nước
phát hành thêm quá nhiều tiền để đắp bội chi NSNN, ảnh hưởng đến tiêu cực đến
đời sống kinh tế - xã hội - chính trị.
Đẩy mạnh phát hành thêm trái phiếu chính phủ và vay nợ nước ngoài để bù đắp
bội chi, điều này góp phần tích cực trong việc kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên trong
trường hợp nền kinh tế suy thoái, mức độ lạm phát không cao thì việc phát hành thêm
tiền cần phải được tiến hành nhằm trang trải mục tiêu trước mắt là có tiền để tiến hành
các chương trình đầu tư phát triển, có tiền để tăng lương theo kế hoạch, bù đắp bội chi.
19

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
VIỆN KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
----------------
BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN
NHẬP MÔN TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ. LIÊN HỆ ĐẾN VIỆT NAM Nhóm: 2 Lớp học phần: 241_EFIN2811_06
Giảng viên hướng dẫn: Vũ Xuân Thủy
Hà Nội, tháng 11 năm 2024 MỤC LỤC
I. TỔNG QUAN VỀ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ......................................................................................................................6
1. Bội chi NSNN........................................................................................................6
1.1. Khái niệm........................................................................................................6
1.2. Phân loại bội chi NSNN..................................................................................6
1.3. Nguyên nhân bội chi NSNN...........................................................................6
2. Tăng trưởng kinh tế.............................................................................................7
2.1. Khái niệm........................................................................................................7
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.............................................8
3. Mối quan hệ giữa bội chi NSNN và tăng trưởng kinh tế.................................10
II. TÁC ĐỘNG CỦA BỘI CHI NSNN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ...........12
1. Tác động tích cực................................................................................................12
2. Tác động tiêu cực................................................................................................13
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tác động của bội chi ngân sách Nhà nước
đến tăng trưởng kinh tế..........................................................................................15
III. THỰC TRẠNG BỘI CHI NSNN Ở VIỆT NAM..............................................17
IV. CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC........22
1. Nhà nước phát hành thêm tiền..........................................................................22
2. Vay nợ cả trong và ngoài nước..........................................................................22
3. Tăng các khoản thu............................................................................................23
4. Triệt để tiết kiệm các khoản chi........................................................................23
5. Tăng cường vai trò quản lý của cơ quan Nhà nước.........................................24
KẾT LUẬN................................................................................................................25
TÀI LIỆU THAM KHẢO:........................................................................................26 1 LỜI MỞ ĐẦU
Ngân sách nhà nước (NSNN) là một điều kiện vật chất quan trọng nhằm thực
hiện các nhiệm vụ của Nhà nước và là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia.
Bội chi ngân sách là một vấn đề mà các quốc gia đều gặp phải và có ảnh hưởng to lớn
đến sự tăng trưởng kinh tế của mỗi nước. Việc Xử lý bội chi NSNN là một vấn đề
nhạy cảm, bởi nó không chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động
đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Vì vậy mỗi quốc gia đều có những biện
pháp thích hợp nhằm khắc phục bội chi ngân sách đua bội chi đến một mức nhất định, trong đó có Việt Nam.
Trong bài thảo luận này, nhóm 2 sẽ phân tích tác động của bội chi NSNN đến
tăng trưởng kinh tế, từ đó liên hệ đến hiện trạng ở Việt Nam và đưa ra một số giải
pháp nhằm khắc phục tình trạng này.
Nội dung bài thảo luận này gồm 4 phần:
I. Tổng quan về bội chi ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế
II. Tác động của bội chi NSNN đến tăng trưởng kinh tế
III. Thực trạng bội chi NSNN ở Việt Nam
IV. Các giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước 2
I. TỔNG QUAN VỀ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Bội chi NSNN
1.1. Khái niệm
- Khái niệm ngân sách Nhà nước: Ngân sách Nhà nước là hệ thống các quan hệ
kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử
dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn
tài chính quốc gia nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
- Khái niệm bội chi ngân sách Nhà nước: Bội chi ngân sách nhà nước (hay còn
còn gọi là Thâm hụt ngân sách) trong kinh tế học vĩ mô và kinh tế học công cộng được
hiểu là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn
hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách.
1.2. Phân loại bội chi NSNN
- Căn cứ vào nguyên nhân gây ra, người ta chia bội chi Ngân sách Nhà nước ra
làm 2 loại: bội chi cơ cấu và bội chi chu kỳ.
+ Bội chi cơ cấu xảy ra do sự thay đổi chính sách thu chi của Nhà nước, Nhà
nước chủ động phát hành thêm tiền vào lưu thông để chi tiêu nhằm kích thích kinh tế
phát triển. Khi bội chi cơ cấu tăng lên người ta thường nói Chính phủ đang dùng chính
sách tài khóa để kích thích nền kinh tế phát triển. Các khoản thâm hụt được quyết định
hành động bởi những chủ trương tùy biến của chính phủ nước nhà như lao lý thuế suất,
trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chỉ tiêu cho giáo dục, quốc phòng …
+ Bội chi chu kỳ xảy ra do sự thay đổi của chu kỳ kinh tế và thường loại bội chi
này xuất hiện vào giai đoạn suy thoái của nền kinh tế. Các khoản thâm hụt gây ra bởi
thực trạng của chu kỳ luân hồi kinh tế tài chính, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của
sản lượng và tích lũy quốc dân. Ví dụ khi nền kinh tế tài chính suy thoái và khủng
hoảng, tỷ suất thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi
chi ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên.
1.3. Nguyên nhân bội chi NSNN 3
Nguyên nhân của bội chi ngân sách nhà nước cũng có thể nhìn nhận ở hai
phương diện là mặt khách quan và mặt chủ quan.
Thứ nhất, nguyên nhân gây bội chi ngân sách nhà nước về mặt khách quan
gồm: do kinh tế suy thoái mang tính chu kỳ. Kinh tế suy thoái thì sẽ làm cho nguồn thu
ngân sách nhà nước sụt giảm, nhu cầu chi tiêu gia tăng (trợ cấp xã hội, những khoản
chi để phục hồi nền kinh tế), kết quả ngân sách nhà nước có thể bị bội chi. Tình hình
bất ổn của an ninh thế giới và diễn biến phức tạp của thiên tai sẽ làm gia tăng nhu cầu
chi cho quốc phòng và an ninh trật tự xã hội, gia tăng nhu cầu chi ngân sách nhà nước
để khắc phục hậu quả của thiên tai. Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co
lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã
hội. Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng lên. Ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu
của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm
mức bội chi NSNN. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ.
