2. Nêu khái niệm sản xuất hàng hóa phân tích tính hai mặt của lao động sản
xuất hàng hóa? Ý nghĩa của việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản
xuất hàng hóa đối với việc xây dựng luận giá trị lao động của C.Mác?
* Sản xuất hàng hóa tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Theo C.Mác, sản xuất hàng hóa kiểu tổ chức hoạt động kinh tế đó
những người sản xuất ra sản phẩm nhằm mục đích trao đổi, mua bán.
Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa.
C.Mác người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất
Lao động cụ thể: lao động ích dưới hình thái cụ thể của một nghề chuyên
môn nhất định để tạo ra một giá trị sử dụng nhất định.
dụ: Người thợ mộc làm ra bàn ghế; người thợ may làm ra quần áo,... Các
loại lao động cụ thể khác nhau năm điểm: mục đích, công cụ, đối tượng, phương
pháp kết quả.
Lao động trừu tượng: lao động của người sản xuất hàng hóa, nếu gạt bỏ
hình thái cụ thể thì còn lại một cái chung đó sự tiêu phí sức lực (thần kinh, bắp thịt)
của con người.
Nếu lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng thì lao động trừu tượng tạo ra giá trị
của hàng hóa. Nhưng không phải bất cứ sự tiêu phí sức lực nào của người lao động
cũng lao động trừu tượng, chỉ sự hao phí thần kinh bắp thịt của người sản
xuất hàng hóa mới được coi lao động trừu tượng.
Sản xuất hàng hóa sản xuất ra để trao đổi, mua bán, nên không thể căn cứ
vào lao động cụ thể được phải quy mọi lao động cụ thể khác nhau về cùng một lao
động đồng chất - lao động trừu tượng. Lao động một phạm trù lịch sử, gắn liền với
nền sản xuất hàng hóa.
*Ý nghĩa của việc phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hỏa đối với
luận giá trị lao động của C.Mác. I
Phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa tạo nên sự thành công
trong việc xây dựng luận giá trị.
Xác định được chất của giá trị do lao động trừu tượng kết tinh, biểu hiện
quan hệ hội một phạm trù lịch sử.
Xác định được lượng của giá trị lượng lao động trung bình hay thời gian lao
động của hội cần thiết.
Xác định được hình thức biểu hiện của giá trị phát triển từ thấp tới cao, từ hình
thức giản đơn đến hình thức mở rộng, hình thức chung cuối cùng hình thức tiền.
Xác định được quy luật giá trị - quy luật bản của sản xuất hàng hóa. Quy
luật này đòi hỏi người sản xuất trao đổi hàng hóa phải đảm bảo thời gian lao động
hội cần thiết.
3. Phân tích những ưu thế khuyết tật của nền kinh tế thị trường? sao nền
kinh tế thị trường cần phải sự điều tiết của nhà nước?
Nền kinh tế thị trường nền kinh tế được vận hành theo chế thị trường. Đó
nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, đó mọi quan hệ sản xuất trao đổi đều được
thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều của các quy luật thị trường.
Sự hình thành kinh tế thị trường khách quan trong lịch sử kinh tế tự nhiên, tự
túc, kinh tế ng hóa rồi từ kinh tế hàng hóa phát triển thành kinh tế thị trường. Kinh
tế thị trường cũng trải qua quá trình phát triển các trình độ khác nhau từ kinh tế thị
trường khai đến kinh tế thị trường hiện đại ngày nay. Như vậy, nền kinh tế thị
trường sản phẩm của văn minh nhân loại.
* Những ưu thế khuyết tật của nền kinh tế thị trường
Ưu thế của nền kinh tế thị trường
Một là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự hinh thành
ý tướng mới của các chủ thể kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể luôn hội để tìm ra động lực cho
sự sáng tạo của mình. Thông qua vai trò của thị trường nền kinh tế thị trường trở
thành phương thức hữu hiệu kích thích sự sáng tạo trong hoạt động của các chủ thể
kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tự do của họ, qua đó, thúc tăng năng
suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất, làm cho nền kinh tế hoạt động năng động, hiệu
quả. Nền kinh tế thị trường chấp nhận mọi ý tưởng sáng tạo mới trong thực hiện sản
xuất kinh doanh quản lý. Nền kinh tế thị trường tạo môi trường rộng mở cho các
hình kinh doanh mới theo đà phát triển của hội.