Thứ hai, nguyên nhân dẫn tới bội chi ngân sách nhà nước về mặt chủ quan
gồm: Do quản lý và điều hành ngân sách nhà nước bất hợp lý. Quản lý và điều hành
ngân sách nhà nước bất hợp lý được thể hiện qua việc đánh giá và khai thác nguồn thu
chưa tốt; phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước còn nhiều bất cập, gây thất thoát,
lãng phí nguồn lực tài chính nhà nước; phân cấp quản lý ngân sách nhà nước chưa
khuyến khích địa phương nỗ lực trong khai thác nguồn thu và phân bổ chi tiêu hiệu
quả. Kết quả là thu ngân sách nhà nước không đủ để trang trải nhu cầu chi tiêu. Do nhà
nước chủ động sử dụng bội chi như một công cụ của chính sách tài khóa để kích cầu,
khắc phục tình trạng suy thoái của nền kinh tế.
2. Tăng trưởng kinh tế
2.1. Khái niệm
Tăng trưởng kinh tế trong tiếng anh có tên gọi là Economic Growth. Đây là
thuật ngữ dùng để chỉ sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tích cực. Đó là sự mở rộng
quy mô về lượng kết quả đầu ra của nền kinh tế, là sự gia tăng về mặt tổng sản phẩm
quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một thời kỳ nhất định. 4
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP): là chỉ số tổng sản phẩm quốc dân đo lường
tổng giá trị bằng tiền của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng do công dân 1 nước làm
ra (trong và cả ngoài nước) trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm).
Tổng sản phẩm quốc dân (GDP): là tổng sản phẩm nội địa hay tổng sản phẩm
quốc nội. Đây là một chỉ tiêu dùng để đo lường tổng giá trị thị trường của tất cả các
hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia
trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm).
Một mức độ tăng trưởng kinh tế bền vững là tăng trưởng kinh tế đạt mức tương
đối cao, ổn định trong thời gian tương đối dài (ít nhất từ 20 – 30 năm) và giải quyết tốt
vấn đề tiến bộ xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế có nhiều quan điểm
và cách phân loại khác nhau. Các nhà kinh tế cổ điển cho rằng, các yếu tố cơ bản của
tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động, tư bản và cách thức kết hợp các yếu tố với
nhau. Theo quan điểm hiện đại, muốn có tăng trưởng kinh tế cao phải sử dụng có hiệu
quả các yếu tố cơ bản sau:
- Vốn: Vốn hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ của cải vật chất do con người tạo
ra, tích luỹ lại và những yếu tố tự nhiên… được sử dụng vào quá trình sản xuất. Nói
một cách khái quát, vốn là toàn bộ tài sản được sử dụng để sản xuất, kinh doanh. Vốn
tồn tại dưới hai hình thức: vốn tài chính và vốn hiện vật. Vốn tài chính là vốn tồn tại
dưới hình thức tiền tệ hay các loại chứng khoán, còn vốn hiện vật tồn tại dưới hình
thức vật chất của quá trình sản xuất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên, vật
liệu… Các nhà kinh tế học đã chỉ ra mối liên hệ giữa tăng GDP với tăng vốn đầu tư,
Harốt Đôma (Harod Domar) đã nêu công thức tính hiệu suất sử dụng vốn sản phẩm gia
tăng viết tắt là ICOR (International Capital Output Ration). Đó là tỷ lệ tăng đầu tư chia
cho tỷ lệ tăng của GDP. Những nền kinh tế thành công thường khởi đầu quá trình phát
triển kinh tế với các chỉ số ICOR thấp, thường không quá 3%, có nghĩa là phải tăng
đầu tư 3% để tăng 1% GDP. 5
Một nền kinh tế tăng trưởng cao không chỉ dừng lại ở việc tăng khối lượng vốn
đầu tư, mà còn phải đặc biệt chú ý đến hiệu quả sử dụng vốn, quản lý vốn chặt chẽ,
đầu tư vốn hợp lý vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế.
- Con người: Trong các yếu tố hợp thành quá trình lao động sản xuất, sức lao
động là yếu tố quyết định, mang tính sáng tạo, là nguồn lực không cạn kiệt. Có thể nói:
“nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực”, là “tài nguyên của mọi tài
nguyên”. Vì vậy, con người có sức khoẻ, trí tuệ, tay nghề cao, có động lực và nhiệt
tình, được tổ chức chặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững.
Để phát huy nhân tố con người, cần phải xác định: đầu tư cho con người về
thực chất là đầu tư cho sự phát triển. Nhà nước cần phải có chiến lược phát triển con
người, mà trước hết phải nâng cao về số lượng và chất lượng hệ thống giáo dục, y tế,
bảo hiểm xã hội, bồi dưỡng nhân tài… cùng với việc quản lý và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực.
Nhân tố con người là sự biểu hiện và khẳng định vai trò của con người trên cả
hai phương diện: tính cá thể và tính xã hội (cộng đồng). Vì vậy, nhà nước cần phải có
cơ chế, chính sách thích hợp nhằm kết hợp sự nỗ lực của mỗi người với sự hỗ trợ của
cộng đồng xã hội để tạo ra động lực, lợi thế cho sự tăng trưởng kinh tế.
- Tài nguyên: Một trong các nhân tố đánh giá đầu là một quốc gia giàu mạnh,
có tiềm lực kinh tế lớn đó là tài nguyên. Một quốc gia có phạm vi lãnh thổ rộng và
nguồn lực về tài nguyên phong phú thì quốc gia đó có thể tận dụng ngày chính nguồn
tài nguyên này để dùng cho dây chuyền sản xuất, không phải nhập khẩu từ các quốc
gia khác qua đó tiết kiệm chi phí mua nguyên vật liệu cho hoạt động sản xuất từ giúp
gia tăng doanh thu cho doanh nghiệp; đồng thời gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế cho quốc gia đó.
- Khoa học và công nghệ: Khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng để
tăng trưởng và phát triển kinh tế. Khoa học và công nghệ được coi là “chiếc đũa thần
mầu nhiệm” để tăng năng suất lao động, phát triển lực lượng sản xuất. Nhờ ứng dụng
những thành tựu khoa học và công nghệ đã làm cho chi phí về lao động, vốn, tài
nguyên trên một đơn vị sản phẩm giảm xuống, hay nói cách khác, hiệu quả sử dụng
của các yếu tố này tăng lên. 6
Sự phát triển khoa học và công nghệ cho phép tăng trưởng và tái sản xuất mở
rộng theo chiều sâu, làm xuất hiện những ngành kinh tế có hàm lượng khoa học cao
như: công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học… đang là cơ hội và
thách thức đối với các quốc gia hướng tới nền kinh tế tri thức. Như vậy, khoa học và
công nghệ cũng là một yếu tố đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tăng trưởng nhanh và bền vững.
- Cơ cấu kinh tế: Mọi nền kinh tế đều tồn tại và vận động trong một cơ cấu
nhất định. Cơ cấu kinh tế là mối quan hệ hữu cơ, phụ thuộc và quy định lẫn nhau cả về
quy mô và trình độ giữa các ngành, các thành phần, các vùng, các lĩnh vực của nền
kinh tế. Cũng giống như một cơ thể sống, nền kinh tế chỉ có thể tăng trưởng và phát
triển khi giữa các mặt, các bộ phận, các yếu tố cấu thành nó có sự phù hợp với nhau cả
về số lượng và chất lượng, cũng có nghĩa là phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý. Vì vậy,
việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại để phát huy mọi tiềm năng, nội lực, lợi
thế so sánh của toàn bộ nền kinh tế, phù hợp với sự phát triển của khoa học và công
nghệ tiên tiến, gắn với phân công lao động và hợp tác quốc tế là yếu tố tạo tiền đề, cơ
sở cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
- Thể chế chính trị và vai trò của nhà nước: Ổn định về chính trị – xã hội là
điều kiện cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh và bền vững.
Thể chế chính trị tiến bộ có khả năng định hướng sự tăng trưởng kinh tế vào
những mục tiêu mong muốn, khắc phục được những nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi
trường, phân hoá giàu nghèo sâu sắc… Bởi vì, trên thực tế đã từng có sự tăng trưởng
kinh tế không phát triển cùng chiều với tiến bộ xã hội. Chẳng hạn, quá trình tăng
trưởng kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã làm xuất hiện những vấn đề
xã hội mà bản thân nền kinh tế dù có tiếp tục tăng trưởng hơn nữa cũng không thể giải
quyết được những vấn đề xã hội cơ bản.
Hệ thống chính trị mà đại diện là nhà nước có vai trò hoạch định đường lối,
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cùng hệ thống chính sách đúng đắn sẽ hạn chế
được tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, khuyến khích tích luỹ, tiết kiệm, kích
cầu… làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đúng hướng.
3. Mối quan hệ giữa bội chi NSNN và tăng trưởng kinh tế 7
Mối quan hệ giữa bội chi ngân sách Nhà nước và tăng trưởng kinh tế là một vấn
đề được nghiên cứu khá rộng rãi trên cả phương diện lý thuyết và kiểm định thực
nghiệm. Liên quan đến mối quan hệ này, các quan điểm của các lý thuyết kinh tế khác nhau cũng rất khác nhau.
Lý thuyết Keynes (1936) cho rằng, chi tiêu chính phủ thực sự có tác động đến
nền kinh tế. Cụ thể, khi chính phủ tăng chi tiêu thông qua thâm hụt ngân sách (vay nợ
hoặc giảm thuế) sẽ làm tăng thu nhập sau thuế và của cải của hộ gia đình. Điều này sẽ
làm gia tăng tiêu dùng của hộ gia đình và do đó làm tăng tổng cầu về hàng hóa và dịch
vụ. Tổng cầu gia tăng trong khi giá cả và mức lương là cứng nhắc sẽ làm gia tăng thu
nhập và toàn dụng nhân công. Hay khi tổng cầu của nền kinh tế tăng lên sẽ làm cho
các nhà đầu tư tư nhân trở nên lạc quan hơn về triển vọng kinh tế và sẽ quan tâm hơn
đến việc tăng đầu tư. Trường phái Keynes lập luận rằng mặc dù tăng bội chi ngân sách
có thể tăng lãi suất song vẫn có thể tăng được mức tiết kiệm và đầu tư, qua đó tác động
tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, các nhà kinh tế theo trường phái này cũng
cho rằng tác động của bội chi ngân sách đến tăng trưởng kinh tế chỉ có ý nghĩa trong
ngắn hạn, trong dài hạn nền kinh tế tuân theo quy luật của lý thuyết Tân cổ điển.
Lý thuyết Tân cổ điển cho rằng tăng bội chi hiện tại sẽ kéo theo sự gia tăng về
gánh nặng thuế trong tương lai. Theo đó, người tiêu dùng sẽ có xu hướng tăng tiêu
dùng tại thời điểm hiện tại. Do đó, trong trường hợp bối cảnh tổng cầu sụt giảm (ví dụ
như trường hợp xảy ra suy thoái). Khi mà nền kinh tế đang hoạt động ở mức toàn dụng
nhân công (không có dư thừa về các yếu tố sản xuất), việc tăng bội chi ngân sách
không những không có tác động đến tổng cầu mà còn có nguy cơ đưa nền kinh tế
trước những rủi ro mới, trong đó đáng kể nhất sẽ là sự gia tăng về sức ép lạm phát.