Hai là, nền kinh tế thị trường luôn thực hiện phát huy tốt nhất tiềm năng của
mọi chủ thể các vùng miền cũng như lợi thế quốc gia trong quan hệ với thế giới.
Trong nền kinh tế thị trường, mọi tiềm năng, lợi thế đều thể được phát huy,
đều thể trở thành lợi ích đóng góp cho hội. Thông qua vai trò gắn kết của thị
trường nền kinh tế thị trường trở thành phương thức hiệu quả hơn hẳn so với nền
kinh tế tự cấp tự túc hay nền kinh tế kế hoạch hóa để phát huy tiềm năng, lợi thế của
từng thành viên, từng vùng miền trong quốc gia, của từng quốc gia trong quan hệ kinh
tế với phần còn lại của thế giới.
Ba là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra các phương thức để thỏa mãn tối đa
nhu cầu của con người, từ đó thúc đẩy tiến bộ, văn minh hội. Trong nền kinh tế thị
trường, các thành viên của hội luôn tìm thấy hội tối đa để thỏa mãn nhu cầu
của mình. Nền kinh tế trường với sự tác động của các quy luật thị trường luôn tạo ra
sự phủ hợp giữa khối lượng, cấu sản xuất với khối lượng, nhu cầu tiêu dùng của
hội. Nhờ đó, nhu cầu tiêu dùng về các loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau được đáp ứng
kịp thời; người tiêu dùng được thỏa mãn nhu cầu được đáp ứng đầy đủ mọi chủng loại
hàng hóa, dịch vụ. Thông qua đó, nền kinh tế thị trường trở thành phương thức để thúc
đẩy văn minh, tiến bộ hội.
Khuyết tật của nền kinh tế thị trường
Bên cạnh những ưu thế, kinh tế thị trường cùng những khuyết tật vốn có.
Những khuyết tật chủ yếu của nền kinh tế thị trường bao gồm:
Một là, xét trên phạm vi toàn bộ nền sản xuất hội, nền kinh tế thị trường
luôn tiềm ẩn những rủi ro khủng hoảng.
Trong kinh tế thị trường, rủi ro về khủng hoảng luôn tiềm ẩn. Khủng hoảng
thể xảy ra đối với mọi loại hình thị trường, với mọi nền kinh tế thị trường. Sự khó
khăn đối với các nền kinh tế thị trường thể hiện chỗ, các quốc gia rất khó dự báo
chính xác thời điểm xảy ra khủng hoảng. Nền kinh tế thị trường không tự khắc phục
được những rủi ro tiềm ẩn y do sự vận động tự phát của các quy luật kinh tế. Tính
tự phát này bên cạnh ý nghĩa tích cực, còn gây ra các rủi ro tiềm ẩn dẫn đến khủng
hoảng. Đây thách thức với nền kinh tế thị trường.
Hai là, nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được xu hướng cạn kiệt tài
nguyên không thể tái tạo, suy thoái môi trường tự nhiên, môi trường hội.
Do phần lớn các chủ thể sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường luôn
đặt mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận tối đa nên luôn tạo ra ảnh hưởng tiềm ẩn đối với
nguồn lực tài nguyên, suy thoái môi trường. Đây những mặt trái mang tính khuyết
tật của bản thân thị trường. Cũng mục tiêu lợi nhuận, các chủ thể hoạt động doanh
thể không tham gia vào các lĩnh vực thiết yếu cho nền kinh tế nhưng lợi nhuận
kỳ vọng thấp, rủi ro cao, quy đầu lớn, thời gian thu hồi vốn dài.
Ba là, nền kinh tế thị trưởng không tự khắc phục được hiện tượng phân hóa sâu
sắc trong hội. Trong nền kinh tế thị trường, hiện tượng phân hóa hội về thu
nhập, về hội tất yếu. Bản thân nền kinh tế thị trường không thể tự khắc phục
được khía cạnh phân hóa xu hướng sâu sắc. Các quy luật thị trường luôn phân bố
lợi ích theo mức độ loại hình hoạt động tham gia thị trường, cộng với tác động của
cạnh tranh dẫn đến sự phân hóa như một tất yếu. Đây khuyết tật của nền kinh tế
thị trường cần phải sự bổ sung điều tiết bởi vai trò của nhà nước.