Lý thuyết luật Wagner cho rằng việc phân tích mối quan hệ giữa quy mô chi
tiêu của chính phủ với mức độ phát triển của nền kinh tế đã nhận được sự quan tâm
lớn trong lĩnh vực học thuật. Cụ thể, phân tích về mối quan hệ dài hạn giữa chi tiêu
của chính phủ và tăng trưởng kinh tế đã đưa ra nhiều kết luận khác nhau. Sự phát triển
của một nền kinh tế công nghiệp sẽ đi kèm với sự gia tăng tỷ trọng của chi tiêu công
trong tổng GDP bởi sự gia tăng các nhu cầu về các dịch vụ do chính phủ cung cấp và
chi tiêu cho các vấn đề xã hội. Ngoài ra, quá trình công nghiệp hóa sẽ dẫn tới sự thay
đổi công nghệ và các doanh nghiệp lớn có xu hướng độc quyền, do đó chính phủ sẽ 8
phải bù đắp những ảnh hưởng tiêu cực do quá trình công nghiệp hóa mang lại bằng
cách cung cấp các hàng hóa công cộng và đảm bảo công bằng xã hội thông qua các
biện pháp ngân sách. Luật Wagner cũng nhấn mạnh, tính hiệu quả trong các hoạt động
của chính phủ là yếu tố quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển
Giả thuyết Peacock - Wiseman (1961) cho rằng sự phát triển kinh tế qua nhiều
năm sẽ dẫn tới sự gia tăng đáng kể các khoản thu Ngân sách Nhà nước do đó dẫn tới
tăng chi tiêu công. Kinh tế phát triển dẫn tới chính phủ sẽ đáp ứng ở mức cao hơn các
đòi hỏi liên quan đến các dịch vụ khác nhau mà chính phủ cung cấp, đặc biệt khi
nguồn thu ngân sách tăng lên với các loại thuế suất cố định.
Mô †t số lý thuyết kinh tế cho rằng, chưa có tác động rõ ràng nào về vai trò của
tăng chi tiêu chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế, thậm chí tăng chi tiêu chính phủ có
thể làm giảm tăng trưởng kinh tế. Nhiều nhà kinh tế thống nhất rằng, trong một số
trường hợp, việc cắt giảm quy mô chi tiêu chính phủ có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế; còn trong một số trường hợp khác lại có lợi cho tăng trưởng kinh tế. Các nhà kinh
tế theo trường phái Keynes nhận định, trong những năm 1970 họ vẫn tin rằng chi tiêu
chính phủ, đặc biệt là các khoản chi tiêu thông qua vay nợ, có thể thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế nhờ làm tăng sức mua (tổng cầu) của nền kinh tế.
Nói chung, các lý thuyết khác nhau về mối quan hệ giữa bội chi Ngân sách Nhà
nước có thể được chia thành 2 trường phái kinh tế. Theo tư tưởng của Keynes và
Wagner, sự tương phản cơ bản cho những lý thuyết này là hướng của quan hệ nhân
quả. Wagner (1883) cho rằng tăng trưởng kinh tế, do quá trình công nghiệp hóa, đi
kèm với sự gia tăng tỷ trọng chi tiêu công trong GNP. Ngược lại, quan điểm của
Keynes cho rằng chi tiêu của chính phủ là một công cụ của nhà nước trong việc thực
hiện chính sách tài khóa và việc sử dụng công cụ này sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
II. TÁC ĐỘNG CỦA BỘI CHI NSNN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1. Tác động tích cực
Bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) có thể có những tác động tích cực đến
tăng trưởng kinh tế, đặc biệt khi nguồn vốn từ bội chi được sử dụng hợp lý và hiệu quả 9
- Tăng đầu tư công: Bội chi NSNN thường đi kèm với việc tăng chi tiêu của
chính phủ vào các dự án đầu tư công như xây dựng hạ tầng, trường học, bệnh viện,
giao thông. Những khoản đầu tư này có thể kích thích tăng trưởng kinh tế, tạo ra việc
làm và gia tăng nhu cầu tiêu dùng, thúc đẩy phát triển các ngành liên quan.
- Thúc đẩy tiêu dùng và đầu tư tư nhân: Khi chi tiêu công tăng lên, thu nhập
của người lao động và các nhà thầu tham gia vào các dự án công cũng sẽ tăng, dẫn đến
việc tăng tiêu dùng và tạo ra sự lan tỏa tích cực đến nền kinh tế. Bên cạnh đó, đầu tư
công vào hạ tầng và dịch vụ công có thể tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho các doanh
nghiệp tư nhân, khuyến khích họ mở rộng sản xuất và đầu tư thêm vào nền kinh tế.
- Kích thích tổng cầu trong giai đoạn suy thoái: Trong các thời kỳ kinh tế suy
thoái hoặc khủng hoảng, khi tiêu dùng và đầu tư tư nhân suy giảm, bội chi NSNN có
thể giúp bù đắp phần thiếu hụt này bằng cách tăng chi tiêu của chính phủ, hỗ trợ tăng
trưởng kinh tế và giữ ổn định xã hội.
- Hỗ trợ phát triển các lĩnh vực ưu tiên: Chính phủ có thể sử dụng bội chi để
phát triển các ngành trọng điểm như giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, giúp nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện năng suất lao động và tăng trưởng bền vững dài hạn.
- Đóng góp vào cải thiện cơ sở hạ tầng: Những khoản chi từ bội chi có thể tập
trung vào phát triển hạ tầng thiết yếu, giúp cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh
tế, tăng cường kết nối và lưu thông hàng hóa, từ đó hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh.
2. Tác động tiêu cực
Trong một số hoàn cảnh nhất định, bội chi ngân sách có thể giúp kích thích tăng
trưởng kinh tế trong ngắn hạn, nhưng việc duy trì tình trạng này trong thời gian dài và
với quy mô lớn có thể dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng. Các tác động tiêu cực của
bội chi ngân sách không chỉ ảnh hưởng đến sự ổn định tài khóa mà còn có nguy cơ gây
suy thoái ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế. Dưới đây là một số tác động tiêu cực:
- Gia tăng nợ công: Khi ngân sách bị thâm hụt, chính phủ buộc phải vay mượn
để bù đắp chi tiêu, dẫn đến gia tăng nợ công. Nợ công cao đòi hỏi chi phí trả nợ hàng
năm lớn, bao gồm cả gốc và lãi. Trong dài hạn, khi nợ công quá cao, ngân sách phải
dành một phần đáng kể để trả nợ thay vì đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng như giáo 10
dục, y tế hay cơ sở hạ tầng. Điều đó làm giảm khả năng chi tiêu cho các dự án phát
triển dài hạn và làm giảm hiệu quả đầu tư công, từ đó kìm hãm khả năng tăng trưởng của nền kinh tế.
- Lạm phát: Khi bội chi ngân sách kéo dài buộc chính phủ phải in thêm tiền để
bù đắp thâm hụt, hoặc thực hiện các chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng để kích
thích tăng trưởng. Cả hai hành động này đều làm tăng lượng tiền lưu thông và có thể
dẫn đến lạm phát nếu không đi đôi với tăng trưởng kinh tế thực chất. Lạm phát cao
làm giảm giá trị của đồng tiền và làm mất sức mua của người dân, giảm động lực tiêu
dùng. Điều này cũng dẫn đến tình trạng không ổn định, khiến doanh nghiệp khó dự
đoán chi phí, gây cản trở cho đầu tư và kinh doanh. Ngoài ra, lạm phát cao còn làm
giảm niềm tin vào nền kinh tế, khiến dòng vốn đầu tư trở nên bất ổn.
- Gia tăng lãi suất: Khi chính phủ phát hành trái phiếu để tài trợ cho bội chi,
điều này tạo ra sự cạnh tranh về vốn giữa khu vực công và tư nhân. Việc phát hành trái
phiếu nhiều làm tăng cầu vốn, từ đó đẩy lãi suất lên cao. Lãi suất cao làm tăng chi phí
vay vốn cho các doanh nghiệp và cá nhân, hạn chế khả năng mở rộng sản xuất và tiêu
dùng. Điều này khiến đầu tư tư nhân sụt giảm, làm suy yếu động lực tăng trưởng của
nền kinh tế trong dài hạn. Đối với các doanh nghiệp nhỏ, việc vay vốn trở nên khó
khăn hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực sản xuất và mở rộng kinh doanh.
- Giảm niềm tin nhà đầu tư: Một ngân sách liên tục thâm hụt có thể khiến nhà
đầu tư nghi ngờ về tính bền vững của tài chính quốc gia. Bội chi ngân sách là một dấu
hiệu của sự mất cân đối trong quản lý tài chính công, làm giảm niềm tin của các nhà
đầu tư trong và ngoài nước. Khi niềm tin vào tài chính quốc gia giảm sút, dòng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có xu hướng giảm, hoặc dòng vốn nóng (chủ yếu là
các khoản đầu tư ngắn hạn) sẽ rút khỏi nền kinh tế. Điều này làm suy giảm nguồn lực
đầu tư và sự phát triển của khu vực sản xuất, kìm hãm tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
- Phân bổ nguồn lực kém hiệu quả: Đôi khi, thâm hụt ngân sách đến từ các
chương trình chi tiêu kém hiệu quả hoặc quá mức vào các dự án không mang lại giá trị
kinh tế lâu dài. Điều này thường xảy ra khi chính phủ tăng chi tiêu để kích thích kinh
tế ngắn hạn mà không chú ý đến hiệu quả của khoản chi này. Phân bổ nguồn lực vào
các dự án không hiệu quả làm lãng phí ngân sách nhà nước, giảm tính hiệu quả trong
việc tạo ra tăng trưởng thực chất. Ngoài ra, sự lãng phí này có thể gây ra hệ quả lâu dài 11
là nền kinh tế bị phụ thuộc vào chi tiêu công và mất đi khả năng tăng trưởng độc lập từ khu vực tư nhân.
- Tăng trưởng kinh tế không bền vững: Khi chính phủ sử dụng bội chi để kích
thích kinh tế ngắn hạn, tăng trưởng kinh tế đạt được là không bền vững nếu không có
cải thiện trong các yếu tố nền tảng như năng suất lao động, hạ tầng cơ sở hoặc năng
lực sản xuất. Nền kinh tế phụ thuộc vào chi tiêu công sẽ dễ bị tổn thương khi nợ công
đạt đến mức không thể duy trì, dẫn đến nguy cơ khủng hoảng nợ. Tại thời điểm này,
chính phủ buộc phải cắt giảm chi tiêu công hoặc tăng thuế, điều này gây ra một cú sốc
cho nền kinh tế và làm giảm tăng trưởng. Trong các tình huống xấu nhất, có thể xảy ra
khủng hoảng nợ, làm mất ổn định tài chính quốc gia và ảnh hưởng nghiêm trọng đến
đời sống của người dân.
Bội chi ngân sách là một công cụ có thể kích thích kinh tế ngắn hạn, nhưng nếu
quản lý không cẩn trọng, nó có thể dẫn đến những tác động tiêu cực nghiêm trọng, như
gia tăng nợ công, lạm phát, lãi suất cao, và làm giảm niềm tin của nhà đầu tư. Để tăng
trưởng kinh tế bền vững, cần kiểm soát bội chi trong ngưỡng hợp lý, đồng thời tập
trung vào cải thiện hiệu quả quản lý tài chính công và phân bổ nguồn lực.
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tác động của bội chi ngân sách Nhà nước
đến tăng trưởng kinh tế
- Quy mô của bội chi ngân sách:
+ Tích cực: Khi bội chi ở mức vừa phải và trong ngưỡng an toàn so với GDP,
nó có thể đóng vai trò kích thích kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng ngắn hạn thông qua đầu
tư vào hạ tầng, y tế, giáo dục và các lĩnh vực công quan trọng.
+ Tiêu cực: Bội chi quá lớn so với quy mô kinh tế sẽ tạo gánh nặng cho ngân
sách, làm tăng tỷ lệ nợ công, gây mất ổn định tài chính và tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng.
- Năng lực quản lý tài chính công
+ Tích cực: Một hệ thống quản lý tài chính công hiệu quả giúp giảm thiểu rủi ro
của bội chi, đảm bảo rằng các khoản chi tiêu công được sử dụng đúng mục đích và
mang lại lợi ích kinh tế thực tế. 12
+ Tiêu cực: Năng lực quản lý yếu kém dễ dẫn đến tình trạng lãng phí, tham
nhũng, và bội chi không kiểm soát, gây thiệt hại lớn cho ngân sách và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
- Nguồn tài trợ cho bội chi
+ Tích cực: Khi bội chi được tài trợ thông qua các nguồn vay trong nước với
mức lãi suất ổn định, chính phủ có thể huy động vốn mà không gây tác động quá lớn đến nền kinh tế.