* Kinh tế thị trường cần phải sự điều tiết của nhà nước.
Bởi vì, do những khuyết tật của kinh tế thị trường nên trong thực tế không tồn
tại một nền kinh tế thị trường thuần túy, thường sự can thiệp của nhà nước để
sửa chữa những thất bại của chế thị trường. Khi đó, nền kinh tế được gọi kinh tế
thị trường sự điều tiết của nhà nước hay nền kinh tế hỗn hợp.
4. Phân tích sự chuyển hóa tiền thành bản ý nghĩa của việc phát hiện ra hàng
hóa sức lao động trong việc giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của
bản?
* Tiền tệ chuyển hóa thành bản thể hiện công thức chung của bản hàng hóa
sức lao động.
- Công thức chung của bản T-H-T’
Công thức của T-H-T’ công thức chung của bản mọi bản cho
chúng mang những hình thái cụ thể nào (tư bản công nghiệp, bản thương nghiệp,
bản cho vay…) cũng đều vận động theo công thức này.
Trong lưu thông hàng hóa giản đơn, lưu thông chỉ phương tiện để đạt được
mục đích tiêu dùng. Còn lưu thông bản sự tăng n không ngừng của giá trị,
giá trị thặng (T’=T+m)
- luận giá trị khẳng định: Giá trị hàng hóa lao động hội kết tinh trong
hàng hóa, nghĩa giá trị tạo ra trong lĩnh vực sản xuất.
Nhưng mới thoạt nhìn o công thức T-H-T’ người ta lầm tưởng rằng giá trị
thặng được tạo ra trong lưu thông. Vậy, lưu thông tạo ra giá trị giá trị thặng
hay không?
- Trường hợp trao đổi ngang giá: Tổng giá trị trước sau vẫn không thay
đổi
- Trường hợp trao đổi không ngang giá:
Giá cả cao hơn giá trị hoặc giá cả thấp hơn giá trị. Trong trường hợp này người
được khi bán sẽ bị thiệt hại khi mua ngược lại. Mua rẻ, bán đắt. Tổng giá trị toàn
hội không thay đổi, số giá trị những người này thu được chẳng qua chỉ sự ăn chặn
của những người khác thôi.
Như vậy, lưu thông hay trao đổi hàng hóa không tạo ra giá trị giá trị thặng
dư. Nhưng nhờ lưu thông thì 2 hành vi mua (T-H) bán ( H-T’) mới được thực
hiện, cho nên nếu không lưu thông thì cũng không được giá trị thặng dư. Vậy
mâu thuẫn trong công thức chung của bản được biểu hiện ra chỗ: giá trị thặng
vừa được tạo ra trong lưu thông vừa không được tạo ra trong lưu thông.
nghĩa của việc phát hiện ra hàng hóa sức lao động trong việc giải quyết mâu
thuẫn trong công thức chung của bản.
Để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của bản chúng ta cần thấy
rằng, điều kiện để tiền biến thành bản sự tồn tại trên thị trường một loại hàng hóa
việc sử dụng thể tạo ra được giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó. Đó chính
hàng hóa sức lao động.
Theo C.Mác, “Sức lao động, đó toàn bộ các thể lực trí lực trong thân thế
một con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực trí lực con
người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật ích”
Sức lao động một hàng hóa đặc biệt, giá trị s dụng đặc biệt khác với
hàng hóa thông thường chỗ: hàng hóa thông thường sau quá trình tiêu dùng hay sử
dụng thì cả giá trị giá trị sử dụng của đều tiêu biến theo thời gian. Trái lại, quá
trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại quá trình sản xuất ra một loại hàng hóa
nào đó, đồng thời quá trình sáng tạo ra giá trị mới. Mục đích của các nhà bản
muốn giá trị mới được sáng tạo ra phải lớn hơn giá trị sức lao động thực tế việc nhà
bản tiêu dùng sức lao động thông qua hoạt động của người công nhân đã hàm chứa
khả năng này. Phần lớn n đó chính giá trị thặng nhà bản sẽ chiếm đoạt.
Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động tính chất đặc biệt, nguồn
gốc sinh ra giá trị thặng dư. Đó chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn trong công thức
chung của bản.
Do đó, ta thể kết luận việc tìm ra giải phạm trù hàng hóa sức lao động
chính chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của bản.