+ Tiêu cực: Nếu bội chi được tài trợ chủ yếu bằng cách vay mượn từ nước
ngoài, phụ thuộc vào ngoại tệ, hoặc in thêm tiền, nguy cơ lạm phát cao và biến động tỷ
giá sẽ gia tăng, gây mất ổn định tài chính.
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế
+ Tích cực: Trong điều kiện kinh tế tăng trưởng tốt, bội chi có thể giúp duy trì
đà phát triển, kích thích thêm đầu tư và tiêu dùng, đặc biệt khi thị trường lao động và
các yếu tố sản xuất đang ở mức khả dụng cao.
+ Tiêu cực: Trong thời kỳ suy thoái, bội chi có thể không phát huy hiệu quả nếu
niềm tin vào nền kinh tế giảm sút và các khoản chi tiêu không kích thích được nhu
cầu. Điều này có thể khiến gánh nặng nợ gia tăng mà không thúc đẩy được tăng trưởng.
- Lãi suất quốc tế và tình hình kinh tế toàn cầu
+ Tích cực: Trong bối cảnh lãi suất quốc tế thấp, chi phí vay mượn từ nước
ngoài giảm, cho phép chính phủ có thêm nguồn lực để tài trợ bội chi mà không tạo ra gánh nặng lớn.
+ Tiêu cực: Khi lãi suất toàn cầu tăng cao, việc tài trợ bội chi trở nên tốn kém
hơn, tạo áp lực lên ngân sách nhà nước. Nếu nền kinh tế toàn cầu bất ổn, dòng vốn
quốc tế có xu hướng rút khỏi các thị trường mới nổi, khiến các quốc gia gặp khó khăn
trong việc huy động vốn.
- Sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và tiền tệ 13
+ Tích cực: Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa (bội chi ngân sách)
và chính sách tiền tệ (quản lý lãi suất và cung tiền) sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho bội
chi phát huy hiệu quả, giữ được lạm phát ở mức kiểm soát và thúc đẩy tăng trưởng.
+ Tiêu cực: Nếu không có sự phối hợp, bội chi có thể gây ra tình trạng lạm phát
hoặc lãi suất tăng đột biến, khiến nền kinh tế bất ổn và ảnh hưởng tiêu cực đến các
hoạt động đầu tư tư nhân.
- Cấu trúc của nền kinh tế và sự phát triển của thị trường tài chính
+ Tích cực: Nếu nền kinh tế có thị trường tài chính phát triển, chính phủ có thể
phát hành trái phiếu và huy động vốn nội địa hiệu quả hơn, giảm áp lực lãi suất và hạn chế vay nợ quốc tế.
+ Tiêu cực: Ở những quốc gia có thị trường tài chính yếu kém, bội chi ngân
sách có thể gây áp lực lớn lên lãi suất trong nước, khiến các doanh nghiệp và cá nhân
khó tiếp cận vốn vay và làm giảm động lực đầu tư.
Các yếu tố trên đóng vai trò quyết định mức độ tác động của bội chi ngân sách
nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế. Khi các yếu tố này được quản lý tốt, bội chi có
thể góp phần kích thích kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng. Ngược lại, nếu các yếu tố này
không được kiểm soát hợp lý, bội chi ngân sách dễ dàng dẫn đến tình trạng bất ổn tài
chính, lạm phát cao, và kìm hãm khả năng tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế.
III. THỰC TRẠNG BỘI CHI NSNN Ở VIỆT NAM
Chi Ngân sách Nhà nước được phân cấp thành chi ngân sách trung ương và chi
ngân sách địa phương. Ngân sách trung ương, ngân sách mỗi cấp địa phương được
phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể. Những địa phương có nguồn thu Ngân
sách Nhà nước thấp sẽ được bổ sung từ ngân sách trung ương để đảm bảo các nhiệm
vụ chi ngân sách. Chi Ngân sách Nhà nước chủ yếu là cho: Chi đầu tư phát triển, chi
thường xuyên, chi trả nợ, chi trả lãi vay, chi cho dự phòng và chi cải cách tiền lương.
Trong đó, chi thường xuyên luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng chi Ngân sách
Nhà nước chiếm trung bình khoảng 61% trong tổng chi Ngân sách Nhà nước, chi đầu
tư phát triển chiếm khoảng 23%, chi trả nợ và viện trợ chiếm khoảng 7% giai đoạn
2008 - 2018. Tỷ trọng chi thường xuyên trong tổng chi Ngân sách Nhà nước có xu
hướng tăng lên và đạt đỉnh ở mức 70.7% trong năm 2017. Trong khi đó, chi cho đầu tư 14
phát triển trong tổng chi Ngân sách Nhà nước lại có xu hướng giảm từ mức khoảng
26.3% năm 2008 xuống khoảng 21.27% năm 2017. Chi thường xuyên có xu hướng
tăng trong khi chi cho đầu tư phát triển mới chính là nguồn lực cho phát triển kinh tế
dài hạn lại có xu hướng thu hẹp lại.
Tổng chi Ngân sách Nhà nước tăng 2.8 lần trong giai đoạn 2008 - 2018 với tốc
độ trung bình 12%/năm. Nếu loại trừ lạm phát, tốc độ tăng trưởng trung bình thực của
chi Ngân sách Nhà nước ở mức 4%/năm. Giai đoạn 2008 - 2012, trung bình tốc độ
tăng chi Ngân sách Nhà nước hàng năm ở mức 20.8%/năm nhưng sau năm 2012, tốc
độ tăng chi Ngân sách Nhà nước giảm bởi vì những chính sách thắt chặt chi tiêu (đặc
biệt là chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển) sau khi lạm phát cao ở mức 2 chữ số
trong năm 2011 (18.58%). Chi Ngân sách Nhà nước thực tế luôn cao hơn so với dự
toán chi Ngân sách Nhà nước từ năm 2008 đến năm 2016. Cụ thể, trung bình chi Ngân
sách Nhà nước luôn cao hơn so với dự toán chi 9.9% đặc biệt là từ năm 2008, 2009,
2010 và 2013 chi ngân sách thực tế luôn cao hơn ở mức hai chữ số so với dự toán chi.