Preview text:

2. Nêu khái niệm sản xuất hàng hóa và phân tích tính hai mặt của lao động sản
xuất hàng hóa? Ý nghĩa của việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản
xuất hàng hóa đối với việc xây dựng lý luận giá trị lao động của C.Mác?
* Sản xuất hàng hóa và tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Theo C.Mác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức hoạt động kinh tế mà ở đó
những người sản xuất ra sản phẩm nhằm mục đích trao đổi, mua bán.
Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa.
C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Lao động cụ thể: Là lao động có ích dưới hình thái cụ thể của một nghề chuyên
môn nhất định để tạo ra một giá trị sử dụng nhất định.
Ví dụ: Người thợ mộc làm ra bàn ghế; người thợ may làm ra quần áo,... Các
loại lao động cụ thể khác nhau ở năm điểm: mục đích, công cụ, đối tượng, phương pháp và kết quả.
Lao động trừu tượng: Là lao động của người sản xuất hàng hóa, nếu gạt bỏ
hình thái cụ thể thì còn lại một cái chung đó là sự tiêu phí sức lực (thần kinh, bắp thịt) của con người.
Nếu lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng thì lao động trừu tượng tạo ra giá trị
của hàng hóa. Nhưng không phải bất cứ sự tiêu phí sức lực nào của người lao động
cũng là lao động trừu tượng, mà chỉ có sự hao phí thần kinh và bắp thịt của người sản
xuất hàng hóa mới được coi là lao động trừu tượng.
Sản xuất hàng hóa là sản xuất ra để trao đổi, mua bán, nên không thể căn cứ
vào lao động cụ thể được mà phải quy mọi lao động cụ thể khác nhau về cùng một lao
động đồng chất - lao động trừu tượng. Lao động là một phạm trù lịch sử, gắn liền với
nền sản xuất hàng hóa.
*Ý nghĩa của việc phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hỏa đối với lý
luận giá trị lao động của C.Mác. I
Phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa tạo nên sự thành công
trong việc xây dựng lý luận giá trị.
Xác định được chất của giá trị là do lao động trừu tượng kết tinh, biểu hiện
quan hệ xã hội và là một phạm trù lịch sử.
Xác định được lượng của giá trị là lượng lao động trung bình hay thời gian lao
động của xã hội cần thiết.
Xác định được hình thức biểu hiện của giá trị phát triển từ thấp tới cao, từ hình
thức giản đơn đến hình thức mở rộng, hình thức chung và cuối cùng là hình thức tiền.
Xác định được quy luật giá trị - quy luật cơ bản của sản xuất hàng hóa. Quy
luật này đòi hỏi người sản xuất và trao đổi hàng hóa phải đảm bảo thời gian lao động xã hội cần thiết.
3. Phân tích những ưu thế và khuyết tật của nền kinh tế thị trường? Vì sao nền
kinh tế thị trường cần phải có sự điều tiết của nhà nước?
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường. Đó
là nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được
thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều có của các quy luật thị trường.
Sự hình thành kinh tế thị trường là khách quan trong lịch sử kinh tế tự nhiên, tự
túc, kinh tế hàng hóa rồi từ kinh tế hàng hóa phát triển thành kinh tế thị trường. Kinh
tế thị trường cũng trải qua quá trình phát triển ở các trình độ khác nhau từ kinh tế thị
trường sơ khai đến kinh tế thị trường hiện đại ngày nay. Như vậy, nền kinh tế thị
trường là sản phẩm của văn minh nhân loại.
* Những ưu thế và khuyết tật của nền kinh tế thị trường
Ưu thế của nền kinh tế thị trường
Một là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự hinh thành
ý tướng mới của các chủ thể kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể luôn có cơ hội để tìm ra động lực cho
sự sáng tạo của mình. Thông qua vai trò của thị trường mà nền kinh tế thị trường trở
thành phương thức hữu hiệu kích thích sự sáng tạo trong hoạt động của các chủ thể
kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tự do của họ, qua đó, thúc tăng năng
suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất, làm cho nền kinh tế hoạt động năng động, hiệu
quả. Nền kinh tế thị trường chấp nhận mọi ý tưởng sáng tạo mới trong thực hiện sản
xuất kinh doanh và quản lý. Nền kinh tế thị trường tạo môi trường rộng mở cho các
mô hình kinh doanh mới theo đà phát triển của xã hội.