Do đó, kỷ luật chi tiêu Ngân sách Nhà nước vẫn còn lỏng lẻo, dẫn đến chi ngân sách
luôn vượt dự toán làm tăng bội chi ngân sách và nợ công. Trên thực tế, nhiều công
trình dự án đầu tư có nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước khi thực hiện thường có mức
chi tiêu cao hơn nhiều so với dự toán ban đầu. Chi tiêu thường xuyên từ Ngân sách
Nhà nước cũng tăng cao cho quản lý hành chính, tăng lương và tăng biên chế, y tế giáo
dục. Bắt đầu từ năm 2017, chi Ngân sách Nhà nước bắt đầu ở mức thấp hơn dự toán
cho thấy kỷ luật chi Ngân sách Nhà nước bắt đầu được thắt chặt đảm bảo chi Ngân
sách Nhà nước ở mức hợp lý giảm bội chi ngân sách và nợ công.
Hiện nay, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc là cơ quan đại diện cho nhân dân tham gia
vào quá trình giám sát ngân sách và đầu tư công. Ủy ban Tài chính Ngân sách của
Quốc hội là cơ quan giám sát về tình hình thực hiện dự toán ngân sách và một số vấn
đề liên quan đến lĩnh vực tài chính ngân sách của Quốc hội; xem xét việc thực hiện
hoạch định tài chính của các địa phương. Cơ quan kiểm toán Nhà nước có vai trò kiểm
toán Ngân sách Nhà nước và trình Quốc hội báo cáo kiểm toán quyết toán Ngân sách
Nhà nước để Quốc hội xem xét phê chuẩn quyết toán Ngân sách Nhà nước, tham gia
với Ủy ban tài chính, ngân sách và các cơ quan khác của Quốc hội, Chính phủ trong
việc xem xét, thẩm tra báo cáo về dự toán Ngân sách Nhà nước, phương án phân bổ
ngân sách trung ương, phương án điều chỉnh dự toán Ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, 15
vai trò của nhân dân trong quá trình lập dự toán và thực hiện chi Ngân sách Nhà nước
còn hạn chế. Các khảo sát lấy ý kiến dân chúng được thực hiện bởi các nhà hoạch định
chính sách để quyết định chi tiêu ngân sách hầu như chưa được phổ biến. Vai trò của
hệ thống truyền thông, các tổ chức xã hội khác trong quá trình giám sát việc thực hiện
Ngân sách Nhà nước chưa được đề cao. Ngoài ra, công tác thống kê công bố dữ liệu
còn hạn chế. Hiện nay, chỉ có các cơ quan chức năng như Kiểm toán Nhà nước, Ủy
Ban ngân sách Nhà nước hay Mặt trận Tổ quốc mới có thể thanh kiểm tra đảm bảo
tính chính xác của các nhiệm vụ chi Ngân sách Nhà nước. Hiện nay, ở một số quốc gia
phát triển trên thế giới (chẳng hạn như Mỹ) thì các thành phố trong quốc gia đều phải
có một báo cáo Ngân sách Nhà nước hàng năm được công khai với các số liệu được
cung cấp chi tiết. Ví dụ chi Ngân sách Nhà nước ở các thành phố được thể hiện chi tiết
ở các khoản chi có các phòng, ban như: tài chính, phòng cháy chữa cháy, phòng đầu tư
cho các dự án cơ sở hạ tầng,… hay các khoản chi tiêu được công khai theo các các
mục đích chi như chi cho hệ thống cấp nước trong thành phố, chi cho các công trình
như sân golf, công viên, xây dựng đường sá, trả nợ các khoản vay…
Một vấn đề nữa đó là vẫn còn tình trạng tham nhũng ở một số dự án, dẫn đến
việc chi tiêu Ngân sách Nhà nước thường tăng cao hơn so với dự toán và được đánh
giá là hiệu quả thấp. Ba loại tham nhũng chính từ Ngân sách Nhà nước có thể nhận
thấy đó là: các khoản chi tiêu gian lận, gian lận khi đấu thầu các dự án công, hay mua
sắm các hàng hóa dịch vụ hay xây dựng các công trình chất lượng thấp hơn so với tiêu
chuẩn. Do đó, công tác phòng chống tình trạng tham nhũng từ Ngân sách Nhà nước
đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả chi Ngân sách Nhà nước và giảm
thiểu tăng chi so với dự toán đảm bảo bội chi ngân sách ở mức mục tiêu đề ra trong dự
toán Ngân sách Nhà nước hàng năm (Hình 2). 16
Trong thời gian qua, chi cao hơn so với dự toán và bội chi Ngân sách Nhà nước
còn xuất hiện cao hơn so với mức bội chi mà theo dự toán của Quốc hội đã đặt ra. Cụ
thể là, các năm 2008, 2009 và giai đoạn từ 2012 đến 2015, bội chi cao hơn so với dự
toán, có những năm bội chi cao hơn so với dự toán 31.5%. Gần đây, bội chi Ngân sách
Nhà nước có xu hướng giảm dần nhờ có chủ trương tăng kỷ luật chi Ngân sách Nhà
nước, giảm bội chi và nợ công. Theo đó, nợ công trên GDP cũng đã tăng từ mức
44.3% GDP năm 2008 lên mức 63.7% GDP năm 2016 và giảm dần xuống còn 61% trong năm 2018.
Cùng với xu hướng của thu ngân sách trung ương thì chi ngân sách trung ương
cũng giảm dần vai trò, thay vào đó là sự gia tăng chi tiêu ở cấp ngân sách địa phương
từ mức chiếm 45.77% trong tổng chi Ngân sách Nhà nước trong năm 2011 lên mức
58.33% năm 2017. Chi bổ sung ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương tăng
từ mức 182,225 tỷ đồng năm 2011 lên đến 320,581 tỷ đồng năm 2017 nhưng xét về cơ
cấu thì bổ sung từ ngân sách trung ương so với tổng chi ngân sách địa phương có xu
hướng giảm từ 32.72% xuống còn 30.95%, thể hiện tính tự chủ của ngân sách địa
phương ngày càng tăng. Tuy nhiên, hiện nay, ngân sách trung ương phải cấp bổ sung
cân đối ngân sách cho một số tỉnh có nguồn thu không đủ chi tiêu (một số tỉnh miền
núi). Việc chi tiêu của nhiều tỉnh có nguồn thu Ngân sách Nhà nước thấp và phụ thuộc
quá nhiều vào phân bổ ngân sách trung ương tạo áp lực cho ngân sách trung ương hàng năm. 17
Theo đánh giá, năm 2022, tình hình quốc tế, trong nước được dự báo có những
cơ hội, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức dự báo
nhiều hơn. Dịch COVID-19 còn có thể kéo dài, nguy cơ xuất hiện biến chủng mới,
nguy hiểm hơn; vắc-xin và thuốc điều trị có thể tiếp tục khan hiếm.