Hai là, nền kinh tế thị trường luôn thực hiện phát huy tốt nhất tiềm năng của
mọi chủ thể các vùng miền cũng như lợi thế quốc gia trong quan hệ với thế giới.
Trong nền kinh tế thị trường, mọi tiềm năng, lợi thế đều có thể được phát huy,
đều có thể trở thành lợi ích đóng góp cho xã hội. Thông qua vai trò gắn kết của thị
trường mà nền kinh tế thị trường trở thành phương thức hiệu quả hơn hẳn so với nền
kinh tế tự cấp tự túc hay nền kinh tế kế hoạch hóa để phát huy tiềm năng, lợi thế của
từng thành viên, từng vùng miền trong quốc gia, của từng quốc gia trong quan hệ kinh
tế với phần còn lại của thế giới.
Ba là, nền kinh tế thị trường luôn tạo ra các phương thức để thỏa mãn tối đa
nhu cầu của con người, từ đó thúc đẩy tiến bộ, văn minh xã hội. Trong nền kinh tế thị
trường, các thành viên của xã hội luôn có tìm thấy cơ hội tối đa để thỏa mãn nhu cầu
của mình. Nền kinh tế trường với sự tác động của các quy luật thị trường luôn tạo ra
sự phủ hợp giữa khối lượng, cơ cấu sản xuất với khối lượng, nhu cầu tiêu dùng của xã
hội. Nhờ đó, nhu cầu tiêu dùng về các loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau được đáp ứng
kịp thời; người tiêu dùng được thỏa mãn nhu cầu được đáp ứng đầy đủ mọi chủng loại
hàng hóa, dịch vụ. Thông qua đó, nền kinh tế thị trường trở thành phương thức để thúc
đẩy văn minh, tiến bộ xã hội.
Khuyết tật của nền kinh tế thị trường
Bên cạnh những ưu thế, kinh tế thị trường cùng những khuyết tật vốn có.
Những khuyết tật chủ yếu của nền kinh tế thị trường bao gồm:
Một là, xét trên phạm vi toàn bộ nền sản xuất xã hội, nền kinh tế thị trường
luôn tiềm ẩn những rủi ro khủng hoảng.
Trong kinh tế thị trường, rủi ro về khủng hoảng luôn tiềm ẩn. Khủng hoảng có
thể xảy ra đối với mọi loại hình thị trường, với mọi nền kinh tế thị trường. Sự khó
khăn đối với các nền kinh tế thị trường thể hiện ở chỗ, các quốc gia rất khó dự báo
chính xác thời điểm xảy ra khủng hoảng. Nền kinh tế thị trường không tự khắc phục
được những rủi ro tiềm ẩn này do sự vận động tự phát của các quy luật kinh tế. Tính
tự phát này bên cạnh ý nghĩa tích cực, còn gây ra các rủi ro tiềm ẩn dẫn đến khủng
hoảng. Đây là thách thức với nền kinh tế thị trường.
Hai là, nền kinh tế thị trường không tự khắc phục được xu hướng cạn kiệt tài
nguyên không thể tái tạo, suy thoái môi trường tự nhiên, môi trường xã hội.
Do phần lớn các chủ thể sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường luôn
đặt mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận tối đa nên luôn tạo ra ảnh hưởng tiềm ẩn đối với
nguồn lực tài nguyên, suy thoái môi trường. Đây là những mặt trái mang tính khuyết
tật của bản thân thị trường. Cũng vì mục tiêu lợi nhuận, các chủ thể hoạt động doanh
có thể không tham gia vào các lĩnh vực thiết yếu cho nền kinh tế nhưng có lợi nhuận
kỳ vọng thấp, rủi ro cao, quy mô đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài.
Ba là, nền kinh tế thị trưởng không tự khắc phục được hiện tượng phân hóa sâu
sắc trong xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, hiện tượng phân hóa xã hội về thu
nhập, về cơ hội là tất yếu. Bản thân nền kinh tế thị trường không thể tự khắc phục
được khía cạnh phân hóa có xu hướng sâu sắc. Các quy luật thị trường luôn phân bố
lợi ích theo mức độ và loại hình hoạt động tham gia thị trường, cộng với tác động của
cạnh tranh mà dẫn đến sự phân hóa như một tất yếu. Đây là khuyết tật của nền kinh tế
thị trường cần phải có sự bổ sung và điều tiết bởi vai trò của nhà nước.