Năm 2022 cũng là năm mà quá trình phục hồi và tốc độ tăng trưởng kinh tế thế
giới được dự báo thấp hơn năm 2021. Chưa kể, khả năng thắt chặt dần các chính sách
tài khóa, tiền tệ của một số nền kinh tế lớn nhằm kiểm soát lạm phát; biến đổi khí hậu,
thời tiết cực đoan và các dịch bệnh khác cũng là những rủi ro ảnh hưởng tới sự phục hồi kinh tế thế giới.
Trong nước, kinh nghiệm, năng lực, khả năng kiểm soát dịch bệnh tiếp tục được
nâng lên, nhưng sức chống chịu và nguồn lực của Nhà nước, doanh nghiệp và người
dân đã giảm sút đáng kể. Việc hoàn thành bao phủ vắc-xin, kiểm soát được hiệu quả
dịch bệnh là điều kiện quan trọng để phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.
Trên cơ sở đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2021, dự kiến năm 2022,
Bộ Tài chính đã trình Chính phủ báo cáo Quốc hội thông qua dự toán NSNN năm
2022 và kế hoạch tài chính - NSNN 3 năm quốc gia 2022 - 2024.
Theo đó, đối với năm 2022, dự toán thu NSNN là 1.411,7 nghìn tỷ đồng, đạt tỷ
lệ huy động vào NSNN khoảng 15,1%GDP; từ thuế, phí khoảng 12,7% GDP.
Trong đó, tỷ trọng thu nội địa chiếm 83,4% tổng thu NSNN, với tốc độ tăng thu
nội địa từ thuế, phí khoảng 6% so với ước năm 2021; thu dầu thô chiếm 2% tổng thu
NSNN; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu chiếm 14,1% tổng thu NSNN, với tốc
độ tăng thu từ hoạt động xuất nhập khẩu khoảng 5% so với ước năm 2021.
Năm 2022 dự toán chi NSNN là 1.784,6 nghìn tỷ đồng, tăng 76,9 nghìn tỷ đồng
(4,5%) so dự toán năm 2021. Trong đó, dự toán chi đầu tư phát triển là 526,1 nghìn tỷ
đồng, chiếm 29,5% tổng chi NSNN. Dự toán chi trả nợ lãi, viện trợ, dự trữ quốc gia là
107,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 6% tổng chi NSNN.
Dự toán chi thường xuyên (bao gồm chi tinh giản biên chế) là 1.112,1 nghìn tỷ
đồng, chiếm 62,3% tổng chi NSNN. Dự phòng NSNN là 39 nghìn tỷ đồng.
Năm 2022 bội chi NSNN khoảng 4% GDP. Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính
phủ bằng khoảng 21 - 22% tổng thu NSNN. Nợ công đến cuối năm 2022 khoảng 43 - 44% GDP.
Nợ công đến năm 2024 khoảng 43 - 44% GDP 18
Đối với kế hoạch tài chính - NSNN 3 năm 2022 - 2024, dự toán thu NSNN cả
giai đoạn là 4.650 nghìn tỷ đồng, đạt tỷ lệ huy động vào NSNN bình quân khoảng
15,1% GDP (từ thuế, phí gần 13%). Tiếp tục cơ cấu lại thu, tỷ trọng thu nội địa đến
năm 2024 đạt gần 85% tổng thu NSNN.
Tỷ lệ bội chi NSNN bình quân giai đoạn 2022 - 2024 khoảng 3,8% GDP. Nợ
công đến năm 2024 khoảng 43 - 44% GDP.
Dự toán chi ngân sách 3 năm 2022 - 2024 là khoảng 5.800 nghìn tỷ đồng.
Để hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ tài chính - NSNN năm 2022, ngành Tài
chính cần tiếp tục phát huy những kết quả, thành tựu đã đạt được; đồng thời, khắc
phục những khó khăn, hạn chế.
Việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ tài chính - NSNN năm 2022 và kế hoạch
tài chính - NSNN 3 năm 2022 - 2024 có ý nghĩa quan trọng, góp phần hoàn thành các
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong bối cảnh cần có những động lực hỗ
trợ khôi phục nền kinh tế sau ảnh hưởng của đại dịch COVID-19.
Ngân sách Nhà nước Việt Nam đang đối mặt với thách thức lớn trong quản lý
chi tiêu, khi chi thường xuyên chiếm tỷ trọng cao, trong khi chi đầu tư phát triển giảm.
Mặc dù có nỗ lực thắt chặt kỷ luật chi từ năm 2017, tình trạng chi thực tế vượt dự toán
vẫn gia tăng bội chi và nợ công. Đối với năm 2022 và giai đoạn 2022 - 2024, cần lập
dự toán ngân sách thận trọng nhằm giảm bội chi xuống 4% GDP và duy trì nợ công
hợp lý, đồng thời tăng cường giám sát và tham gia của cộng đồng để nâng cao hiệu
quả chi tiêu và phòng chống tham nhũng, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững.
IV. CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1. Nhà nước phát hành thêm tiền
Giải pháp này đơn giản dễ thực hiện nhưng sẽ gây ra lạm phát nếu Nhà nước
phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp bội chi NSNN, ảnh hưởng đến tiêu cực đến
đời sống kinh tế - xã hội - chính trị.
Đẩy mạnh phát hành thêm trái phiếu chính phủ và vay nợ nước ngoài để bù đắp
bội chi, điều này góp phần tích cực trong việc kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên trong
trường hợp nền kinh tế suy thoái, mức độ lạm phát không cao thì việc phát hành thêm
tiền cần phải được tiến hành nhằm trang trải mục tiêu trước mắt là có tiền để tiến hành
các chương trình đầu tư phát triển, có tiền để tăng lương theo kế hoạch, bù đắp bội chi. 19