* Kinh tế thị trường cần phải có sự điều tiết của nhà nước.
Bởi vì, do những khuyết tật của kinh tế thị trường nên trong thực tế không tồn
tại một nền kinh tế thị trường thuần túy, mà thường có sự can thiệp của nhà nước để
sửa chữa những thất bại của cơ chế thị trường. Khi đó, nền kinh tế được gọi là kinh tế
thị trường có sự điều tiết của nhà nước hay nền kinh tế hỗn hợp.
4. Phân tích sự chuyển hóa tiền thành tư bản và ý nghĩa của việc phát hiện ra hàng
hóa sức lao động trong việc giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản?
* Tiền tệ chuyển hóa thành tư bản thể hiện ở công thức chung của tư bản và hàng hóa sức lao động.
- Công thức chung của tư bản là T-H-T’
Công thức của T-H-T’ là công thức chung của tư bản là vì mọi tư bản cho dù
chúng mang những hình thái cụ thể nào (tư bản công nghiệp, tư bản thương nghiệp, tư
bản cho vay…) cũng đều vận động theo công thức này.
Trong lưu thông hàng hóa giản đơn, lưu thông chỉ là phương tiện để đạt được
mục đích tiêu dùng. Còn lưu thông tư bản là sự tăng lên không ngừng của giá trị, là
giá trị thặng dư (T’=T+m) -
Lý luận giá trị khẳng định: Giá trị hàng hóa là lao động xã hội kết tinh trong
hàng hóa, nghĩa là giá trị tạo ra trong lĩnh vực sản xuất.
Nhưng mới thoạt nhìn vào công thức T-H-T’ người ta lầm tưởng rằng giá trị
thặng dư được tạo ra trong lưu thông. Vậy, lưu thông có tạo ra giá trị và giá trị thặng dư hay không?
- Trường hợp trao đổi ngang giá: Tổng giá trị trước sau vẫn không thay đổi
- Trường hợp trao đổi không ngang giá:
Giá cả cao hơn giá trị hoặc giá cả thấp hơn giá trị. Trong trường hợp này người
được khi bán sẽ bị thiệt hại khi mua và ngược lại. Mua rẻ, bán đắt. Tổng giá trị toàn xã
hội không thay đổi, vì số giá trị những người này thu được chẳng qua chỉ là sự ăn chặn
của những người khác mà thôi.
Như vậy, lưu thông hay trao đổi hàng hóa không tạo ra giá trị và giá trị thặng
dư. Nhưng nhờ có lưu thông thì 2 hành vi mua (T-H) và bán ( H-T’) mới được thực
hiện, cho nên nếu không có lưu thông thì cũng không có được giá trị thặng dư. Vậy
mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản được biểu hiện ra chỗ: giá trị thặng dư
vừa được tạo ra trong lưu thông vừa không được tạo ra trong lưu thông.
*Ý nghĩa của việc phát hiện ra hàng hóa sức lao động trong việc giải quyết mâu
thuẫn trong công thức chung của tư bản.
Để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản chúng ta cần thấy
rằng, điều kiện để tiền biến thành tư bản là sự tồn tại trên thị trường một loại hàng hóa
mà việc sử dụng nó có thể tạo ra được giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó. Đó chính
là hàng hóa sức lao động.
Theo C.Mác, “Sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thân thế
một con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con
người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”
Sức lao động là một hàng hóa đặc biệt, có giá trị sử dụng đặc biệt khác với
hàng hóa thông thường ở chỗ: hàng hóa thông thường sau quá trình tiêu dùng hay sử
dụng thì cả giá trị và giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến theo thời gian. Trái lại, quá
trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại là quá trình sản xuất ra một loại hàng hóa
nào đó, đồng thời là quá trình sáng tạo ra giá trị mới. Mục đích của các nhà tư bản là
muốn giá trị mới được sáng tạo ra phải lớn hơn giá trị sức lao động và thực tế việc nhà
tư bản tiêu dùng sức lao động thông qua hoạt động của người công nhân đã hàm chứa
khả năng này. Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt.
Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt, nó là nguồn
gốc sinh ra giá trị thặng dư. Đó là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản.
Do đó, ta có thể kết luận việc tìm ra và lý giải phạm trù hàng hóa sức lao động
chính là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản.